Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

1.2 Vài nét về sự hình thành và phát triển doanh nghiệp nhà nước Việt Nam.

Việc thành lập và phát triển doanh nghiệp nhà nước ở nước ta gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Sự hình thành các doanh nghiệp nhà nước khái quát từ ba loại chính: (1) Đầu tiên các doanh nghiệp nhà nước được hình thành từ việc quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản tư nhân hoặc tiếp quản các doanh nghiệp của chính quyền cũ để lại; (2) Loại thứ hai do Nhà nước trung ương đầu tư trực tiếp từ ngân sách nhà nước hoặc vốn viện trợ xây dựng mới. Các doanh nghiệp loại này dần dần chiếm lĩnh hầu hết các ngành kinh tế công nghiệp và dịch vụ quan trọng; (3) Các doanh nghiệp nhà nước do chính quyền các địa phương thành lập trong thời kỳ phân cấp quản lý cho địa phương, chủ yếu là thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ, cơ khí sản xuất… có quy mô nhỏ, hiệu quả sản xuất không cao.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), Việt Nam thực hiện chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, các cơ sở công nghiệp được thành lập theo quy mô nhỏ, phân tán bí mật. Công nghiệp quốc phòng và công nghiệp dân dụng phát triển, các xí nghiệp dân dụng của nhà nước có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm cho nhu cầu tối thiểu của xã hội, cung cấp các nông cụ và phân bón cho nông nghiệp…Giai đoạn này có nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, xí nghiệp dệt Tháng Tám…các mỏ than Lam Sơn, Làng Cẩm, Tân Thanh hay mỏ chỉ Bắc Sơn…Doanh nghiệp hoạt động theo chế độ cung cấp, theo kế hoạch của nhà nước, được nhà nước cấp vốn, trả lương, lãi lỗ nhà nước chịu.

Giai đoạn 1955 – 1975: Hòa bình được lập lại, doanh nghiệp nhà nước phát triển một cách nhanh chóng ở các ngành công nghiệp, giao thông vận tải…Doanh nghiệp nhà nước bắt đầu vươn lên vị trí chủ đạo trong nền kinh tế. Công nghiệp quốc doanh năm 1957 chiếm 66,6% giá trị sản lượng công nghiệp thì đến năm 1960 đã chiếm tới 90.8%; nông trường quốc doanh từ 16 đơn vị cuối năm 1957 đến năm 1960 có 44 đơn vị; vận tải quốc doanh năm 1957 mới chiếm 50,2% tổng khối lượng hàng hóa chu chuyển thì năm 1960 đã chiếm tới 75,5%; thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán năm 1957 mới chiếm 31,3% tổng mức bán lẻ của bộ máy thương nghiệp đến năm 1960 đã tăng lên tới 74,3% 27. Trong giai đoạn này doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ yếu như là một công cụ để thực hiện đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp nhà nước vẫn hoạt động trong chế độ quản lý như trước tức là nhà nước cấp toàn bộ vốn. Xét về chỉ tiêu tổng sản phẩm, kinh tế quốc doanh chiếm từ 38,4% (năm 1960), đến 45,5% (năm 1965) và 44,4% (năm 1973), 47,5% (năm 1975), 51,7% (năm 1975) 28.

Giai đoạn 1976 – 1985: Giai đoạn này chủ yếu là xây dựng và phát triển các doanh nghiệp nhà nước ở khu vực Miền Nam. Đến cuối giai đoạn các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể ở cả hai miền phát triển hơn, làm tăng kinh tế ngoài quốc doanh và giảm tỷ trọng kinh tế doanh nghiệp nhà nước. Tuy vậy hệ thống doanh nghiệp nhà nước vẫn là lực lượng kinh tế chiếm ưu thế tuyệt đối trong các ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế.

Sau năm 1986, ở nước ta diễn ra công cuộc đổi mới nền kinh tế. Khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm giữ hầu như toàn bộ các ngành công nghiệp như năng lượng (điện lực, than và dầu khí), khai khoáng, luyện kim,

  • Lee Kang Woo (2002), Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 1986 – 2000, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
  • Lee Kang Woo (2002), Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 1986 – 2000, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. chế tạo máy, phân bón, thuốc trừ sâu…Các ngành sản xuất hàng tiêu dùng chủ lực thì doanh nghiệp nhà nước cũng có tỷ trọng áp đảo (70% vải, 85% giấy, 70% xe đạp, 60% xà phòng)…29. Hiện nay doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ được vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên do chủ trương tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, tiến hành cổ phần hóa nên số lượng các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động sản xuất kinh doanh giảm đi đáng kể. Năm 2000 cả nước còn 5759 doanh nghiệp nhà nước chiếm 13,62%; năm 2002 là 5363 doanh nghiệp chiếm 8,52%; năm 2003 là 4845 doanh nghiệp chiếm 6,73% ; năm 2004 là 4597 doanh nghiệp chiếm 5,01% ; năm 2005 là 4086 doanh nghiệp chiếm 3,62% ; năm 2006 là 3706 doanh nghiệp chiếm 2,82%.30

Trong giai đoạn 2007 – 2010 sẽ có 1553 doanh nghiệp được sắp xếp trong đó có 950 doanh nghiệp sẽ cổ phần hóa. Theo đó đến cuối năm 2010 cả nước sẽ còn 745 doanh nghiệp nhà nước trong đó có 517 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 105 công ty nông nghiệp và 215 công ty lâm nghiệp. Bên cạnh đó sẽ có khoảng 60 tập đoàn, tổng công ty Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Mô Hình Quản Trị

2. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước và phân loại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước

Trong điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh ban hành kèm theo Nghị định số 50/HĐBT ngày 23/3/1988 thì “Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (xí nghiệp độc lập, xí nghiệp liên hợp sau đây gọi chung là xí nghiệp)

  • TS Ngô Quang Minh (2004), Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
  • Tổng cục Thống kê (2007), Niên giám 2007
  • Xuân Hòa, Doanh nghiệp nhà nước cần thể hiện vai trò ổn định vĩ mô là đơn vị kinh tế cơ sở, khâu cơ bản của nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa, là đơn vị sản xuất hàng hóa có kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, có tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế độc lập” 32. Theo quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991 có nêu “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu. Doanh nghiệp nhà nước là một pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật. Doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo định hướng của Nhà nước, thực hiện hạch toán kinh tế.” 33.

Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa IX đã thông qua Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995 (20/4/1995), khái niệm về doanh nghiệp nhà nước được chính thức đưa ra: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh, hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý”

Hình 2: Những đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước

Tháng 11/2003, kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, đưa ra khái niệm: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Đây là một khái niệm phù hợp với tình hình thực tế đổi mới cơ chế quản lý, sắp xếp và tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân ở nước ta, đảm bảo có thể quản lý chặt chẽ, có hiệu quả số lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước và số vốn của Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp, đảm bảo cho các doanh nghiệp nhà nước có quyền tự chủ, năng động, sáng tạo, linh hoạt trong quá trình tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tăng hiệu quả, khả năng cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới 34.

2.2 Phân loại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

Việc phân loại các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta có thể dựa trên các tiêu chí phân loại như sau:

Hoàng Hà (2005) Quá trình đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ 1986 đến nay – thực trạng và giải pháp, Đại học Kinh tế quốc dân.

Hình 3: Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước

Dựa theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995 phân doanh nghiệp nhà nước thành 2 loại: (1) Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh; (2) Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh là doanh nghiệp nhà nước hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 không còn cách phân chia này nữa.

Dựa theo mức độ sở hữu có thể chia thành 2 loại: (1) Loại doanh nghiệp nhà nước có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước (Nhà nước nắm 100% vốn); (2) Loại doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn trong đó Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ thông qua cổ phần hoặc vốn góp trong doanh nghiệp và giữ quyền chi phối doanh nghiệp đó.

Dựa theo mô hình tổ chức hoạt động có thể chia thành 2 nhóm: (1) Doanh nghiệp nhà nước độc lập và doanh nghiệp nhà nước thành viên hạch toán độc lập thuộc các Tổng công ty nhà nước; (2) Doanh nghiệp nhà nước là các Tổng công ty nhà nước. Đây là cách phân loại dựa trên quyết định số 155/2004/QĐ-TTg ngày 24/8/2004).

Dựa theo mô hình tổ chức quản lý tại doanh nghiệp được chia thành 2 loại: (1) Doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng quản trị; (2) Doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng quản trị.

Dựa theo cấp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu thì doanh nghiệp nhà nước được chia thành 3 nhóm: (1) Doanh nghiệp nhà nước do các Bộ, ủy ban nhân dân tỉnh quản lý; (2) Doanh nghiệp nhà nước do Hội đồng quản trị quản lý; (3) Doanh nghiệp nhà nước do Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước quản lý.

Dựa theo các ngành kinh tế- kỹ thuật. Đây là cách phân loại phổ biến và được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng vì cách phân loại này giúp cho các nhà hoạch định chiến lược quốc gia xác định được cơ cấu của nền kinh tế, đưa ra được các cơ chế quản lý, các chính sách ưu đãi đầu tư…Với cách phân loại này, doanh nghiệp nhà nước được chia làm 4 nhóm chính: (1) Doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành nông, lâm, ngư, nghiệp; (2) Doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành công nghiệp, xây dựng; (3) Doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành dịch vụ, thương mại, vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch; (4) Doanh nghiệp thuộc các ngành còn lại.

Hiện nay ở nước ta, phân chia doanh nghiệp nhà nước dựa trên mức độ sở hữu, trên tiêu chí quyền chi phối:

Hình 4: Các loại hình doanh nghiệp nhà nước

3. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế. Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

3.1 Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò, vị trí then chốt, là công cụ, chỗ dựa kinh tế cho nhà nước thực hiện sự quản lý nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung một cách có hiệu lực, có hiệu quả.

Doanh nghiệp nhà nước là nơi cung cấp nguồn lực chính và chủ yếu cho hoạt động của Nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước chính là công cụ đặc biệt có hiệu quả để thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường và củng cố an ninh quốc phòng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tổng sản phẩm trong nước của của doanh nghiệp nhà nước năm 2000 là 17014 tỷ đồng chiếm 38,52%; năm 2003 là 239736 tỷ đồng chiếm 39,08%; năm 2004 là 279704 tỷ đồng chiếm 39,1%; năm 2005 là 322241 tỷ đồng chiếm 38,4%; năm 2006 là 364250 tỷ đồng chiếm 37,39%; năm 2007 là 416794 tỷ đồng chiếm 36,43%. Đồng thời các doanh nghiệp nhà nước cũng đã giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động trong nước: năm 2000 là 20888 lao động chiếm 59,05%; năm 2003 là 2264924 lao động chiếm 43,77%; năm 2004 là 2250372 lao động chiếm 39%; năm 2005 là 2037660 lao động chiếm 32,67%; năm 2006 là 1899937 lao động chiếm 28,29%.35 Tính trong giai đoạn 2000 – 2007, các doanh nghiệp nhà nước đã đóng góp gần 39% GDP và 40% tổng thu ngân sách.

Hơn nữa trong những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước là nơi tập trung đào tạo, rèn luyện và cung cấp nhiều cán bộ lãnh đạo cho Đảng và nhà nước ta.

Tổng cục Thống kê (2007), Niên giám 2007

3.2 Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò bổ sung thị trường khi cần thiết. Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

Doanh nghiệp nhà nước có khả năng huy động và tập trung nguồn vốn, tổ chức sản xuất hiện đại với quy mô lớn, có khả năng tự nghiên cứu đầu tư khoa học kỹ thuật, áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, đi đầu trong một số lĩnh vực thuộc công nghệ vi sinh, vi điện tử… Hiện nay doanh nghiệp nhà nước là đối tác chính trong liên doanh, liên kết với bên ngoài, đồng thời doanh nghiệp nhà nước cũng đã thực hiện những biện pháp cần thiết để thu hút đầu tư.

Doanh nghiệp nhà nước là công cụ trực tiếp để tham gia, khắc phục những hạn chế, những mặt trái của kinh tế thị trường, góp phần quan trọng vào việc điều tiết quan hệ cung cầu, bình ổn giá cả, chống lạm phát…. Doanh

nghiệp nhà nước đã trở thành những trung tâm kinh tế lớn tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển. Doanh nghiêp nhà nước chiếm một phần quan trọng trong xuất nhập khẩu; đầu tư và phát triển các ngành kinh doanh đòi hỏi vốn lớn, thu hồi vốn lâu dài, lãi suất ở mức thấp, độ rủi ro lại cao; cung cấp những hàng hóa dịch vụ công cộng mà các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư hoặc không có khả năng đầu tư vào.

3.3 Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò là lực lượng quan trọng để thông qua đó Nhà nước thực hiện chức năng xã hội.

Doanh nghiệp nhà nước là mô hình kinh tế xã hội thực hiện các quan hệ sản xuất tiên tiến, để các doanh nghiệp khác học tập và đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Doanh nghiệp nhà nước phát triển đảm bảo cho các nhu cầu thiết yếu và hỗ trợ cho sự phát triển của vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, đảm bảo an ninh quốc phòng, góp phần thực hiện chính sách dân tộc, rút ngắn sự phát triển chêch lệch giữa các vùng, miền.

Doanh nghiệp nhà nước là đơn vị đi đầu trong việc thực hiện chủ trương uống nước nhớ nguồn, xóa đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả của thiên tai, cứu trợ xã hội và tham gia các hoạt động nhân đạo. Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò là công cụ kinh tế, là lực lượng vật chất trong tay Nhà nước để Nhà nước trực tiếp khống chế, điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo các chương trình, các chiến lược phát triển kinh tế, xã hội.

II. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN TÁCH QUYỀN CHỦ SỞ HỮU RA KHỎI QUYỀN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.

1. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

1.1 Các quy định của Hiến pháp về vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế nước ta.

Cách mạng tháng Tám thành công, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Năm 1946, ban hành bản Hiến pháp đầu tiên, khảng định vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế “lập dự án ngân sách hàng năm” 36. Ngày 01/01/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 104-SL về “nguyên tắc căn bản của doanh nghiệp quốc gia” là cơ sở pháp lý đầu tiên về tổ chức doanh nghiệp nhà nước. Một năm sau Sắc lệnh này được bổ sung bằng Sắc lệnh 9-SL ban hành ngày 25/02/1949 về phân cấp thành lập các doanh nghiệp. Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo điều lệ tạm thời số 214-TTg do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 30/12/1952. Các Sắc lệnh này đã quy định xí nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu Quốc gia do nhà nước quản lý có nhiệm vụ sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của đất nước, tăng thêm tài chính quốc gia và các xí nghiêp này có vốn tự trị, không thuộc ngân sách của nhà nước.

Ngày 31/12/1959 Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp mới. Bản Hiến pháp 1959 này lần đầu tiên chính thức ghi nhận vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước về mặt pháp lý “Nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất” 37. Trong giai đoạn này Nhà nước đã tiến hành thực hiện chế độ kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân, đề ra các chương trình, các chính sách kinh tế khuyến khích sản xuất phát triển trong đó tập trung chủ yếu vào phát triển nông nghiệp, xây dựng các công trình thủy lợi. Từ đó tạo điều kiện cho công cuộc xây dựng kinh tế và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, miền Bắc từ chỗ trước kia phải nhập khẩu hầu hết các mặt hàng tiêu dùng thì nay đã tự cung cấp được phần lớn mặt hầng chủ yếu cần thiết cho đời sống nhân dân; đồng thời là chi viện cho miền Nam tiến tới thống nhất nước nhà.

Tại kỳ họp thứ 7 ngày 18/12/1980 Quốc hội khóa VI đã nhất trí thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980. Hiến pháp 1980 tiếp tục khảng định lại vai trò quản lý kinh tế của nhà nước “Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất” và nhiệm vụ trọng tâm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là “tổ chức nền sản xuất xã hội theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; xây dựng và bảo đảm tôn trọng pháp luật kinh tế” 38. Trong khuôn khổ kế hoạch hóa, Nhà nước đã bắt đầu đưa ra những chính sách thử nghiệm để cho phép hình thành yếu tố thị trường như là cho phép các xí nghiệp quốc doanh được chủ động xây dựng kế hoạch, bộ phận kế hoạch của các xí nghiệp được tự ký kết hợp đồng… có tác dụng phát huy sự sáng tạo của các xí nghiệp, cho phép các đơn vị có thể tự chủ hơn trong việc bố trí lực lượng sản xuất. Những cải cách này nhằm khắc phục và sửa đổi một số những nhược điểm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung.

Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VIII vào ngày 15/4/1992 đã nhất trí thông qua Hiến pháp 1992, mở đường cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, sử dụng cơ chế thị trường để tạo ra môi trường kinh doanh và ngày càng cải thiện nó. Cùng với việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là việc cải cách bộ máy Nhà nước, hoàn thiện hệ thống chính trị, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

1.2 Nhận xét.

Với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung Nhà nước đã tập trung được một cách có hiệu quả các nguồn lực của xã hội vào trong tay mình để thực hiện các nhiệm vụ chung của đất nước. Trong giai đoạn đầu sau khi giành được độc lập, sự can thiệp đến tận chi tiết của Nhà nước đã có tác dụng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh hơn do đã tập trung được nguồn lực vốn và con người vào một số lĩnh vực quan trọng làm nền tảng cho các ngành công nghiệp phát triển, tạo nên sức mạnh kinh tế của Nhà nước trong điều kiện có chiến tranh. Nhà nước đã trực tiếp điều khiển các hoạt động kinh tế quan trọng thông qua những hệ thống kế hoạch đầu tư trực tiếp, các kế hoạch sản xuất cung ứng vật tư, bao tiêu sản phẩm… Đây được coi là ưu điểm lớn nhất của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung.

Thực tế cho thấy rằng, với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung Nhà nước đã can thiệp quá sâu vào các quan hệ kinh tế, dẫn đến toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng diễn ra theo một kế hoạch nhất định mà không chú trọng đến năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất. Hơn thế thì Nhà nước còn trực tiếp thực hiện đầu tư phát triển, chi phối đến hầu hết các hoạt động kinh tế do vậy mà chức năng điều chỉnh không còn là chức năng hàng đầu của Nhà nước nữa mà chủ yếu là thực hiện chức năng phát triển. Chức năng quản lý kinh tế vĩ mô và quản lý kinh doanh sản xuất của bộ máy Nhà nước đã không còn phân biệt mà hòa nhập vào nhau. Điều đó dẫn đến tình trạng quan liêu và độc quyền của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung 39.

Với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung này, Nhà nước ta có ít khả năng hoạch định các chính sách khuyến khích doanh nghiệp, kích thích sự năng động, sáng tạo do các doanh nghiệp nhà nước thường ỷ lại vào ngân sách Nhà nước. Các quyết định liên quan đến sản xuất của xí nghiệp đều do các Bộ chuyên ngành quyết định, Chính phủ có Ủy ban kế hoạch Nhà nước điều phối công việc nên các Bộ chuyên ngành hầu như không có sự phối hợp cần thiết, một Bộ chỉ chỉ đạo theo hệ thống dọc.

2. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

2.1 Vai trò của Nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp .

Khi nước ta thực hiện công cuộc thị trường hóa nền kinh tế, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì vai trò của Nhà nước vẫn tiếp tục được khảng định. Nhà nước đã thể hiện vai trò của mình theo một cách thức mới, áp dụng một hệ thống chính sách với hàng loạt các biện pháp vĩ mô mới. Nhà nước đã không còn quyết định toàn bộ các quá trình kinh tế thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung như trước kia nữa mà hướng vào các chính sách kinh tế mới trong đó chủ yếu là các chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thương mại. Những chính sách kinh tế vĩ mô này đã có tác dụng rất lớn trong việc định hướng, điều hành vĩ mô sự phát triển của nền kinh tế; góp phần tạo lập thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh cho các tổ chức kinh tế cũng như các cá nhân của mọi thành phần kinh tế hoạt động theo các định hướng của cơ chế thị trường, trong khuôn khổ hành lang pháp lý do Nhà nước định ra. Với những định hướng chính sách mới này, các chỉ tiêu và mục tiêu kinh tế không còn mang tính kế hoạch, tính mệnh lệnh như trước mà chỉ Lê Đăng Doanh (1996), Cơ sở khoa học và thực tiễn của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam, Đại học Kinh tế Quốc dân. Mang tính gợi ý, hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện theo định hướng vĩ mô của Nhà nước.

Đặc biệt là trong những năm gần đây, có thể thấy một sự thay đổi quan trọng là Nhà nước đã từng bước phân định rõ vai trò quản lý Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước với vai trò quản lý kinh doanh của người đại diện chủ sở hữu tại khu vực sản xuất kinh doanh. Nhà nước đã không còn quyết định mọi vấn đề của doanh nghiệp, mà đã chú trọng vào việc thực hiện vai trò xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô trên cơ sở thị trường, thông qua những chính sách tài chính của mình để thực hiện việc phân cấp quản lý tài chính, giao quyền rộng rãi cho các địa phương, các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước có thể giải quyết được rất nhiều ách tắc trong họat động sản xuất kinh doanh của mình. Nhà nước đã thực hiện đúng chức năng chủ sở hữu tài sản công cộng, phân biệt quản lý Nhà nước về kinh tế với quản trị doanh nghiệp của người sản xuất kinh doanh, để từ đó tách bạch được chức năng quản lý nhà nước với chức năng kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước.

Từ năm 1986 khi nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc cải cách nền kinh tế cho đến nay, vai trò kinh tế của Nhà nước trong công tác quản lý nền kinh tế đã từng bước được Nhà nước triển khai. Việc thực hiện đúng vai trò kinh tế này được thể hiện trong các nội dung cụ thể như: xóa bỏ đi sự kỳ thị và thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân trong một môi trường cạnh tranh; tạo lập đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường đặc biệt là đối với các thị trường còn sơ khai như thị trường lao động, thị trường tài chính – tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản…. Nền kinh tế nước ta đã được Nhà nước thực hiện công cuộc chuyển dịch cơ cấu trên cả ba phương diện là thành phần kinh tế, ngành kinh tế và vùng kinh tế lãnh thổ để tạo các tiền đề cho việc thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.2 Giai đoạn đầu áp dụng quyền quản trị doanh nghiệp. Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

Đây là giai đoạn trước khi có văn bản luật doanh nghiệp nhà nước. Giai đoạn đầu áp dụng quyền quản trị doanh nghiệp được nghiên cứu ở đây chính là giai đoạn từ 1987 – 1995, được thể hiện qua một số các quyết định, các nghị định của các cơ quan quản lý Nhà nước.

Quyết định số 217/QĐ – HĐBT ngày 14/11/1987 40

Quyết định số 217/QĐ – HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ ban hành ngày 14/11/1987 là văn bản đầu tiên nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 3 (Khóa VI) về các chính sách đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với các xí nghiệp quốc doanh; có nội dung chủ yếu là: (1) Chỉ kiểm soát từ 1 – 3 chỉ tiêu pháp lệnh, doanh nghiệp nhà nước được quyền chủ động trong kế hoạch, phương án kinh doanh, được lựa chọn mặt hàng, số lượng hàng hóa dịch vụ; (2) Xóa bỏ chế độ cấp phát vật tư bằng việc mua bán vật tư, sản phẩm; (3) Không giao kế hoạch tiêu thụ, giá cả; (4) Cấp phát một phần ban đầu tài sản cố định và lưu động cho doanh nghiệp nhà nước, nhà nước ủy quyền cho Hội đồng quản trị và cán bộ công chức trong doanh nghiệp trực tiếp quản lý – sử dụng; (5) Buộc doanh nghiệp nộp khấu hao tài sản cố định vào ngân sách nhà nước; (6) Cho phép doanh nghiệp được quyền chủ động vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau, được ký kết và thực hiện hợp đồng kinh doanh với doanh nghiệp khác…

Thời kỳ bao cấp toàn bộ khấu hao phải nộp vào ngân sách nhà nước để tái đầu tư tài sản cố định theo một kế hoạch và chế độ cấp phát trả lại. Đến quyết định 217, nhà nước cho phép doanh nghiệp nhà nước giữ lại 100% khấu hao, coi như nguồn vốn tự có. Quyết định 217/QĐ – HĐBT được coi là một mốc quan trọng đánh dấu việc giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước để đảm bảo quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước; bắt đầu từng bước xóa bỏ chế độ bao cấp, chuyển các xí nghiệp sang hạch toán kinh doanh.

Vị trí của các xí nghiệp quốc doanh được nhấn mạnh và khảng định là một đơn vị kinh tế cơ sở, cơ bản của nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa, sản xuất hàng hóa và dịch vụ cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, tạo nguồn thu ngày càng lớn cho ngân sách quốc gia và cải thiện từng bước đời sống công nhân viên chức. Các xí nghiệp quốc doanh hoạt động theo những nguyên tắc chủ yếu như: tuân thủ theo sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước; thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh trong phạm vi pháp luật quy định, tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trong họat động sản xuất kinh doanh của mình; quản lý theo chế độ một thủ trưởng trên cơ sở thực hiện quyền làm chủ của tập thể người lao động; thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, giải quyết được mối quan hệ giữa lợi ích của toàn xã hội với lợi ích của người lao động… Như vậy với quyết định 217/QĐ – HĐBT thì tài sản trong doanh nghiệp nhà nước đã được giao cho tập thể người lao động trong doanh nghiệp mà đứng đầu là giám đốc để trực tiếp quản lý, sử dụng và phát triển sản xuất kinh doanh theo mục tiêu đồng thời không ngừng mở rộng các họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả ngày càng được nâng cao. Đây chính là sự thể hiện bước đầu trong việc tách chức năng quản lý hành chính nhà nước ra khỏi chức năng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Nghị định số 98 – HĐBT ngày 02/06/1988 41

Nghị định số 98 – HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ ban hành ngày 02/06/1998 quy định về quyền làm chủ của tập thể lao động tại xí nghiệp quốc doanh. Việc làm chủ của tập thể lao động tại xí nghiệp dựa trên những nguyên tắc cơ bản là: (1) Làm chủ dựa trên cơ sở chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh được quy định trong Điều lệ xí nghiệp, theo Hiến pháp và pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với xí nghiệp quốc doanh; (2) Thực hiện quyền làm chủ thông qua Đại hội công nhân viên chức, Hội đồng xí nghiệp, Ban thanh tra công nhân…đồng thời với sự đại diện của các tổ chức quần chúng trong xí nghiệp được pháp luật thừa nhận, bảo đảm thực hiện chế độ một thủ trưởng trong công tác quản lý xí nghiệp; (3) Thực hiện quyền làm chủ của tập thể lao động hướng vào mục tiêu hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích tòan xã hội, lợi ích thập thể và lợi ích người lao động, bảo đảm cho mọi thành viên của tập thể lao động trong xí nghiệp không ngừng phát triển toàn diện.

Đại hội bầu ra Hội đồng xí nghiệp là cơ quan thường trực hoạt động giữa hai kỳ Đại hội công nhân viên chức gồm 7 đến 21 người có nhiệm kỳ là năm để giám sát thực hiện nghị quyết của Đại hội công nhân viên chức, kiến nghị những chủ trương và biện pháp cần thiết để thực hiện nghị quyết, giải quyết những vấn đề mới phát sinh thuộc thẩm quyền của Đại hội công nhân viên chức và sẽ báo cáo lại trong kỳ đại hội gần nhất. Ban thanh tra công nhân gồm 5 đến 15 người do Đại hội công nhân viên chức bầu ra, cũng có nhiệm kỳ 2 năm để giám sát, kiểm tra mọi họat động sản xuất kinh doanh và phân phối trong doanh nghiệp.

Giám đốc vừa là đại diện cho Nhà nước vừa là đại diện cho tập thể người lao động, có quyền điều hành hoạt động của doanh nghiệp theo đúng kế hoạch, chính sách pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của Đại hội công nhân viên chức, chịu trách nhiệm trước Nhà nước và tập thể lao động về kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, nếu cần thay đổi mục tiêu kế hoạch mà Đại hội công nhân, viên chức đã quyết định Giám đốc xí nghiệp đề nghị Hội đồng xí nghiệp xem xét quyết định điều chỉnh.

Quyết định số 195 – HĐBT ngày 02/12/1989 42

Quyết định số 195 – HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 02/12/1989 sửa đổi, bổ sung cho Quyết định số 217 – HĐBT ngày 14/11/1987. Quyết định số 195 – HĐBT đã có những bổ sung sửa đổi như: phải kiểm kê đánh giá lại tài sản hiện đang có tại doanh nghiệp và làm thủ thục giao quyền cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng; bỏ chế độ bán vật tư, mua sản phẩm theo hợp đồng kinh tế cả đối với sản phẩm trọng yếu sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước giao; giao cho các cơ quan tài chính và cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên trực tiếp quy định tỷ lệ và thời gian khấu hao tài sản cố định thuộc nguồn vốn ngân sách cấp, phần khấu hao để lại cho doanh nghiệp sử dụng vào việc hình thành quỹ phát triển sản phẩm và doanh nghiệp phải gửi tiền trích khấu hao này vào tài khoản ngân hàng đầu tư xây dựng cơ bản, khi có nhu cầu mua sắm tài sản cố định để phát triển sản xuất, được các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên phê duyệt thì mới được rút ra để sử dụng; quy định nhịp độ tăng trưởng quỹ lương phải luôn thấp hơn nhịp độ tăng trưởng của năng suất để bảo đảm cho người lao động có thu nhập phù hợp với kết quả lao động của mình, tránh tình trạng vi phạm nguyên tắc tài chính, không để cho lợi ích cá nhân, lợi ích của tập thể lấn án đi lợi ích quốc gia.

Nhà nước bắt đầu thực hiện việc trao quyền quản lý và sử dụng vốn, trách nhiệm bảo toàn vốn cho doanh nghiệp nhà nước theo quyết định 332/HĐBT ngày 23/10/1991. Các doanh nghiệp nhà nước được quyền chủ động đổi mới, thay thế, thanh lý tài sản cố định hết thời hạn khấu hao. Nhà nước giao quyền tự chủ hơn cho doanh nghiệp nhà nước trong việc phân chia lợi tức và được trích cho quỹ khuyến khích phát triển sản xuất ít nhất 35% lợi tức, thực hiện khoán thí điểm cho tập thể và các nhân người lao động.

Như vậy từ năm 1987 – 1995, qua gần 10 năm thực hiện thí điểm quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã tăng lên nhanh chóng trong đó có nhiều doanh nghiệp do quận huyện thành lập không bảo đảm điều kiện duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Có những doanh nghiệp nhà nước phát huy được tính chủ động, tự chủ kinh doanh nên đã tăng thu nhập đáng kể nhưng cũng không ít doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ lớn. Nhà nước bỏ vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp nhà nước đã thu về nhiều khoản trùng lập như khấu hao cơ bản, tiền thu về sử dụng vốn, nộp tích lũy cho nhà nước… nên đã làm giảm đi một phần tính tự chủ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nước phải nộp vào ngân sách hàng năm số tiền từ 2% – 6% trên số vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp. Khoản thu mang tính chất chi phí vốn đầu tư này đã làm cho nhiều doanh nghiệp thua lỗ mất dần đi vốn kinh doanh…

Nhà nước giao vốn cho tập thể công nhân, khắc phục tình trạng trì trệ, ỷ lại, thiếu năng động trong cơ chế bao cấp tuy nhiên người lao động không phải là người góp vốn dẫn đến tình trạng cha chung không ai khóc làm giảm tính chủ động của người quản lý doanh nghiệp. Nhà nước giao quyền quyết định mọi vấn đề chiến lược cho người lao động và đại hội công nhân viên chức, đây chỉ là người làm công ăn lương nhưng lại được trao quyền quyết định của chủ sở hữu, muốn vậy họ phải bỏ tiền mua cổ phần của doanh nghiệp. Thêm nữa giám đốc là người làm thuê cho chủ sở hữu nhưng lại được Nhà nước giao cho chức năng điều hành, thực hiện chức năng của cơ quan hành chính hơn là một nhà kinh doanh nên dẫn đến có hiện tượng tham ô, tham nhũng của công…Trước tình hình này đòi hỏi phải tiếp tục cải tiến tổ chức, chấn chỉnh công tác quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp nhà nước theo hướng chuyển mạnh sang họat động với nguyên tắc của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.3 Giai đoạn áp dụng Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

Ngày 20/4/1995 tại kỳ họp thứ 7 Quốc Hội khóa IX đã thông qua Luật doanh nghiệp nhà nước 43. Sự ra đời của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995 nhằm mục đích phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nhà nước; tăng cường quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp; thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước họat động có hiệu quả và thực hiện đúng các mục tiêu do Nhà nước giao cho doanh nghiệp.

Điều 1 của Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 đã quy định một số điểm cơ bản về doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục kiêu kinh tế xã hội do Nhà nước gioa. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước 1995, các doanh nghiệp nhà nước có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do Nhà nước giao theo quy định của pháp luật. Cụ thể là doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp trừ những thiết bị, nhà xưởng quan trọng theo quy định của Chính phủ phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn; riêng đối với đất đai, tài nguyên thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật. Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh còn có quyền quản lý tài sản như: được sử dụng vốn và các quỹ của doanh nghiệp để kịp thời đáp ứng các nhu cầu kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có sự hoàn trả; tự huy động vốn để kinh doanh nhưng không thay đổi hình thức sở hữu, được phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật; được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại các ngân hàng Việt Nam để vay vốn theo pháp luật quy định.

2.4 Giai đoạn áp dụng luật doanh nghiệp nhà nước 2003 Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

2.4.1 Luật doanh nghiệp nhà nước 2003.

Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 được kỳ họp thứ 4, Quốc Hội khóa XI thông qua ngày 26/11/2003. Theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước (gồm hai hình thức là công ty nhà nước độc lập và Tổng công ty nhà nước), công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn( công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở nên). Các doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về họat động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp nhà nước có những đặc trưng pháp lý như: (1) Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và thành lập. Các doanh nghiệp nhà nước phải lấy họat động sản xuất kinh doanh làm chủ yếu, các hoạt động này có tính liên tục trong suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp theo đúng những ngành, nghề, lĩnh vực đã được đăng ký. (2) Do Nhà nước đầu tư vốn ban đầu, Nhà nước là sáng lập viên và giữ quyền quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước không chỉ có tư cách là chủ sở hữu như những nhà đầu tư khác mà còn là chủ thể thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và thực hiện những thủ tục hành chính cần thiết. (3) Doanh nghiệp nhà nước không chỉ là đối tượng quản lý của Nhà nước như các loại hình doanh nghiệp khác mà còn là công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế theo định hướng nhất định. Như vậy, một mặt Nhà nước trao cho doanh nghiệp những quyền quản lý doanh nghiệp sản xuất kinh doanh để doanh nghiệp tồn tại và tự phát triển trong cơ chế thị trường như bất kỳ một doanh nghiệp nào khác của các thành phần kinh tế khác; một mặt Nhà nước có quyền của chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước.

Bảng 2 : So sánh và phân tích quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nước trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước và nhà nước45

Quyền tuyển dụng lao động, áp dụng – Cho phép bổ sung ngành nghề hoạt định mức lao động, vật tư, đơn giá tiền động

Phạm Minh Tuấn (2007), Quan hệ pháp lý giữa nhà nước và doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

(Chữ ngạch chân là quy định đã bỏ theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 ; chữ in nghiêng là quy định mới theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2003)

Có hai mô hình tổ chức quản lý của các công ty nhà nước đó là công ty nhà nước có và không có Hội đồng quản trị. Theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 thì Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý doanh nghiệp ; nhưng theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 thì Hội đồng quản trị là đại diện trực tiếp sở hữu Nhà nước tại các Tổng công ty và các công ty có Hội đồng quản trị. Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ thay mặt Hội đồng quản trị ký nhận vốn, đất đai, tài nguyên Nhà nước đầu tư. Hội đồng quản trị ký hợp đồng hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và quyết định mức lương đối với Tổng giám đốc sau khi được sự chấp thuận của người quyết định thành lập tổng công ty. Ngoài ra Hội đồng quản trị quyết định các dự án đầu tư, góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác, bán tài sản có giá trị đến 50% tổng giá trị tài sản của tổng công ty hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn được quy định tại điều lệ tổng công ty. Đối với các tài sản của mình, công ty có quyền chiếm hữu, sử dụng để kinh doanh và thực hiện các lợi ích hợp pháp từ tài sản đó. Riêng quyền quyết định phụ thuộc vào loại hình công ty nhà nước có hay không có Hội đồng quản trị: công ty không có Hội đồng quản trị được quyết định các dự án đầu tư, bán tài sản có giá trị đến 30% tổng giá trị tài sản hoặc một tỷ lệ nhỏ hơn do điều lệ quy định; công ty có Hội đồng quản trị được quyết định dự án đầu tư, bán tài sản trên các mức do chủ sở hữu quyết định.

Chính phủ tổ chức thực hiện việc phân công và phân cấp cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sử hữu như các trường hợp kể sau:

Bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo dõi, phân cấp của Chính phủ thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty không có Hội đồng quản trị và thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty có Hội đồng quản trị.

  • Bộ Tài chính thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu về quản lý tài chính.
  • Hội đồng quản trị là sở hữu trực tiếp đối với công ty có Hội đồng quản trị và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trực thuộc công ty.
  • Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước thực hiện chức năng đầu tư vốn vào các doanh nghiệp; thực hiện quyền chủ sở hữu đối với phần vốn đầu tư của mình ở các doanh nghiệp khác và phần vốn của nhà nước còn lại ở doanh nghiệp độc lập đã cổ phần hóa hoặc góp toàn bộ vốn vào công ty liên doanh với nước ngoài; đại diện chủ sở hữu đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ công ty nhà nước độc lập.
  • Đối với phần vốn của nhà nước ở các doanh nghiệp khác thì theo nguyên tắc: công ty nào đem vốn đi đầu tư, công ty đó là đại diện sở hữu phần vốn đó.
  • Đối với Tổng công ty đặc biệt quan trọng do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập thì các Bộ có liên quan đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị.
  • Đối với các chủ sở hữu phải có nghĩa vụ đầu tư đầy đủ vốn điều lệ, tuân thủ điều lệ công ty, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn nhà nước có tại công ty. Quy định chuyển sang chế độ quản lý công ty, giao quyền quyết định đồng thời đòi hỏi trách nhiệm cao hơn đối với đại diện trực tiếp của chủ sở hữu tại doanh nghiệp.

2.4.2 Nhận xét Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 là một bước tiến lớn trong việc xóa bỏ dần cơ chế chủ quản của các Bộ ngành nhà nước đối với doanh nghiệp và tăng thêm nhiều quyền tự chủ cho doanh nghiệp:

Doanh nghiệp nhà nước được tự chủ kinh doanh, được sử dụng nguồn vốn, quỹ một cách linh hoạt, được khấu hao tài sản cố định, sử dụng phần lợi nhuận sau thuế để bổ sung vốn, được tự chủ trong việc huy động vốn đã đầu tư và không bị hạn chế mức huy động vốn miễn là tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn và khả năng trả nợ, có cơ chế hạch toán kinh doanh giống như các loại hình doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp nhà nước được quyền thay đổi cơ cấu tài sản cho phù hợp với yêu cầu sản xuất, kinh doanh; được cầm cố, thế chấp, cho thuê, chuyển nhượng, bán tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp. Lần đầu tiên pháp luật thừa nhận giá trị sử dụng đất vào vốn của công ty.

Doanh nghiệp có quyền tự quản lý, đầu tư nhưng phải có trách nhiệm đối với việc đầu tư không có hiệu quả hay gắn trách nhiệm với việc kinh doanh thua lỗ, làm mất vốn. Nhà nước bắt đầu áp dụng chế độ gắn quyền quản lý tài chính với nghĩa vụ của người quản lý doanh nghiệp. Nhà nước cũng đã chuyển từ quản lý tài sản hiện vật sang quản lý về mặt giá trị đối với các tài sản, quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp trên phương diện là bảo toàn và phát triển vốn.

Nhà nước bãi bõ nhiều quy định hạn chế quyền tự chủ kinh doanh như : khống chế mức, tỷ lệ chi về quảng cáo, tiếp thị, giao dịch, tiếp khách, tiền thưởng tiết kiệm chi phí, thưởng sáng kiến nâng cao năng suất; phê chuẩn phương án chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố, thanh lý những tài sản quan trọng và quyết định góp vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước ; quy định tổng mức dư nợ vốn vay huy động không được vượt quá vốn điều lệ…

Tuy nhiên một số vấn đề lớn về cơ chế tài chính của doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được đề cấp như cơ chế bảo toàn vốn, quyền tài sản của doanh nghiệp, chế độ quản lý doanh thu, chi phí, cơ chế xử lý tài chính, tài sản khi chuyển đổi sở hữu, cơ chế chia phần lợi nhuận còn lại cho người lao động theo cống hiến và theo cổ phần chưa được cụ thể hóa. Nhà nước bổ nhiệm, bãi nhiệm người quản lý trong doanh nghiệp tạo ra sự phụ thuộc hành chính vào cơ quan chủ quản, cơ quan chủ quản dễ dàng can thiệp được vào hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

Đồng thời cũng có sự phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác khi mà doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động kinh doanh theo các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước đề ra với vị trí then chốt, nòng cốt trong nền kinh tế, là chỗ dựa kinh tế, là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế nói chung một cách có hiệu lực, có hiệu quả. Khi thực hiện các hoạt động công ích do Nhà nước trực tiếp giao cho hoặc thông qua đấu thầu, doanh nghiệp nhà nước cũng phải hạch toán kinh doanh trên cơ sở hợp đồng đã ký với Nhà nước như các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác mà không thực hiện theo nguyên tắc “thu đủ, chi đủ” trên cơ sở thực thu, thực chi như trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước kia.

2.4.3 Nghị định số 133/2005/NĐ-CP Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

Ngày 20/10/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 133/2005/NĐ-CP quy định về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước bao gồm công ty nhà nước độc lập và Tổng công ty nhà nước. Việc phân công, phân cấp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước như sau: Thủ tướng Chính phủ trực tiếp thực hiện quyền chủ sở hữu hoặc ủy quyền, phân cấp cho các Bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập; một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng quyết định thành lập. Quyền của chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước bao gồm:

  • Quyết định thành lập mới, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu
  • Quyết định mục tiêu, chiến lược, kế hoạch dài hạn và ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Phê duyệt điều lệ, phê duyệt sửa đổi và bổ sung điều lệ.
  • Quyết định đầu tư vốn để hình thành vốn điều lệ và điều chỉnh vốn điều lệ.
  • Quyết định việc đầu tư, góp vốn đầu tư, liên doanh, liên kết theo phân cấp; phê duyệt chủ trương vay, cho vay, thuê, cho thuê.
  • Quy định chế độ tài chính, phân phối thu nhập, trích lập và sử dụng các quỹ.

Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật đối với chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc doanh nghiệp nhà nước.

Quy định chế độ tiền lương, tiền thưởng; quyết định mức lương, phụ cấp lương đối với chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc doanh nghiệp nhà nước.

Quy định chế độ đấu thầu, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm và dịch vụ công ích.

Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, thực hiện các quyết định của chủ sở hữu và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp

One thought on “Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464