Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần hàng hải Minh Lương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. Thực trạng tài chính tại Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương

Phân tích tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn không những đối với cơ quan, đơn vị và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa đối với việc chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp người sử dụng thông tin nắm được thực trạng hoạt động tài chính, xác định rõ nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh. Xem xét, đánh giá nội dung phân tích tài chính sẽ đưa lại cho người sử dụng nhưng thông tin cần thiết trên. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng tiến hành công tác phân tích tài chính có nội dung phân tích một cách toàn diện để có thể đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của người sử dụng thông tin. Nội dung phân tích tài chính hiện nay tại Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương gồm các nhóm chỉ tiêu tài chính: Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

  • Tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
  • Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp: TSCĐ và TSLĐ.
  • Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp: vốn vay, vốn chủ sở hữu, vốn ngắn hạn, vốn trung dài hạn,…
  • Phân tích và đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

2.2.1. Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của Công ty

Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương

Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn là việc phân tích khái quát tình hình huy động, sử dụng vốn và mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh chính sách huy động và sử dụng vốn phù hợp.

Trên cơ sở số liệu bảng cân đối kế toán qua các năm 2014, 2015, 2016, Công ty đã tính ra và so sánh giữa kỳ phân tích và kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng tài sản và tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn.

Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.1.1. Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng tài sản của Công ty

Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương

Bảng 2.2: Tình hình biến động tài sản của Công ty

Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương

Nhận xét:

Qua bảng 2.1 và 2.2 phân tích cơ cấu sử dụng và tình hình biến động tài sản, ta có thể thấy rằng: Tổng tài sản năm 2015 tăng mạnh so với năm 2014, cụ thể tăng 4.129.401.219 đồng tương ứng với tỷ lệ 43,54%, mức tăng tại hai năm này khá cao. Sang năm 2016, nhìn chung vẫn tăng so với năm 2015, tuy nhiên tỷ lệ tăng không cao như hai năm trước có dấu hiệu hạ nhiệt. Tổng tài sản năm 2016 tăng so với năm 2015 là 25.525.799 đồng, tương đương với tỷ lệ khoảng 0,19%. Việc tăng này giữa các năm chưa kết luận được là tốt hay xấu. Vì vậy, chúng ta cần xem xét do đâu tài sản tăng và nó ảnh hưởng như thế nào với Công ty.

Về tài sản ngắn hạn:

Tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2015 so với năm 2014 tăng 3.577.512.043 đồng tương đương với 52,74%. Có thể nhận thấy tỷ lệ tăng này khá mạnh giữa hai năm. Nguyên nhân gây ra sự biến động tăng của tài sản ngắn hạn chủ yếu là do sự tăng lên đồng thời của các chỉ tiêu tiền và các khoản tương đương tiền, tài sản ngắn hạn, hàng tồn kho, các khoản phải thu ngắn hạn.

Tiền và các khoản tương đương tiền năm 2015 tăng 536.522.272 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 117,35%. Điều này là do chính sách tăng tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty để cải thiện tình hình thanh toán, khả năng ứng phó với các khoản nợ đến hạn. Nhìn chung đây là một dấu hiệu tốt. Mặt khác, còn phải kể đến sự tăng lên của tài sản ngắn hạn khác, năm 2015 so với năm 2014 tăng 79.918.175 đồng tương đương với tỷ lệ tăng 26,9%. Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2015 tăng 1.246.792.270 đồng so với năm 2014, tương ứng tăng 76,37%. Nguyên nhân là do Công ty đã làm tốt công việc thanh toán và chính sách tín dụng đối với khách hàng. Việc này có ảnh hưởng tích cực đến việc quản lý và sử dụng vốn.

Tuy nhiên tài sản ngắn hạn của Công ty đến năm 2016 lại có biến động giảm so với năm 2015, cụ thể giảm 275.444.731 đồng tương ứng tỷ lệ 2,66%. Nguyên nhân của giảm tài sản ngắn hạn chủ yếu là do chỉ tiêu hàng tồn kho của năm 2016 giảm so với năm 2015. Mặc dù các chỉ tiêu tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn và tài sản ngắn hnj khác vẫn tăng.

Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương

Tiền và các khoản tương đương tiền năm 2016 tăng 27.719.451 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 2,79%. Tài sản ngắn hạn khác, năm 2016 so với năm 2015 tăng 28.524.927 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 7,56% . Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2016 tăng 114.780.081 đồng so với năm 2015, tương ứng tăng 2,28%. Tuy nhiên hàng tồn kho năm 2016 giảm mạnh so với năm 2015, giảm 446.469.190 đồng tương ứng tỷ lệ giảm 11,28%

Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản ngắn hạn của Công ty là hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn. Trong khi tài sản ngắn hạn chiếm 72% (năm 2014) , chiếm 76% (năm 2015), chiếm 74% (năm 2016) trong tổng tài sản thì các khoản phải thu ngắn hạn chiếm 40% (năm 2014), chiếm 37% ( năm 2015), chiếm 38% (năm 2016), hàng tồn kho chiếm 24% (năm 2014), chiếm 29% (năm 2015), chiếm 26% (năm 2016), còn lại tiền và các khoản tương đương tiền, tài sản ngắn hạn khác chỉ chiếm các tỷ lệ nhỏ. Điều này cho thấy sự biến động của tài sản ngắn hạn chịu ảnh hưởng rất lớn từ sự biến động của các khoản mục này.

Về tài sản dài hạn:

Tài sản dài hạn là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự biến động về tổng giá trị tài sản của Công ty. Năm 2014, tài sản dài hạn của Công ty là 2.702.114.325 đồng, đến năm 2015 là 3.254.003.531 đồng tức là tăng lên 551.889.206 đồng tương ứng tỷ lệ tăng 20,42% so với năm 2014. Năm 2016 tài sản dài hạn đạt 3.554.974.061 đồng có tăng nhẹ so với năm 2015, cụ thể tăng 300.970.530 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 9,25%. Nguyên nhân góp phần vào sự tăng lên của tài sản dài hạn là do các yếu tố sau: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, tài sản dài hạn khác.

Các khoản phải thu dài hạn từ năm 2014 là 365.124.576 đồng tăng lên 637.512.473 đồng tại năm 2015, tăng 272.387.897 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 74,6%. Tuy nhiên sang đến năm 2016 thì chỉ tiêu này có xu hướng giảm xuống. Cụ thể năm 2016, các khoản phải thu dài hạn chỉ còn 352.412.358 đồng nghĩa là giảm 285.100.115 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 44,72%. Nguyên nhân ban đầu là do Công ty quản lý không tốt các khoản phải thu từ khách hàng. Điều này thể hiện vốn ứ đọng nhiều hơn tại khâu thanh toán, ảnh hưởng xấu đến chi phí sử

Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương dụng vốn. Tuy nhiên sang năm 2016, Công ty đã khắc phục được hiệu quả công tác quản lý nợ phải thu từ khách hàng, từ đó giảm thiểu các khoản phải thu này xuống đáng kể. Về tài sản cố định năm 2014 – 2016 có xu hướng tăng nhẹ, cụ thể năm 2014 là 2.241.345.124 đồng, năm 2015 là 2.524.125.643 đồng, năm 2016 là 3.120.247.125 đồng. Nghĩa là TSCĐ năm 2015 tăng hơn năm 2014 là 282.780.519 đồng tương ứng tỷ lệ tăng 12,62%, năm 2016 tăng hơn năm 2015 là 596.121.482 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 23,62%. Tuy nhiên tài sản dài hạn khác có xu hướng giảm rõ rệt qua ba năm, năm 2015 so với năm 2014 giảm 3.279.210 đồng, tương ứng giảm 3,43%, năm 2016 giảm so với năm 2015 là 10.050.837 đồng, tương ứng giảm 10,88%. Tài sản dài hạn khác giảm do chi phí trả trước dài hạn giảm. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Việc phân tích tình hình tài sản theo chiều ngang chỉ cho ta thấy biến động của các chỉ tiêu qua các năm mà chưa thấy được tỷ trọng tăng lên hay giảm đi của các chỉ tiêu chiếm trong tổng tài sản. Do vậy, để phân tích kỹ hơn về cơ cấu tài sản ta cần phân tích tài sản theo chiều dọc. Qua đó ta có thể thấy trong tổng tài sản thì tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn tài sản dài hạn. Cụ thể, năm 2014 tài sản ngắn hạn chiếm 72%, tài sản dài hạn chiếm 28% trong tổng tài sản. Năm 2015, tài sản ngắn hạn chiếm 76% và tài sản dài hạn chiếm 24% trong tổng tài sản. Đến năm 2016, tài sản ngắn hạn chiếm 74% và tài sản dài hạn chiếm 26%. Nhìn chung qua ba năm tỷ trọng của tài sản ngắn hạn luôn chiếm phần lớn hơn so với tài sản dài hạn. Tỷ trọng của tài sản ngắn hạn và dài hạn qua các năm có sự biến động tăng và giảm, tuy nhiên không đáng kể. Đối với một doanh nghiệp trẻ như Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương thì việc tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn là có thể hiểu được bởi Công ty phải đầu tư chi phí nguyên vật liệu (xăng, dầu,…) hay chi phí nhân công (chi phí tuyển dụng, đào tạo,…) ban đầu để phục vụ hoạt động kinh doanh.

2.2.1.2. Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của Công ty

Bảng 2.3: Cơ cấu sử dụng nguồn vốn của Công ty

Bảng 2.4: Tình hình biến động nguồn vốn của Công ty

Nhận xét:

Dựa vào bảng phân tích cơ cấu sử dụng nguồn vốn trên đây ta thấy được tổng nguồn vốn năm 2015 tăng lên 4.219.401.249 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 43,54% so với năm 2014, trong hai năm này có tỷ lệ tăng khá cao. Đến năm 2016 vẫn có xu hướng tăng nhẹ, tổng nguồn vốn năm 2016 tăng lên 25.525.799 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 0,19%. Điều này chứng tỏ trong năm 2015 và năm 2016 Công ty đã đầu tư thêm vốn vào hoạt động kinh doanh.

Về nợ phải trả:

Nợ phải trả của Công ty năm 2015 đã tăng 38,39% ứng với 2.105.745.264 đồng so với năm 2014, nợ phải trả tăng lên chủ yếu do nợ ngắn hạn tăng lên, Công ty không có nợ dài hạn. Tuy nhiên năm 2016, khoản nợ phải trả này đã giảm xuống 1.375.136.695 đồng so với năm 2015, tương ứng tỷ lệ giảm 18,11%. Sở dĩ, có mức giảm như vậy là do chủ trương của Công ty hạn chế huy động them nguồn vốn vay từ bên ngoài. Đây có thể coi là dấu hiệu tích cực, do Công ty chiếm dụng được các nguồn vốn khác, giảm được chi phí tài chính.

Về nguồn vốn chủ sở hữu:

Nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty năm 2015 so với năm 2014 tăng 2.023.655.985 đồng, tương ứng với 50,6%, năm 2016 tiếp tục tăng so với năm 2015, cụ thể tăng 1.400.662.494 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 23,26%. Nguyên nhan chủ yếu là do quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tăng lên.

Bên cạnh đó, cơ cấu nguồn vốn năm 2016 là 46% vốn vay, và 54% vốn chủ sở hữu. Điều đó chứng tỏ rằng Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương đã tự chủ và có tiềm lực về mặt tài chính.

2.2.2. Phân tích và đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Bảng 2.5. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty

Nhận xét:

Căn cứ vào bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương, ta có thể thấy rằng:

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2015 tăng so với năm 2014 là 4.901.792.783 đồng, tương ứng với tốc độ tăng là 27%. Năm 2016 doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng hơn năm 2015 khoảng 15%, cụ thể tăng thêm 3.476.467.353 đồng. Trong đó các khoản giảm trừ doanh thu của năm 2015 tăng hơn năm 2014 là 3%, nghĩa là tăng 31.105.126 đồng, năm 2016 chỉ tiêu này tăng nhiều hơn lên 16%, vào khoảng 189.646.766 đồng. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2015 tăng hơn năm 2014 là 6.028.553.133 đồng, tương ứng 28%, năm 2016 tăng hơn năm 2015 khoảng 9%, cụ thể là 2.128.955.111 đồng. Điều này phần nào thể hiện khả năng tiêu thụ của Công ty năm 2016 đã tăng lên đáng kể.

Giá vốn hàng bán năm 2015 tăng so với năm 2014, tăng 4.381.352.641 đồng, tăng khoảng 28%. Năm 2016 giá vốn hàng bán vẫn có xu hướng tăng, cụ thể tăng hơn năm 2015 là 284.891.310 đồng tương ứng với tốc độ tăng là 1%. Khối lượng tiêu thụ năm 2016 tăng lên, làm giá vốn hàng bán tăng lên; tuy nhiên tốc độ tăng giá vốn hàng bán chậm hơn tốc độ tăng doanh thu thuần.

Chi phí quản lý kinh doanh năm 2015 tăng mạnh so với năm 2014, tăng về số tuyệt đối là 606.823.727 đồng, tương ứng với tốc độ tăng 81%. Sang năm 2016 vẫn giữ tốc độ tăng, tuy nhiên đã có sự hạ nhiệt, cụ thể tăng của năm 2016 so với năm 2015 số tuyệt đối là 189.730.607 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 14%. Nguyên nhân là do Công ty đầu tư cho công tác Marketing, cũng như tìm kiếm khách hàng. Chi phí quản lý kinh doanh tăng một phần do Công ty đã chú trọng đầu tư cho khâu tuyển dụng, đào tạo nhân sự và mua máy móc thiết bị hiện đại để nâng cao hiệu quả của bộ phận quản lý. Tốc độ tăng của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng doanh thu thuần, tuy nhiên cả hai loại chi phí này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với doanh thu bán hàng nên sự tăng lên của chúng không ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ tăng lợi nhuận.

Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế của Công ty năm 2015 so với năm 2014 tăng 360.518.915 đồng, tương ứng với tốc độ tăng 23%. Năm 2016 tổng lợi nhuận kế toán trước thuế tăng mạnh hơn năm 2015, lên đến 58% cụ thể tăng 1.126.288.602 đồng. Như vậy, năm 2016, hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty tăng lên.

2.2.3. Phân tích một số chỉ tiêu tài chính đặc trưng của Công ty Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Các số liệu trên báo cáo tài chính chưa mô tả được hết thực trạng tài chính của doanh nghiệp, vì vậy các nhà tài chính còn sử dụng các hệ số tài chính để giải thích thêm về các mối quan hệ tài chính và coi hệ số tài chính là những biểu hiện đặc trưng nhất về tình hình tài chính của Công ty trong một thời kỳ nhất định.

2.2.3.1. Các hệ số khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của một Công ty được đánh giá dựa trên quy mô và khả năng luân chuyển của tài sản ngắn hạn, là những tài sản có khả năng luân chuyển nhanh, phù hợp với thời hạn thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.

Bảng 2.6: Phân tích các hệ số về khả năng thanh toán

Hệ số thanh toán tổng quát năm 2015 tăng so với năm 2014 từ 1,73 lần năm 2014 tăng lên 1,79 lần năm 2015, cụ thể đã tăng 0,06 lần, tương ứng tăng 3,47%. Năm 2016 hệ số thanh toán tổng quát tăng 0,4 lần so với năm 2015, tương ứng tăng 22,35%. Điều này có nghĩa là cứ 1 đồng vay nợ (nợ ngắn hạn) của Công ty thời điểm năm 2014 có 1,73 đồng giá trị tài sản đảm bảo , còn thời điểm năm 2015 là 1,79 đồng, năm 2016 là 2,19 đồng. Ta thấy hệ số thanh toán như trên là tốt, chứng tỏ tất cả các khoản huy động bên ngoài đều có tài sản đảm bảo. Hệ số này ở thời điểm năm 2016 cao hơn so với năm 2014 và năm 2015 là do trong năm Công ty đã giảm huy động thêm vốn từ bên ngoài với tốc độ tăng của vốn vay lớn hơn tốc độ tăng của tài sản. Cụ thể, nợ phải trả năm 2015 so với năm 2014 tăng 2.105.745.264 đồng tương ứng với tốc độ tăng 38,39%; tuy nhiên nợ phải trả năm 2016 giảm so với năm 2015 là 1.375.136.695 đồng, tương ứng tỷ lệ giảm 18,16%. Tổng tài sản năm 2015 cũng tăng 4.129.401.249 đồng so với năm 2014 tương ứng với tốc độ tăng 43,54%, tổng tài sản năm 2016 tăng so với năm 2015 là 25.525.799 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 0,19%. Điều này làm cho khả năng thanh toán tổng quát của Công ty tăng lên.

Hệ số thanh toán ngắn hạn của Công ty có xu hướng tăng. Năm 2014 cứ đi vay 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 1,24 đồng tài sản ngắn hạn đảm bảo, năm 2015 con số này tăng lên 1,36 đồng, năm 2016 là 1,63 đồng. Như vậy khả năng thanh toán ngắn hạn năm 2015 đã tăng 0,12 lần so với năm 2014, năm 2016 tăng 0,26 lần so với năm 2015. Nguyên nhân là do tài sản ngắn hạn năm 2015 tăng 53,76% so với năm 2014, nợ ngắn hạn lại tăng 38,39% so với năm 2014. Tuy nhiên chỉ số này sang năm 2016 lại giảm, cụ thể tài sản ngắn hạn năm 2016 giảm 2,6% so với năm 2015 và nợ ngắn hạn giảm 18,16% so với năm này. Khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty vẫn ở mức khá cao, đủ khả năng thanh toán được hết các khoản nợ ngắn hạn đến hạn.

Hệ số thanh toán tức thời của Công ty năm 2014 là 0,08 lần trong khi năm 2015 là 0,13 lần, năm 2016 là 0,16 lần tăng 0,03 lần so với năm 2015, đây là một tín hiệu tốt. Hệ số này thể hiện khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng số tiền đang có của doanh nghiệp, hệ số này biến động từ 0,5 – 1 là bình thường. Tuy nhiên khả năng thanh toán tức thời của Công ty cả hai năm đều nhỏ hơn 1, điều đó cho thấy tình hình thanh toán nợ chưa tốt.

Hệ số thanh toán lãi vay năm 2016 thấp hơn năm 2014 và 2015. Cụ thể, năm 2016 cứ 1 đồng lãi vay thì tạo ra 6,39 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, trong khi năm 2014 tạo ra 10,96 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay., còn năm 2015 là 7,25 đồng; giảm xuống 0,86 đồng. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp chưa tốt, chưa đảm bảo được khả năng chi trả lãi vay trong kỳ.

Qua phân tích, nhìn chung khả năng thanh toán của Công ty khá tốt qua các năm chứng tỏ Công ty ngày càng độc lập về mặt tài chính, khả năng thanh toán tổng quát và khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty có xu hướng tăng.

2.2.3.2. Các hệ số phản ánh cơ cấu tài sản, nguồn vốn và tình hình đầu tư Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Cấu trúc tài chính thường được các nhà quản lý xem xét theo nghĩa rộng tức là xét cả cơ cấu tài sản, nguồn vốn và mối quan hệ tài sản – nguồn vốn. Bởi vì cơ cấu tài sản phản ánh tình hình sử dụng vốn, cơ cấu nguồn vốn phản ánh tình hình huy động vốn, còn mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn phản ánh chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Để hiểu rõ tình hình huy động vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp ta tiến hành phân tích cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản và tình hình đầu tư của doanh nghiệp.

Bảng 2.7: Phân tích các hệ số về cơ cấu tài sản, nguồn vốn và tình hình đầu tư

Qua bảng phân tích trên ta thấy:

Hệ số nợ (Hv) là một chỉ tiêu tài chinh phản ánh trong một đồng vốn hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vốn đi vay. Nếu như hệ số này càng cao thì tính độc lập về tài chính của doanh nghiệp sẽ càng kém. Ta thấy rằng hệ số nợ của Công ty trong hai năm 2014 và 2015 đến năm 2016 có xu hướng giảm, cụ thể năm 2015 chỉ số Hv giảm hơn năm 2014 là 0,02 lần tương ứng 3,45%, năm 2016 giảm tiếp so với năm 2015, từ 0,56 lần xuống 0,46 lần, nghĩa là đã giảm 0,1 lần, tương ứng 17,86%. Số liệu này cho thấy năm 2014 cứ 1 đồng vốn Công ty đang sử dụng thì có 0,58 đồng vay nợ, năm 2015 thì cứ 1 đồng vốn Công ty sử dụng thì có 0,56 đồng vay nợ, năm 2016 cứ 1 đồng vốn Công ty đang sử dụng có 0,46 đồng vay nợ. Điều này cho thấy Công ty đã hạn chế được sự phụ thuộc nhiều vào các chủ nợ, giảm sức ép từ các khoản nợ vay và rủi ro tài chính giảm xuống, nguyên nhân là do nợ phải trả giảm (18,11%) với tốc độ chậm hơn so với tốc độ tăng của tổng vốn (17,86%). Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Tỷ suất tự tài trợ (Hc) là một chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn chủ sở hữu trong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp. Trong năm 2014 cứ 1 đồng vốn Công ty sử dụng thì có 0,42 đồng là vốn chủ sở hữu, sang năm 2015 thì tăng lên 0,44 đồng là vốn chủ sở hữu. Năm 2016 tiếp tục tăng cứ 1 đồng vốn Công ty sử dụng có 0,54 đồng vốn chủ sở hữu. Kết quả này cho thấy mức độ độc lập về tài chính của Công ty đã có xu hướng tăng.

Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn (T1) sẽ cho biết việc bố trí cơ cấu tài sản của Công ty, phản ánh tình hình trang thiết bị , cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tỷ suất này ở cả hai năm đều khá thấp, cụ thể năm 2014 cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,28 đồng đầu tư vào TSDH, năm 2015 giảm xuống còn 0,24 đồng, giảm 0,04 đồng, năm 2016 có tăng nhẹ trở lại, cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,26 đồng đầu tư vào TSDH,… Điều này cho thấy Công ty có đầu tư mua sắm thêm tài sản cố định mới để phục vụ sản xuất kinh doanh, như vậy mức độ quan trọng của tài sản dài hạn trong tổng tài sản mà Công ty sử dụng ngày càng tăng.

Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn (T2) của Công ty có xu hướng tăng. Năm 2014 trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,72 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn, năm 2014 trong 1 đồng vốn kinh doanh có 0,76 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn, tăng 0,04 đồng. Tuy nhiên đến năm 2016 có sự giảm nhẹ, cụ thể thì chỉ tiêu này giảm 0,02 đồng so với năm 2015. Việc giảm chủ yếu là do Công ty nhận thấy năm 2016 là một năm đầy biến động nên rút bớt các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.

Tỷ suất đầu tư tài trợ tài sản dài hạn (T3) sẽ cung cấp thông tin cho biết số vốn CSH của doanh nghiệp dùng để trang bị TSCĐ là bao nhiêu. Nhìn chung tỷ suất tự tài trợ của Công ty rất lớn, năm 2014 là 1,48 lần còn năm 2015 là 1,85 lần, năm 2016 là 2,09 lần; tăng 0,24 lần so với năm 2015.

Quan phân tích trên, ta có thể thấy trong cơ cấu tổng tài sản thì tài sản ngắn hạn lại chiếm tỷ trọng lớn hơn tài sản dài hạn. Điều này cho thấy, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty phần nào chưa hợp lý đối với đặc thù của một Công ty kinh doanh dịch vụ hàng hải, mà loại tài sản đóng góp vào quá trình kinh doanh chủ yếu là TSCĐ như Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương.

2.2.3.3. Phân tích các chỉ số về hoạt động Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Bảng 2.8: Phân tích các chỉ số về hoạt động

Qua bảng phân tích các chỉ số về hoạt động ta thấy rằng:

  • Số vòng quay các khoản phải thu của doanh nghiệp qua hai năm có xu hướng giảm dần. Năm 2015 số vòng quay các khoản phải thu là 4,7 vòng, năm 2016 là 4,51 vòng, giảm 0,19 vòng so với năm 2015. Vòng quay các khoản phải thu tăng lên là do trong kỳ doanh thu thuần tăng 9%, trong khi các khoản phải thu bình quân tăng 13,74%, làm cho vòng quay các khoản phải thu giảm 4,04%. Vòng quay càng nhỏ chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu chậm, đây là một dấu hiệu không tốt của doanh nghiệp.
  • Do vòng quay các khoản phải thu của Công ty giảm làm cho kỳ thu tiền bình quân của Công ty tăng lên. Năm 2015 kỳ thu tiền bình quân là 76,6 ngày, năm 2016 là 19,82 ngày; đã giảm 3,22 ngày so với năm 2015. Đây là một dấu hiệu không tốt bởi doanh nghiệp chưa giảm được sự ứ đọng vốn ở khâu thanh toán, những khoản nợ khó đòi, … Số ngày ở đây phản ánh tình hình tiêu thụ mà cụ thể là sức hấp dẫn của sản phẩm mà doanh nghiệp đang tiêu thụ cũng như chính sách thanh toán mà doanh nghiệp đang áp dụng.
  • Vòng quay vốn lưu động của Công ty qua hai năm có xu hướng giảm xuống. Cụ thể, năm 2015 vòng quay vốn lưu động bình quân là 2,69 vòng tức là cứ bình quân 1 đồng vốn lưu động đưa vào sản xuất kinh doanh thì thu về 2,69 đồng doanh thu thuần. Hệ số này ở năm 2016 là 2,46 vòng, giảm xuống 0,23 vòng so vớinăm 2015, có nghĩa là cứ 1 đồng vốn lưu động bỏ ra thì thu về 2,46 đồng doanh thu thuần. Điều này là do tốc độ tăng doanh thu thuần (9%) thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của vốn lưu động bình quân (19,26%).
  • Ta thấy năm 2015 trung bình cứ 133,83 ngày thì vốn lưu động của Công ty quay được 1 vòng, năm 2016 tăng lên 146,34 ngày. Việc này là do vòng quay vốn lưu động năm 2016 giảm 0,23 vòng so với năm 2015 làm cho số ngày 1 vòng quay vốn lưu động tăng lên 9,35 ngày.
  • Hiệu suất sử dụng VCĐ của Công ty có xu hướng giảm. Năm 2015 hiệu suất sử dụng VCĐ của Công ty là 7,74 tức là cứ 1 đồng VCĐ bình quân bỏ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 7,74 đồng doanh thu thuần, năm 2016 hiệu suất sử dụng VCĐ giảm xuống 7,4 tức là cứ 1 đồng CVĐ bỏ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra 7,4 đồng doanh thu thuần.
  • Vòng quay toàn bộ vốn qua hai năm có xu hướng giảm. Năm 2015 cứ trung bình 1 đồng vốn bỏ vào sản xuất kinh doanh thì thu được 1,99 đồng doanh thu thuần, đến năm 2016 đã thu được 1,85 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do doanh thu thuần đã tăng 9% trong khi vốn kinh doanh bình quân tăng mạnh 17,99%.

2.2.3.4. Phân tích các chỉ số về khả năng sinh lời

Các chỉ số sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định và là đáp số của hiệu quả kinh doanh, là căn cứ quan trọng để hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Bảng 2.9: Phân tích các chỉ số sinh lời

Nhận xét:

  • Hệ số lãi ròng (ROS) năm 2016 so với năm 2015 tăng 28,57%. Năm 2015 cứ 100 đồng doanh thu tạo ra được 7,0 đồng lợi nhuận sau thuế, đến năm 2016 thì cứ 100 đồng doanh thu tạo ra được 9,0 đồng lợi nhuận sau thuế. Chứng tỏ hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang khá tốt.
  • Về tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) năm 2016 đã tăng so với năm 2015 là 38,46% do lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản đều tăng. Năm 2015 cứ 100 đồng giá trị tài sản bỏ vào sử dụng tạo ra được 13,0 đồng lợi nhuận sau thuế, đến năm 2016 thì cứ 100 đồng giá trị tài sản bỏ vào sử dụng thu được 18,0 đồng lợi nhuận sau thuế. Nguyên nhân là do lợi nhuận sau thuế tăng lên 58%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của tổng tài sản bình quân là 17,99%. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty có hiệu quả.
  • Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư. Trong hai năm 2015 và 2016 chỉ tiêu này có xu hướng tăng, năm 2015 là 0,3 và sang năm 2016 là 0,36. Trong năm 2015 cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được 30 đồng lợi nhuận sau thuế, sang năm 2016 cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đã tạo ra được 36 đồng lợi nhuận sau thuế, hơn 6 đồng so với năm 2015. Nguyên nhân là do vốn chủ sở hữu tăng lên 34,17% trong khi lợi nhuận sau thuế tăng nhiều hơn với 58%. Ta thấy cả hai năm 2015 và 2016, ROE đều lớn hơn ROA, điều này cho thấy việc sử dụng vốn vay có hiệu quả trong việc gia tăng lợi nhuận trên một đồng vốn chủ sở hữu.

2.2.4. Phân tích phương trình Dupont

Phân tích phương trình Dupont sẽ cho ta thấy được mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), các nhân tố ảnh hưởng tới hai tỷ suất này, trên cơ sở đó có thể đưa ra biện pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty.

2.2.4.1 Phân tích ROA Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Từ đẳng thức trên ta thấy cứ bình quân đưa ra 100 đồng giá trị tì sản vào sử dụng trong năm 2015 thì tạo ra được 13,0 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2016 là 18,0 đồng. Do hai nhân tố ảnh hưởng:

  • Sử dụng 100 đồng giá trị tài sản vào sản xuất kinh doanh năm 2015 tạo ra được 186 đồng doanh thu thuần, năm 2016 tạo ra được 200 đồng doanh thu thuần.
  • Trong 100 đồng doanh thu thuần thực hiện trong năm 2015 có 7,0 đồng lợi nhuận sau thuế và năm 2016 là 9,0 đồng.

Như vậy có hai hướng để tăng ROA là tăng tỷ suất lợi nhuận biên (ROS) hoặc tăng vòng quay tổng vốn kinh doanh.

  • Tăng ROS bằng cách tối ưu hóa mọi công đoạn hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất để tăng lợi nhuận hoạt động.
  • Tăng vòng quay vốn kinh doanh bằng cách tăng doanh thu, giảm giá bán, tăng cường hoạt động quảng bá xúc tiến bán hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm.

2.2.4.2. Phân tích ROE

Tổng tài sản

ROE = ROA x Vốn cổ phần

Ta thấy cứ bình quân 100 đồng vốn chủ sở hữu đưa vào sản xuất kinh doanh năm 2015 thì tạo ra được 30 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2016 tạo ra được 36 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy, doanh lợi vốn chủ sở hữu tăng qua các năm, do ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu, vòng quay tổng vốn và hệ số vốn/ vốn CSH (hệ số nợ).

  • Năm 2015, trong 100 đồng vốn kinh doanh thì có 14 đồng hình thành từ vốn vay, sang năm 2016 thì 100 đồng vốn kinh doanh thì có 7,5 đồng hình thành từ vốn vay.
  • Sử dụng bình quân 100 đồng vốn vào sản xuất kinh doanh năm 2015 tạo ra được 199 đồng doanh thu thuần, năm 2016 tạo ra được 185 đồng doanh thu thuần.
  • Trong 100 đồng doanh thu thuần thực hiện trong năm 2015 có 7,0 đồng lợi nhuận sau thuế và năm 2016 là 9,0 đồng.

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu quan trọng đối với chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư., bởi mục tiêu là tạo ra lợi nhuận ròng hay chính lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ việc đầu tư của vốn chủ ngày càng tốt và nâng cao uy tín đối với cổ đông, người lao động, và các nhà đầu tư.

Sơ đồ 2.2. Phương trình Dupont năm 2016 Doanh lợi tổng vốn 18%

2.3. Đánh giá chung tình hình tài chính của Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Qua quá trình phân tích ở các phần trước, sau đây ta trình bày tổng quát lại một số các chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh, đánh giá khái quát được hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương để từ đó rút ra được các ưu điểm, nhược điểm, hạn chế còn tồn tại. Để từ đó có các biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty.

Bảng 2.10: Tổng hợp các chỉ tiêu tài chính cơ bản của Công ty

Qua bảng số liệu trên, ta có thể rút ra được một số các ưu điểm và nhược điểm của Công ty cổ phần hàng hải Minh Lương như sau:

2.3.1. Ưu điểm

Doanh thu của Công ty tăng qua các năm với tốc độ tăng khá nhanh so với tốc độ tăng của giá vốn hàng bán nên làm cho lợi nhuận cũng tăng lên một cách đáng kể. Có thể nói đây là một dấu hiệu tốt, chứng tỏ công tác quản lý chi phí sản xuất của Công ty hiệu quả.

Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty ngày càng tăng.

Công ty đã có độ tự chủ về tài chính, khả năng thanh toán các khoản nợ đến nợ đạt được ở mức khá, an toàn cao. Cụ thể qua các chỉ số về khả năng thanh toán của Công ty các năm gần đây, đều có xu hướng tăng, đạt được ở mức ổn định.

Về khả năng sinh lời, thông qua các chỉ số ROA, ROS và ROE các năm gần đây, nhận thấy đều có xu hướng tăng nhẹ, cho thấy khả năng quản lý của Công ty bước đầu đã đạt được những hiệu quả nhất định.

Công ty đã thực hiện đúng chế độ kế toán của Bộ tài chính quy định, kịp thời sửa đổi, bổ sung những thông tư, chuẩn mực, luật kế toán mới.

Thực hiện tốt nghĩa vụ nộp ngân sách và quy định tài chính, thuế của Nhà nước.

2.3.2. Nhược điểm Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm nêu ở trên, tình hình tài chính của doanh nghiệp vẫn còn tổn tại một số hạn chế sau:

  • Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp có xu hướng tăng làm giảm lợi nhuận, Công ty cần tìm hiểu rõ nguyên nhân để từ đó đưa ra được phương hướng giải quyết thích hợp.
  • Vòng quay các khoản phải thu , vòng quay vốn cố định, vốn lưu động của Công ty đều có xu hướng giảm trong các năm gần đây, cần phải đưa ra các biện pháp chủ chốt để làm tăng số vòng quay này lên, đồng nghĩa với việc phải giảm được số ngày của kỳ thu tiền bình quân.
  • Hệ số nợ có xu hướng giảm tuy nhiên không nhiều, do vòng quay các khoản phải thu vẫn có xu hướng tăng, vì vậy cần tìm ra các biện pháp thích hợp để tăng cường công tác quản lý các khoản phải thu để giảm bớt các khoản phải thu đặc biệt là các khoản phải thu khó đòi. Cần trích lập các quỹ dự phòng đối với các khoản phải thu khó đòi trên.
  • Từ việc phân tích cơ cấu tài sản, ta nhận thấy tỷ trọng tài sản ngắn hạn hơn hẳn tài sản dài hạn, điều này không hợp lý cho một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải, bốc xếp dỡ hàng hóa,…. Với loại tài sản chủ yếu là tài sản cố định. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Biện pháp NC hiệu quả tài chính tại Cty Minh Lương

One thought on “Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty Minh Lương

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát chung về Công ty Minh Lương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464