Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại ngân hàng BIDV dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

III. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA BIDV TRONG THỜI GIAN QUA

1. Những kết quả đạt được

Hiện nay, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế không còn là độc tôn của bất kỳ ngân hàng nào nữa. Muốn phát triển, BIDV phải chú trọng việc cung ứng các nghiệp vụ có hàm lượng công nghệ cao trong đó có nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, coi đây là một chiến lược đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ nhằm tiến tới gần khách hàng hơn, nâng cao vị thế của BIDV trong cộng đồng tài chính quốc tế. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

Trong giai đoạn 2000 – 2005, các hoạt động kinh doanh quốc tế đạt được sự phát triển cả về chiều rộng (quy mô, thị trường cung cấp) và chiều sâu (chất lượng và tiện ích các nghiệp vụ cung cấp). Các nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu của Ngân hàng (điều này được minh chứng thông qua các bảng số liệu ở trên). Cụ thể:

Sự phát triển của nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tạo cơ sở cho BIDV phát triển nghiệp vụ theo hướng đa dạng hoá sản phẩm. Các nghiệp vụ này tạo điều kiện cho BIDV trở thành một tập đoàn tài chính đa năng, đa lĩnh vực.

  • Các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế ngày càng tăng trưởng về số lượng (từ 100 loại dịch vụ 2002 lên tới 250 loại dịch vụ năm 2005) và chất lượng (là ngân hàng đầu tiên đáp ứng được tiêu chuẩn ISO 9000 – 2000 và liên tục là ngân hàng có chất lượng thanh toán tốt nhất theo tiêu chuẩn Mỹ từ năm 1999 2005). Từng loại dịch vụ có sự tăng trưởng qua các năm, loại hình nghiệp vụ được chú trọng đa dạng hoá (Ví dụ: nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ hơn so với ngân hàng về các sản phẩm phái sinh như quyền chọn lãi suất (Interest rate option), hoán đổi lãi suất (Interest rate swap), quản lý tài sản (Asset management).
  • Các nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại truyền thống của BIDV như bảo lãnh quốc tế, thanh toán quốc tế đã dần được chuẩn hoá về quy trình nghiệp vụ, trang bị máy móc thiết bị hiện đại, kiểm soát chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 – 2000.
  • Việc phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tạo điều kiện cho BIDV tạo lập cơ sở và mạng lưới kinh doanh gồm 79 chi nhánh cấp 1, 69 chi nhánh cấp 2, 820 ngân hàng địa lý và 40 tài khoản ngân hàng trên toàn thế giới và thiết lập được các ngân hàng liên doanh (Ngân hàng liên doanh Lào – Việt, Ngân hàng VID – Public bank…).
  • Việc phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đã góp phần nâng cao vị thế của BIDV. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn, nhất là các tổng công ty Nhà nước Việt Nam và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trở thành khách hàng của BIDV (Vinashin, Tổng công ty điện lực Việt Nam, Public Bank…). Đặc biệt các tổ chức quốc tế (WB, IMF, ADB…) rất tín nhiệm BIDV cho nên phần lớn các nguồn vốn ODA đều được chuyển đến BIDV làm đại lý uỷ thác. Trong quan hệ tín dụng, thanh toán quốc tế thì BIDV là ngân hàng thương mại được xếp loại uy tín, đặc biệt đối với các nước trong khu vực và Châu Á, liên tiếp được trao giải ngân hàng có chất lượng thanh toán tốt nhất.
  • Tuy đầu tư cho công nghệ mới ở mức ban đầu so với thế giới nhưng BIDV được đánh giá là ngân hàng thương mại Việt Nam đi đầu trong việc phát triển công nghệ. Trung bình mỗi năm, BIDV đầu tư gần 130 tỷ USD cho việc trang bị máy móc, cải tiến và nâng cấp các chương trình công nghệ thông tin. Mức độ tin học hoá ở BIDV khá cao so với toàn ngành ngân hàng, nhờ đó nâng cao hiệu suất làm việc, phục vụ nhanh và tốt hơn nhu cầu khách hàng. BIDV đã mạnh dạn triển khai hệ thống giao dịch bán lẻ SIBS do Silverlake cung cấp, áp dụng các giải pháp phần mềm tiên tiến cho phép kết nối trực tiếp với mạng lưới giao dịch toàn cầu Reuters Dealing.

Thời gian qua, BIDV đã có nhiều đổi mới trong công tác tổ chức và đào tạo cán bộ. Trình độ, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ, nhân viên của BIDV cũng ngày càng được nâng cao do được đầu vào cao, đào tạo bài bản hơn, yêu cầu thực tế ngày càng cao và phát sinh các nghiệp vụ mới. So sánh mặt bằng chung trong ngành ngân hàng, cán bộ BIDV có chất lượng tốt hơn trong các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.

Bảng 19: Số lượng và cơ cấu lao động của BIDV

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2. Những tồn tại Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

Cơ cấu sản phẩm chưa đa dạng: Mặc dù trong thời gian gần đây, BIDV có hướng đầu tư các sản phẩm mới theo bước hiện đại hoá ngân hàng, từ 100 loại dịch vụ năm 2002 lên tới hơn 250 loại dịch vụ năm 2005. Thế nhưng con số này còn quá nhỏ bé so với 6000 loại dịch vụ mà một ngân hàng hiện đại có thể cung cấp. BIDV vẫn chỉ tập trung chủ yếu vào các sản phẩm nghiệp vụ ngân hàng truyền thống như bảo lãnh quốc tế, thanh toán quốc tế, nghiệp vụ ngân hàng đại lý, nhiều sản phẩm đã có nhưng tiện ích còn nghèo nàn như quyền chọn lãi suất, hoán đổi lãi suất, dịch vụ ngân hàng điện tử, tài trợ xuất nhập khẩu… hoặc chưa có như bao tín dụng, biên lai tín thác… chưa đáp ứng được nhu cầu khách hàng trong và ngoài nước. Một số sản phẩm triển khai chưa được đồng bộ khắp các đơn vị thành viên trong khi thực tế có thể triển khai được như dịch vụ ngân hàng điện tử. Do đó, BIDV cần phải nỗ lực nhiều trong việc xoá bỏ thế “độc canh sản phẩm”.

Phát triển không đồng đều: Tốc độ phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn chậm và không đồng đều giữa các chi nhánh trong toàn bộ hệ thống của BIDV. Số lượng các chi nhánh làm nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chỉ chiếm 2/3 tổng số các chi nhánh và tập trung ở các thành phố lớn. Các văn phòng đại diện của BIDV ở nước ngoài còn ít hầu, như không có hoặc có nhưng chỉ mang tính hình thức và hoạt động kém hiệu quả. Đó cũng là thực trạng chung của các văn phòng đại diện ở nước ngoài của các ngân hàng Việt Nam.

Doanh số thấp: Doanh số hoạt động và thu nhập từ nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn nhỏ bé, tính chất chuyên môn hoá chưa cao, chưa khai thác hết lợi thế có sẵn của BIDV mặc dù BIDV đã có nỗ lực đáng kể trong việc mở rộng các quan hệ đại lý, liên doanh hợp tác, đầu tư trang thiết bị nâng cao chất lượng công nghệ ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

Kênh phân phối không phát triển: Các sản phẩm của BIDV chủ yếu được cung cấp qua kênh phân phối truyền thống. Các giao dịch chuyển tiền, uỷ thác đầu tư… được thực hiện chủ yếu tại các cơ sở: quầy giao dịch, các chi nhánh ngân hàng. BIDV mới đang ở trong giai đoạn đầu của phát triển ngân hàng điện tử (dịch vụ Home Banking, BSMS…). Trong khi đó các ngân hàng Ngoại thương, Công thương… đã và đang tích cực cho ra đời các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại từng bước chiếm lĩnh thị trường. Khá nhiều sản phẩm dịch vụ đã được các ngân hàng triển khai, trở thành phổ biến được khách hàng chấp nhận trong khi đó BIDV mới đang trong giai đoạn đầu phát triển như nghiệp vụ thẻ tín dụng quốc tế,… chỉ là thành viên của Visa Card trong khi đó Ngân hàng Ngoại thương đã trở thành viên của tổ chức này từ lâu hoặc việc thanh toán liên ngân hàng Banknet vẫn chưa được áp dụng, thẻ ATM của BIDV mới chỉ để dùng rút tiền tại chính điểm giao dịch của BIDV trong khi thẻ của các ngân hàng khác có thể rút ở quầy giao dịch của nhau. Đó là chưa kể đến dịch vụ thanh toán Forfeiting, Factoring, biên lai tín thác, tín dụng trọn gói… mới là chỉ ý tưởng, trong khi các nghiệp vụ này đã được triển khai tại ngân hàng bạn.

Hoạt động Marketing chưa được chú ý: Chưa làm nổi bật thương hiệu của BIDV trong nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, đặc biệt ở lĩnh vực bán lẻ và các nghiệp vụ có ngân hàng có hàm lượng công nghệ cao. Khi nói đến nghiệp vụ thanh toán quốc tế, các hoạt động liên quan đến nghiệp vụ ngân hàng phục vụ ngoại thương, trong tiềm thức người dân luôn nghĩ đến Ngân hàng Ngoại thương; nghiệp vụ thẻ, séc, khách hàng luôn nhớ tới Ngân hàng

Ngoại thương, Ngân hàng ACB. Trong năm 2005, doanh số thẻ tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương đạt hơn 100 triệu USD chiếm khoảng 40% tổng thị phần tín dụng thẻ Việt Nam. Trong đó doanh số thẻ tín dụng ở nước ngoài chiếm 70% chủ yếu là thanh toán hàng hoá, dịch vụ. Ngân hàng Ngoại thương có mạng lưới chi nhánh ở hầu hết các thành phố lớn do vậy họ có điều kiện xây dựng mạng lưới chấp nhận thẻ và ngân hàng đại lý rộng khắp (hơn 1000 ngân hàng đại lý so với con số 820 của BIDV). Ngân hàng BIDV quá chậm trễ, đến tháng 9/2006 mới bắt đầu triển khai thẻ tín dụng quốc tế Visa.

Cơ cấu khách hàng sử dụng nghiệp vụ này còn chưa hợp lý: Số khách hàng sử dụng nghiệp vụ này chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng. Chỉ trong vài năm gần đây, BIDV mới tập trung nguồn lực để phát triển nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ hiện đại như thẻ ATM, thẻ Visa… cho đối tượng khách hàng cá nhân. Hoạt động Ngân hàng còn mang tính dàn trải, chưa mang tính quyết định hướng vào thị trường tiềm năng.

Sự thiên lệch hàng nhập, hàng xuất lợi bất cập hại: Thoạt nhìn, sự thiên lệch này có vẻ bình thường và dễ hiểu vì bao lâu nay, nước ta nhập siêu triền miên. Song tình trạng này nếu kéo dài sẽ dẫn tới tình trạng mất cân đối ngoại tệ, gây sức ép cho hoạt động thanh toán quốc tế. Các khách hàng của BIDV chủ yếu thực hiện nghiệp vụ hàng nhập, trông chờ chủ yếu việc bán ngoại tệ của BIDV trong khi lượng khách xuất hàng và bán ngoại tệ lại cho BIDV không nhiều.

Tồn tại trong lĩnh vực công nghệ: tuy được đánh giá là ngân hàng trong nước đi đầu trong lĩnh vực công nghệ nhưng lĩnh vực này còn tồn tại một số nhược điểm lớn như: nền tảng công nghệ còn thấp kém so với các nước trong khu vực; chưa đủ trình độ thiết kế tổng thể, còn nhiều hệ thống ứng dụng tự phát và mang tính tạm thời phục vụ trong kinh doanh; ngại thí điểm triển khai những phần mềm trong nước có chất lượng tốt hơn nước ngoài và giá thành rẻ, chỉ mua những phần mềm có sẵn của nước ngoài do đó giá thành cao do tâm lý sính ngoại; thiếu những kỹ sư “key person” am hiểu về công nghệ ngân hàng và nghiệp vụ…

3. Nguyên nhân của tồn tại Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

3.1 Nguyên nhân khách quan

Một là: Môi trường pháp lý còn thiếu, nhiều trói buộc và bất cập.

Tại các nước có nền kinh tế phát triển, người ta quản lý xã hội trên tinh thần tôn trọng luật pháp. Luật pháp được soạn thảo theo tư tưởng chủ đạo là được phép thực hiện những hành vi mà pháp luật không cấm. Ở Việt Nam thì ngược lại, pháp luật lại đặt ra một hành lang mà mọi người phải đi theo trên tinh thần làm gì đã có quy định do đó vô hình chung đã trói chân và sự năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp và ngân hàng. Luật ngân hàng ra đời vào năm 1988 đă trải qua nhiều sửa đổi nhưng còn nhiều điều bất cập. Đặc biệt chỉ có một số ít văn bản pháp quy quy định và hướng dẫn thi hành vài nghiệp vụ ngân hàng quốc tế như thanh toán quốc tế, bảo lãnh quốc tế còn các nghiệp vụ khác chưa ban hành quy chế, quy định văn bản dưới luật tại Việt Nam hoặc có ban hành nhưng thường chậm, nhiều văn bản pháp lý chưa được thi hành đã lạc hậu so với thực tế. Ví dụ bảo lãnh có quy chế nhưng không có quy định bảo lãnh cho các đối tác nước ngoài. Hiện tại, các bên tham gia vào nghiệp vụ ngân hàng quốc tế vẫn áp dụng pháp luật quốc tế như Incoterm 2000, UCP 500, URC 522… làm căn cứ quy định quyền hạn trách nhiệm của các bên trong khi những văn bản trên chỉ là thông lệ quốc tế. Các quốc gia khác đều có luật quy định cụ thể về nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trên cơ sở thông lệ quốc tế có tính đến đặc thù của họ. Như vậy, hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng nói chung và nghiệp vụ ngân hàng quốc tế nói riêng còn thiếu và nhiều bất cập, không hỗ trợ cho nghiệp vụ ngân hàng quốc tế phát triển.

Hai là: Các cơ chế quản lý vĩ mô liên quan tới xuất nhập khẩu không ổn định và hay thay đổi.

Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có đặc thù gắn liền với cơ chế xuất nhập khẩu, hải quan và thuế quan. Nếu những cơ chế này thay đổi ảnh hưởng hiệu quả kinh tế lẫn số lượng giao dịch của doanh nghiệp sẽ gây ảnh hưởng tới nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng. Ví dụ: quy định về nhập khẩu ô tô cũ vừa qua là một ví dụ điển hình. Các doanh nghiệp đã nhập khẩu ô tô cũ về nhưng không được thông quan nhập khẩu do các đơn vị hải quan không có văn bản hướng dẫn chi tiết về xác định giá trị thật của ô tô cũ, họ mất nhiều thời gian để chờ văn bản hướng dẫn. Do đó, các doanh nghiệp này quá hạn thanh toán với ngân hàng. Khó khăn này khiến cho không ít doanh nghiệp điêu đứng buộc các ngân hàng phục vụ người nhập khẩu phải thanh toán cho ngân hàng nước ngoài.

Ba là thiếu sự hỗ trợ của thị trường tài chính và các công cụ đặc trưng.

Thị trường ngoại hối Việt Nam chưa phát triển, đang ở dạng sơ khai là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Đó là do cơ chế cho thị trường vẫn còn nhiều bất cập, tỷ giá không linh hoạt vẫn còn cứng nhắc, quỹ ngoại tệ vẫn còn phân tán ở doanh nghiệp và nhân dân. Liên thông tầm quốc tế là đặc tính của thị trường đúng nghĩa thế nhưng chắc chắn không có ở nước ta do đồng tiền của nước ta chưa được tự do chuyển đổi. Thị trường tiền tệ còn thiếu một mảng hoạt động quan trọng đó là tín dụng thương mại với công cụ đặc trưng là kỳ phiếu thương mại. Hoạt động bằng bản tệ chưa phát triển mạnh chưa thể thúc đẩy nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đi lên được. Hơn nữa, các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường chưa phát triển, chủ yếu dừng lại mua bán giao ngay, các giao dịch khác vẫn dừng ở mức thăm dò. Điều này tạo khó khăn cho việc tính toán hiệu quả kinh doanh và tránh rủi ro tỷ giá biến động cho doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường quốc tế.

Bốn là tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông vẫn còn chiếm một tỷ lệ lớn.

Việt Nam hiện nay vẫn là thị trường thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt cho dù đã có một số giao dịch dùng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt như thẻ tín dụng, séc… Việc thanh toán trong dân cư với nhau phổ biến vẫn là bằng tiền mặt. Thu nhập của người dân nói chung vẫn ở mức thấp, những sản phẩm thoả mãn nhu cầu thiết yếu vẫn chủ yếu được mua sắm ở thị trường tự do cộng với thói quen sử dụng tiền mặt đơn giản, thuận tiện bao đời nay không dễ nhanh chóng thay đổi. Theo điều tra, Việt Nam có mười triệu thẻ nhưng chỉ có một triệu thẻ dùng để rút tiền, như vậy mất bốn năm để hình thành mạng lưới ATM ở các thành phố lớn quả là uổng. Người dân luôn nghĩ rằng thẻ ATM chỉ dừng ở mức rút tiền chứ không phải là để thanh toán trong giao dịch hàng ngày. Như vậy, với lượng tiền mặt lưu thông quá lớn đã cản trở đến khả năng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mang tính chất bán lẻ như thanh toán bằng thẻ, séc quốc tế… Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

Năm là trình độ nghiệp vụ của các đơn vị xuất nhập khẩu còn thấp.

Các doanh nghiệp Việt Nam bước ra từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, vốn nhỏ, kinh nghiệm và sự thông hiểu các tập quán quốc tế còn nhiều hạn chế. Điều đó dẫn tới họ thiếu kinh nghiệm trong các hợp đồng ký kết ngoại thương, không xem xét kỹ các điều khoản thanh toán nên thường gặp rủi ro rất lớn. Phần lớn thực lực tài chính của các doanh nghiệp đều yếu kém nên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều dựa vào vốn vay của ngân hàng. Vì vậy, khi họ bị lừa đảo, mất hết vốn và không có khả năng trả nợ thường ảnh hưởng tới hoạt động bảo lãnh, thanh toán quốc tế của ngân hàng.

Sáu là sự cạnh tranh gay gắt thiếu lành mạnh giữa các ngân hàng.

Vì mục đích giành giật khách hàng trước mắt, gia tăng thêm thị phần của mình trên thị trường mà nhiều ngân hàng sử dụng nhiều biện pháp cạnh tranh không lành mạnh như hạ phí, lãi suất tiền vay… điều này đã cản trở đến chính các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của chính bản thân ngân hàng. Mặt khác giữa các ngân hàng không có sự liên kết với nhau trong công nghệ. Các ngân hàng đua nhau bỏ ra hàng triệu USD để mua các phần mềm công nghệ, các công nghệ mới…trong khi những công nghệ ngân hàng thì nhanh chóng bị lạc hậu. Đơn cử chỉ tính riêng việc đầu tư một máy ATM, ngân hàng phải bỏ ra 30.000 USD và phải phủ kín 64 tỉnh thành phố và như vậy ảnh hưởng tới nguồn tài chính vốn rất eo hẹp của ngân hàng. Nên chăng, các ngân hàng có sự liên kết về thanh toán liên ngân hàng thông qua ATM và có sự hợp tác về nghiên cứu và trao đổi công nghệ thông tin, tránh tình trạng mình thiệt mà những người thầu được lợi.

Bảy là, năng lực tài chính của BIDV yếu.

Năng lực tài chính quyết định tới hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động nghiệp vụ ngân hàng quốc tế nói riêng. Dựa vào năng lực tài chính của ngân hàng mà khách hàng có quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng đó không. Tình trạng phổ biến của các ngân hàng Việt Nam là quy mô vốn còn nhỏ bé, hệ số an toàn vốn (CAR) quá thấp.

Trung bình trong giai đoạn từ năm 2001 – 2005, hệ số an toàn vốn trung bình của BIDV 5,65% tuy có cao so với ngân hàng khác nhưng còn thua xa con số 8% theo thông lệ quốc tế. Nguyên nhân của CAR thấp là do cơ chế chính sách của Nhà nước còn bất cập, vốn tự có cơ bản được cấp từ ngân sách Nhà nước eo hẹp…

3.2 Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

Một là, hệ thống văn bản quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chưa hoàn thiện.

Tuy nghiệp vụ ngân hàng quốc tế ở BIDV đã đi vào hoạt động được gần 14 năm, nhưng hệ thống các văn bản quy định hoạt động của các nghiệp vụ truyền thống như thanh toán quốc tế, bảo lãnh, đại lý uỷ thác… của BIDV vẫn chưa hoàn chỉnh, các văn bản vẫn còn ở dưới dạng vừa làm vừa xây dựng. Còn các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mới như thẻ quốc tế, séc du lịch quốc tế… thì hiện tại chưa xây dựng và ban hành quy trình thực hiện nghiệp vụ cũng như các văn bản quản lý nghiệp vụ.

Hai là chưa có chiến lược tổng quát và định hướng phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.

Các chiến lược mà BIDV xây dựng còn quá chung chung, mơ hồ chỉ dừng lại khía cạnh tốc độ tăng trưởng thu dịch vụ ròng, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản… cần đạt được là bao nhiêu trong khi những giải pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu này còn chưa được xác định rõ. BIDV lại chưa đầu tư khảo sát, đánh giá phân tích khả năng phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại những địa bàn có tiềm năng phát triển.

Ba là hoạt động nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chưa được quan tâm đầu tư thích đáng.

Mảng kinh doanh chủ yếu của BIDV hiện nay vẫn là tín dụng trong khi mảng nghiệp vụ ngân hàng quốc tế vẫn chưa được coi trọng và phát huy đặc biệt các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mới như thẻ quốc tế, séc du lịch, bảo lãnh hàng hải… Các sản phẩm của nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn đơn điệu, nghèo nàn trong khi tiêu chí đánh giá một ngân hàng có phát triển, hiện đại và tham gia vào mức độ quốc tế hoá sâu rộng hay không phụ thuộc vào khả năng của ngân hàng đó trong việc cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế

Bốn là, chưa có một chiến lược công nghệ thông tin rõ ràng.

Việc xây dựng một chiến lược công nghệ thông tin rõ ràng mang tính chất xuyên suốt có tính dài hạn có ý nghĩa quyết định đến việc ứng dụng thông tin có hiệu quả hay không. Chiến lược công nghệ thông tin của BIDV chẳng qua chỉ vẫn tập trung vào việc lồng ghép hiện đại hoá ngân hàng. Do đó điều dễ nhận thấy, công nghệ ngân hàng vẫn còn lạc hậu so với thế giới, trình độ ứng dụng công nghệ tin học trong cung cấp dịch vụ, đặc biệt là phát triển nghiệp vụ có tính cạnh tranh còn thấp hơn mức trung bình của ngân hàng trong khu vực. Các cơ chế quy trình nghiệp vụ còn chậm chưa được xây dựng, ban hành, sửa đổi hoàn chỉnh tính ổn định không cao.

Năm là, hoạt động Marketing chưa được đầu tư xứng đáng.

Trong điều kiện cạnh tranh như ngày nay, các ngân hàng đều ra sức phát triển để hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề cạnh tranh diễn ra hết sức gay gắt. Các ngân hàng bên cạnh việc không ngừng nỗ lực tung ra các sản phẩm mới có chất lượng tốt mà còn ra sức quảng bá hình của ảnh mình tới khách hàng. Chính vì vậy, hoạt động Marketing cần được chú ý. Thế nhưng, thương hiệu của BIDV trong nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn quá mờ nhạt bên cạnh các đại gia như Vietcombank, ACB… BIDV chưa đề ra một chính sách, kế hoạch xây dựng một hình ảnh riêng thông qua các hoạt động tuyên truyền quảng cáo, chất lượng hoạt động của chính ngân hàng mình, chưa có chiến lược khách hàng hợp lý, …

Sáu là, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng quốc tế còn thiếu và yếu.

Còn tồn tại một bộ phận cán bộ nghiệp vụ bất cập về trình độ, chuyên môn. Một số cán bộ còn mang nặng tư duy bao cấp cũ, chưa năng động sáng tạo, chưa nhận thức hết vị trí trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của mình trong tác nghiệp cũng như trong quan hệ với khách hàng. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các phòng ban, giữa Hội sở chính với các chi nhánh trong nghiệp vụ quốc tế còn chồng chéo, nặng tính hành chính, thiếu linh hoạt. Đó cũng là tình trạng phổ biến ở các ngân hàng thương mại Việt Nam khi việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và thực hiện cơ chế phân quyền chưa được chú trọng. BIDV còn thiếu nhiều chuyên gia trên các nghiệp vụ mũi nhọn, lĩnh vực công nghệ ngân hàng hiện đại. Tóm lại, nguồn nhân lực của BIDV chưa đủ chưa tinh, cơ cấu chưa hợp lý còn nhiều bất cập, chưa theo kịp các yêu cầu nhiệm vụ. Nếu xét về trình độ chính trị, quản lý kinh tế và kiến thức kinh doanh ngân hàng hiện đại để đáp ứng yêu cầu hội nhập thì cần đào tạo và bồi dưỡng nhiều mặt trên diện rộng. Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Giải pháp NC nghiệp vụ ngân hàng quốc tế BIDV

One thought on “Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464