Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.4 Thực trạng hiệu quả cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải Phòng.

2.4.1 Thực trạng về quy trình cho vay ngắn hạn.

Bước 1: Tiếp thị/ tiếp nhận nhu cầu cấp tín dụng của khách hàng.

CV.KH thực hiện công tác tìm kiếm, tiếp thị khách hàng, tiếp nhận nhu cầu cấp tín dụng sau khi tiếp thị thành công.

CV.KH hướng dẫn khách hàng hoàn chỉnh hồ sơ vay vốn theo quy định. Nhập thông tin khách hàng vào bảng theo dõi hồ sơ khách hàng (HSKH), đồng thời báo cáo lại Trưởng phòng trực tiếp quản lý về HSKH mà mình đã tiếp nhận để theo dõi, hỗ trợ. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Sau khi có ý kiến phê duyệt của cấp phán quyết, CV.KH tiếp nhận kết quả, lập thông báo, trình Ban Giám Đốc Sở giao dịch, Chi nhánh/ Trưởng phòng phòng giao dịch ký và phát hành thông báo về việc cấp/ không cấp tín dụng đến khách hàng.

Bước 2: Xác minh, thẩm định.

CV.KH thực hiện công tác xác minh và thẩm định HSKH làm cơ sở tham mưu cho cấp thẩm quyền phê duyệt, ghi ý kiến vào Tờ trình cấp tín dụng.

Bước 3: Phê duyệt.

Cấp có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ theo hạn mức phán quyết cấp tín dụng quy định tại Quy chế phán quyết cấp tín dụng hiện hành. Ý kiến phán quyết phải ghi rõ số tiền, thời hạn cho từng hình thức và khoản mục cấp tín dụng. Trường hợp không đồng ý cấp tín dụng phải ghi rõ lý do.

Bước 4: Hoàn chỉnh hồ sơ và triển khai phán quyết.

Bộ phận Quản lý tín dụng phối hợp với các chuyên viên/ nhân viên thuộc Phòng/ Bộ phận khác tại Chi nhánh thực hiện các thủ tục cần thiết trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ và triển khai phán quyết sau khi đề xuất cấp tín dụng được phê duyệt.

Bước 5: Quản lý và thu hồi nợ.

Sau khi đã cấp tín dụng cho khách hàng, Bộ phận Quản lý tín dụng phối hợp với các phòng/ bộ phận nghiệp vụ liên quan khác tại Chi nhánh thực hiện công tác quản lý thu hồi nợ theo các quy định hiện hành.

Bước 6: Tất toán.

Sau khi khách hàng hoàn tất nghĩa vụ thanh toán các khoản dư nợ (bao gồm vốn gốc, lãi và chi phí phát sinh) CV.KH tiến hành tất toán HSKH theo Quy trình tất toán hồ sơ cấp tín dụng.

Bước 7: Lưu hồ sơ.

Các bộ phận liên quan lưu các hồ sơ phát sinh và kết thúc tại công đoạn của mình. Bộ phận Quản lý tín dụng lưu bộ hồ sơ tất toán tại Chi nhánh trong một năm, sau đó chuyển về kho lưu trữ theo thứ tự lưu quy định.

Để việc cấp tín dụng được an toàn và hiệu quả , người có thẩm quyền cấp tín dụng phải tuân thủ các quy định trong chính sách tín dụng của NHTM.

Chất lượng của việc ra quyết định cấp tín dụng phải được đảm bảo trong mọi trường hợp kể cả trường hợp người có thẩm quyền cấp tín dụng bị áp lực về thời gian giải quyết hồ sơ hoặc bị áp lực cạnh tranh mạnh mẽ của các Ngân hàng khác. Ngoài ra người có thẩm quyền không được đưa ra quyết định cấp tín dụng nếu chưa hiểu rõ về khoản cấp tín dụng do khách hàng đề nghị.

Trường hợp khoản cấp tín dụng được trình cho cấp có thẩm quyền cao hơn giải quyết thì tất cả thông tin liên quan đến khoản cấp tín dụng cũng phải được cung cấp đầy đủ để đảm bảo rằng cấp có thẩm quyền này có thể ra quyết định một cách độc lập.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.4.2 Thực trạng các chỉ tiêu định tính. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

2.4.2.1 Trên cở sở pháp lý.

Tư cách người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn người vay có mục đích vay rõ ràng, có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn và phải xác định xem mục đích đó có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không. Thậm chí, cho dù mục đích xin vay là tốt thì cán bộ tín dụng cũng phải xác định xem người vay có tỏ thái độ và trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, trả lời các câu hỏi một cách trung thực và thiện chí, nỗ lực hết sức hoàn trả nợ vay khi đến hạn.

Năng lực pháp lý của người vay: Nếu khách hàng là cá nhân, thì phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự.

Nếu khách hàng là tổ chức, thì phải được thành lập theo hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Cán bộ tín dụng phải chắc chắn người đại diện cho công ty ký kết HĐTD là người được ủy quyền hợp pháp của công ty.

Thu nhập của người vay: Người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ. Nhìn chung, người vay có 3 khả năng để tạo tiền: luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, bán thanh lý tài sản, phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn. Bất cứ nguồn thu nào từ 3 khả năng tạo tiền của người vay đều có thể được sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năng tạo tiền bằng luồng tiền từ doanh thu bán hàng. Vì việc bán thanh lý tài sản có thể làm cho năng lực người vay yếu đi, khiến cho ngân hàng ít được bảo đảm, khiến cho quan hệ tín dụng trở nên có vấn đề.

Bảo đảm tiền vay: Cán bộ tín dụng phải đảm bảo người vay có sở hữu hợp pháp một giá trị tài sản có chất lượng để hỗ trợ khoản vay và chủ ý đến các yếu tố nhạy cảm : tuổi thọ, điều kiện, và mức độ chuyên dụng của tài sản người vay. Đối với những TSĐB công nghệ phải đặc biệt chú ý, bởi vì nếu tài sản của người vay có công nghệ lạc hậu thì giá trị sẽ bị giảm mạnh và rất khó tìm được người mua trong khi công nghệ thay đổi hàng ngày. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Các điều kiện:Cán bộ tín dụng cần phải biết được xu hướng hiện hành về công nghệ kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đền khoản vay.

2.4.2.2 Trên cơ sở hợp đồng tín dụng.

Việc cho vay của ngân hàng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. HĐTD phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm khoản vay, giá trị tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ và những cam kết khác được hai bên thỏa thuận.

Cán bộ tín dụng phải có trách nhiệm soạn thảo nội dung HĐTD đáp ứng được nhu cầu cồn của người vay theo một kế hoạch trả nợ thuận lợi. Tạo điều kiện thuận lợi cho người vay có khả năng xử lý các nghĩa vụ trả nợ, bởi vì sự thành đạt của ngân hàng phụ thuộc cơ bản vào sự thành đạt của khách hàng. Nếu một khách hàng lớn gặp rắc rối trong việc thực hiện khoản vay, thì ngân hàng cũng xem như chính mình đang gặp rắc rối.

Một HĐTD hợp lệ phải bảo đảm được quyền lợi của ngân hàng bằng cách quy định những điều khoản giới hạn hoạt động của người vay, nếu các hoạt động này đe dọa khả năng thu hồi vốn của ngân hàng. Quá trình cưỡng chế thu hồi nợ vay cũng phải được quy định cụ thể và rõ ràng trong HĐTD. Tóm lại, một HĐTD phải đảm bảo: tuân thủ pháp luật, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, phù hợp với nhu cầu vay của khách hàng, kế hoạch trả nợ hợp lý, có phương án xử lý vi phạm rõ ràng và khả thi.

2.4.3 Thực trạng các chỉ tiêu định lượng. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

2.4.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô và tăng trưởng cho vay ngắn hạn

Bảng 2.5: Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải phòng.

Biểu đồ 2: Biểu đồ phản ánh quy mô và tăng trưởng cho vay ngắn hạn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải Phòng.

Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay phản ánh quy mô cho vay ngắn hạn so với tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn. Tỷ trọng này càng cao chứng tỏ ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay ngắn hạn của nền kinh tế cao hơn. Năm 2010, tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 59,09% cao hơn so với tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn lên đến 18,18% chứng tỏ ngân hàng đáp ứng cao nhu cầu vay ngắn hạn đối với nền kinh tế. Đến năm 2011, do chịu ảnh hưởng của cơ cấu lại danh mục cấp tín dụng đối với nhóm khách hàng có tài sản đảm bảo là hàng hóa tồn kho làm cho tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn giảm còn 53,91% nhưng vẫn cao hơn tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 46,09%. Sang đến năm 2012, tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế nhưng tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn của ngân hàng tăng lên 55,25%.

Bảng 2.6: Mức độ tăng trưởng cho vay ngắn hạn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải phòng.

Qua bảng số liệu ta thấy, năm 2011 mức tăng trưởng về tổng dư nợ cho vay và dư nợ cho vay ngắn hạn đều giảm do chịu ảnh hưởng từ việc cơ cấu lại hệ khách hàng và danh mục cho vay theo định hướng của ngân hàng và khu vực. Trong đó, mức tăng trưởng tuyệt đối tổng dư nợ cho vay giảm 20.676,92 triệu đồng tương ứng tỷ lệ giảm 3,02%, cùng với mức tăng trưởng tuyệt đối dư nợ cho vay ngắn hạn giảm 46.692,16 triệu đồng tương ứng mức tăng trưởng tương đối giảm là 11,52%. Sang đến năm 2012, mức tăng trưởng về tổng dư nợ cho vay và cho vay ngắn hạn tiếp tục giảm mạnh do chịu áp lực từ nền kinh tế bị suy thoái. Mức tăng trưởng tương đối của tổng dư nợ cho vay tiếp tục giảm mạnh 44.179,64 triệu đồng còn 620.880,94 triệu đồng với mức tăng trưởng tương đối giảm tương ứng 6,64%. Mức tăng trưởng tương đối của dư nợ cho vay ngắn hạn giảm 15.458,13 triệu đồng với tỷ lệ mức tăng trưởng tương đối giảm 4,31%.

Nhìn chung, mức tăng trưởng cho vay ngắn hạn bị giảm mạnh qua các năm 2010- 2012 chủ yếu là do việc cơ lại các chính sách tín dụng của ngân hàng làm co kéo lượng khách hàng có tài sản đảm bảo là hàng tồn kho, cùng đó chịu ảnh hưởng nặng nề từ nền kinh tế bị suy thoái.

2.4.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Bảng 2.7 Chỉ tiêu sử dụng vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải phòng.

Đây là chỉ tiêu phán ánh hiệu quả cho vay, cho phép đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động cho vay của một ngân hàng. Nhìn bảng số liệu trên ta thấy giai đoạn năm 2010 – 2012 hệ số sử dụng vốn giảm nhanh vào năm 2012, cụ thể năm 2010 hệ số sử dụng vốn đạt 91,07%, đến 2011 tăng nhẹ lên 97,23% nhưng sang năm 2012 lại tụt giảm mạnh chỉ còn 59,41%.

Một phần là do hoạt động huy động vốn tăng đột biến, nhưng hoạt động cho vay lại giảm mạnh làm cho hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng giảm theo. Cùng đó, hoạt động cho vay bị chịu ảnh hưởng nặng nề từ nền kinh tế suy thoái và những biến động của chính sách tín dụng hay cơ cấu danh mục cho vay cũng góp phần tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng làm cho hệ số này giảm trong các năm.

Bảng 2.8 Vòng quay vốn Tín dụng (vòng) của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải phòng.

Với mức vòng quay vốn tín dụng năm 2010 là 1,04 vòng cho thấy tốc độ thu hồi nợ của ngân hàng là rất chậm, chính vì vậy mà hiệu quả cho vay của ngân hàng đang giảm sút, các khoản vay bị có khả năng bị quá hạn và bị đình trệ phần lớn do ảnh hưởng từ chính sách tín dụng và cơ cấu danh mục cho vay đối với ngàng hàng hóa tồn kho. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Sang năm 2011, tiếp tục bị ảnh hưởng bởi cơ cấu và định hướng ngàng hàng cho vay này nên vòng quay vốn tiếp tục giảm 0,12 vòng chỉ còn 0,92 vòng quay, cụ thể doanh số thu nợ giảm 9.505,53 triệu đồng và dư nợ bình quân tăng 67.891,99 triệu đồng. Cho thấy đã xuất hiện các món vay quá hạn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng từ nền kinh tế và cũng như lạm phát.

Đến năm 2012, vòng quay tiếp tục giảm 0,07 vòng với doanh số thu nợ tiếp tục giảm mạnh 73.858,87 triệu đồng, dư nợ bình quân giảm 32.428,29 triệu đồng. Năm 2012 chủ yếu bị ảnh hưởng do nền kinh tế vĩ mô suy thoái nặng nề, kéo theo hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều bất lợi nên khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng vì thế mà bị ảnh hưởng nặng nề nguồn thu bị giảm làm cho quá trình trả nợ cũng giảm theo. Trước tình hình kinh tế khó khăn, doanh nghiệp gặp rủi ro trong kinh doanh nên khả năng các khoản vay của Ngân hàng bị quá hạn.

Bảng 2.9 Chi phí cho vay ngắn hạn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải phòng.

Năm 2010, chi phí cho vay ngắn hạn đạt 27.630,37 triệu đồng. Sang năm 2011 chi phí cho vay ngắn hạn đạt 31.478,05 triệu đồng cao hơn so với năm 2010 3.847,69 triệu đồng. Nhưng trong đó doanh số cho vay ngắn hạn của năm 2011 đạt 670.435,14 triệu đồng giảm mạnh so với cùng kì năm 2010 là 21.281,72 triệu, với mức giảm nhiều hơn so với lượng tăng của chi phí cho vay làm cho tỷ lệ chi phí cho vay ngắn hạn năm 2011 đạt 4,7% tăng 0,71% so với cùng kì năm 2010.

Sang đến năm 2012, chi phí cho vay ngắn hạn đạt 32.354,11 triệu đồng tăng nhẹ 876,05 triệu đồng, tuy nhiên doanh số cho vay ngắn hạn trong năm nay đạt 624.902,60 triệu đồng giảm mạnh 45.532,54 triệu đồng kéo theo tỷ lệ chi phí cho vay ngắn hạn đạt 5,18% tăng 0,48% so với cùng kì năm 2011.

Tỷ lệ này tăng qua các năm 2010 – 2012 cho thấy chi phí đầu vào các chi phí trả lãi suất huy động tăng cao, thể hiện là hoạt động huy động vốn năm 2012 tăng đột biến. Bên cạnh đó, huy động nhiều nhưng cho vay ít cũng góp phần làm ảnh hướng đến tỉ lệ này là do hoạt động cho vay giảm qua các năm làm nguồn thu chính của ngân hàng giảm theo. Ngân hàng phải cân chỉnh là chi phí cho vay để duy trì hoạt động kinh doanh của mình cũng như đảm bảo hoạt động chi trả lãi huy động.

Bảng 2.10 Hiệu suất sử dụng nguồn vốn ngắn hạn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải phòng.

Như chúng ta biết chỉ tiêu này cho chúng ta đánh giá liệu ngân hàng đã sử dụng hết khả năng nguồn vốn ngắn hạn chưa? Và có đem lại hiệu quả cao trong hoạt động sử dụng vốn ấy không. Nhìn tổng thể bảng số liệu trên ta thấy hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn của ngân hàng đang giảm dần có nghĩa là hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng đang giảm mạnh. Năm 2010 đạt hiệu quả sử dụng cao nhất 53,81% do vào thời điểm này ngân hàng chưa bị ảnh hưởng nhiều bởi chính sách tín dụng hay nền kinh tế vĩ mô. Đến năm 2011 bị tác động từ hoạt động cơ cấu danh mục cho vay đối với nhóm tài sản đảm bảo là hàng tồn kho, một phần đã tác động trực tiếp đến hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng làm hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn giảm 1,4% chỉ còn 52,41%. Sang năm 2012, chịu ảnh hưởng nặng nề từ suy thoái nền kinh tế thế giới làm cho hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn tiếp tục giảm mạnh với mức giảm 19,59% làm hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn chỉ còn 32,83%.

Nhìn chung, hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng chưa được khai thác triệt để,và bị tác động nặng nề từ nhiều yếu tố dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn giảm liên tục qua các năm 2010 – 2012.

2.4.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự an toàn. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Theo quyết định Số: 493/2005/QĐ-NHNN của THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC Ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành ngày 22/04/2005. Nợ được chia làm 5 nhóm:

Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn (nợ bình thường không quá thời hạn theo HĐTD).

Nhóm 2: nợ cần chú ý (nợ quá 10 – 90 ngày).

Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ quá 90 – 180 ngày).

Nhóm 4: Nợ nghi ngờ (nợ quá hạn 180 – 360 ngày).

Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn (nợ trên 360 ngày).

Vì vậy, ngân hàng cần xem xét, nếu các khoản nợ quá hạn trên là những khoản nợ thuộc nhóm 2 thì ngân hàng cần thực hiện linh hoạt theo hướng dẫn hiện hành của NHNN như: trước hết phải hướng dẫn cho khách vay biết và thực hiện theo quy định mới về chuyển nợ quá hạn. Ngân hàng chủ động đôn đốc khách hàng vay trả nợ đúng hạn; thỏa thuận với khách vay định kì thu lãi phù hợp với chu kì sản xuất và kì thu nhập của họ; hoặc có thể thỏa thuận ngay trong HĐTD để khách có thể trả lãi vay chậm hơn một số ngày, nếu họ không trả và không có văn bản đề nghị gia hạn nợ thì mới chuyển sang nợ quá hạn. Trong trường hợp nợ quá hạn rơi vào nhóm 3, 4 và 5, thì đó là nhóm nợ xấu, chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm mạnh, ngân hàng cần phải thực hiện việc phân loại nợ, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trên cơ sở hàng tháng để phục vụ cho công tác quản lý chất lượng và rủi ro tín dụng.

Bảng 2.11: Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải phòng.

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả cho vay ngắn hạn của NHTM. Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp trả gốc và lãi không đúng với kỳ hạn đã quy định trong HĐTD. Điều này có thể xuất phát từ một số nguyên nhân như: Khách hàng sử dụng vốn vay không hiệu quả, khách hàng không có thiện trí trả nợ, các nguyên nhân khách quan…và dẫn đến hiệu quả của khoản vay thấp.

Năm 2010, ngân hàng luôn đặt vấn đề ngăn chặn và kiểm soát nợ quá hạn là một trong nhưng mối quan tâm hàng đầu trước khi xử lý nợ quá hạn. Nhờ việc phân ban ngăn chặn và xử lý nợ quá hạn của ngân hàng hoạt động hiệu quả nên không có trường hợp nợ quá hạn nào xảy ra. Tuy nhiên sang năm 2011, phát sinh nợ quá hạn của Công ty CP Thép Đình Vũ (kinh doanh sắt thép) do đây là nhóm ngành kinh tế gặp nhiều khó khăn trong những năm vừa qua. Làm cho dư nợ ngắn hạn quá hạn tăng lên 2.406,08 triệu đồng với tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn là 0,67%. Đến năm 2012, suy thoái kinh tế có những chuyển biến xấu làm cho nhiều cá nhân và doanh nghiệp mất khả năng chi trả, vỡ nợ làm ăn thua lỗ nhiều dẫn đến thu nhập của người dân giảm sút làm ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng làm phát sinh nợ quá hạn tăng lên 21.866,72 triệu đồng với tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn là 7,08% tăng so với năm 2011 6,4%. Như vậy việc tăng tỉ lệ này là điều không tốt, ngân hàng cần xem xét lại chính sách tín dụng đối với đối tượng này từ đó đưa ra những biện pháp hợp lý. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Trong số dư nợ cho vay quá hạn thì dư nợ ngắn hạn quá hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn. Sở dĩ có điều này là do dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm 53,9% – 59,09% tổng dư nợ cho vay. Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn tăng qua các năm 2010-2012 cho thấy hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng đang có dấu hiệu không tốt.

Bảng 2.12: Tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải phòng.

Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn đã quá một kì gia hạn nợ. Đối với các khoản nợ này việc thu hồi vốn là rất khó khăn, khả năng mất vốn là rất cao. Trong năm 2010-2011 ngân hàng áp dụng có hiệu quả công tác thu hồi nợ nên giảm tuyệt đối được tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn. Sang năm 2012, nhóm khách hàng bị ảnh hưởng bởi suy thoái của nền kinh tế cũng tương đối cao làm cho nợ xấu ngắn hạn tăng 20.215,7 triệu đồng với tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn tăng lên 5,89%. Trong đó, dư nợ xấu cho vay tăng 23.297,73 triệu đồng tăng lên 3,75%.

Nguyên nhân của tỷ trọng nợ xấu ngắn hạn chiếm 4/5 tổng nợ xấu là bởi ngân hàng chủ yếu cho vay ngắn hạn. Tình hình nợ xấu ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn như vậy sẽ đe dọa tính thanh khoản của ngân hàng trong tương lai. Tóm lại, tổng nợ xấu dư nợ cho vay của ngân hàng ở mức khá cao vượt mức tỷ lệ an toàn cho phép 0,75% (theo thông tư 13/2010 của NHNN), diễn biến nợ xấu ngắn hạn có chiều hướng gia tăng trong năm 2012. Điều này cho thấy đây chính là nút thắt cơ bản trong việc giải quyết nâng cao hiệu quả cho vay của ngân hàng.

Cơ cấu cho vay ngắn hạn theo đối tượng khách hàng.

Khách hàng cá nhân: Là các cá thể tập trung tại các khu đô thị lớn có nhu cầu về các giao dịch NH như gửi tiết kiệm, vay vốn tiêu dùng và kinh doanh, đặc biệt chú trọng phân khúc có giá trị cao thuộc tầng lớp trung và thượng lưu, các hộ gia đình, cơ sở sản xuất- kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ có tính chất cá nhân.

Khách hàng doanh nghiệp: bao gồm khách hàng truyền thống là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các thành phần kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh năng động và hiệu quả như sản xuất công nghiệp, dịch vụ phục vụ cá nhân và cộng đồng, dịch vụ giải trí.

Bảng 2.13: Cơ cấu cho vay ngắn hạn theo đối tượng khách hàng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải Phòng.

Biểu đồ 3: Biểu đồ phản ánh cơ cấu cho vay ngắn hạn theo đối tượng khách hàng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải Phòng.

Nhìn tổng thể bảng số liệu, biểu đồ ta thấy, nhóm khách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng cao hơn hẳn so với nhóm khách hàng doanh nghiệp một phần là do Ngân hàng định hướng cho hoạt động trong tương lai tiến đến là Ngân hàng bán lẻ lớn hiện đại, đa năng hàng đầu Việt nam và Khu vực. Cụ thể, trong năm 2010, khách hàng cá nhân vay 223.351,10 triệu đồng chiếm 55,12% tổng số dư cho vay ngắn hạn. Đến năm 2011, nhóm khách hàng cá nhân vay 215.611,52 triệu đồng giảm 7.739,58 triệu đồng với tỷ lệ giảm tương ứng 3,47%. Sang đến năm 2012, lượng vay của nhóm khách hàng cá nhân đạt 214.580,81 triệu đồng chiếm 52,55% tổng cơ cấu cho vay ngắn hạn, tổng vay của nhóm khách hàng cá nhân này tiếp tục giảm xuống 1.030,71 triệu đồng với tỷ lệ giảm nhẹ 0,48%.

Đối với nhóm khách hàng doanh nghiệp, năm 2010 đạt 181.857,04 triệu đồng chiếm 44,88% cho vay ngắn hạn. Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với nhóm doanh nghiệp này giảm liên tiếp trong giai đoạn 2010-2012. Đến năm 2011, lượng khách hàng doanh nghiệp vay chỉ đạt 142.904,46 triệu đồng chiếm 39,86% giảm 38.952,58 triệu đồng với tỷ lệ giảm tương ứng 21,42%. Sang năm 2012, tiếp tục giảm thêm 14.427,42 triệu đồng tương ứng tỷ lệ giảm 11,23% chỉ đạt 128.477,04 triệu đồng.

Nhìn chung hoạt động cho vay trong giai đoạn 2010-2012 bị ảnh hưởng nhiều bởi suy thoái kinh tế và hoạt động cơ cấu lại hệ khách hàng, danh mục cho vay theo định hướng của ngân hàng và khu vực. Chi nhánh cũng chịu ảnh hưởng bởi việc cơ cấu theo hướng giảm quy mô cấp tín dụng đối với nhóm khách hàng có tài sản đảm bảo là hàng tồn kho trong đó chịu ảnh hưởng nhiểu vẫn là nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ khiến cho số dư cho vay của khách hàng doanh nghiệp giảm sút mạnh. Cùng đó những khách hàng cá nhân có cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ mang tính chất cá nhân cũng bị tác động mạnh bởi nền kinh tế suy thoái.

Bảng 2.14: Cơ cấu cho vay ngắn hạn theo ngành, mục đích đối với món vay.

Phần cơ cấu cho vay ngắn hạn theo ngành và mục đích đối với món vay cho thấy: Nhóm ngành sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng cao hơn hẳn so với nhóm ngàng phi sản xuất kinh doanh nhưng lại liên tục giảm trong giai đoạn 2010-2012.Cụ thể, năm 2010 nhóm ngành sản xuất kinh doanh đạt 252.963,31 triệu đồng chiêm 62,43% tổng cho vay ngắn hạn. Năm 2011, nhóm ngành sản xuất kinh doanh giảm đi 22.191,04 triệu đồng với tỷ lệ giảm tương ứng 8,77% còn 230.772,27 triệu đồng chiếm 64,37% tổng cho vay ngắn hạn. Đến năm 2012, sản xuất kinh doanh tiếp tục giảm 14.504,03 triệu đồng tương ứng tỷ lệ giảm 6,28% chỉ còn 216.268,24 triệu đồng chiếm 63,04% tổng cho vay ngắn hạn.

Trong nhóm ngành sản xuất kinh doanh, nhóm khách hàng kinh doanh sắt, thép chiếm tỷ trọng cao nhất từ 19,68% đến 20,29% tổng nhóm ngành sản xuất kinh doanh. Cụ thể, năm 2010 đạt 51.328,25 triệu đồng chiếm 20,29% tổng ngành hàng sản xuất kinh doanh, đến năm 2011 giảm mạnh 5.914,66 triệu đồng tương ứng tỷ lệ giảm 11,52% chỉ còn 45.413,59 triệu đồng nguyên nhân chủ yếu là do phát sinh món nợ quá hạn của Công Ty CP Thép Đìng Vũ. Sang năm 2012, món nợ này chưa thu hồi được nên kéo theo những rủi ro trong cho vay, đồng thời do nền kinh tế bất ổn cũng làm cho ngành hàng này bị ảnh hưởng và đình trệ trong năm làm giảm 2.214,62 triệu đồng với tỷ lệ giảm 4,88%. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Tiếp đến là nhóm khách hàng kinh doanh ô tô có lượng vay lớn thứ 2 trong nhóm ngành sản xuất kinh doanh. Năm 2010, đạt 10.736,65 triệu đồng chiếm 4,24% tổng ngành hàng sản xuất kinh doanh. Hoạt động này tăng trưởng mạnh trong năm 2012 đạt 23.970,31 triệu đồng chiếm 11,08% tổng ngành sản xuất kinh doanh.

Trong khi đó, nhóm ngành phi sản xuất kinh doanh năm 2010 đạt 152.244,83 triệu đồng chiếm 37,57% giảm mạnh 24.501,12 triệu đồng trong năm 2011 chỉ còn 127.743,71 triệu đồng chiếm 35,63% cho vay ngắn hạn. Sang năm 2012 nhóm ngành này tiếp tục giảm chỉ còn 126.789,61 triệu đồng chiếm 36,96% với lượng giảm nhẹ 954,0 triệu đồng tương ứng tỷ lệ giảm 0,75%. Cụ thể, nhóm khách hàng vay tiêu dùng để mua ô tô chiếm tỷ trọng cao năm 2010 đạt 25,53% tổng ngành phi sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên đến năm 2012 nhóm khách hàng này giảm mạnh 24.202,89 triệu đồng một phần là do ảnh hưởng của nền kinh tế suy thoái khiến cho hoạt động này bị đình trệ. Ngược với nhóm khách hàng vay tiêu dùng để mua ô tô thì nhóm khách hàng vay tiêu dùng bằng sổ tiết kiệm tăng mạnh trong giai đoạn 2010-2012 từ 21.906,42 triệu đồng năm 2010 tăng lên 47.236,55 triệu đồng trong năm 2012. Cho thấy, nền kinh tế bị khủng hoảng làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như những quyết định đầu tư của người dân, khiến họ tìm kiếm những cách thức để duy trì nguồn tiền mặt được đảm bảo. Ngân hàng cũng từ đó tạo điều kiện, đưa ra các giải pháp kịp thời để họ có được những dịch vụ đáp ứng nhu cầu cần thiết trong thời điểm kinh tế khó khăn.

2.4.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ sinh lời.

Bảng 2.15: Tỷ lệ sinh lời ngắn hạn.

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động cho vay ngắn hạn. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ các khoản vay ngắn hạn đạt hiệu quả cao, mang lại nhiều khoản thu cho ngân hàng. Do đó ngân hàng luôn mong muốn tỷ lệ này càng cao càng tốt. Để có được điều này thì ngân hàng cần phải chấp hành nghiêm chỉnh quy trình cho vay, tiến hành thu nợ và giải quyết tốt vấn đề nợ quá hạn.

Qua bảng số liệu trên ta thấy, lợi nhuận thu từ cho vay ngắn hạn năm 2010 đạt 49.748,85 triệu đồng với tỷ lệ tương ứng 12,28%. Đến năm 2011, mặc dù dự nợ cho vay ngắn hạn giảm nhưng lợi nhuận thu từ cho vay ngắn hạn lại tăng lên 75.534,72 triệu đồng với lượng tăng đạt 25.785,87 triệu đồng với tỷ lệ tăng tương ứng 8,79% so với cùng kì năm 2010 là do năm 2011 có tỷ lệ nợ quá hạn tăng nhưng không có nợ xấu xảy ra mà theo quy định của ngân hàng thì đối với các món nợ quá hạn được tính lãi suất không quá 150% lãi suất cho vay thỏa thuận trong HĐTD. Sang năm 2012, áp lực bởi sự suy thoái của nền kinh tế nên dư nợ cho vay ngắn hạn giảm xuống còn 58.518,76 triệu đồng với lượng giảm 17.015,96 triệu đồng và tỷ lệ giảm tương ứng 4,01% so với năm 2011.

Tóm lại: Trong những năm gần đây do tác động nặng nề từ nền kinh tế, cũng như chính sách tín dụng và việc cơ cấu danh mục cho vay đối với nhóm khách hàng có tài sản đảm bảo là hàng tồn kho của ngân hàng đã một phần tác động đến hoạt động cho vay ngắn hạn làm mức độ tăng trưởng cho vay ngắn hạn giảm dần từ 405.208,14 triệu đồng xuống còn 343.057,85 triệu đồng với mức giảm trên 11%. Hiệu quả của hoạt động cho vay ngắn hạn còn nhiều hạn chế và chưa cao được thể hiện trong chỉ tiêu sử dụng vốn liên tục giảm từ mức cao nhất 97,23% xuống còn 59,41%. Cùng đó, là chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng liên tục giảm trong giai đoạn 2010-2012 từ 1,04 vòng xuống còn 0,85 vòng. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng. Cụ thể, tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng giảm từ 59,09% xuống 55,25% trong giai đoạn 2010-2012. Tỷ trọng này luôn trên 50% tổng dư nợ cho vay chứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng luôn chú trọng đến mục cho vay ngắn hạn, và hoạt động này vẫn mang lại thu nhập và hiệu quả nhất định trong kinh doanh cho ngân hàng. Chính vì vậy, sự tăng trưởng hay suy thoái của hoạt động cho vay ngắn hạn có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ chi phí cho vay ngắn hạn liên tục tăng cho thấy chi phí đầu vào tăng cao trong khi đó, cho vay giảm khiến cho nguồn thu chính của ngân hàng giảm theo. Các chỉ tiêu về mức độ tăng trưởng và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn liên tục giảm làm cho hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn giảm theo và ảnh hưởng nhiều nhất là trong năm 2012. Điều này cho thấy rõ về hoạt động cho vay ngắn hạn chưa mang lại hiệu quả cao.

Các chỉ tiêu phản ánh sự an toàn tiếp tục thể hiện sự giảm sút của hoạt động cho vay ngắn hạn. Đầu tiên là tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn tiên tục tăng mạnh trong giai đoạn 2012. Từ 0% năm 2010 tăng lên 7,08% năm 2012. Chỉ số này càng lớn chứng tỏ khách hàng trả gốc và lãi không đúng hạn đã thỏa thuận trong HĐTD.

Khách hàng sử dụng vốn không hiệu quả là nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả của khoản vay bị giảm sút. Tiếp đến là tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn, mặc dù hai năm 2010-2011 không có nợ xấu ngắn hạn nhưng đến năm 2012 thì tăng vọt vượt mức tỷ lệ an toàn cho phép (theo thông tư 13/2010 của NHNN) khiến tính thanh khoản của ngân hàng trong tương lai bị đe dọa, gây ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của ngân hàng. Nhóm khách hàng cơ cấu theo ngành hàng phản ánh tổng thể về sự tăng giảm của từng ngành hàng, cũng là đánh giá nhóm khách hàng đa dạng cùng loại hình kinh doanh khác nhau. Năm 2012 bị ảnh hưởng từ sự suy thoái của nền kinh tế khiến người dân thắt chặt chi tiêu, tính toán cho những hoạt động thường nhật nên đã góp phần làm cho các ngành hàng về tiêu dùng giảm sút chủ yếu các ngành kinh doanh giầy dép, hay nhóm khách hàng vay tiêu dùng mua ô tô bị giảm mạnh.

Tỷ lệ sinh lời ngắn hạn tăng lên trong năm 2011 nhưng lại có sự giảm sút trong năm 2012 phần lớn là do ảnh hưởng từ các món cho vay bị nợ quá hạn dẫn đến nợ xấu tăng cao làm cho mức độ sinh lời cùng giảm theo. Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ hoạt động cho vay ngắn hạn đã mang lại không đạt hiệu quả như kế hoạch mà ngân hàng đã đề ra, làm ảnh hưởng đến nguồn thu lớn của ngân hàng.

Nhìn chung, hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng có chiều hướng giảm và hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng chưa cao. Do chịu ảnh hưởng từ nền kinh tế vĩ mô và việc thắt chặt chính sách tín dụng, cùng với việc cơ cấu lại hệ khách hàng và danh mục cho vay theo định hướng của ngân hàng và khu vực, một phần đem lại những bất lợi cho kế hoạch tăng trưởng tín dụng của chi nhánh. Ngoài ra, còn do sự biến động về công tác định biên nhân sự. Đặc biệt nhân sự chủ yếu là mới tuyển dụng nên còn hạn chế về kỹ năng chăm sóc khách hàng, kinh nghiệm trong công tác thẩm định món vay, chưa lườm trước được những rủi ro tiềm tàng mà món vay mang lại, mà mới chỉ nhìn nhận biết được những hạn chế trước mắt đối với khoản vay ngắn hạn trong thời điểm nền kinh tế có nhiều bất ổn này.

2.5 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân hiệu quả cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

2.5.1 Những kết quả đạt được.

Trong năm 2012, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải Phòng hoạt động huy động vốn có sự tăng trưởng vượt bậc cùng với việc thực hiện tốt các chương trình định hướng toàn hàng còn tập trung tối đa lực lượng cho công tác huy động vốn bằng việc triển khai các chương trình đặc thù như “ Tích điểm đổi quà 1 và 2” rất hợp với thị hiếu của người dân và chương trình “Phát động nội lực trong công tác huy động vốn” từ cán bộ nhân viên đem lại kết quả tốt trong công tác huy động vốn.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hải Phòng có hệ sản phẩm tín dụng đa dạng, đáp ứng nhiều nhu cầu của khách hàng, thời gian xử lý nhu cầu của khách hàng tương đối nhanh. Ngoài công tác cấp phát tín dụng, Chi nhánh quan tâm đến công tác tư vấn và bán chéo các sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tăng thu dịch vụ. Tập trung phát triển thẻ tín dụng, tăng cường cho vay phân tán, nhỏ lẻ với lãi suất ưu đãi. Chi nhánh thường xuyên quan tâm đến các nhu cầu của khách hàng và tư vấn kịp thời những thay đổi về chính sách tín dụng, lãi suất, tỷ giá nên được khách hàng đánh giá cao.

Được sự chỉ đạo sát sao và kịp thời, định hướng trong công tác cấp tín dụng của Giám đốc khu vực nên giúp Chi nhánh định hướng rõ ràng đối với hệ khách hàng và khẩu vị rủi ro, đảm bảo việc cấp tín dụng hạn chế tối đa rủi ro phát sinh do chủ quan gây nên. Chi nhánh thường xuyên thực hiện theo các định hướng về phát triển tín dụng của NH và của khu vực.

Ngân hàng luôn làm ăn có lãi và lợi nhuận. Năm 2010, là năm Ngân hàng có lợi nhuận cao nhất trong các năm 2010 -2012 đạt 29.632 triệu đồng. Nguyên nhân của tình trạng này là do năm 2010 kinh tế trong nước và quốc tế có dấu hiệu phục hồi làm lợi nhuận của ngân hàng tăng lên so với năm 2009. Tuy nhiên, năm 2011 đối mặt với tình trạng lạm phát tăng cao, chính phủ chủ trương tái cơ cấu lại nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng. Theo nghị quyết 13 của chính phủ: thắt chặt vốn tín dụng bằng nâng cao tỉ lệ dự trữ bắt buộc và không giảm các điều kiện cho vay nên hoạt động của ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, ngân hàng đã có nhiều biện pháp thích ứng với môi trường kinh tế vĩ mô nên lợi nhuận của năm 2011 có giảm nhưng không đáng kể so với năm 2010 (từ 29.632 triệu đồng năm 2010, giảm xuống còn 28.671 triệu đồng năm 2011).

Để thích ứng với sự biến động của môi trường kinh tế vĩ mô mà không cho vay dưới chuẩn, ngân hàng đã linh hoạt trong áp dụng cơ chế cho vay đối với từng đối tượng nhóm khách hàng, hướng dẫn họ lập hồ sơ vay vốn theo kế hoạch kinh doanh khả thi, đúng quy trình, nhằm tạo điều kiện vừa đảm bảo chỉ tiêu tín dụng vừa đảm bảo hiệu quả cho vay của ngân hàng.

2.5.2 Một số tồn tại. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Huy động vốn trên địa bàn chưa thực sự ổn định. Lãi suất huy động VNĐ của các Ngân hàng khác tại địa bàn luôn ở mức cao cùng với các chính sách ưu đãi về công tác huy động vốn, nhất là các ngân hàng có quy mô nhỏ làm ảnh hưởng đến mặt lãi suất huy động chung. Với sự mất giá của tiền VNĐ và USD cùng với sự sôi động của thị trường bất động sản năm 2010 đã làm cho người dân chuyển từ tiền VNĐ sang các kênh đầu tư khác nên việc huy động vốn cũng gặp nhiều khó khăn.

Công tác điều hành thanh khoản của ngân hàng vào thời điểm cuối năm gặp nhiều khó khăn nên ảnh hưởng đến kế hoạch tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng, gây áp lực cho công tác kinh doanh. Ngân hàng luôn đặt vấn đề ngăn chặn và kiểm soát nợ quá hạn là một trong những mối quan tâm hàng đầu trước khi xử lý nợ quá hạn. Phân ban ngăn chặn và xử lý nợ quá hạn của Chi nhánh hoạt động thường xuyên và đã có hiệu quả nhất định nhưng chưa cao. Tuy nhiên không được như kỳ vọng, do phát sinh nợ quá hạn của Công ty Thép Đình Vũ (kinh doanh sắt thép, tài trợ theo hình thức đồng tài trợ), đây là lĩnh vực gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn vừa qua.

Do tình hình kinh tế biến dộng xấu, các doanh nghiệp/ cá nhân mất khả năng chi trả, vỡ nợ, phá sản trên địa bàn Thủy Nguyên làm phát sinh nợ quá hạn của Chi nhánh tăng nhanh trong năm 2012. Chi nhánh luôn có những giải pháp trong công tác xử lý nợ quá hạn, đảm bảo luôn bám sát, theo dõi chặt chẽ từng bước khắc phục, thu hồi nợ vay hạn chế tối đa tổn thất cho Ngân hàng.

Thực tế này có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan song phải khẳng định khả năng thẩm định của N

2.5.3 Nguyên nhân của những tồn tại. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

2.5.3.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng.

Trong khi cơ cấu lại hệ khách hàng và danh mục cho vay theo định đướng của NH và khu vực. Chi nhánh cũng bị ảnh hưởng bởi việc cơ cấu theo hướng giảm quy mô cấp tín dụng đối với nhóm khách hàng lớn, tài sản đảm bảo là hàng hóa tồn kho.

Có thể thấy rằng trong thời gian qua, các NHTM đã rất tích cực trong việc tiến hành các hoạt động Marketing. Các chương trình khuyến mại làm thẻ, quảng cáo thương hiệu, huy động vốn với lãi suất cao, các chương trình quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng,… liên tục được áp dụng rộng rãi đã tạo tiền đề để các ngân hàng đạt được những kết quả nhất định và nâng cao hoạt động Marketing ngân hàng tiến dần đến thông lệ khu vực và quốc tếững cải tiến trong hoạt động này, nhưng việc triển khai vẫn còn những thiếu sót.

Việc quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng chỉ là việc đưa ra những thủ tục và đặc điểm các sản phẩm cho vay ngắn hạn của ngân hàng chưa cho khách hàng biết được lợi ích mà các sản phẩm cho vay ngắn hạn của ngân hàng đem lại cho mình trong khi điều đó là rất cần thiết để kích thích nhu cầu của khách hàng. Cũng chính vì thế có thể nhận thấy, khách hàng đến vay tại ngân hàng chủ yếu là khách hàng truyền thông gắn bó lâu năm với ngân hàng hoặc qua sự giới thiệu của người thân, bạn bè.

2.5.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

Đối tượng yếu là cán bộ công nhân viên, đây là đối tượng chủ yếu thuộc các thành phần kinh tế xã hội do Nhà nước quản lý, là những người có thu nhập ổn định đối tượng có tỷ lệ quá hạn thấp nhất, khả năng trả nợ:  thực hiện mục đích vay nhưng nguồn lương để trả nợ chỉ có một, vì vậy đã ảnh hưởng nhiều đến khả năng trả nợ của khách hàng như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng đối vớ.

Một số trường hợp sau khi vay tiền đã thuyên chuyển công tác từ đơn vị này sang đơn vị khác, từ địa phương này sang địa phương khác nhưng cơ quan không thông báo cho sở hoặc thông báo không kịp thời việc cán bộ nhân viên chuyển công tác hoặc thôi việc, dẫn đến khó khăn trong việc thu hồi nợ của ngân hàng, số tiền trả nợ mỗi lần không lớn, một số khách hàng chưa quen giao dịch với ngân hàng nên thường hay quên trả nợ hoặc có tâm lý coi việc để quá hạn 1, 2 tháng hoặc do bận đi học, công tác xa, gia đình gặp khó khăn mà không trả nợ vay cho sở đúng hạ.

Ngoài ra, đối tượng nhân dân vay cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ, nhu cầu vay chủ yếu phục vụ đời sống, vay vốn có thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, đối tượng này có thu nhập ổn định và có khả năng trả nợ ngân hàng. Do vậy, các món vay đều có rủi ro thấp, nợ quá hạn chiếm tỷ lệ thấp, có khả năng thu hồi.

2.5.3.3 Nguyên nhân khác.

Trong năm 2010 – 2012

Do công tác huy động vốn chịu ảnh hưởng bởi khó khăn của nền kinh tế vĩ mô cũng như những biến động của các chính sách tiền tệ trong năm của NH làm hoạt động huy động vốn tăng giảm thất thường nên ảnh hưởng đến kế hoạch tăng trưởng tín dụng của chi nhánh, gây áp lực cho công tác kinh doanh của Chi nhánh qua các năm 2010 – 2012.

Do ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế nên công tác tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng liên tục giảm làm ảnh hưởng đến kế hoạch tăng trưởng tín dụng của chi nhánh mặt khác nợ quá hạn phát sinh ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của Chi nhánh trong năm.

Nhân sự tín dụng biến động nhiều do công tác định biên nhân sự và bổ sung cho các phòng giao dịch. Đặc biệt nhân sự chủ yếu là mới tuyển dụng nên còn hạn chế về kỹ năng chăm sóc khách hàng và kinh nghiệm trong công tác thẩm định. Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Biện pháp NC cho vay ngắn hạn tại Sacombank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại Sacombank

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464