Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
III. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ CHỦ QUẢN, TỪNG BƯỚC TÁCH QUYỀN CHỦ SỞ HỮU RA KHỎI QUYỀN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG MỘT SỐ NGÀNH.
1. Nội dung chế độ chủ quản của cơ quan quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước.
1.1 Luật tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001 47 và Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 48
Ngày 25/12/2001 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật tổ chức Chính phủ để quy định về tổ chức bộ máy và nhiệm vụ lãnh đạo kinh tế của Chính phủ. Để triển khai thực hiện các quy định của luật này, ngày 05/11/2002 Chính phủ đã có nghị định số 86/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ và cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ. Các văn bản pháp quy này là cơ sở cho việc xác định nhiệm vụ cho từng Bộ, ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước tại mỗi doanh nghiệp. Chính phủ có nhiệm vụ là thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân. Các nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của công tác quản lý nền kinh tế đó là: (1) Quản lý nền kinh tế quốc dân; (2) Quyết định chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa: (3) Xây dựng dự án chiến lược hoặc quy hoạch phát triển; (4) Lập dự toán ngân sách nhà nước;
Quyết định chính sách về tài chính tiền tệ và tiền lương; (6) Quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân; (7) Bảo vệ môi trường; (8) Họat động kinh tế đối ngoại.
Nghị định 86/2002/NĐ-CP còn quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của Bộ, các cơ quan ngang Bộ là đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đang được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của rất nhiều cơ quan chủ quản như là Thủ tướng, các Bộ và cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Dựa theo các quy định của Luật tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001 về tổ chức bộ máy và nhiệm vụ lãnh đạo kinh tế của Chính phủ và nghị định số 86/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ và cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ, Chính phủ đã ban hành nghị định riêng đối với từng Bộ quản lý ngành và đối với từng doanh nghiệp nhà nước có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế (các Tổng công ty 91). Mỗi Bộ quản lý ngành có nhiệm vụ, tổ chức bộ máy được quy định bởi từng Nghị định riêng biệt nhưng có một điểm chung đó là đại diện chủ sở hữu tại doanh nghiệp có vốn nhà nước; mỗi Tổng công ty 91 được quy định nhiệm vụ phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh cũng như lịch sử phát triển của đơn vị đó.
Chế độ chủ quản đã tạo ra và duy trì sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan hành chính nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp quốc doanh. Điều này đã dẫn đến hai vấn đề đó là: (1) Các cơ quan hành chính nhà nước mà cụ thể là cơ quan trực tiếp quản lý các xí nghiệp quốc doanh đã tập trung vào giải quyết các sự vụ cho doanh nghiệp mà không chú trọng đến vai trò, chức năng quản lý nhà nước của mình; (2) Các doanh nghiệp nhà nước đã không chủ động để thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. Để khắc phục những nhược điểm này đã có nhiều những thay đổi trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước theo hướng tăng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, giảm dần sự can thiệp của các Bộ quản lý ngành vào hoạt động của doanh nghiệp. Việc sắp xếp, đổi mới và phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp nhà nước cũng là một trong những cách thức thực hiện để nhằm tách biệt rõ hơn nữa vai trò của chủ sở hữu với người quản lý kinh doanh doanh nghiệp.
Hình 5: Sơ đồ tổ chức quản lý hành chính nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
Hiện nay Chính phủ vẫn đang tích cực cơ cấu lại, bộ máy quản lý hành chính gọn nhẹ đi rất nhiều, giảm các Bộ kinh tế chuyên ngành và hình thành các Bộ kinh tế tổng hợp. Bộ Kinh tế tổng hợp thực hiện chức năng điều hành vĩ mô, Bộ Quản lý ngành thực hiện công tác là đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, có Bộ thực hiện cả hai chức năng quản lý ngành và tổng hợp (ví dụ Bộ Công Thương).
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
1.2 Nghị định số 39/CP quy định về Điều lệ mẫu Tổng công ty nhà nước. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
Nhằm cụ thể hóa quyền quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ đã ban hành nghị định số 39/CP về việc xây dựng Điều lệ hoạt động và mô hình tổ chức, hoạt động của các Tổng công ty nhà nước. Theo quy định của nghị định các Tổng công ty có quyền “xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch 5 năm và hàng năm phù hợp với nhiệm vụ Nhà nước giao và nhu cầu của thị trường”. Hội đồng quản trị của các Tổng công ty với tư cách là đại diện trực tiếp của chủ sở hữu, có quyền và nghĩa vụ là “thông qua đề nghị của tổng giám đốc để trình thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập, phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, kế hoạch 5 năm của tổng công ty”. Nghị định 39/CP đã đưa ra các quy định đối với các vấn đề liên quan đến chiến lược, tới việc đầu tư lớn, liên doanh với nước ngoài hay hệ thống định mức, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật của của toàn tổng công ty.
Theo quy định của Nghị định 39/CP thì Hội đồng quản trị của Tổng công ty phải xin ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước. Như vậy chính việc xin ý kiến này đã tạo điều kiện cho sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động quản trị doanh nghiệp của các Tổng công ty. Các cơ quan quản lý nhà nước can thiệp hành chính trực tiếp vào họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước nhưng lại không chịu trách nhiệm đối với các quyết định hành chính của mình, không có quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan quản lý này đối với những quyết định gây tổn hại cho doanh nghiệp.
2. Bộ Công thương Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
Bộ Công thương là một Bộ mới được thành lập từ Quốc hội khóa XII trên cơ sở sát nhập Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại. Ngày 27/12/2007
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 189/2007/NĐ-CP 50 qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương. Nghị định đã quy định Bộ Công thương thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước trong các ngành công nghiệp và thương mại bao gồm các ngành và lĩnh vực: cơ khí, luyện kim, điện, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, dầu khí, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác, lưu thông hàng hóa trong nước; xuất nhập khẩu, quản lý thị trường, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế – thương mại quốc tế, quản lý cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quản lý Nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
Bộ Công thương thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn như: (1) Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh và các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Bộ; (2) Qui hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm; (3) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được duyệt thuộc phạm vi quản lý của Bộ; (4) Chủ trì, thẩm định hoặc phê duyệt các dự án đầu tư trong ngành công nghiệp mà thuộc phạm vi quản lý của Bộ… Các Vụ chuyên môn như kế hoạch và đầu tư, tài chính kế toán, hợp tác quốc tế… là cơ quan chức năng giúp Bộ thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các ngành công nghiệp. Trong từng lĩnh vực, Bộ Công thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp như sau:
- Trong lĩnh vực tài chính kế toán: Tham gia với Bộ Tài chính trong việc giao vốn và các nguồn lực cho các Tổng công ty, đánh giá tài sản của các doanh nghiệp khi tiến hành thanh lý, nhượng bán…; có ý kiến về giá đối với một số mặt hàng mà Nhà nước quản lý như mặt hàng điện, phân bón…
- Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế: Chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra các Tổng công ty trong việc triển khai thực hiện các chương trình hợp tác kinh tế với nước ngoài mà Chính phủ đã ký kết; chủ trì hướng dẫn chủ đầu tư trong việc tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng liên doanh với nước ngoài; xem xét việc đi công tác nước ngoài của các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các Tổng công ty.
- Trong lĩnh vực tổ chức cán bộ – lao động tiền lương – đào tạo nhân lực: thẩm định các đề án thành lập, điều lệ tổ chức hoạt động của Tổng công ty; xây dựng đề án trình Chính phủ về việc thành lập doanh nghiệp, quyết định thành lập doanh nghiệp sau khi có ý kiến của Chính phủ; tham gia xét duyệt việc thành lập, giải thể các doanh nghiệp, đơn vị thuộc các tổng công ty; trình Chính phủ xem xét quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật…các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các Tổng công ty; tham gia quản lý tiền lương ở các doanh nghiệp trong Tổng công ty cùng các Bộ khác.
- Trong công tác thanh tra: Thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật của các doanh nghiệp trong các Tổng công ty; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của các Bộ đối với doanh nghiệp trong Tổng công ty; hướng dẫn, kiểm tra Tổng công ty thực hiện các quyết định của Nhà nước về công tác thanh tra và xem xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo…
3. Bộ Giao thông vận tải
Ngày 04/04/2003 Chính phủ đã ban hành nghị định số 34/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải. Theo quy định của Nghị định thì Bộ Giao thông vận tải có nhiệm vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực quy hoạch và định hướng chiến lược phát triển ngành vận tải, hạ tầng kỹ thuật giao thông; với các doanh nghiệp trực thuộc là phê duyệt định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh 5 năm, 10 năm; tình hình thực hiện kế hoạch quý, 6 tháng, năm, chú trọng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản; kết quả sản xuất kinh doanh đặc biệt là công nợ, lãi lỗ và cơ cấu lại doanh nghiệp; quyết định mô hình tổ chức (như chia tách, thành lập mới đơn vị thành viên) của các đơn vị, bổ nhiệm Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc; xác định giá trị doanh nghiệp, quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.
Theo quy định của Nghị định số 86/2002/NĐ-CP thì Bộ Giao thông vận tải thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại hơn doanh nghiệp thuộc Bộ và tại 4 Tổng công ty 91 đó là đường sắt, công nghiệp tầu thủy, hàng hải và hàng không. Vai trò đại diện chủ sở hữu thể hiện việc: (1) Quyết định mô hình tổ chức như việc chia tách, sáp nhập của các doanh nghiệp thành viên Tổng công ty; (2) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc, Giám đốc…; (3) Phê duyệt điều lệ tổ chức, quy chế tài chính; (4) Thông qua kế hoạch sản xuất hàng năm, trung và dài hạn; (5) Cho phép chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc đi công tác nước ngoài… Các Vụ thuộc Bộ Giao thông vận tải như Vụ kinh tế tài chính thừa ủy quyền của Bộ theo dõi tình hình tài chính của các doanh nghiệp, xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa và chuyển đổi sở hữu, thẩm định tính khả thi của các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của Bộ; Vụ kế hoạch đầu tư lập kế hoạch đầu tư hàng năm sử dụng nguồn vốn ngân sách cho hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, theo dõi tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp…; Vụ tổ chức cán bộ theo dõi tình hình chuyển đổi, cơ cấu lại doanh nghiệp, công tác tổ chức cán bộ theo phân cấp…
Bộ Giao thông vận tải cũng như các Bộ quản lý nhà nước khác về từng lĩnh vực phê duyệt Điều lệ tổ chức và họat động của các doanh nghiệp nhà nước bao gồm nhập, tách, thành lập mới, góp vốn thành lập công ty cổ phần, góp vốn liên doanh liên kết; mô hình tổ chức, bộ máy… Các quyết định về mô hình tổ chức, bộ máy và cán bộ quản trị doanh nghiệp cơ bản là đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp, làm cho bộ máy doanh nghiệp ngày càng tinh gọn hơn đồng thời chất lượng được nâng cao hơn.
4. Ngành Dầu khí Việt Nam Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
Ngay sau khi thống nhất đất nước, ngày 09/08/1975 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ra nghị quyết số 224/NQTW về việc triển khai thăm dò dầu khí trên cả nước. Tiếp đó ngày 03/09/1975 Chính phủ đã ban hành nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Liên đoàn Địa chất 36 và một bộ phận thuộc Tổng cục Hóa chất. Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được tổ chức và hoạt động như một cơ quan ngang Bộ, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của ngành Dầu khí Việt Nam.
Ngày 09/09/1997 Chính phủ ra quyết định số 215/CP thành lập Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam, gọi tắt là Petrovietnam, trực thuộc Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Ngày 06/07/1990 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ban hành quyết định số 250/HĐBT thành lập Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng trên cơ sở hợp nhất các tổ chức làm công tác dầu khí thuộc Tổng cục Dầu khí, Công ty xuất nhập khẩu dầu khí (Petechim), Tổng công ty xăng dầu (Petrolimex) và Công ty Dầu hỏa thuộc Bộ Thương nghiệp. Ngày 14/04/1992 Chính phủ ra quyết định số 125/HĐBT về việc đặt Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 04/02/1993 Chính phủ ban hành nghị định số 09/CP đặt Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Chính phủ, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về dầu khí. Ngày 29/05/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 37/CP về tổ chức Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, quy định thôi không đặt Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Chính phủ, thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về dầu khí và quyết định số 330/TTg về việc thành lập Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas Corporation.
Ngày 30/05/1995 Chính phủ ban hành nghị định số 38/CP về việc phê chuẩn điều lệ tổ chức và họat động của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam quy định Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là Tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, chịu sự quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời cũng chịu sự quản lý của các cơ quan này với tư cách là cơ quan thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước. Ngày 29/08/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 199/2006/QĐ-TTg thành lập công ty mẹ – Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas Group gọi tắt là Petrovietnam (PVN) và tại quyết định số 198/2006/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Vietnam National Oil and Gas Group.
Hình 6: Sơ đồ mô hình quản lý nhà nước đối với Tập đoàn Dầu khí.
Cách thức quản lý nhà nước đối với Tập đoàn Dầu khí có điểm khác so với các Tổng công ty nhà nước khác đó là Tập đoàn Dầu khí không có Bộ chủ quản mà chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, các vấn đề có liên quan đều trình trực tiếp Thủ tướng Chính phủ giải quyết mà không thông qua kiến của Bộ quản lý ngành. Với cách thức quản lý như thế này có ưu điểm là mọi quyết định đều được xử lý một cách nhanh chóng, kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh cũng như các quyết định đầu tư của công ty. Tuy nhiên với cách thức quản lý này cũng có nhược điểm là không có Bộ quản lý ngành để xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ các chiến lược, quy hoạch, phát triển, các kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm; chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện, kiểm tra thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được duyệt; thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư trước khi trình Thủ tướng Chính phủ…
Bộ Công thương đã không thực hiện được các chức năng về việc: trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển tổng thể, quy hoạch vùng, lãnh thổ, quy hoạch ngành; kế hoạch dài hạn và hàng năm… với ngành dầu khí. Các chiến lược phát triển của ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2010, hay định hướng phát triển đến năm 2020, kế hoạch 5 năm…do Tập đoàn trực tiếp trình lên Thủ tướng Chính phủ; được tiến hành các hoạt động dầu khí trên toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và hải đảo thuộc chủ quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được tiến hành các hoạt động dầu khí ở nước ngoài khi Chính phủ cho phép. Mọi họat động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của các tổ chức, cá nhân khác tại Việt Nam chỉ được tiến hành trên cơ sở ký hợp đồng với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
5. Ngành Hàng không Việt Nam Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
Bộ Giao thông vận tải là Bộ quản lý ngành đối với Tổng công ty Hàng không Việt Nam còn các Bộ khác thì giám sát họat động của của Tổng công ty theo các lĩnh vực chuyên ngành như về công tác kế hoạch đầu tư, chính sách lao động và đơn giá tiền lương, quản lý vốn và chính sách tài chính, các chính sách và công tác cán bộ… Lịch sử ngành Hàng không dân dụng Việt Nam bắt đầu từ ngày 15/01/1956 khi Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Nghị định số 666/TTg thành lập Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam. Tháng 4/1993 Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (tên giao dịch là Vietnam Airlines) được thành lập và là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam. Ngày 27/05/1996 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký quyết định thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam là Tổng công ty nhà nước có quy mô lớn, lấy hãng Hàng không quốc gia làm nòng cốt và bao gồm các đơn vị thành viên là doanh nghiệp hạch toán độc lập, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc.
Tổng công ty được thực hiện kinh doanh dịch vụ về vận tải hàng không đối với hành khách, hàng hóa ở trong nước và nước ngoài theo các kế hoạch và chính sách phát triển ngành Hàng không dân dụng của nhà nước ta; cung ứng các dịch vụ thương mại kỹ thuật Hàng không; xây dựng kế hoạch phát triển, tạo nguồn vốn; kinh doanh xuất nhập khẩu các vật tư thiết bị, nguyên nhiên liệu cho ngành Hàng không; liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước và kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật.
Tổng công ty có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác của Nhà nước giao để thực hiện được các mục tiêu, các nhiệm vụ đã được Nhà nước giao. Tổng công ty có quyền thuê và cho thuê tàu bay dân dụng, thay thế, thế chấp, chuyển nhượng, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của Tổng công ty trừ những thiết bị, nhà xưởng và các công trình quan trọng theo quy định của Chính phủ thì phải được cơ quan quản lý Nhà nước cho phép dựa trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước.
Tổng công ty cũng có quyền tổ chức quản lý, tổ chức họat động kinh doanh trong phạm vi cả nước và quốc tế; tổ chức kinh doanh vận tải Hàng không dân dụng, cung ứng các dịch vụ về vận tải Hàng không trên lãnh thổ Việt Nam và ở nước ngoài; tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức kinh doanh phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ Nhà nước giao. Có quyền quyết định khung giá hay giá mua, giá bán vật tư, nguyên liệu, sản phẩm, các dịch vụ chủ yếu; xây dựng và áp dụng các định mức lao động; phân cấp việc tuyển chọn, thuê mướn, bố trí sử dụng, đào tạo lao động, lựa chọn hình thức trả lương, thưởng và các quyền khác của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật; được quyết định mức lương, thưởng cho người lao động trên cơ sở đơn giá tiền lương trên đơn vị sản phẩm, chi phí dịch vụ và hiệu quả hoạt động của công ty. Trong lĩnh vực tài chính thì Tổng công ty có quyền sử dụng vốn và các quỹ của Tổng công ty để phục vụ kịp thời các nhu cầu kinh doanh theo nguyên tắc bảo đảm và có hiệu quả.
Theo điều lệ của mình, Tổng công ty Hàng không có thể chủ động xử lý được hầu hết các vấn đề của mình trong sản xuất kinh doanh nhưng trên thực tế có rất nhiều vấn đề mặc dù thuộc thẩm quyền của Ban lãnh đạo công ty song công ty vẫn phải báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của các cấp trên chủ quản như là Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kế hoạch đầu tư… Thêm một điểm nữa là ngành Hàng không dân dụng có đặc thù là những yêu cầu rất khắt khe về phục vụ và an toàn trong khai thác nên bất kỳ sự chậm trễ, sai sót nào trong việc xử lý và các quyết định của cơ quan chủ quản đều có thể dẫn đến những tổn thất rất lớn cho Tổng công ty như lịch bay, chi phí thuê máy bay, tổ lái…ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của đơn vị.
IV. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC TÁCH QUYỀN CHỦ SỞ HỮU VỚI QUYỀN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1. Một số ưu điểm. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
Qua nhiều năm thực hiện chủ trương đổi mới tổ chức, cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước đã có rất nhiều thay đổi theo hướng là tăng cường hơn sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Quá trình tách quyền chủ sở hữu và quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta có một số ưu điểm:
- Xác định rõ hơn quyền quản lý nhà nước, quyền của chủ sở hữu và quyền của các cơ quan đại diện trực tiếp của chủ sở hữu (là Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc đối với những doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng quản trị) tại doanh nghiệp đó; hạn chế dần từng bước sự can thiệp hành chính trực tiếp vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước.
- Đã mở rộng và từng bước tăng cường quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nước trong phân cấp đầu tư; thu hút được các nguồn vốn trên thị trường theo quy định của pháp luật; chủ động trong việc sản xuất kinh doanh những sản phẩm theo yêu cầu của thị trường trong nước và ngoài nước; tuyển dụng nguồn nhân lực, trả lương người lao động theo các chính sách của công ty mà không trái với quy định của pháp luật.
- Các doanh nghiệp cũng đã dần định rõ được nhiệm vụ của quản trị doanh nghiệp, có những thay đổi về công nghệ và quản lý, tạo ra những động lực để thúc đẩy việc cải tiến tổ chức sản xuất, quản lý; nâng cao hiệu quả kinh doanh, đẩy mạnh năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập của mình.
- Các doanh nghiệp nhà nước cũng đã chủ động tham gia với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển ngành, xây dựng các bước đi trong quá trình hội nhập thị trường thế giới, phát huy không khí dân chủ trong các doanh nghiệp nhà nước và tạo động lực cho sự sáng tạo trong doanh nghiệp.
2. Một số nhược điểm. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
2.1 Chế độ hành chính chủ quản và sự quản lý lỏng lẻo phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp
Chế độ hành chính chủ quản mặc dù đã phát huy tác dụng tích cực trong cơ chế cũ nhưng đến nay đã trở thành một trở ngại. Sự tồn tại của cơ chế chủ quản dẫn đến hạn chế quyền chủ động và tính tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế hành chính chủ quản là căn nguyên để các cơ quan chủ quản can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, không tập trung vào giám sát, kiểm tra việc thực hiện quyền sở hữu, buông lỏng các hoạt động về quản lý nhà nước. Mỗi cơ quan hành chính chủ quản không phải là cơ quan chuyên nghiệp quản lý đầu tư nhưng lại được giao các quyền khác nhau và mức độ khác nhau về việc thực hiện quyền sở hữu tài sản và vốn tại doanh nghiệp nhà nước.
Nhà nước không thực hiện được đầy đủ quyền sở hữu nhà nước, không thể kiểm soát được tình hình sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, càng không có biện pháp đúng đắn, đầy đủ và kịp thời đối với nguồn vốn này dẫn đến việc sử dụng vốn và tài sản kém hiệu quả, gây ra lãng phí. Trách nhiệm của cơ quản chủ quản và Bộ Tài chính không rõ ràng đối với việc thực hiện quyền sở hữu cũng như hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước nên không xác định rõ được chủ thể nào là người chịu trách nhiệm. Vốn và tài sản của nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước không được kiểm kê, kiểm soát, hạch toán đầy đủ dẫn đến việc sử dụng lãng phí, có hiện tượng tham ô, chia chác nhau.
Ngoài ra còn có thể nhận thấy một số những hạn chế sau của chế độ chủ quản: doanh nghiệp nhà nước phải báo cáo quá nhiều về cùng một vấn đề như kết quả sản xuất kinh doanh, lao động, tiền lương…cho các Bộ ngành khác nhau; các Bộ chủ quản vẫn còn quyết định nhiều dự án mà thực chất là chức năng điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước; các Tổng công ty phải lấy ý kiến của các Bộ quản lý ngành và các Bộ tổng hợp trước khi trình Thủ tướng Chính phủ nên rất dễ dẫn đến chậm trễ trong thời gian sản xuất kinh doanh…
2.2 Vấn đề sở hữu và vấn đề quyền tự chủ Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
Vấn đề sở hữu:
Cơ chế trách nhiệm và quyền chủ động của cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước chưa rõ ràng, Tình trạng thất thoát vốn nhà nước mà không thể quy trách nhiệm cụ thể cho cá nhân, cơ quan nào đã làm cho doanh nghiệp nhà nước trở thành đầu mối cho tài sản nhà nước thất thoát. Khu vực doanh nghiệp nhà nước thu hút được đầu tư mạnh song quá trình đầu tư cũng còn nhiều lãng phí do sự thiếu hiểu biết, thiếu thông tin thị trường…
Chưa tách bạch rõ giữa chức năng quyền sở hữu với chức năng khác của nhà nước dẫn đến chức năng quyền sở hữu dễ bị coi nhẹ. Chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện quyền sở hữu của các cơ quan công quyền khiến cho các cơ quan này thiếu trách nhiệm trong chức năng thực hiện quyền sở hữu nhưng lại tích cực can thiệp làm hạn chế quyền tự chủ của các doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế thực hiện quyền và nội dung thực hiện quyền sở hữu quá chú trọng đến thực hiện chức năng quản lý, ban hành và thực thi pháp luật hơn là thực hiện quyền sở hữu để đảm bảo gia tăng giá trị của tài sản thuộc quyền sở hữu nhà nước.
Vấn đề quyền tự chủ:
Tình trạng bao cấp cho doanh nghiệp nhà nước kinh doanh vẫn chưa xóa bỏ hoàn toàn. Doanh nghiệp nhà nước không tích cực phát huy thế mạnh của mình mà ít nhiều nghiêng về việc quan hệ tốt với cấp trên để tận dụng bao cấp. Theo bảng xếp hạng của Bộ Tài chính năm 2008, trong số các doanh nghiệp nhà nước chỉ có 44,4% doanh nghiệp xếp loại A; 39,5% doanh nghiệp xếp loại B; 16,1% doanh nghiệp xếp loại C; và có tới 19,5% doanh nghiệp thu lỗ.
Hội đồng quản trị vẫn phải báo cáo qua nhiều cấp mới thực hiện được quyền chủ tài sản doanh nghiệp. Vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng quản trị với tư cách là đại diện trực tiếp chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước chưa được quy định rõ ràng, cụ thể:
- Các doanh nghiệp không được tự chủ trong việc phân bổ lỗ, lãi, lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc trong quá trình đầu tư mới.
- Các Tổng công ty không có khả năng điều chỉnh vốn từ các đơn vị lãi ít sang các đơn vị lãi nhiều, không được tự quyết định mức khấu hao tài sản cố định của mình.
- Trách nhiệm về hành chính, kinh tế của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc không được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Nhiều doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng quản trị thì không rõ được cơ quan nào sẽ là đại diện trực tiếp chủ sở hữu.
- Hầu như các quy định tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước chỉ được thực hiện sau khi có sự đồng ý, chấp thuận của cơ quan chủ quản. Cùng với đó là các quy chế hoạt động của cá tổ chức chính trị, đoàn thể làm doanh nghiệp bị hạn chế về quyền tự chủ sản xuất kinh doanh.
2.3 Một số nhược điểm khác Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
Chế độ tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước chưa phù hợp, chính sách và cơ chế nhân sự còn chậm đổi mới. Đội ngũ cán bộ quản trị trong điều kiện mới chưa được chuẩn bị kịp thời, thích ứng để hình thành nên một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp. Thực tế đã chứng minh, doanh nghiệp nhà nước nào có đội ngũ cán bộ tài năng, tập trung vào lợi ích chung cho đơn vị thì doanh nghiệp đó làm ăn phát đạt ví dụ như Vinamilk, công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông… Và ngược lại, doanh nghiệp nhà nước nào mà đội ngũ cán bộ quản lý chỉ lo lợi ích cá nhân thì mặc dù có thể có lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng lại không vào ngân sách nhà nước ví dụ như dệt may Nam Định,…
Trước đây đối với các doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng quản trị, việc Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc cùng nhận vốn dẫn đến không phân biệt được trách nhiệm bảo toàn, phát triển nguồn vốn được giao thực chất là thuộc về ai. Theo quy định của pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người lãnh đạo cao nhất của công ty nhưng đôi khi Chủ tịch Hội đồng quản trị lại thụ động, ngồi chờ Tổng giám đốc đề nghị các quyết định quản lý để ban hành, không nắm được các vấn đề về cán bộ, tài chính…trong doanh nghiệp hay ngược lại, Chủ tịch Hội đồng quản trị lại can thiệp quá sâu vào toàn bộ các vấn đề tổ chức, bố trí cán bộ, sản xuất kinh doanh dẫn đến Tổng giám đốc lại trở thành thụ động, hoạt động của doanh nghiệp có nhiều khúc mắc, các quy định chồng chéo, cấp dưới có tính chấp hành không cao.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta, mặc dù có sự tham gia của những loại hình doanh nghiệp khác nhau song doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng, bổ sung thị trường khi cần thiết, nắm giữ vị trí then chốt và là lực lượng quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng xã hội. Chương II đã khái quát lại toàn bộ quá trình thực hiện tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa được thành lập. Đây là một quá trình thay đổi cơ chế quản lý, điều chỉnh các quy định của pháp luật để từng bước trao quyền quản trị doanh nghiệp, tự chủ hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước thể hiện đúng vai trò của một nhà đầu tư và quản lý nền kinh tế, không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh những ưu điểm đạt được của quá trình thực hiện tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước, Chương II cũng đã chỉ ra một số nhược điểm còn tồn tại như: sự tồn tại của chế độ hành chính chủ quản dẫn đến việc quản lý vốn lỏng lẻo; một số vấn đề liên quan đến sở hữu và quyền tự chủ; chế độ sử dụng, đãi ngộ cán bộ… Chương III – chương tiếp theo của khóa luận sẽ tập trung vào việc đưa ra một số định hướng và đề xuất giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh việc thực hiện tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam