Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động bảo lãnh Ngân hàng tại Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam – thực trạng và các giải pháp hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU EXIMBANK

1. Quy chế bảo lãnh của Eximbank

1.1 Đối tượng bảo lãnh

Những đối tượng khách hàng được Eximbank bảo lãnh là các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài bao gồm:

Các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam:

  • Doanh nghiệp nhà nước.
  • Công ty cổ phần. – Công ty TNHH.
  • Công ty hợp danh.
  • Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. – Doanh nghiệp liên doanh.
  • Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. – Doanh nghiệp tư nhân.
  • Hộ kinh doanh cá thể.
  • Các tổ chức tín dụng đựoc thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng.
  • Hợp tác xã và các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 94 của Bộ Luật dân sự.
  • Các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác liên doanh và tham gia đấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam.

Những đối tượng bị hạn chế không được ngân hàng xem xét bảo lãnh bao gồm:

  • Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại Eximbank, thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại ngân hàng, kế toán trưởng của ngân hàng.
  • Doanh nghiệp có một trong những đối tượng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.

1.2 Các hình thức bảo lãnh

Thư bảo lãnh ( Letter of Guarantee hoặc Standby L/C): thường được áp dụng đối với các loại bảo lãnh trong xây dựng, bảo lãnh thanh toán và bảo lãnh vay vốn.

  • Mở L/C trả chậm (Deferred L/C): thường được áp dụng trong bảo lãnh vay vốn trong đó Bên cho vay chính là bên bán thiết bị nước ngoài hoặc bên tài trợ cho Bên bán thiết bị nước ngoài.
  • Ký bảo lãnh trên Hối phiếu (Bill of Exchange) hoặc giấy nhận nợ (Promissory notes):  thường được áp dụng trong bảo lãnh vay vốn. phát hành bảo lãnh đối ứng và phát hành bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của tổ chức tín dụng khác.
  • Thông báo bảo lãnh.
  • Xác nhận bảo lãnh
  • Các hình thức khác.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp

1.3 Điều kiện bảo lãnh Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Điều kiện bảo lãnh của Eximbank phù hợp với các quy định trong Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN.

Điều kiện chung

  • Có tư cách pháp nhân, thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
  • Hoạt động kinh doanh có lãi.
  • Có hợp đồng liên quan đến việc bảo lãnh
  • Không có nợ quá hạn đối với ngân hàng, không có nợ quá hạn với nước ngoài, không có nợ thuế với ngân sách nhà nước tại thời điểm xin bảo lãnh.
  • Có bảo đảm hợp pháp cho bảo lãnh theo yêu cầu của ngân hàng: có đủ tài sản thế chấp hợp pháp hoặc được bảo lãnh bằng tài sản thế chấp hợp pháp của bên thứ ba. Tài sản thế chấp là các động sản, bất động sản. Riêng đối với các doanh nghiệp nhà nước, việc sử dụng tài sản hình thành bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước để thế chấp phải được cơ quan tài chính cung cấp (chủ sở hữu, đại diện) đồng bằng văn bản. Theo quy định mới hiện hành thì tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận việc áp dụng hay không áp dụng các biện pháp đảm bảo tài cho bảo lãnh tuỳ thuộc vào đặc điểm của tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và uy tín của khách hàng.
  • Có yêu cầu bảo lãnh của bên cho vay.

Điều kiện riêng

Trường hợp Bảo lãnh vay vốn, Bảo lãnh thanh toán/ thư tín dụng dự phòng và Bảo lãnh có thời hạn trung/ dài hạn, ngoài các qui định tại Điều kiện chung, khách hàng cần có thêm các điều kiện sau:

  • Có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng, bảo lãnh, thanh toán.
  • Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất/kinh doanh khả thi, hiệu quả khi đề nghị bảo lãnh vay vốn.
  • Đáp ứng các điều kiện đối với khách hàng vay vốn được qui định tại bản Hướng dẫn của ngân hàng về Quy chế cho vay đối với khách hàng.
  • Trong trường hợp vay vốn nước ngoài, khách hàng phải thực hiện đúng các qui định của pháp luật về quản lý vay và trả nợ nước ngoài.

Khoản vay xin bảo lãnh phải nằm trong tổng hạn mức vay vốn nước ngoài được chính phủ phê duyệt và được ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản.

Có hợp đồng vay vốn nước ngoài trong đó phải ghi rõ các điều kiện cụ thể về lãi suất, thời hạn vay, thời gian ân hạn và ngày trả nợ cuối cùng, điều kiện rút vốn và hình thức bảo lãnh.

Có đề án khả thi về sử dụng vốn vay và trả nợ nước ngoài được cấp chủ quản chấp nhận.

Trường hợp phát hành Bảo lãnh dự thầu, Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm; Bảo lãnh hoàn thanh toán; Bảo lãnh bảo hành; Bảo lãnh bảo dưỡng; Bảo lãnh khoản tiền giữ lại; và Các loại bảo lãnh khác ngoài các điều kiện qui định tại phần I (điều kiện chung), ngân hàng sẽ xem xét: mức độ tín nhiệm; khả năng tài chính; năng lực chuyên môn; biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh hoặc ký quỹ để quyết định phát hành bảo lãnh. Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản phải có luận chứng kinh tế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trình tự xây dựng và xét duyệt luận chứng kinh tế-kỹ thuật theo đúng quy định của điều lệ quản lý xây dựng cơ bản của nhà nước.

Đối với trường hợp bảo lãnh Hối phiếu, lệnh phiếu khách hàng phải bảo đảm các điều kiện theo qui định của pháp luật về Thương phiếu.

Đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế nước ngoài phải được phép đầu tư, kinh doanh hoặc tham gia đấu thầu tại Việt Nam theo các qui định của Pháp luật Việt Nam.

Riêng đối với khách hàng ký quỹ tương đương 100% trị giá bảo lãnh và các chi phí cần thiết, khách hàng chỉ cần đáp ứng điều kiện qui định tại điều kiện chung.

1.4 Bảo đảm cho bảo lãnh

Căn cứ vào đặc điểm của tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và uy tín của khách hàng, NHNT Hà Nội và khách hàng thoả thuận áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh. Các hình thức bảo đảm cho bảo lãnh bao gồm: ký quỹ, cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba và các biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật.

1.5 Lệ phí bảo lãnh

Mức phí do 2 bên thoả thuận, mức tối đa không quá 2%/ năm tính trên số tiền còn đang được bảo lãnh, mức phí tối thiểu là 300.000 đồng. Ngoài ra, có thể thanh toán một số chi phí hợp lý khác liên quan theo thoả thuận bằng văn bản của 2 bên.

Phí bảo lãnh được ngân hàng tính theo công thức sau:

Phí bảo lãnh = Trị giá bảo lãnh x  mức phí bảo lãnh x  thời gian bảo lãnh/360 ngày

Trong đó:

Trị giá bảo lãnh: số tiền ngân hàng nhận bảo đảm thanh toán

Thời gian bảo lãnh: thời gian thư bảo lãnh có hiệu lực

Theo mức biểu phí dịch vụ ngân hàng áp dụng đối với khách hàng giao dịch ngoại tệ tại Eximbank, mức phí bảo lãnh được quy định như sau:

Nghiệp vụ bảo lãnh

(Thanh toán, thanh toán thuế, thực hiện hợp đồng, dự thầu, chào giá, bảo hành, ứng trước …)

1.6 Thời hạn bảo lãnh Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Thời hạn bảo lãnh được xác định căn cứ vào thời hạn thực hiện từng nghĩa vụ đã được các bên tham gia thoả thuận bằng văn bản, nhưng phải phù hợp với các văn bản quy định của nhà nước về điều lệ, trình tự, thủ tục đấu thầu trong xây dựng cơ bản, quy chế xuất nhập khẩu…

1.7 Đồng tiền sử dụng trong bảo lãnh

Là đồng tiền được quy định trong hợp đồng hoặc văn bản thoả thuận giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh. Eximbank nhận bảo lãnh bằng ngoại tệ trong trường hợp các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, được phép sử dụng ngoại hối theo chế độ quản lý ngoại hối của nhà nước.

1.8 Phạm vi bảo lãnh

Phạm vi bảo lãnh là nghĩa vụ tài chính của Bên được bảo lãnh mà Bên bảo lãnh cam kết thực hiện thay. Eximbank chỉ thực hiện bảo lãnh đối với các nghĩa vụ sau:

  • Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí có liên quan đến khoản vay.
  • Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí để khách hàng thực hiện các dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống, đầu tư phát triển.
  • Nghĩa vụ thanh toán các khoản thuế, các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.
  • Nghĩa vụ khác khi tham gia dự thầu, thực hiện hợp đồng theo các quy định của pháp luật.

Số dư bảo lãnh của ngân hàng đối với một khách hàng không được vượt quá 180 tỷ (tương đương với 15% vốn tự có của Eximbank). Trường hợp yêu cầu bảo lãnh vượt quá 180 tỷ, ngân hàng thực việc đồng bảo lãnh theo quy định của pháp luật.

Các chi nhánh chỉ được phát hành bảo lãnh trong phạm vi mức phán quyết đã được Tổng Giám đốc Eximbank Việt Nam uỷ quyền phê duyệt. Trường hợp vượt mức phán quyết, chi nhánh phải có tờ trình trình Hội sở.

1.9 Thẩm quyền ký bảo lãnh Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Theo quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng ban hành kèm theo quyết định 26/2006/QĐ-NHNN của thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ra ngày 26/6/2006 về quy chế bảo lãnh ngân hàng, tổng giám đốc hoặc phó tổng giám đốc là người ký bảo lãnh và có thể uỷ quyền cho giám đốc các chi nhánh ngân hàng tỉnh, thành phố thay mình ký bảo lãnh trong phạm vi nhất định và phải chịu trách nhiệm về việc làm của người được uỷ quyền.

Việc uỷ quyền phải được thực hiện bằng văn bản và người được uỷ quyền không được phép uỷ quyền lại cho người khác.

1.10 Quỹ bảo lãnh

Quỹ bảo lãnh được lập ra để sử dụng trong trường hợp bên được bảo lãnh không trả được nợ đến hạn cho bên cho vay thì ngân hàng bảo lãnh phải dùng quỹ bảo lãnh để trả thay. Nếu ngân hàng bảo lãnh đã sử dụng hết quỹ bảo lãnh để trả thay cho một khoản bảo lãnh mà vẫn không đủ thì phải dùng tiếp vốn kinh doanh để trả, đồng thời thực hiện các chế tài tín dụng và quy định của pháp luật để thu hồi số tiền trả thay và tiền cho vay bắt buộc.

Quỹ bảo lãnh của Eximbank được xác định căn cứ vào số vốn được phép sử dụng kinh doanh (gồm cả VNĐ và ngoại tệ) và mục tiêu kinh doanh của từng thời kỳ quý, năm.

Tổng giám đốc Eximbank quy định quỹ bảo lãnh và tổng mức bảo lãnh cho các chi nhánh, đồng thời căn cứ vào nhu cầu bảo lãnh của từng chi nhánh theo quý, năm.

Trong từng lần nhận bảo lãnh, chi nhánh ngân hàng bảo lãnh căn cứ vào khả năng an toàn của món bảo lãnh để trích lập quỹ bảo lãnh thực tế từ vốn kinh doanh của chi nhánh tối thiểu bằng 5% giá trị món bảo lãnh, chuyển ngay khoản trích này về quỹ bảo lãnh tại trung tâm điều hành. Số tiền này do khách hàng nộp trực tiếp hoặc vay ngân hàng.

Quỹ bảo lãnh đối với từng món được trích lập và duy trì cho đến khi hết hiệu lực của khoản bảo lãnh đó (nếu ngân hàng không phải trả thay). Sau khi món bảo lãnh hoàn thành, ngân hàng chi nhánh làm thủ tục rút số vốn từ quỹ bảo lãnh.

Trường hợp đến hạn khách hàng được bảo lãnh không trả được nợ, ngân hàng nhận bảo lãnh phải trả thay, chi nhánh ngân hàng nhận bảo lãnh phải trích quỹ bảo lãnh của mình đang có tại trung tâm điều hành để trả thay. Nếu còn thiếu phải dùng vốn kinh doanh tại chi nhánh hoặc xin vốn điều hoà nội bộ. Trung tâm điều hành không dùng vốn đã ký quỹ bảo lãnh của toàn hệ thống cho chi nhánh trong trường hợp trả thay đó.

1.11 Trách nhiệm của các bên tham gia bảo lãnh Bên xin bảo lãnh Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Khách hàng có nhu cầu bảo lãnh phải gửi đến ngân hàng đơn xin bảo lãnh và các tài liệu có liên quan theo quy định. Sau khi được chấp thuận, khách hàng làm thủ tục giao nộp tài sản thế chấp cho Eximbank. Tài sản thế chấp bảo lãnh phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

  • Đối với tài sản là bất động sản: phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu (bản gốc), có chứng nhận của cơ quan công chứng nhà nước, có thể chuyển nhượng được dễ dàng.
  • Đối với các trái phiếu, tín phiếu: phải còn thời hạn thanh toán, người phát hành là các tổ chức có tín nhiệm, có thể chuyển nhượng được dễ dàng, thuộc quyền thụ hưởng của doanh nghiệp xin bảo lãnh.
  • Đối với vàng, đá quý: phải được kiểm định bởi ngân hàng bảo lãnh hoặc cơ quan chuyên môn do ngân hàng bảo lãnh chỉ định. Doanh nghiệp xin bảo lãnh tự đóng gói, niêm phong, có sự chứng kiến của ngân hàng bảo lãnh trước khi giao cho ngân hàng bảo lãnh.
  • Trong thời gian bảo lãnh, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm giữ gìn, bảo quản những tài sản thế chấp được tiếp tục quản lý hay sử dụng, nếu bị mất mát, hư hỏng thì phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Trường hợp tài sản thế chấp là các chứng từ có giá hết hạn trước thời hạn bảo lãnh thì doanh nghiệp phải đổi tài sản đủ tiêu chuẩn để thế chấp. Nếu không đủ tài sản thế chấp để thay thế thì doanh nghiệp được bảo lãnh phải chịu phạt với mức bằng 1%/tháng tính trên giá trị tài sản thế chấp còn thiếu.

Đồng thời doanh nghiệp được bảo lãnh còn phải:

  • Cung cấp đầy đủ, chính xác và trung thực các tài liệu và các thông tin theo yêu cầu của ngân hàng bảo lãnh;
  • Thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh;
  • Thanh toán đầy đủ và đúng hạn phí bảo lãnh cho ngân hàng theo thoả thuận;
  • Trường hợp ngân hàng bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ cho người bảo lãnh thì doanh nghiệp phải làm giấy nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền ngân hàng đã trả thay, bao gồm cả gốc, lãi và các chi phí trực tiếp phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Trong trường hợp chưa hoàn trả được cho ngân hàng, bên nợ phải chịu lãi suất phạt đối với khoản nợ ngân hàng đã trả thay, tối đa bằng 150% lãi suất trong hợp đồng vay vốn giữa khách hàng và bên nhận bảo lãnh (trường hợp bảo lãnh vay vốn) hoặc lãi suất cho vay thông thường mà bên bảo lãnh đang áp dụng, kể từ ngày ngân hàng thực hiện trả thay.
  • Chịu sự kiểm tra, kiểm soát và báo cáo tình hình hoạt động có liên quan đến giao dịch bảo lãnh cho ngân hàng.

Bên nhận bảo lãnh

Trước hết, ngân hàng cần có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của khách hàng xin bảo lãnh. Nếu phát hiện doanh nghiệp vi phạm, tuỳ mức độ ngân hàng có thể lập biên bản yêu cầu khách hàng thực hiện đúng cam kết. Nếu khách hàng vi phạm nghiêm trọng thì ngân hàng có thể rút quyền bảo lãnh và yêu cầu doanh nghiệp trả nợ trước hạn.

Khi bảo lãnh lưu giữ tài sản thế chấp, ngân hàng phải có trách nhiệm giữ gìn, bảo quản. Nếu để xảy ra tình trạng mất mát, hư hỏng tài sản thế chấp, ngân hàng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất. Đối với bảo lãnh vay vốn nước ngoài, trước khi đến hạn trả nợ 30 ngày, ngân hàng phải thông báo cho khách hàng biết để chuẩn bị tiền trả nước ngoài. Khi đến hạn, nếu bên xin bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ thì ngân hàng có quyền trích tiền từ tài khoản tiền gửi các loại của họ để trả cho người hưởng số tiền ghi trong thư bảo lãnh. Nếu không đủ thì ngân hàng sẽ phải trả thay cho bên xin bảo lãnh và yêu cầu khách hàng làm giấy nợ số tiền đã trả thay với lãi suất nợ quá hạn của loại vay tương ứng. Trong thời hạn 30 ngày mà khách hàng vẫn không trả được nợ cho ngân hàng cũng như không có giải pháp cụ thể nào chứng minh khả năng trả nợ trong thời gian tới thì Eximbank làm thủ tục phát mại tài sản thế chấp để thu hồi vốn và chi phí đã bỏ ra. Nếu khi hết thời hạn hợp đồng mà người xin bảo lãnh hoàn thành nghĩa vụ trong hợp đồng thì tài sản thế chấp được giải tỏa, số tiền được chuyển vào quỹ bảo lãnh được giải phóng trả lại quỹ kinh doanh. Ngân hàng phải hoàn trả đầy đủ tài sản bảo đảm (nếu có) và các giấy tờ có liên quan cho khách hàng khi tiến hành thanh lý hợp đồng cấp bảo lãnh.

Trong mọi trường hợp, ngân hàng phải lưu giữ toàn bộ hồ sơ có liên quan đến bảo lãnh, có số theo dõi bảo lãnh và trả nợ để tiện kiểm tra. Hàng tháng, các chi nhánh phải làm báo cáo gửi Eximbank Việt nam về các nghiệp vụ bảo lãnh và trả nợ.

1.12 Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh cho doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Cách thức tiến hành bảo lãnh cho các doanh nghiệp của Eximbank rất khác nhau, tuỳ thuộc vào các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo lãnh, từng yêu cầu cụ thể của mỗi hình thức bảo lãnh. Tuy nhiên, hoạt động bảo lãnh của Eximbank cũng có những nguyên tắc cơ bản chung, bao gồm các bước:

Bước 1- Tiếp nhận và hoàn chỉnh hồ sơ:

Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ bảo lãnh:

Cán bộ ngân hàng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ theo đúng quy định đối với mỗi loại bảo lãnh, bao gồm:

Hồ sơ áp dụng đối với các loại bảo lãnh: bao gồm Giấy đề nghị bảo lãnh; Hồ sơ pháp lý về khách hàng; Hồ sơ về tình hình sản xuất kinh doanh; tài chính; Hồ sơ về đảm bảo bảo lãnh.

Nếu khách hàng đã có quan hệ tín dụng, bảo lãnh với ngân hàng, hồ sơ gồm Giấy đề nghị bảo lãnh; Hồ sơ về tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính; Hồ sơ về đảm bảo bảo lãnh; Hồ sơ pháp lý về khách hàng (nếu có điều chỉnh, bổ sung).

Hồ sơ áp dụng riêng cho từng loại bảo lãnh:

  • Đối với bảo lãnh vay vốn:
  • Hồ sơ về tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh bổ sung thêm:
  • Tài liệu xác minh tình hình công nợ tại thời điểm gần nhất của các tổ chức tín dụng mà khách hàng có dư nợ.

Hồ sơ về dự án đầu tư bổ sung thêm:

  • Hợp đồng thương mại được cấp có thẩm quyền phê duyệt .
  • Dự thảo lần cuối Hợp đồng vay vốn nước ngoài (nếu có)
  • Văn bản của Ngân hàng Nhà nước cấp hạn mức vay vốn nước ngoài cho khách hàng (đối với trường hợp vay vốn nước ngoài)
  • Các tài liệu về biện pháp đảm bảo cho nghĩa vụ được bảo lãnh

Đối với Bảo lãnh thanh toán:

  • Hợp đồng mua bán hoặc bản cam kết thanh toán của các bên liên quan ghi rõ điều khoản cam kết thanh toán giữa các bên liên quan.
  • Tài liệu liên quan về khả năng nguồn vốn để thanh toán theo cam kết được bảo lãnh (nếu có).
  • Hạn mức vay vốn (trường hợp thanh toán bằng vốn vay).
  • Đối với bảo lãnh trong xây dựng:
  • Bảo lãnh dự thầu: Tài liệu mời thầu, Quy chế hoặc quy định đấu thầu của chủ đầu tư trong đó ghi rõ các trường hợp vi phạm quy chế (quy định) đấu thầu và trách nhiệm nghĩa vụ mỗi bên dự thầu.

Bảo lãnh thực hiện hợp đồng:

  • Hợp đồng thi công (đối với bảo lãnh thực hiện hợp đồng trong xây lắp, trường hợp chưa có hợp đồng chính thức thì phải là hợp đồng dự thảo trước khi ký chính thức) hoặc hợp đồng cung ứng vật tư thiết bị (đối với bảo lãnh thực hiện hợp đồng cung ứng vật tư thiết bị) quy định về các điều kiện thực hiện hợp đồng và bảo lãnh thực hiện hợp đồng hoặc
  • Thông báo trúng thầu hoặc phê duyệt kết quả đấu thầu của cấp có thẩm quyền.
  • Bảo lãnh hoàn thanh toán: Văn bản cam kết của các bên về số tiền ứng trước, thời gian và tiến độ, phương thức hoàn trả nguồn vốn, xác định rõ các trường hợp vi phạm, nghĩa vụ của Bên nhận tiền ứng trước (nếu trong hợp VNĐ kinh tế chưa quy định rõ).
  • Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: Hợp đồng kinh tế quy định cụ thể về trách nhiệm đảm bảo chất lượng sản phẩm, các trường hợp
  • phạm nghĩa vụ của các bên. Nếu hợp đồng kinh tế không quy định rõ thì phải có một hợp đồng bổ sung (hoặc quy định trong biên bản nghiệm thu) quy định rõ trách nhiệm đảm bảo chất lượng sản phẩm, các trường hợp vi phạm nghĩa vụ của các bên.
  • Đối với bảo lãnh bằng 100% vốn tự có của khách hàng

Hồ sơ gồm: Chứng từ chứng minh tiền đã được chuyển vào tài khoản tiền gửi ký quỹ tại ngân hàng bảo lãnh bằng 100% giá trị món bảo lãnh, giấy đề nghị bảo lãnh ghi rõ, cam kết dùng tiền ký quỹ đảm bảo cho 100% nghĩa vụ bảo lãnh.

Tiếp nhận kiểm tra và hoàn chỉnh hồ sơ:

Sau khi nhận được hồ sơ bảo lãnh của khách hàng, cán bộ ngân hàng kiểm tra, kiểm soát các tài liệu của bộ hồ sơ về số lượng, các yếu tố trên tài liệu về tính đầy đủ, hợp pháp hợp lệ của hồ sơ bảo lãnh và yêu cầu khách hàng hoàn chỉnh, bổ sung hồ sơ (nếu thiếu), lập phiếu nhận hồ sơ của khách hàng và danh mục hồ sơ. Trường hợp bảo lãnh ký quỹ 100% hoặc món bảo lãnh thủ tục đơn giản không lập phiếu tiếp nhận hồ sơ nhưng phải lập danh mục hồ sơ.

Bước 2 Quyết định bảo lãnh

Thẩm định hồ sơ bảo lãnh:

Chuyển hồ sơ: Sau khi nhận được hồ sơ đầy đủ từ khách hàng, cán bộ lập danh mục hồ sơ và chuyển hồ sơ cho các Phòng có liên quan (Thẩm định, Nguồn vốn, Thanh toán quốc tế) để tổ chức việc phối hợp xử lý giữa các đơn vị phù hợp với tính chất, mức độ của món bảo lãnh.

Thẩm định hồ sơ:

  • Tính đầy đủ, hợp pháp và hợp lệ của hồ sơ bảo lãnh.
  • Năng lực pháp lý của Khách hàng xin bảo lãnh.
  • Việc chuyển tiền ký quỹ vào tài khoản ký quỹ để thực hiện bảo lãnh.
  • Tình hình tài chính và năng lực sản xuất kinh doanh.
  • Tính khả thi và khả năng trả nợ của dự án (Đối với bảo lãnh thanh toán và bảo lãnh vay vốn)
  • Đánh giá các rủi ro tiềm ẩn; Thẩm định về tài sản và các biện pháp đảm bảo cho nghĩa vụ được bảo lãnh.

Lập Tờ trình:

Sau khi thẩm định các nội dung trên, căn cứ ý kiến các phòng nghiệp vụ liên quan (nếu có), cán bộ lập Tờ trình Trưởng phòng kiểm soát và để trình Lãnh đạo. Tờ trình phải thể hiện được quan điểm cá nhân của cán bộ và cán bộ phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin có liên quan đến việc phán quyết bảo lãnh. Có ý kiến đề xuất bảo lãnh hoặc từ chối với các lý do cụ thể.

Trưởng phòng thực hiện bảo lãnh có trách nhiệm kiểm tra lại Hồ sơ và những nội dung trong Tờ trình, bổ sung thêm những thông tin cần thiết về dự án và khách hàng, đề xuất ý kiến thống nhất hoặc không thống nhất ý kiến với cán bộ.

Ra quyết định bảo lãnh:

Sau khi xem xét tờ trình, Lãnh đạo quyết định về việc bảo lãnh.

Trường hợp thuộc thẩm quyền:

Nếu các loại bảo lãnh thuộc uỷ quyền thường xuyên và trong mức phán quyết của chi nhánh, lãnh đạo chi nhánh ra quyết định về việc bảo lãnh.

Trường hợp vượt thẩm quyền:

  • Các loại bảo lãnh không được uỷ quyền thường xuyên.
  • Bảo lãnh được uỷ quyền thường xuyên nhưng vượt mức phán quyết của chi nhánh;
  • Bảo lãnh được uỷ quyền thường xuyên, trong mức phán quyết nhưng chủ đầu tư yêu cầu Hội sở chính trực tiếp phát hành thư bảo lãnh.

Nếu đồng ý bảo lãnh, cán bộ thảo tờ trình trình Trưởng phòng kiểm soát, Lãnh đạo Chi nhánh ký gửi Hội sở chính xem xét uỷ nhiệm. Nếu không đồng ý bảo lãnh, cán bộ thảo công văn từ chối trình Lãnh đạo ký trả lời cho khách hàng.

Bước 3 Phát hành bảo lãnh:

Hoàn chỉnh lại hồ sơ bảo lãnh (nếu có yêu cầu):

Thực hiện các biện pháp đảm bảo:

Sau khi có quyết định phê duyệt chấp thuận bảo lãnh, cán bộ yêu cầu khách hàng thực hiện các biện pháp đảm bảo (trừ bảo lãnh ký quỹ 100% vốn tự có) đã cam kết cho nghĩa vụ được bảo lãnh như: thế chấp, cầm cố, ký quỹ, bảo lãnh của bên thứ 3… và các yêu cầu khác.

Ký hợp đồng bảo lãnh và phát hành thư bảo lãnh:

Sau khi nhận lại hồ sơ của Lãnh đạo chấp thuận phát hành bảo lãnh cho khách hàng, cán bộ tiến hành soạn thảo hợp đồng để trình Lãnh đạo ký phát hành bảo lãnh và gửi cho khách hàng. Nếu phát hành bảo lãnh ký quỹ 100% không phải ký hợp đồng bảo lãnh với khách hàng.

Về thời hạn xem xét phát hành bảo lãnh:

Theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng xem xét, quyết định bảo lãnh. Trường hợp cần phải có đủ thời gian để xem xét (đối với bảo lãnh vay vốn và các bảo lãnh khác cần có ý kiến của Hội sở chính) tối đa cũng không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ của khách hàng.

Bước 4 Xử lý sau khi phát hành bảo lãnh:

Theo dõi phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh và thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh:

Cán bộ theo dõi việc phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh đối với các loại bảo lãnh như bảo lãnh dự thầu, thực hiện hợp đồng và các cam kết bảo lãnh khác.

Theo dõi giải ngân, thực hiện nhận nợ (đối với bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hoàn thanh toán và bảo lãnh vay vốn):

Đối với trường hợp tiền vay, tiền ứng trước được giải ngân qua ngân hàng, cán bộ phối hợp với các bộ phận có liên quan (Phòng kế toán…) để thực hiện giải ngân cho khách hàng đúng mục đích và tiến độ. Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Đối với trường hợp tiền vay được sử dụng để nhập thiết bị, hàng hoá (hoặc vay bằng hàng hoá, thiết bị), cán bộ theo dõi việc mở L/C, giao nhận chứng từ, ký hối phiếu, giấy nhận nợ của khách hàng đảm bảo cho quá trình này được thực hiện đúng tiến độ, đầy đủ và chính xác.

Hạch toán số dư bảo lãnh:

Đối với bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hoàn thanh toán và bảo lãnh vay vốn: Cán bộ lập lịch giải ngân, thông báo và gửi các chứng từ chứng minh việc giải ngân cho cán bộ phòng kế toán để hạch toán ngoại bảng số dư bảo lãnh. Chứng từ gửi cho cán bộ kế toán làm căn cứ hạch toán gồm:

  • Hợp đồng bảo lãnh (bản chính).
  • Lịch giải ngân (nếu là bảo lãnh vay vốn – bản phô tô).
  • Thư bảo lãnh (L/C hoặc hối phiếu nhận nợ – bản phô tô).
  • Đối với các loại bảo lãnh như bảo lãnh dự thầu, thực hiện hợp đồng và các cam kết bảo lãnh khác:
  • Cán bộ cung cấp các chứng từ chứng minh việc phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh (Hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh…) cho kế toán để hạch toán ngoại bảng số dư bảo lãnh gồm hợp đồng bảo lãnh (bản chính), thư bảo lãnh (bản photo).

Theo dõi thực hiện Hợp đồng bảo lãnh:

Kiểm tra, theo dõi khách hàng (Trừ trường hợp bảo lãnh bằng ký quỹ 100% vốn tự có): theo dõi tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của khách hàng từ khi phát sinh đến khi kết thúc nghĩa vụ bảo lãnh. Hàng quý yêu cầu khách hàng gửi báo cáo định kỳ, hết năm tài chính yêu cầu khách hàng gửi báo cáo quyết toán được duyệt chính thức.

Thu phí bảo lãnh:

  • Phòng kế toán tự động lập chứng từ trích tài khoản tiền gửi của khách hàng tại Chi nhánh để thu (nếu đến hạn khách hàng không tự động trả và không được ngân hàng gia hạn). Trường hợp khách hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng khác, Chi nhánh lập uỷ nhiệm thu gửi đến ngân hàng đó để thu phí bảo lãnh và thông báo cho khách hàng biết.
  • Trường hợp khách hàng không có khả năng trả phí do nguyên nhân khách quan, có công văn đề nghị gia hạn. Lãnh đạo Chi nhánh xem xét gia hạn trả phí bảo lãnh hoặc hạch toán tài khoản phí chưa thu cho khách hàng. Trường hợp không trả phí mà khách hàng không có lý do, Chi nhánh được chuyển phí chưa thu và áp dụng chế độ phạt quá hạn theo quy định.

Kiểm tra tài sản đảm bảo cho bảo lãnh:

  • Đối với tài sản đảm bảo là tiền gửi ký quỹ, cán bộ tiến hành kiểm tra số dư trên tài khoản ký quỹ để đảm bảo khả năng bù đắp rủi ro khi phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
  • Đối với tài sản đảm bảo (kể cả của bên thứ ba) là máy móc, thiết bị, nhà xưởng… thì phải thường xuyên kiểm tra trên hồ sơ thế chấp và kiểm tra tài sản tại hiện trường để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh như mất mát, hư hỏng, giảm giá trị…
  • Đối với trường hợp đảm bảo là bảo lãnh của bên thứ ba thì phải thường xuyên kiểm tra và theo dõi năng lực tài chính của người bảo lãnh thứ ba để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên thứ ba khi có yêu cầu.
  • Đôn đốc thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh:
  • Đối với bảo lãnh thanh toán và bảo lãnh vay vốn
  • Căn cứ lịch trả nợ, cán bộ mở sổ theo dõi việc trả nợ gốc và lãi của khách hàng đối với bên cho vay.
  • Định kỳ hàng tháng, tiến hành kiểm tra để nắm được tình hình sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
  • Cán bộ thông qua trưởng phòng và báo cáo Lãnh đạo để gửi thông báo nợ đến hạn cho khách hàng trước 15 ngày theo lịch trả nợ.

Để đảm bảo việc trả nợ đúng hạn cho Bên cho vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng nộp đủ tiền (VNĐ tiền nhận nợ vay) vào tài khoản tại ngân hàng trước 2 ngày làm việc so với lịch trả nợ để có tiền thanh toán trả nước ngoài theo cam kết.

Trường hợp trả nợ bằng ngoại tệ mà khách hàng chỉ có nguồn VND, nếu chi nhánh ngân hàng cân đối được ngoại tệ bán cho khách hàng thì yêu cầu khách hàng nộp đủ VND vào tài khoản và bán ngoại tệ cho khách hàng, Nếu chi nhánh không tự cân đối được ngoại tệ, Chi nhánh liên hệ với Hội sở chính hoặc yêu cầu khách hàng tự mua, khách hàng phải đảm bảo có đủ lượng ngoại tệ cần thiết trên tài khoản để thanh toán nợ nước ngoài đến hạn.

Sau mỗi kỳ trả nợ (bảo lãnh vay vốn) hoặc sau mỗi đợt thanh toán (bảo lãnh thanh toán) cán bộ sao gửi kế toán theo dõi tài khoản bảo lãnh tài liệu liên quan của món bảo lãnh để hạch toán (ngoại bảng hoặc nội bảng) tài liệu gồm:

  • Thông báo trả nợ (bản photo),
  • Chứng từ báo có cho người thụ hưởng bảo lãnh (bảo lãnh vay vốn),
  • Bảng kê nhập, xuất hàng hoá và thanh toán theo cam kết (nếu có) có liên quan đến nghĩa vụ bảo lãnh (bảo lãnh thanh toán) -bản photo.

Gia hạn bảo lãnh:

Căn cứ văn bản đề nghị gia hạn bảo lãnh của khách hàng và sự đồng ý gia hạn bảo lãnh của người thụ hưởng bảo lãnh (Văn bản gia hạn bảo lãnh đối với bảo lãnh dự thầu, bổ sung điều khoản gia hạn bảo lãnh của Hợp đồng kinh tế, hợp đồng vay vốn đối với các loại bảo lãnh khác), cán bộ làm các thủ tục cần thiết theo đề nghị của khách hàng và theo yêu cầu nghiệp vụ bảo lãnh (bổ sung điều khoản về thời hạn bảo lãnh của hợp đồng bảo lãnh, thảo công văn gia hạn thư bảo lãnh, thu phí bảo lãnh bổ sung)

Xử lý khi phải trả nợ thay:

Trường hợp đã tìm mọi biện pháp đôn đốc nhưng khách hàng vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được bảo lãnh, ngân hàng yêu cầu khách hàng giải trình nguyên nhân và xử lý theo một trong các hướng sau:

  • Trích tiền gửi ký quỹ bảo lãnh thanh toán trả Bên thụ hưởng (nếu có).
  • Đàm phán với bên cho vay để gia hạn nợ cho khách hàng (đối với bảo lãnh vay vốn).
  • Cho khách hàng vay theo kế hoạch tín dụng đầu tư (nếu có) để trả nợ thay (nếu khách hàng được Chính phủ chỉ đạo cho vay từ nguồn vốn tín dụng đầu tư để hỗ trợ trả nợ).
  • Cho khách hàng vay tạm thời chờ thanh toán để trả nợ thay (nếu khách hàng bị chậm thanh toán và có nguồn trả nợ rõ ràng)
  • Cho khách hàng vay bắt buộc để trả nợ thay theo quy định hiện hành..

Bước 5 Kết thúc bảo lãnh:

Tất toán bảo lãnh:

Đối với bảo lãnh vay vốn nước ngoài không phát hành thư (Bảo lãnh mở L/C hoặc ký trên hối phiếu), trình tự thực hiện như sau:

Hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng bảo lãnh: Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Ngân hàng gửi thông báo yêu cầu khách hàng hoàn thành nốt các nghĩa vụ theo hợp đồng bảo lãnh trước 30 ngày theo thời hạn kết thúc bảo lãnh trong hợp đồng.

Thanh lý hợp đồng bảo lãnh, xuất toán tài khoản ngoại bảng bảo lãnh:

  • Sau khi khách hàng đã hoàn tất các nghĩa vụ theo hợp đồng bảo lãnh, ngân hàng lập thông báo thanh lý hợp đồng, kế toán sẽ xuất toán số dư bảo lãnh, giải toả tài khoản ký quỹ, thực hiện thu phí (nếu có).
  • Đối với bảo lãnh phát hành thư tất toán bảo lãnh căn cứ vào:
  • Thư bảo lãnh hết hiệu lực hoặc thông báo hết hiệu lực thư bảo lãnh của Bên thụ hưởng bảo lãnh, hoặc xác nhận hoàn thành nghĩa vụ của Bên thụ hưởng bảo lãnh. Nếu trên thư bảo lãnh có ngày hết hiệu lực cụ thể, kế toán tự động làm thủ tục tất toán vào ngày làm việc tiếp theo. Nếu trên thư bảo lãnh không ghi rõ ngày cụ thể hết hiệu lực thì căn cứ vào thông báo hoặc xác nhận của Bên thụ hưởng bảo lãnh về việc hoàn thành nghĩa vụ liên quan đến bảo lãnh của khách hàng.

Trường hợp đặc biệt nếu thời hạn hết hiệu lực theo thông báo của chủ đầu tư (người thụ hưởng bảo lãnh) phát sinh trước thời hạn hiệu lực của thư bảo lãnh do ngân hàng phát hành, nếu đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ, ngân hàng đề nghị khách hàng nộp lại bản chính thư bảo lãnh hoặc gửi văn bản của Bên thụ hưởng chấp thuận thư bảo lãnh hết hiệu lực trước thời hạn để tiến hành thanh lý hợp đồng bảo lãnh trước thời hạn và thông báo cho Bên thụ hưởng biết, kế toán tất toán tài khoản ngoại bảng.

Giải toả tài sản đảm bảo bảo lãnh:

Giải chấp tài sản, xuất kho tài sản hoặc giấy tờ tài sản thế chấp.., giải toả tiền ký quỹ (nếu có)

Đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm.

Lưu trữ hồ sơ.

Hồ sơ lưu trữ cụ thể đối với mỗi Hợp đồng bảo lãnh ngân hàng bao gồm:

  • Hồ sơ pháp lý khách hàng, hồ sơ về hoạt động sản xuất kinh doanh tài chính 02 năm gần nhất (khách hàng chưa có quan hệ vay vốn hoặc khách hàng bảo lãnh lần đầu).
  • Tài liệu về sản xuất kinh doanh, tài chính quý gần nhất bản chính
  • Hồ sơ về đảm bảo bảo lãnh (nếu có).
  • Giấy đề nghị bảo lãnh (bản chính).
  • Tờ trình Lãnh đạo về bảo lãnh (bản chính).
  • Hợp đồng bảo lãnh theo từng loại bảo lãnh phát sinh bản chính.
  • Thư bảo lãnh, L/C hoặc hối phiếu (bản phôtô) theo loại bảo lãnh phát sinh.
  • Các tài liệu có liên quan theo từng loại bảo lãnh phát sinh:
  • Gia hạn bảo lãnh (nếu có)
  • Cho vay bắt buộc (nếu có).
  • Các văn bản chỉ đạo có liên quan đến bảo lãnh
  • Đối với bảo lãnh ký quỹ 100% vốn tự có, hồ sơ lưu trữ gồm:
  • Giấy đề nghị bảo lãnh;
  • Báo có tài khoản ký quỹ;
  • Thư bảo lãnh hoặc L/C, tài liệu liên quan (nếu có).

Trên đây là quy trình tiến hành cấp bảo lãnh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên căn cứ vào từng doanh nghiệp và từng dự án, yêu cầu bảo lãnh cụ thể mà cán bộ tín dụng bỏ qua hoặc thực hiện thêm một công đoạn nào đấy, nhưng mục tiêu vẫn là đảm bảo an toàn cho ngân hàng, và sự tiện lợi và nhanh chóng cho khách hàng.

2. Tình hình hoạt động bảo lãnh của ngân hàng Xuất nhập khẩu trong những năm vừa qua Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ quan trọng trong cơ cấu hoạt động kinh doanh của Eximbank. Tầm quan trọng của loại hình nghiệp vụ này không chỉ thể hiện ở chỗ nó tạo ra một phần thu nhập cho ngân hàng mà còn thể hiện ở chỗ nghiệp vụ bảo lãnh tạo điều kiện tương hỗ cho các nghiệp vụ khác phát triển, nâng cao uy tín của ngân hàng.

Là một ngân hàng thương mại hàng đầu, có uy tín tại Việt Nam, Eximbank luôn coi trọng lĩnh vực bảo lãnh ngân hàng với phương châm luôn đem đến cho khách hàng của mình những dịch vụ tốt nhất.

2.1 Quy mô hoạt động bảo lãnh

Nếu xét về quy mô bảo lãnh thì phải công nhận rằng trong những năm vừa qua tình hình hoạt động bảo lãnh của Eximbank có tăng trưởng nhưng không ổn định. Doanh số bảo lãnh qua các năm thể hiện đồng thời những thuận lợi và khó khăn mà ngân hàng phải đối mặt.

Năm 2002, do nghiệp vụ bảo lãnh vẫn còn khá mới mẻ, trình độ cán bộ non kém, thiếu kinh nghiệm nên Eximbank thực hiện hoạt động bảo lãnh khá dè dặt, thận trọng. Doanh số bảo lãnh trong năm này không lớn (99.150 triệu VNĐ). Hơn nữa, do tình hình hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động kinh doanh đối ngoại nói riêng của ngân hàng còn hạn chế nên chất lượng các khoản bảo lãnh trong thời gian này cũng không cao. Tỷ lệ nợ quá hạn cao, lên tới 6,7% và kéo dài. Nhiều khoản bảo lãnh trung và dài han đã quá hạn từ tháng 5, tháng 6 nhưng đến cuối năm vẫn chưa được thanh toán vì nhiều lý do khác nhau.

Sang năm 2003, quy mô của hoạt động bảo lãnh được duy trì ở mức vừa phải, dư bảo lãnh ngân hàng là 131.312 triệu đồng, tăng 31,4% so với năm trước. Nội dung bảo lãnh trong năm tập trung chủ yếu vào bảo lãnh thư tín dụng, các loại hình bảo lãnh khác hầu như không có. Theo báo cáo thì tỷ lệ nợ quá hạn vẫn còn cao, là 4,5%. Rõ ràng nợ quá hạn đang trở thành một vấn đề bức xúc cần có sự quan tâm đặc biệt.

Năm 2004, số dư bảo lãnh của Eximbank giảm xuống còn 102.460 triệu đồng, giảm 21,4% so với năm 2003. Mặc dù doanh số bảo lãnh trong năm cũng giảm đi nhiều (28.852 triệu đồng) nhưng không phát sinh nợ quá hạn. Đây có thể coi là một kết quả đáng khích lệ đối với ngân hàng. Điều này đã phần nào ghi nhận những bước tiến bộ về chất lượng nghiệp vụ cũng như những cố gắng của đội ngũ cán bộ ngân hàng.

Sang năm 2005 và 2006, quy mô hoạt động bảo lãnh ngày càng tăng theo hướng tích cực và ổn định. Tất cả các khoản bảo lãnh thư tín dụng trả chậm ngắn hạn phát sinh đều được các doanh nghiệp thanh toán đầy đủ và đúng hạn. Các doanh nghiệp sử dụng vốn an toàn và hiệu quả, hàng nhập khẩu tiêu thụ tốt, bản thân Eximbank cũng tăng thu nhập từ phí dịch vụ, tăng nguồn tiền gửi và nâng cao uy tín với nước ngoài. Tính đến thời điểm 30/6/2006, với 7 khoản bảo lãnh mở L/C trả chậm, doanh số bảo lãnh ngân hàng phát sinh lên tới 140.446 triệu đồng, tăng gần gấp hai lần so với cùng kỳ năm 2005. Dư bảo lãnh trong năm 2006 đạt 275.580 triệu đồng, tăng 61,8% so với năm 2005. Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Bảng 3: Doanh số bảo lãnh của Eximbank qua các năm

Sở dĩ ngân hàng duy trì được mức doanh số bảo lãnh tăng trong những năm gần đây là do :

  • Nhu cầu bảo lãnh của nền kinh tế ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng của số lượng và quy mô các hợp đồng kinh tế, đặc biệt là sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu…;
  • Ngân hàng ngày càng nhận thức được vai trò của bảo lãnh trong hoạt động ngân hàng: vừa tăng doanh thu, vừa phân tán rủi ro thông qua chính sách đa dạng hoá vừa giảm sự phụ thuộc vào hoạt động cho vay;
  • Ngân hàng tích cực xử lý dứt điểm nợ quá hạn tồn đọng cụ và xây dựng hệ thống quản lý rủi ro toàn hệ thống, hạn chế nợ quá hạn mới phát sinh.

Đối tượng khách hàng không ngừng được mở rộng;

Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu thu được thì vẫn còn những thiếu sót, tồn tại mà ngân hàng cần khắc phục. Hiện số tiền ngân hàng phải thanh toán thay đang có xu hướng tăng lên. Nếu tính cả số tiền phải cho vay thanh toán từ trước thì đến cuối năm 2006, tổng số tiền mà Eximbank phải thay toán thay là 30.756 triệu đồng. Rõ ràng, đây là một thách thức đặt ra cho ngân hàng trong thời gian tới. Dự phòng cho các khoản bảo lãnh của ngân hàng năm 2006 là 3.707 triệu đồng, được trích lập theo tỷ lệ 0,235% các khoản bảo lãnh theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN.

Bảng 4: Doanh thu phí bảo lãnh 2004 – 2006

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Eximbank) Doanh thu phí bảo lãnh liên tục tăng từ 1.559 triệu đồng vào năm 2004 lên 4.720 triệu đồng vào năm 2006 – đóng góp trên dưới 0,38% vào tổng doanh thu của ngân hàng. Bảng số liệu trên cho thấy tỷ trọng trong doanh thu từ phí dịch vụ của hoạt động bảo lãnh có xu hướng tăng nhưng vẫn còn rất nhỏ. Nguyên nhân là do dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng phát triển mạnh trong vài năm gần đây, vượt qua tốc độ tăng trưởng của hoạt động bảo lãnh. Tuy nhiên hoạt động bảo lãnh vẫn là một trong những trọng tâm phát triển của ngân hàng cho xứng với những tiềm lực của nó.

2.2 Cơ cấu hoạt động bảo lãnh

Xét ở các góc độ khác nhau chúng ta có thể thấy cơ cấu bảo lãnh của Eximbank cũng có nhiều điểm đáng quan tâm.

Bảng 5: Cơ cấu số dư bảo lãnh theo loại hình

Xét về loại hình bảo lãnh thì Eximbank tập trung chủ yếu vào bảo lãnh thanh toán và bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Năm 2005, bảo lãnh thanh toán chiếm 67,6% và bảo lãnh thực hiện hợp đồng chiếm 11,9%. Năm 2006, bảo lãnh thanh toán chiếm khoảng 35,7% và bảo lãnh thực hiện hợp đồng chiếm 32,4% tỷ trọng trong bảo lãnh. Điều này thể hiện rõ mục tiêu của Eximbank là để phục vụ cho các giao dịch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước. Bảo lãnh dự thầu trong nước cũng tăng nhanh, chủ yếu vẫn đang tập trung cho các phiên đấu thầu của các dự án lớn, trọng điểm của nhà nước, hơn nữa một quyết định mới của Chính Phủ yêu cầu những người tham gia đấu thầu đều phải có một bảo lãnh dự thầu đã đẩy nhu cầu bảo lãnh dự thầu tăng nhanh chóng. Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Xét về đối tượng bảo lãnh thì khách hàng chủ yếu và thường xuyên của Eximbank là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Bảng 6: Cơ cấu bảo lãnh theo thành phần kinh tế

Năm 2005, bảo lãnh phát hành cho khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 62,0% trong tổng doanh số bảo lãnh. Cùng với chiến lược đa dạng hoá đối tượng khách hàng, tỷ trọng doanh số bảo lãnh phát hành cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tăng trung bình khoảng trên 10%/năm. Tuy nhiên, tỷ trọng này mức khá cao (76,2%) vào năm 2006 vừa qua. Nguyên nhân là do từ khi thành lập cho tới nay, khách hàng của Ngân hàng chủ yếu là các công ty cổ phần và các doanh nghiệp liên doanh với nguồnvốn kinh doanh ngày càng tăng và hoạt động ngày càng ổn định.

Xét về kỳ hạn bảo lãnh, hiện nay, tại Eximbank có sự chênh lệch khá rõ giữa bảo lãnh ngắn hạn và bảo lãnh trung và dài hạn.

Bảng 7: Dư nợ bảo lãnh phân theo kỳ hạn

Qua bảng số liệu ta thấy, bảo lãnh chủ yếu tập trung vào bảo lãnh ngắn hạn. Năm 2005 bảo lãnh ngắn hạn chiếm 91,2% (tương đương 155.329 triệu), năm 2006 tỷ trọng bảo lãnh giảm xuống còn 73,2%. Nhưng, bảo lãnh trung và dài hạn đã có bước chuyển biến đáng kể, tỷ trọng tăng lần lượt từ năm 2005 đến năm 2006 là 8,8% và 26,8%. Điều đó cho thấy ngân hàng đã bắt đầu quan tâm tới nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp và đáp ứng được phần nào các nhu cầu tiềm năng đó. Có sự chênh lệch đó# là vì bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ tuy đã được áp dụng ở ngân hàng từ hơn 10 năm nay nhưng vẫn còn mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nghiệp vụ bảo lãnh hàm chứa khá nhiều rủi ro, do đó Eximbank nói riêng và các NHTM nói chung vẫn còn dè dặt trong việc bảo lãnh cho những loại bảo lãnh dài hạn. Bên cạnh đó đối tượng chủ yếu của Eximbank là các hợp đồng xuất nhập khẩu nên thời gian của bảo lãnh cũng không quá dài.

3. Đánh giá chung

3.1 Những kết quả đạt được Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Hoạt động bảo lãnh đã góp phần tăng thu cho ngân hàng, giảm dần sự phụ thuộc vào hoạt động cho vay: doanh thu từ hoạt động bảo lãnh cũng tăng lên, đóng góp vào tổng doanh thu hàng năm của ngân hàng, nâng cao kết quả kinh doanh của ngân hàng. Bảo lãnh cũng có tác dụng hỗ trợ cho các nghiệp vụ khác của ngân hàng như nghiệp vụ thanh toán, tín dụng, nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, mở rộng quan hệ và nâng cao uy tín của ngân hàng đối với khách hàng cũng như đối với nhà nước và các tổ chức tín dụng khác.

Hoàn thành tốt tiêu chuẩn chất lượng về thời gian tiến hành bảo lãnh: các cán bộ thực hiện nghiêm tức các quy định về thời gian, không để khách hàng chờ đợi quá lâu, ảnh hưởng tới thời gian phục vụ của khách hàng.

Không phát sinh dư nợ cho vay bắt buộc: trong ba năm qua ngân hàng không phải thực hiện việc trả thay khách hàng, thực hiện nghĩa vụ tài chính thay khách hàng. Do vậy không để lại những khoản tín dụng bắt buộc và không gây ảnh hưởng xấu đến bảng cân đối kế toán. Điều này có được trước hết từ việc ngân hàng luôn thận trọng trong việc cấp bảo lãnh cho khách hàng, tập trung vào đối tượng khách hàng có tín nhiệm. Cùng với nỗ lực từng bước nâng cao kiến thức nghiệp vụ và củng cố hoạt động tín dụng, tạo môi trường pháp lý lành mạnh, thông thoáng hơn, trong những năm vừa qua, số lượng các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sau khi được ngân hàng bảo lãnh, số các dự án khả thi ngày càng tăng.

Góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của của các doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp thêm một hình thức tài trợ vốn hiệu quả lại còn có chức năng đền bù và đôn đốc thực hiện hợp đồng. Đây chính là tính ưu việt của bảo lãnh ngân hàng so với các hình thức đảm bảo khác.

Chất lượng hoạt động bảo lãnh không ngừng tăng trưởng và phát triển. Ngoài nghiệp vụ bảo lãnh vay vốn nước ngoài theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng cũng xem xét chấp nhận bảo lãnh của ngân hàng nước ngoài đối với các khoản cho vay của Eximbank. Hơn nữa, dù là một nghiệp vụ mới nhưng ban lãnh đạo ngân hàng vẫn thường xuyên theo dõi, kịp thời chỉnh lý và ban hành các văn bản hướng dẫn về bảo lãnh cho phù hợp, đồng thời luôn lắng nghe và coi trọng các ý kiến đóng góp từ phía khách hàng để có thể khắc phục phần nào các nhược điểm trong mạng lưới cung cấp dịch vụ của mình. Nâng cao hơn nữa chất lượng bảo lãnh ngân hàng cũng là một trong số các mục tiêu đề ra của công tác thanh tra và kiểm toán ngân hàng vẫn diễn ra hàng năm.

Chất lượng công tác thẩm định bảo lãnh ngày một cải thiện. Ngân hàng trong những năm gần đây đã áp dụng các phương pháp mang tính khoa học như chỉ tiêu điểm hào vốn, chỉ tiêu hiện giá ròng thuần NPV, chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR… và xem xét công tác này dưới một góc độ toàn diện hơn. Nếu như trước đây, các dự án chủ yếu là hợp đồng xuất nhập khẩu của Nhà nước, ngân hàng ít khi quan tâm đến tính khả thi và hiệu quả của dự án thì hiện nay, với những phương pháp khoa học tiến bộ, thẩm định dự án ngày càng thu hút được sự quan tâm từ phía ngân hàng, và được phân tích triệt để trên mọi phương diện thị trường, kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài chính.

3.2 Những hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

3.2.1 Hạn chế

Một hạn chế không chỉ có ở Eximbank mà là thực trạng chung hiện này của các ngân hàng thương mại là cơ cấu bảo lãnh còn khá đơn điệu và thiếu cân đối. Bảo lãnh chủ yếu vẫn là bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán và bảo lãnh dự thầu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số dư nợ bảo lãnh. Thực tế ngân hàng đã có các loại bảo lãnh khác, nhưng chưa thực sự đưa vào thực hiện, tại ngân hàng đã thực hiện nghiệp vụ đồng bảo lãnh, nhưng mới chỉ được rất ít món. Bên cạnh đó quy mô của các khoản bảo lãnh không lớn

Hạn chế thứ hai là đối tượng khách hàng không đa dạng, ngân hàng thực hiện bảo lãnh chủ yếu cho các ngành công nghiệp để thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu, đây là lĩnh vực hàm chứa nhiều rủi ro và hiện nay có nhiều vấn đề bức xúc nổi bật.

Thứ ba, trong mấy năm qua, ngân hàng không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính thay khách hàng, vì ngân hàng quá thận trọng trong việc lựa chọn khách hàng vay và tập trung vào các khách hàng có tài chính lành mạnh, kết quả kinh doanh tốt, dự án khả thi và thường có quan hệ lâu dài với ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro bảo lãnh. Chính sự thận trọng đó đã khiến ngân hàng đã thu hẹp bảo lãnh, làm cho doanh số cũng như dư nợ bảo lãnh còn hạn chế, đồng thời ngân hàng có thể bỏ qua những cơ hội kinh doanh, không tận dụng được tiềm năng sẵn có, làm giảm thu nhập và quy mô bảo lãnh của ngân hàng. Với những điều kiện khó tính của ngân hàng trong việc thực hiện bảo lãnh có thể làm cho khách hàng e ngại khi đến đề nghị bảo lãnh. Doanh thu từ bảo lãnh nói riêng cũng như doanh thu từ hoạt động dịch vụ nói chung còn chiếm một tỷ trọng nhỏ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hạn chế này là hạn chế chung của các ngân hàng thương mại.

3.2.2 Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Bất cập trong môi trường pháp lý và kinh tế

Môi trường kinh tế trong những năm qua có nhiều biến động phức tạp không chỉ trong nước mà còn trên thị trường quốc tế. Sự biến động của các đồng tiền mạnh, tình hình trong nước cũng gặp nhiều khó khăn; nạn dịch cúm gia cầm, thiên tai lũ lụt; giá cả leo thang, đặc biệt là giá cả của các vật liệu kinh doanh như dược phẩm, dầu khí,thép, các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản…Bên cạnh đó là sự biến động về lãi suất, lạm phát và các chính sách về tỷ giá, tình hình cạnh tranh lãi suất nóng bỏng giữa các ngân hàng, đã ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các thành phần kinh tế. Chính những lý do đó làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả của các dự án đâu tư bị giảm sụt.

Bên cạnh đó, các quy hoạch và dự báo một số lĩnh vực lớn của nền kinh tế thiếu khoa học, phần lớn mang tính chủ quan; Trên cơ sở đó hình thành nên các dự án một cách ồ ạt được phê duyệt, triển khai, gây sức ép lên ngân hàng buộc phải bảo lãnh, hoặc thiếu hiệu quả, gây rủi ro cho bảo lãnh của ngân hàng.

Quản lý của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều tồn tại, đặc biệt là tình trạng thành lập doanh nghiệp tràn lan, hoạt động trái pháp luật, tình trạng doanh nghiệp ma, doanh nghiệp bị mất tích mà nhà nước chưa nắm bắt và quản lý sát sao được đã gây ra nhiều rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng.

Mặt khác môi trường pháp lý cũng có nhiều bất cập, không phù hợp và không theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động dịch vụ bảo lãnh, các yêu cầu của hội nhập kinh tế, và sự xuất hiện của các hình thức bảo lãnh mới. Đặc biệt là môi trường pháp lý đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng còn thiếu, không ổn định và đồng bộ, chưa bảo vệ được quyền lợi chính đáng của ngân hàng bảo lãnh.

Cho đến nay, các bộ luật như Luật dân sự, Luật thương mại, Luật các tổ chức tín dụng đều đề cập và đưa ra khái niệm, định nghĩa về bảo lãnh song tất cả mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra bản chất, nguyên tắc chung của loại hình nghiệp vụ này. Hiện nay, chúng ta chưa có riêng một bộ luật bảo lãnh, các ngân hàng thương mại chỉ căn cứ vào các văn bản dưới luật về bảo lãnh như “ Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng” để thực hiện nghiệp vụ này. Do bản “Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng” do thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành kèm theo quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 đã bộc lộ nhiều bất cập, thiếu sót về điều kiện bảo lãnh, mức phí bảo lãnh…nên ngày 26/6/2006, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN để thay thế cho văn bản nói trên. Tuy nhiên, sau một năm thực hiên thì quyết định này cũng đã bộc lộ những bất cập của nó:

Trước hết, về các loại hình bảo lãnh. Quy chế mới chính thức chỉ công nhận thêm hai loại hình bảo lãnh: “Bảo lãnh đối ứng” và “Xác nhận bảo lãnh”mà chưa hướng dẫn đầy đủ về các loại bảo lãnh khác. Hiện nay, trong cơ cấu hoạt động của bảo lãnh ngân hàng thì nhu cầu về các hình thức bảo lãnh mới như bảo lãnh chứng khoán, bảo lãnh thuế quan, bảo lãnh hối phiếu…đang tăng lên rất nhanh song Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn chưa có văn bản chính thức thừa nhận và hướng dẫn thực hiện đối với các loại hình bảo lãnh này. Vì vậy, thực tế tuỳ theo nhu cầu của khách hàng, các ngân hàng thương mại phải rất linh hoạt trong việc phát hành các loại hình bảo lãnh. Ví dụ, Ngân hàng á châu (ACB) ngoài các loại hình bảo lãnh truyền thống, họ còn phát hành cả bảo lãnh thanh toán thuế.

Vấn đề được quan tâm nhất trong Quy chế bảo lãnh là giới hạn bảo lãnh. Không như sự mong đợi của các ngân hàng thương mại, giới hạn bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng vẫn được quy định ở mức 15 % vốn tự có của tổ chức tín dụng. Trong đó, bao gồm cả các cam kết phát hành theo hình thức tín dụng chứng từ; trừ hình thức mở thư tín dụng trả ngay được khách hàng ký quỹ đủ hoặc được cho vay 100% giá trị thanh toán. Điều này sẽ hạn chế rất nhiều hoạt động của các ngân hàng do giá trị của các hợp đồng ngày càng lớn, do đó giá trị bảo lãnh cũng rất cao. Trong điều kiện như vậy, các ngân hàng chỉ có thể giải quyết bằng cách thực hiện đồng bảo lãnh. Tuy nhiên, việc tìm được đối tác đồng bảo lãnh tin cậy sẽ mất rất nhiều thời gian, và có thể làm lỡ thời cơ kinh doanh của doanh nghiệp. Ngân hàng Nhà nước đang soạn thảo quy chế mới, theo đó các ngân hàng sẽ được phép bảo lãnh hoặc cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có, thay vì chỉ được 15%.

Về điều kiện bảo lãnh. Không bó hẹp trong các điều kiện cụ thể như quy định 283 mà các tổ chức tín dụng chỉ cần đáp ứng những yêu cầu về pháp lý và đủ năng lực tài chính cho hoạt động bảo lãnh là được phép phát hành bảo lãnh. Tuy nhiên, quy chế mới cũng yêu cầu: trong trường hợp khoản bảo lãnh liên quan đến các tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam. Đứng trên góc độ nhà quản lý, Ngân hàng Nhà nước cho rằng quy định như vậy nhằm thống nhất quản lý, và không có cớ gì để Quy chế bảo lãnh có những quy định trái với Pháp lệnh Ngoại hối vừa ban hành. Song đối với các ngân hàng thương mại thì quy định này sẽ làm hạn chế hoạt động bảo lãnh của họ, nhất là khi phải cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang có mặt ngày càng nhiều ở Việt Nam.

Về thẩm quyền ký bảo lãnh cũng còn gặp nhiều khó khăn do các văn bản pháp luật không đồng bộ. Theo quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh thì đại diện theo pháp luật của ngân hàng có thể uỷ quyền bằng văn bản cho Giám đốc các chi nhánh ký thư bảo lãnh đối với khách hàng trong phạm vi mức uỷ quyền cho phép. Nhưng theo quy định của pháp luật thì người được uỷ quyền không được tái uỷ quyền. Như vậy, khi Giám đốc chi nhánh đi vắng hoặc nếu khách hàng xin bảo lãnh mở tài khoản tại các phòng giao dịch của chi nhánh thì việc giải quyết bảo lãnh cho khách hàng gặp nhiều khó khăn và phải mất nhiều thời gian do Phó giám đốc hoặc trưởng phòng giao dịch không được uỷ quyền ký thư bảo lãnh.

Thủ tục bảo lãnh cũng chưa thực sự thuận tiện cho doanh nghiệp, thiếu chi tiết, gây khó khăn cho việc thực hiện. Cơ chế bảo lãnh hiện quy định doanh nghiệp xin bảo lãnh phải có tài sản thế chấp cầm cố. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, tài sản đảm bảo phải có xác nhận của các cơ quan liên quan. Để có những xác nhận này, doanh nghiệp phải tốn thời gian, đôi khi làm xong các thủ tục để ngân hàng bảo lãnh thì cơ hội kinh doanh đã qua. Còn đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ, vốn ít, tài sản dùng để đảm bảo còn hạn chế thì có nhiều dự án quy mô lớn, ngân hàng khó có thể đứng ra bảo lãnh được.

Quỹ bảo lãnh và ký quỹ bảo lãnh là các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động bảo lãnh khi ngân hàng buộc phải cho vay. Nhưng hiện nay vẫn chưa có quy chế cụ thể nào về việc trích lập quỹ bảo lãnh của các nghiệp vụ bảo lãnh trong nước nên các ngân hàng thương mại vẫn phải vận dụng theo quy chế nghiệp vụ bảo lãnh đối ngoại đối với nghiệp vụ bảo lãnh đối nội. Khi phát sinh nghiệp vụ bảo lãnh, ngân hàng thương mại sẽ trích lập quỹ bảo lãnh bằng 5% giá trị bảo lãnh ký gửi vào tài khoản riêng tại Ngân hàng Nhà nước, song những quy định này cũng chưa quy định cụ thể về khách hàng xin bảo lãnh phải ký quỹ tại ngân hàng thương mại đứng ra bảo lãnh như thế nào. Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Ngân hàng Nhà nước cũng chưa ban hành mẫu thư bảo lãnh cụ thể theo thông lệ quốc tế và cũng không đề cập các luật và quy tắc áp dụng trong giao dịch bảo lãnh. Điều này rõ ràng sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại khi giao dịch bảo lãnh với các đối tác nước ngoài. Đã có không ít trường hợp các bên bị hiểu nhầm, thậm chí có thể bị phía bên kia lừa đảo đồng thời phát sinh các tranh chấp, kiện tụng.

Tồn tại về phía khách hàng

Bên cạnh những rủi ro do hành lang pháp lý chưa được quy định chặt chẽ và hợp lý, nghiệp vụ bảo lãnh của Eximbank cũng như phần lớn các ngân hàng thương mại khác, vẫn thường phải chịu những rủi ro do những tồn tại từ phía khách hàng. Bản thân các doanh nghiệp với trình độ nghiệp vụ còn non kém chưa có đủ tư cách và khả năng để tiến hành giao dịch với ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp chưa nắm chắc các quy định về bảo lãnh song trong một số trường hợp khi phát sinh nhu cầu bảo lãnh vay vốn thì các doanh nghiệp mới tới ngân hàng xin bảo lãnh. Điều này gây khó khăn không ít cho Eximbank trong việc thẩm định khách hàng, bởi nếu thẩm định kỹ lưỡng thì không đảm bảo thời gian cho doanh nghiệp rút vốn và có thể làm mất cơ hội kinh doanh của họ, song ngược lại nếu xem xét qua loa thì rủi ro cho ngân hàng nhận bảo lãnh là không thể lường hết được.

Ngoài ra, các doanh nghiệp của Việt Nam cũng gặp nhiều trở ngại do không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện để được ngân hàng bảo lãnh. Nguyên nhân của tình trạng này một phần xuất phát từ khả năng tài chính còn rất thấp của các doanh nghiệp trong nước. Phần lớn tài sản cố định là nhà xưởng, máy móc thiết bị đã lạc hậu, vốn lưu động phục vụ trong sản xuất kinh doanh hầu hết là vốn vay ngân hàng và chiếm dụng lẫn nhau. Chính vì vậy, thực tế đang diễn ra một nghịch lý là trong khi nhu cầu bảo lãnh của các doanh nghiệp hiện nay là rất lớn song giá trị tài sản đảm bảo vốn vay ngân hàng lại không đủ. Hơn nữa, bản thân năng lực, trình độ và kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh của các cán bộ trong doanh nghiệp cũng chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn của hoạt động thương mại hiện nay. Đây chính là lý do giải thích tại sao trong những năm gần đây, dù Eximbank đã cố gắng đa dạng hoá đối tượng khách hàng của mình, song nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng vẫn chưa thể phát triển tương xứng với tiềm năng bảo lãnh của một ngân hàng thương mại lớn ở Việt Nam.

Tồn tại về phía ngân hàng

Ngoài những khó khăn do khách quan đem lại thì hoạt động bảo lãnh của Eximbank còn có những khó khăn do chủ quan phát sinh từ hoạt động của ngân hàng.

Thứ nhất, ngân hàng chưa xây dựng một chiến lượng marketing đồng bộ cho hoạt động bảo lãnh nhằm hướng đến những nhóm đối tượng khách hàng mới.

Tồn tại thứ hai đó là vấn đề thẩm định bảo lãnh. Để đạt được hiệu quả trong hoạt động bảo lãnh thì việc phân tích, đánh giá về mặt tài chính của dự án đầu tư có thể coi là khâu quyết định. Tuy nhiên, thực tế ở nhiều chi nhánh của Eximbank, việc thẩm định dự án còn sơ sài, mang hình thức đối phó. Nguyên nhân chính ở đây là do các chi nhánh muốn duy trì mối quan hệ với các khách hàng truyền thống mà bỏ qua một số bước của quy trình thẩm định, hoặc do muốn nhanh chóng mở rộng kinh doanh. Đôi khi cũng là do trình độ của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu của việc phân tích, nghiên cứu và thẩm định dự án.

Điều đáng lưu ý là bản thân ngân hàng còn thiếu sự quan tâm tới mức độ chính xác của thông tin và số liệu trong dự án, và nhiều khi chỉ thụ động lắp các số liệu đó vào công thức để tính toán, xem xét. Ngay cả chỉ tiêu an toàn của dự án đầu tư vốn được đánh giá là chỉ tiêu quan trọng trong công tác thẩm định cũng hiếm khi được xem xét một cách toàn diện trên cơ sở đánh giá một cách đầy đủ, có căn cứ khoa học về bản thân dự án, mà chỉ thông qua việc đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố và tình hình tài chính đến ngày gần nhất của doanh nghiệp. Rõ ràng chất lượng chưa cao trong công tác thẩm định là yếu tố hết sức quan trọng dẫn tới những khó khăn trong nghiệp vụ bảo lãnh của Eximbank.

Bên cạnh đó, trình độ quản lý của ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động của ngân hàng. Một số cán bộ của ngân hàng chưa được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ hoặc chưa được đào tạo lại nên hiện không thể đáp ứng được nhu cầu đặt ra của công việc ngày một phức tạp. Ngay đối với việc chấp hành thể lệ, chế độ của các chi nhánh trong vấn đề bảo lãnh vay vốn nước ngoài nói chung và mở L/C trả chậm nói riêng còn có những biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm như việc chấp hành mức phán quyết của giám đốc, nhiều khi quyết định bảo lãnh trong khi vẫn chưa được Tổng giám đốc phê duyệt.

Cuối cùng, việc quản lý vay nợ tại Eximbank vẫn còn nhiều thiếu sót, công tác gia hạn nợ và chuyển giao nợ quá hạn không được thực hiện theo đúng quy trình nghiệp vụ. Đặc biệt là tình trạng đảo nợ xảy ra trong một chi nhánh hoặc giữa các chi nhánh, đảo nợ nội tệ với ngoại tệ dẫn đến tình trạng xấu chạy vòng quanh, nguy cơ mất vốn ngân hàng ngày càng lớn.

Những tồn tại, hạn chế trên đã cản trở sự phát triển trong hoạt động bảo lãnh của Eximbank, mà để giải quyết những khó khăn trên không phải chỉ cần đến sự nỗ lực của bản thân ngân hàng mà phải có sự phối hợp đồng bộ từ nhiều phía. Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về sự phát triển của Eximbank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464