Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông – Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

Hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra cho các NHTM Việt Nam không ít thách thức. Để đứng vững trong môi trường cạnh tranh, các dịch vụ Ngân hàng hiện đại đã được các NHTM lựa chọn nhằm đáp ứng xu hướng phát triển lâu dài, bền vững; mà trong đó, dịch vụ thẻ được coi là một bước đột phá, nhanh chóng trở thành phương tiện hữu hiệu, phổ biến và được ưa chuộng nhất hiện nay. Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Trong thời kì hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực, dịch vụ thẻ càng được quan tâm, chú trọng để trở thành dịch vụ an toàn và văn minh nhất. Sự ra đời của thẻ cũng khắc phục được rất nhiều nhược điểm của tiền mặt. Nhận thấy những ưu điểm đó của thẻ, thị trường thẻ tại Việt Nam trong hai năm trở lại đây sôi động hẳn lên, như được thổi luồng sinh khí mới mà trước đó, dịch vụ thẻ còn là khái niệm khá mới mẻ với người tiêu dùng Việt Nam. Thực tại cho thấy, thị trường thẻ ở Việt Nam mới bước vào giai đoạn sơ khai, do đó để hoàn thiện các hoạt động dịch vụ thẻ, các Ngân hàng cần học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển, đồng thời không ngừng lắng nghe ý kiến phản hồi từ khách hàng nhằm tích lũy kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn.

Nắm bắt được các nhu cầu của khách hàng, cũng như bắt kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, NHTMCP Phương Đông đã lần lượt triển khai nhiều loại sản phẩm thẻ, đẩy mạnh hàng loạt dịch vụ thẻ đi kèm. Tuy nhiên, hoạt động dịch vụ thẻ của NHTMCP Phương Đông CN Hải Phòng vẫn còn nhiều mặt hạn chế, bất cập: Sự tăng trưởng của dịch vụ thẻ trong những năm qua có đạt được sự cân bằng giữa số lượng và chất lượng không? Kết quả đạt được có tương xứng với tiềm năng? Có đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng trong nền kinh tế?… Với những lý do trên và qua quá trình học hỏi từ thực tiễn công việc, em chọn đề tài: “Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phương Đông Chi nhánh Hải Phòng” làm nội dung khóa luận tốt nghiệp của mình.

Nội dung khóa luận có kết cấu 3 chương:

Chương I: Lý luận cơ bản về dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thương mại.

Chương II: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phương Đông Chi nhánh Hải Phòng.

Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phương ĐôngChi nhánh Hải Phòng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Thẻ Ngân hàng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàngThương mại Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

1.1.1. Chức năng của tiền tệ và sự ra đời của thẻ

Hoạt động của Ngân hàng thương mại là thực hiện các chức năng của tiền tệ, tín dụng và thanh toán.

Tiền tệ là một phạm trù lịch sử; ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với tiến trình ra đời, phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ngoài những chức năng cơ bản như thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán…, tiền tệ còn là phương tiện để thực hiện các hoạt động khác như tín dụng, đầu tư,… Trong giai đoạn hiện nay, tiền tệ có sự thay đổi về vai trò và vị trí. Tiền tệ là một trong những công cụ để nhà nước điều hành các hoạt động kinh tế theo một chính sách nhất định của mình, nó liên quan mật thiết với thị trường và thể hiện sự tổng hợp thông tin về các thị trường đó.

Cho đến nay, tiền tệ đã trải qua các hình thái biểu hiện chủ yếu như: tiền thực, tiền danh nghĩa, tiền ghi sổ và tiền điện tử. Trong đó:

Tiền thực là một loại hàng hóa chung, có giá trị nội tại được thừa nhận, phục vụ cho quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa. Tiền thực có thể là kim loại quý hiếm hoặc là các đồ vật có giá trị khác tùy vào sự công nhận trong quá trình phát triển của lịch sử.

Tiền danh nghĩa là một thứ tiền tệ mà bản thân nó không có hoặc không đủ giá trị. Nó được sử dụng dựa trên việc thị trường chấp nhận lưu thông tiền thực không đủ giá và sự tín nhiệm của người sử dụng.

Tiền ghi sổ là một hình thái tiền tệ được sử dụng tại các hệ thống Ngân hàng bằng cách ghi chép trong sổ sách kế toán. Khi nền kinh tế và hệ thống Ngân hàng phát triển thì hình thức này chiếm vị trí quan trọng. Nó góp phần giảm bớt chi phí cũng như giao dịch.

Tiền điện tử là một biểu hiện mới của tiền tệ trong thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ. Có nhiều tên gọi như: “tiền điện tử”, “ví điện tử”, “tiền thông minh”, “tiền nhựa”… hay gọi tắt là các loại thẻ. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng các loại thẻ với tên gọi như vậy không được coi là tiền tệ, bởi lẽ nó không có đầy đủ các chức năng của tiền thực, nó chỉ là biểu hiện tổng hợp của các hình thái tiền tệ khác.

Quá trình vận động của tiền tệ trong nền kinh tế, trong dân cư và qua các tổ chức Ngân hàng đã phát sinh ra việc có người tạm thời sở hữu tiền nhàn rỗi hoặc có ý định đầu tư sinh lãi, trong khi có người khác thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Đây là cơ sở khách quan để tín dụng ra đời. Hiểu một các tổng quát thì tín dụng là sự vay mượn có hoàn trả. Từ khi ra đời, tín dụng đã nhanh chóng trở thành chức năng cơ bản của Ngân hàng và ngày một phát triển cả về quy mô lẫn hình thức.

Bên cạnh các chức năng của tiền tệ và tín dụng, chức năng thanh toán của Ngân hàng chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Với chức năng này, các NHTM đóng vai trò trung gian thực hiện các yêu cầu của khách hàng nhằm thỏa mãn mục đích của họ thông qua các hình thức thanh toán, thu/chi hộ, chuyển tiền,… bằng cách trích chuyển trên sổ sách ghi chép, luân chuyển thông tin từ quyền sở hữu của người này sang người khác, từ nơi này sang nơi khác mà không sử dụng đến tiền mặt. Việc tiến hành thanh toán theo nguyên tắc trên được gọi chung là thanh toán không dùng tiền mặt.

Thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng là cơ sở cơ bản để luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế. Với các chức năng tiền tệ và tín dụng ngày một phát triển dựa trên cơ sở thanh toán không dùng tiền mặt thông qua hệ thống Ngân hàng giữa các nước đã trở nên khá phổ biến và đặc biệt là dựa vào nền tảng phát triển công nghệ tin học, thông tin lưu truyền với tốc độ nhanh; một hình thức thanh toán, một phương tiện thanh toán văn minh mới đã ra đời, nhanh chóng được đời sống xã hội ở nhiều quốc gia thừa nhận và phát triển, đó là: hình thức thanh toán thẻ.

Hình thức thanh toán thẻ là sự kết hợp các hình thức thanh toán như thanh toán chứng từ, thanh toán điện tử; kết hợp song song cùng các nghiệp vụ của Ngân hàng như tiền gửi, cho vay,… trên cơ sở công nghệ Ngân hàng đang có nhiều bước tiến mới. Do vậy, thẻ ra đời như một tất yếu khách quan trong thời đại ngày nay.

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và cấu tạo thẻ Ngân hàng Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Khái niệm

Xét từ các góc độ, nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra các khái niệm khác nhau về thẻ. Song, tựu chung lại, bản chất của thẻ là một phương tiện thanh toán, chi trả mà người sở hữu có thể dùng để thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt hoặc sử dụng nó làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do Ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp. Thẻ không hoàn toàn là tiền tệ, nó là biểu tượng về sự cam kết của Ngân hàng hoặc tổ chức phát hành ra nó, đảm bảo thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của Ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại Ngân hàng.

Bản chất của thẻ có thể hiểu thông qua các khái niệm về thẻ như sau:

  • Góc độ tổng quát: Thẻ là một danh từ chung chỉ một vật nhỏ, gọn, chứa đựng các thông tin nhằm sử dụng vào một hoặc một số mục đích nào đó. Do vậy, thẻ sẽ được gắn với các tính chất, đặc điểm, nội dung riêng biệt để trở thành một loại cụ thể như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ…
  • Góc độ phát hành: Thẻ là phương tiện do Ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt.
  • Góc độ công nghệ thanh toán: Thẻ là phương thức thanh toán ghi sổ điện tử số tiền của các giao dịch cần thanh toán thực hiện trên hệ thống thanh toán được kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ Ngân hàng và tin học viễn thông.
  • Dưới góc độ NHNN Việt Nam: Thẻ Ngân hàng là phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ không dùng tiền mặt hoặc có thể được rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc các Ngân hàng đại lý; hoặc: Thẻ Ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán chi phí mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ tại các điểm chấp nhận. (trích Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ Ngân hàng ban hành theo Quyết định 371/1999/QD-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Như vậy, xuất phát từ thực tiễn qua quá trình phát triển các chức năng sử dụng các loại thẻ hiện nay, dựa trên sự phát triển của công nghệ thì mục đích sử dụng của thẻ không còn bó hẹp trong từng lĩnh vực cụ thể như khi mới hình thành nữa. Với một tấm thẻ, người dùng không chỉ sử dụng để thanh toán tại ĐVCNT để mua hàng hóa dịch vụ, cũng không chỉ dùng để rút tiền mặt, chuyển khoản, xem sao kê tài khoản của mình tại Ngân hàng, giao dịch mua bán qua mạng lưới Internet, trả cước phí dịch vụ công cộng; mà chủ thẻ còn có thể vừa sử dụng bằng tiền gửi của mình tại Ngân hàng, vừa sử dụng tiền vay nếu được Ngân hàng chấp nhận… Do đó, từ sự kết hợp giữa nội dung, mục đích, tác dụng… của các loại thẻ qua thực tiễn phát sinh, có thể hiểu: Thẻ chính là chìa khóa đa năng để chủ thẻ kết nối với các chủ thể khác tham gia hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ được thỏa thuận trước nhằm thực hiện các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của mình.

Đặc điểm

Thẻ là một công cụ thanh toán có những đặc điểm khác hẳn so với các công cụ thanh toán khác.Trong điều kiện ngày nay, khi công nghệ thông tin phát triển trình độ cao thì thanh toán bằng thẻ là phương thức thanh toán phổ biến thay thế cho các phương tiện thanh toán truyền thống. Bởi lẽ, thẻ có rất nhiều đặc tính vượt trội, như: Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

  • Tính linh hoạt: thẻ được sánh ví như “ví tiền điện tử” an toàn, tiện dụng, nhanh chóng và vô cùng hiện đại .
  • Tính thuận tiện: với kích thước nhỏ gọn trong lòng bàn tay nhưng lại có sức chứa đựng hàm lượng thanh khoản lớn hoặc di chuyển xa, chủ thẻ có thể sử dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào mà không phải mang theo tiền mặt hay sec du lịch. Hay với thẻ tín dụng, chủ thẻ có thể thực hiện các giao dịch trước, sau đó thanh toán mà không bị tính lãi trong thời hạn được cấp…
  • Tính an toàn và tốc độ: thẻ được chế tạo tinh tế dựa trên kỹ thuật hết sức tinh vi, hiện đại và khó làm giả; vì vậy độ an toàn của thẻ được đảm bảo. Đồng thời, trước những phát triển vượt trội của mạng lưới internet và các tiện ích chuyên biệt của thẻ, chủ thẻ có thể an tâm về tốc độ mau chóng chính xác khi sử dụng thẻ.

Cấu tạo của thẻ

Hầu hết các loại thẻ hiện nay đều được làm bằng nhựa (Plastic), hình chữ nhật có kích thước được tiêu chuẩn hóa quốc tế 54mm x 84mm, dày 1mm có bốn góc tròn, thẻ có 3 lớp. Hai mặt của thẻ được nhận biết như sau:

Mặt trước của thẻ

  • Biểu tượng của thẻ: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của Tổ chức phát hành thẻ. Đây được xem như thương hiệu của tổ chức phát hành thẻ và là yếu tố an ninh chống lại sự làm giả.
  • Số thẻ: Đây là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ, số được dập nổi trên thẻ. Tùy theo từng loại thẻ mà số có cấu trúc khác nhau và nhóm số khác nhau.
  • Ngày hiệu lực của thẻ: là thời gian thẻ được cấp phép lưu hành. Tính từ ngày đầu tiên của tháng, năm phát hành đến ngày cuối cùng của tháng, năm hết hạn.
  • Họ và tên của chủ thẻ: được in nổi trên thẻ. Ngoài ra có một số thẻ in cả ảnh của chủ thẻ.
  • Ký tự an ninh: là mật mã của đợt phát hành, in phía sau của ngày hiệu lực.

Mặt sau của thẻ

  • Dải tính từ: có khả năng lưu giữ các thông tin mật.
  • Băng chữ kí: trên băng giấy này là chữ kí của chủ thẻ để cơ sở chấp nhận thẻ có thẻ đối chiếu khi thanh toán.
  • Các phần khác: điện thoại dịch vụ khi có thắc mắc sử dụng thẻ và một số lưu ý được in nhỏ chữ nghiêng bên dưới.

1.1.3. Phân loại thẻ

Tùy vào nhu cầu của người sử dụng mà mỗi loại thẻ sẽ có những tiện ích khác nhau. Chúng ta cóthể sử dụng thẻ để rút tiền, nạp tiền, chuyển khoản tại máy ATM; sử dụng thẻ để mua sắm, thanh toán tại các điểm chấp nhận thẻ… Từ đó, thẻ cũng được phân loại với nhiều tên gọi khác nhau, ví dụ như: Thẻ ATM, Thẻ tín dụng, Thẻ thanh toán… Xuất phát từ chính nhu cầu của con người nên chiếc thẻ đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực phục vụ đời sống con người. Và dưới những quan điểm, góc độ khác nhau, người ta có nhiều cách để phân loại thẻ:

Thẻ Ngân hàng

Sơ đồ 1.1: Phân loại thẻ Ngân hàng

  • Phân loại theo đặc tính kĩ thuật
  • Thẻ khắc chữ nổi (Imbosed Card): là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc nổi các thông tin cần thiết trên bề mặt thẻ. Hiện nay,người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật sản xuất thô sơ, dễ bị lợi dụng làm giả.
  • Thẻ băng từ (Magnetic Strip): thẻ được sản xuất dựa trên kĩ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ. Tuy nhiên, thẻ từ chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa tin hẹp, không áp dụng được các kỹ thuật đảm bảo an toàn nên những năm gần đây, thẻ từ đó bị lợi dụng lấy cắp tiền. Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB
  • Thẻ chíp (Smart Card): là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán được dựa trên kĩ thuật vi xử lí tin học nhờ gắn vào thẻ một “chip” điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “chip” điện tử khác nhau. Hiện nay, thẻ thông minh được sử dụng rất phổ biến trên thế giới vì có ưu điểm về mặt kỹ thuật độ an toàn cao, khó làm giả được, ngoài ra còn làm cho quá trình thanh toán thuận tiện, an toàn và nhanh chóng hơn.

Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ

  • Thẻ do Ngân hàng phát hành: là loại thẻ do Ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại Ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nó không chỉ lưu hành trong một quốc gia mà còn có thể lưu hành trên phạm vi toàn cầu như Visa, Mastercard, JBC…
  • Thẻ do các tổ chức phi Ngân hàng phát hành: đó là thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành: Diners Club, Amex…hay đó cũng có thể là thẻ được phát hành bởi các công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn, các cơ sở kinh doanh…phát hành. Với loại thẻ này yêu cầu chủ thẻ đến cuối tháng phải thanh toán toàn bộ số dư nợ vào tài khoản. Cũng với loại thẻ này, công ty trực tiếp thực hiện nghiệp vụ thẻ và thu phí từ chủ thẻ và ĐVCNT.

Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ

  • Thẻ tín dụng: là loại thẻ sử dụng phổ biến nhất, theo đó chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn, máy bay…có chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng được xem như thẻ Ngân hàng vì chúng thường được phát hành bởi các Ngân hàng. Các Ngân hàng quy định một hạn mức tín dụng nhất định cho chủ thẻ và chỉ được chi tiêu trong hạn mức đã cho. Đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kì hạn nhất định.
  • Thẻ ghi nợ: đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Khi mua hàng hoá dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua các thiết bị điện tử tại các cửa hàng, khách sạn & đồng thời ghi có ngay vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn đó. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.

Phân loại theo phạm vi sử dụng

  • Thẻ nội địa: Là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa hay rút tiền mặt phải là đồng bản tệ của quốc gia đó. Loại thẻ này cũng có công dụng như những loại thẻ trên nhưng hoạt động của nó đơn giản hơn bởi nó chỉ do một tổ chức hay do một Ngân hàng điều hành đến xử lý trung gian, thanh toán và việc sử dụng thẻ bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia.
  • Thẻ quốc tế (International Card): Là loại thẻ thanh toán của một tổ chức quốc tế được phát hành bởi một Ngân hàng thành viên của tổ chức đó và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới như: Mastercard, Visacard, JBCcard..

Phân loại theo hạn mức sử dụng

  • Thẻ vàng (Gold Card): Là loại thẻ phục vụ cho thị trường “cao cấp” với nhóm khách hàng có thu nhập cao, thường phát hành cho các đối tượng uy tín có khả năng tài chính lành mạnh, có nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có những điểm khác nhau tùy thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng nhưng chung nhất vẫn là thẻ có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thường.
  • Thẻ thường (Standand Card): Đây là loại thẻ căn bản nhất mang tính phổ thông, đại chúng, được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày. Hạn mức tối thiểu tùy theo Ngân hàng phát hành quy định.

Mặc dù được phân thành nhiều loại khác nhau nhưng các loại thẻ trên đều có đặc điểm chung là dùng để thanh toán, chi trả các khoản chi phí, mua hàng hóa dịch vụ. Vì vậy chúng được gọi là thẻ thanh toán.

1.1.4. Tiện ích từ dịch vụ thẻ Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Đối với chủ thẻ

Sự linh hoạt và tiện lợi trong thanh toán trong và ngoài nước: Tiện ích nổi bật cho người sử dụng thẻ là sự tiện lợi và tính linh hoạt hơn hẳn các phương tiện thanh toán khác. Chủ thẻ có thể sử dụng thẻ cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình khi đi du lịch, mua sắm hàng hóa dịch vụ, hay đi công tác,…

Tiết kiệm thời gian mua, giá trị thanh toán cao hơn: Thẻ thanh toán có nhiều tiện ích hơn tiền mặt hay séc du lịch trả trước, trong và sau chuyến di. Chủ thẻ không cần lên kế hoạch chi tiêu trước, trả tiền sau.Tài khoản của thẻ chỉ bị ghi nợ khi nào chủ thẻ thực sự chi tiêu và thanh toán bằng thẻ.Thêm nữa, tỷ giá khi thanh toán bằng thẻ cũng thường có lợi hơn so với sử dụng tiền mặt hay séc du lịch.Như vậy, không những giúp người sử dụng thẻ tiết kiệm tiền, thẻ còn giúp tiết kiệm thời gian mua hàng cũng như thời gian chờ làm thủ tục với séc du lịch hay tiền mặt, hạn chế được rủi ro.

Khoản tín dụng tự động, tức thời: khả năng mua hàng hóa dịch vụ không bị gò bó là một tiện ích của thẻ thanh toán. Dù việc mua bán có được dự tính trước hay không thì thẻ thanh toán cũng là một nguồn tín dụng tự động giúp cho các chủ thẻ khỏi phải đến Ngân hàng xin vay.

Rút tiền mặt nhanh chóng ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào tại Ngân hàng hoặc qua các máy rút tiền tự động (ATM) và sử dụng một số dịch vụ khác do máy ATM cung cấp như: trả nợ vay, chuyển khoản, xem số dư tài khoản…

Kiểm soát được chi tiêu: với sao kê hàng tháng do Ngân hàng gửi đến, chủ thẻ hoàn toàn có thể kiểm soát được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính toán được chi tiêu và lãi nếu trả cho mỗi khoản giao dịch.

Với đơn vị chấp nhận thẻ

Một trong những nguyên nhân khiến thẻ ra đời chính là sự cạnh tranh của các doanh nghiệp làm mở rộng thị trường, ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm để thu hút khách hàng thì họ phải chấp nhận thanh toán chậm trả, bán hàng ghi sổ hay thu tiền sau một thời gian đã thỏa thuận. Vì vậy khi tham gia thanh toán thẻ, lợi ích mà các đơn vị chấp nhận thẻ thu được sẽ lớn hơn nhiều lần chi phí mà họ bỏ ra, cụ thể:

  • Tăng doanh số bán hàng, từ đó sẽ làm gia tăng lợi nhuận.
  • Đa dạng hóa phương thức thanh toán, do đó sẽ tăng khả năng cạnh tranh so với các đơn vị không chấp nhận thẻ.
  • Giảm tình trạng chậm trả của khách hàng.
  • Giảm chi phí kiểm đếm, thu giữ & bảo quản tiền của bộ phận ngân quỹ, chi phí quản lí chứng từ, hóa đơn.
  • Thu hút được khách hàng trong nước và quốc tế.
  • Đơn vị chấp nhận thẻ sẽ được Ngân hàng kí hợp đồng tiếp nhận thẻ, cung cấp các máy móc thiết bị cần thiết cho việc thanh toán thẻ, đồng thời cũng được hưởng những ưu đãi trong các quan hệ tín dụng của Ngân hàng.
  • Đối với Ngân hàng phát hành thẻ

Góp phần thu hút khách hàng: nhờ vào những tiện ích mà thẻ Ngân hàng mang lại cho khách hàng, dịch vụ này đã có vai trò quan trọng trong việc thu hút, giữ chân khách hàng. Thông thường khi khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ thì sẽ kéo theo sử dụng các dịch vụ khác, đặc biệt là dịch vụ bán lẻ, ví dụ như mở tài khoản thanh toán, tín dụng, tiết kiệm… Hơn nữa, dịch vụ thẻ với biểu hiện về một hình thức thanh toán của xã hội văn minh, hiện đại và tiện nghi. Qua đó, củng cố được lòng tin của khách hàng vào Ngân hàng để ngày càng có thêm nhiều khách hàng đến với Ngân hàng, sử dụng nhiều hơn nữa các dịch vụ của Ngân hàng.

Góp phần tạo lợi nhuận cho Ngân hàng thông qua một số khoản thu như: lãi cho vay, chiết khấu thương mại, lệ phí thường niên, phí phát hành thẻ, phí rút tiền mặt, phí đại lý thanh toán, các khoản phụ thu khác như phí tăng hạn mức tín dụng tạm thời, phí cấp lại thẻ đã mất/thất lạc/tra soát… Ngoài ra, việc sử dụng thẻ thanh toán tạo điều kiện cho các Ngân hàng có thể mở rộng thị trường và khách hàng mà không cần phải mở thêm nhiều Chi nhánh, do đó tiết kiệm được các chi phí về mở rộng mạng lưới cho Ngân hàng. Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Góp phần cải thiện công tác thanh toán: hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện cho cả NHTM và khách hàng có thể tự động hóa các giao dịch, đẩy nhanh tốc độ thanh toan, nâng cấp chất lượng dịch vụ. Ngoài ra, sự phát triển của hoạt động kinh doanh thẻ còn tạo ra một động lực thúc đẩy các hình thức thanh toán khác thông qua việc thúc đẩy sự hiện đại hóa công nghệ trong mỗi Ngân hàng.

Làm tăng lượng vốn huy động cho Ngân hàng: thông thường, để được phát hành thẻ, chủ thẻ sẽ phải ký quỹ hoặc có số dư tài khoản tiền gửi theo quy định của Ngân hàng. Do đó, tổng số dư tiền gửi của Ngân hàng cũng sẽ tăng theo.

Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh ngân: thẻ thanh toán ra đời, làm phong phú thêm sản phẩm dịch vụ Ngân hàng, mang đến cho Ngân hàng một phương tiện thanh toán đa tiện ích, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.

Đối với Ngân hàng thanh toán thẻ

Ngân hàng thu hút được một lượng khách hàng đến với Ngân hàng, trước hết là sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ của Ngân hàng, sau đó là các dịch vụ khác do Ngân hàng cung cấp.

Tham gia thanh toán thẻ, Ngân hàng sẽ gia tăng thu nhập của mình thông qua hoạt động thu phí chiết khấu đại lí từ hoạt động thanh toán đại lí. Thông qua hoạt động thanh toán thẻ, Ngân hàng còn có thể phát triển các dịch vụ: kinh doanh ngoại tệ, nhận tiền gửi…

Đối với nền kinh tế xã hội

Góp phần giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông từ đó tiết giảm chi phí xã hội: ở những quốc gia phát triển, thanh toán tiên dùng bằng thẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các phương tiện thanh toán. Nhờ đó khối lượng cũng như áp lực tiền mặt trong lưu thông được giảm bớt đáng kể. từ đó, việc sử dụng thẻ thanh toán được xem như một giải pháp nhằm giải chi phí lưu thông trong xã hội so với hình thức thanh toán bằng tiền mặt. Đặc biệt đối với Ngân hàng nhà nước sẽ giảm được chi phí kiểm đếm, in ấn, bảo quản và giảm bớt sự tham gia của nhân viên Ngân hàng.

Tăng nhanh khối lượng vốn chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế: hầu hết mọi giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và thanh toán trực tuyến (online) vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với những giao dịch qua phương tiện thanh toán khác như: Séc, ủy nhiệm thu/chi,… Thay vì thực hiện các giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ, mọi thông tin đều được xử lý qua hệ thống máy móc điện tử thuận tiện, nhanh chóng.

Góp phần thực hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước: từ sự tiện lợi mà thẻ mang lại cho người sử dụng, cơ sở chấp nhận thẻ, Ngân hàng phát hàng,…đã cho thấy ngày càng nhiều người ưa chuộng sử dụng thẻ, tăng cường chi tiêu bằng thẻ. Điều này làm cho thẻ trở thành một công cụ hữu hiệu góp phând thực hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước.

Ngoài ra, thẻ còn mang lại nhiều tiện ích ưu việt nhằm góp phần cải thiện môi trường văn minh thương mại hiện đại, thu hút khách du lịch và đầu tư nước ngoài.

1.2. Nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ của NHTM là sự tương tác giữa chủ thể tham gia phát hành và thanh toán thẻ, bao gồm:

Ngân hàng phát hành thẻ: Ngân hàng phát hành là Ngân hàng được sự cho phép của tổ chức phát hành thẻ hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành cho những thẻ mang thương hiệu của tổ chức và công ty mình. Ngân hàng phát hành có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, thiết kế các yêu cầu kỹ thuật, mật mã ký hiệu cho các loại thẻ để đảm bảo an toàn cho quá trình sử dụng thẻ. Sau đó phát hành thẻ cho khách hàng, mở và quản lý tài khoản thẻ, quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ hoặc phát hành thẻ, chịu trách nhiệm về việc thanh toán số tiền mà khách hàng trả cho người bán hàng thông qua thẻ. Từng định kỳ, Ngân hàng phát hành thẻ phải lập bảng sao kê ghi rõ các khoản cụ thể đã sử dụng và yêu cầu thanh toán đối với chủ thẻ tín dụng hoặc khấu trừ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ ghi nợ.

Chủ thẻ (Cardholder): Là người có tên trên thẻ và được quyền sử dụng thẻ. Chủ thẻ có thể là một cá nhân riêng lẻ hoặc đại diện cho một công ty hay một tổ chức nào đó có nhu cầu sử dụng thẻ thanh toán. Chỉ có chủ thẻ mới có thể sở hữu một hoặc nhiều thẻ của mình. Một chủ thẻ có thể yêu cầu cấp thêm thẻ phụ cho người thân, có thể sở hữu một hoặc nhiều thẻ.

Ngân hàng đại lý (Ngân hàng thanh toán): Đây là Ngân hàng chấp nhận các giao dịch thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn. Qua việc ký kết hợp đồng, các địa điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ này được chấp nhận vào hệ tống thanh toán thẻ của Ngân hàng, Ngân hàng sẽ cung cấp các thiết bị đọc thẻ, đào tạo nhân viên về dịch vụ thanh toán thẻ, quản lý và xử lý những giao dịch thẻ diễn ra tại địa điểm này.

Trên thực tế hầu hết các Ngân hàng vừa là Ngân hàng phát hành vừa là nhân hàng thanh toán thẻ. Với tư cách là Ngân hàng phát hành, khách hàng của họ là chủ thẻ còn với tư cách là các Ngân hàng thanh toán, khách hàng là các đơn vị cung ứng hàng hóa dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ. Có thể nói, lợi ích mà Ngân hàng nhận được từ hoạt động phát hành và thanh toán thẻ là rất lớn, nó không chỉ dừng lại ở thu nhập của Ngân hàng mà còn là uy tín, là danh tiếng của Ngân hàng; mà hơn thế, trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng thì uy tín cũng như danh tiếng là điều đặc biệt quan trọng quyết định sự tồn tại, phát triển của Ngân hàng cũng như khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong tương lai.

Cơ sở chấp nhận thẻ (Merchant): Cơ sở chấp nhận thẻ là đơn vị bán hàng hóa và dịch vụ (siêu thị, khách sạn, các đại lý,…) có ký kết với Ngân hàng thanh toán về việc chấp nhận thanh toán thẻ. Các đơn vị này được trang bị máy móc kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán tiền hàng, dịch vụ, trả nợ hay tiền mặt,…

Tổ chức thẻ quốc tế: Là tổ chức đứng ra liên kết với các thành viên là các Ngân hàng, đặt ra các qui định bắt buộc các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành một hệ thống toàn cầu. Khác với các Ngân hàng thành viên, Tổ chức thẻ quốc tế không có quan hệ trực tiếp với chủ thẻ hay cơ sở chấp nhận thẻ, mà chỉ cung cấp một mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh toán, cấp phép cho Ngân hàng thành viên một cách nhanh chóng.

1.2.1. Nghiệp vụ phát hành thẻ Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Để một chiếc thẻ được tạo ra, hay nói cách khác từ phía người sử dụng, để sở hữu một chiếc thẻ, chúng ta cần tìm hiểu quy trình phát hành thẻ cơ bản được thực hiện như sau:

Sơ đồ 1.2: Quy trình phát hành thẻ

Bước 1: Khách hàng đến Ngân hàng đề nghị phát hành thẻ.

Bước 2: Ngân hàng tiếp nhận hồ sơ khách hàng.

Bước 3: Thẩm định hồ sơ khách hàng. Cụ thể là xem xét tư cách pháp nhân, số dư trên tài khoản, năng lực tài chính, thu nhập thường xuyên (đối với khách hàng cá nhân), mối quan hệ tín dụng trước đây với Ngân hàng (nếu có).

Bước 4: Trên cơ sở thông tin thẩm định, Ngân hàng tiến hành phân loại khách hàng theo các loại hạng đặc biệt (VIP), hạng cao cấp hoặc phổ thông để cấp hạn mức tín dụng cho phù hợp. hồ sơ dữ liệu khách hàng được cập nhật lên hệ thống và gửi đến nơi xử lý in thẻ.

Bước 5: Bằng kỹ thuật riêng của từng Ngân hàng phát hành, thẻ ghi lại các thông tin cần thiết về chủ thẻ lên bề mặt thẻ, đồng thời mã hóa và ấn định mã số cá nhân (số PIN) cho chủ thẻ.

Bước 6: Trao thẻ và PIN cho khách hàng kèm theo hướng dẫn sử dụng thẻ. Lấy giấy xác nhận của khách hàng về việc đã nhận đủ thẻ và mã PIN, yêu cầu chủ thẻ giữ bí mật về số PIN của mình.

Nghiệp vụ phát hành thẻ cũng bao gồm phát hành thẻ thay thế, thẻ in lại, thẻ nâng cấp: Tại Ngân hàng phát hành thẻ, khi nhận được yêu cầu in lại thẻ, thay thế thẻ và nâng cấp thẻ của khách hàng, cần kiểm tra lại các điều kiện đảm bảo như tài sản kí quỹ, thế thấp (nếu cần) trong trường hợp nâng cấp thẻ, tạo dữ liệu thẻ thay thế, thẻ nâng cấp gửi nơi xử lý in thẻ để thực hiện. Sau khi in xong, Ngân hàng phát hành thẻ kiểm tra tình trạng thẻ như trường hợp nhận thẻ mới.

Với khách hàng có nhu cầu in thẻ kỳ hạn mới: Hàng tháng, nơi in thẻ in ra danh sách các thẻ sẽ hết hạn vào tháng sau để các Ngân hàng phát hành thông báo cho chủ thẻ để có ý kiến về việc tiếp tục sử dụng hay chấm dứt. Nếu không có ý kiến phản hồi của chủ thẻ, thì mặc nhiên thẻ sẽ chấm dứt sử dụng. Trong trường hợp thẻ tiếp tục sử dụng, Ngân hàng sẽ xử lý tương tự như phát hành lại thẻ.

1.2.2. Nghiệp vụ thanh toán thẻ

Quy trình thanh toán thẻ

Sau khi sở hữu thẻ, khách hàng có thể sử dụng ngay thẻ đó để phục vụ các nhu cầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại các ĐVCNT. Việc thanh toán bằng thẻ sẽ được thực hiện qua các bước cơ bản như sau: Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Sơ đồ 1.3: Quy trình thanh toán thẻ

Bước 1a: Các đơn vị, cá nhân (người sử dụng thẻ) theo nhu cầu giao dịch thanh toán, liên hệ với Ngân hàng phát hành thẻ hoặc xin vay để được sử dụng thẻ thanh toán.

Bước 1b: Ngân hàng phát hành thẻ phát hành và cung cấp thẻ thanh toán cho khách hàng theo từng loại phù hợp với đối tượng và điều kiện đã quy định. Sau khi đã xử lý kỹ thuật, ký hiệu mật mã và thông báo bằng hệ thống thông tin chuyên biệt cho các Ngân hàng đại lý và các cơ sở tiếp nhận thẻ.

Bước 2: Người sử dụng thẻ liên hệ và mua hàng hóa dịch vụ của công ty, xí nghiệp đồng ý tiếp nhận thẻ. Đồng thời giao thẻ để người tiếp nhận ký hiệu mật mã, đọc thẻ và lập chứng từ thanh toán bằng máy chuyên dùng.

Nếu là thẻ giả mạo, hoặc bị thông báo cấm lưu hành hoặc bị thông báo mất thì người tiếp nhận thanh toán đồng thời thu giữ tang vật và trình báo lên cơ quan Công an để xử lý.

Nếu sau khi kiểm tra, đảm bảo an toàn chính xác để lập biên lai thanh toán phù hợp với giá trị hàng hóa dịch vụ để trừ vào giá trị của thẻ rồi trao lại thẻ cho người sử dụng.

Bước 3: Người sử dụng thẻ cũng có thể đề nghị Ngân hàng đại lý cho rút tiền mặt hoặc từ mình rút tiền mặt bằng máy trả tiền tự động(ATM).

Bước 4: Trong phạm vi 10 ngày làm việc người tiếp nhận cầm thẻ cần nộp biên lai vào Ngân hàng đại lý để đòi tiền thanh toán theo các hóa đơn chứng từ hàng hóa có liên quan.

Bước 5: Trong phạm vi 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được biên lai và chứng từ hóa đơn của người tiếp nhận nộp vào, Ngân hàng đại lý tiến hành trả tiền cho người tiếp nhận theo số tiền đã phản ánh ở biên lai bằng cách ghi Có vào tài khoản của người tiếp nhận thẻ hoặc người lĩnh tiền mặt…(Nếu biên lai được lập từ nhữn thẻ đã được Ngân hàng phát hành theo yêu cầu đình chỉ thanh toán thì người tiếp nhận thẻ phải chịu thiệt hại)

Bước 6:Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ lập bảng kê và chuyển biên lai đã thanh toán cho Ngân hàng phát hành thẻ.

Bước 7:Ngân hàng phát hành thẻ hoàn lại số tiền mà Ngân hàng đại lý đã thanh toán trên cơ sở các biên lai hợp lệ.

Bước 8:Khi sử dụng thẻ không còn sử dụng hoặc sử dụng đã hết số tiền của thẻ… thì 2 bên Ngân hàng phát hành thẻ và nười sử dụng thẻ sẽ hoàn tất quy định sử dụng thẻ trả lại tiền ký quỹ thừa, trả nợ Ngân hàng, bổ sung hạn mức mới.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới nghiệp vụ kinh doanh thẻ Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

1.3.1 Nhân tố chủ quan

Hệ thống công nghệ Ngân hàng

Thẻ là một sản phẩm gắn liền với công nghệ kỹ thuật hiện đại.Việc lựa chọn hệ thống công nghệ của từng Ngân hàng phải phù hợp với định hướng chiến lược phát triển của Ngân hàng đó. Các Ngân hàng triển khai dịch vụ thẻ cần phải đầu tư một hệ thống công nghệ kỹ thuật theo tiêu chuẩn quốc tế bao gồm: hệ thống quản lý thông tin khách hàng, hệ thống quản lý hoạt động sử dụng và thanh toán thẻ đáp ứng yêu cầu của các Tổ chức thẻ Quốc tế.

Bên cạnh đó, các Ngân hàng cũng phải đầu tư hệt hống trang thiết bị phục vụ cho việc phát hành và thanh toán thẻ như: máy in thẻ, máy cà tay, máy thanh toán thẻ tự động, máy giao dịch tự động, máy cấp phép thanh toán thẻ, các thiết bị khác kết nối hệ thống, các thiết bị đầu cuối. Hệ thống này phải đồng bộ và có khả năng tích hợp cao, bởi vì giao dịch thẻ được xử lý nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào tính đồng bộ, khả năng và tốc độ xử lý của toàn hệ thống.

Hoạt động marketing

Hoạt động marketing trong kinh doanh thẻ thanh toán thẻ có vai trò quan trọng, đòi hỏi các Ngân hàng phải có chiến lược phát triển đối với sản phẩm này. Thông qua các hoạt động marketing như: nghiên cứu, phân tích thị trường, thiết kế và khuếch trương sản phẩm mới, các Ngân hàng có thể tìm kiếm khách hàng, giúp họ tiếp cận và quyết định lựa chọn phương thức thanh toán thẻ, trên cơ sở đó phát triển các sản phẩm thẻ của Ngân hàng mình một cách hiệu quả nhất.

Hoạt động quản lý rủi ro

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động kinh doanh thẻ, các hoạt động tội phạm liên quan đến lĩnh vực này cũng ngày càng gia tăng và mức độ ngày càng tinh vi khó phát hiện. Các tổ chức tội phạm quốc tế đã tận dụng công nghệ hiện đại, bằng mọi cách thu thập các dữ liệu về thẻ, tài khoản của khách hàng, từ đó thực hiện các hành vi giả mạo gây tổn thất cho Ngân hàng và khách hàng. Chính vì vậy, hoạt động quản lý rủi ro của Ngân hàng trong lĩnh vực thẻ rất quan trọng, góp phần hạn chế những thiệt hại về mặt tài chính, đảm bảo hoạt động thẻan toàn, hiệu quả, và nâng cao uy tín của Ngân hàng.

Trình độ nhân viên kinh doanh thẻ

Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, đặc biệt là thẻ quốc tế, là một lĩnh vực mới và khá phức tạp, đòi hỏi phải tuân thủ những quy định chặt chẽ của tổ chức thẻ quốc tế.Vì vậy trình độ nhân viên kinh doanh trong lĩnh vực này đặc biệt được xem trọng và quan tâm đúng mức.

1.3.2. Nhân tố khách quan Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Môi trường pháp lý

Cũng giống như bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào khác, lĩnh vực kinh doanh thẻ cũng có một hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động. Hơn nữa, hoạt động kinh doanh thẻ quốc tế còn liên quan đến chủ thể của nhiều quốc gia, do đó pháp luật điều chỉnh hoạt động này cần được minh bạch và đầy đủ. Hành lang pháp lý thống nhất sẽ tạo cho các Ngân hàng sự chủ động và an toàn khi tham gia thị trường thẻ thanh toán quốc tế cũng như trong việc đề ra chiến lược kinh doanh của mình, củng cố nền tảng vững chắc cho việc phát triển thẻ trong tương lai, có như thế mới giúp lĩnh vực kinh doanh thẻphát triển bền vững.

Môi trường kinh tế xã hội

  • Tiền tệ ổn định: Đây là điều kiện cơ bản nhằm mở rộng việc sử dụng thẻ thanh toán đối với bất kỳ một quốc gia nào. Ngược lại việc phát triển thẻ thanh toán này sẽ tạo điều kiện cho sự ổn định tiền tệ, giữa chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau.
  • Sự phát triển ổn định của nền kinh tế: Sự phát triển của lĩnh vực kinh doanh thẻ cũng như các lĩnh vực kinh tế khác phụ thuộc chủ yếu vào sự phát triển của nền kinh tế. Nền kinh tế phát triển ổn định thì đời sống người dân sẽ được cải thiện, thu nhập gia tăng. Khi thu nhập cao, nhu cầu mua sắm. du lịch, giải trí của con người cũng gia tăng theo và thẻ thanh toán sẽ đáp ứng nhu cầu này của họ.

Môi trường xã hội

  • Thói quen sử dụng tiền mặt của công chúng: Thẻ thanh toán rất khó có thể phát triển đối với một xã hội mà chi tiêu bằng tiền mặt đã trở thành thói quen cố hữu, khó thay đổi. Trên thế giới, tại các nước công nghiệp phát triển, người ta mất gần nửa thế kỷ để công chúng có thể làm quen với thẻ thanh toán và các tiện ích do thẻ mang lại. Riêng với Việt Nam, đây thực sự là một thách thức lớn mà các Ngân hàng phải đối mặt khi triển khai dịch vụ thẻ thanh toán tại thị trường trong nước.
  • Thói quen giao dịch qua Ngân hàng: Đây là một nhân tố đặc biệt quan trọng tác động đến sự phát triển thẻ thanh toán tại mỗi quốc gia. Thẻ là một sản phẩm dịch vụ do Ngân hàng cung cấp, phụ thuộc vào niềm tin của công chúng đối với Ngân hàng.
  • Trình độ dân trí: Là một phương tiện thanh toán hiện đại, sự phát triển của thẻ thanh toán phụ thuộc rất nhiều vào mức độam hiểu của công chúng.
  • Trình độ dân trí ở đây được xem như là các kiến thức về dịch vụ Ngân hàng, khả năng tiếp cận và sử dụng thẻ thanh toán, cũng như việc nhận được những tiện ích mà thẻ mang lại.
  • Sự ổn định chính trị – xã hội: Đây là điều kiện quan trọng và cần thiết cho nền kinh tế nói chung và ngành tài chính Ngân hàng nói riêng, trong đó có hoạt động kinh doanh thẻ. Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Tổng quan chung về Ngân hàng OCB

One thought on “Khóa luận: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng OCB

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464