Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Trong quá trình hội nhập quốc tế và thực hiện lộ trình mở cửa thị trường ngân hàng Việt Nam, điều này dẫn đến việc số lượng ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng ngân hàng thương mại trong nước lại không vì mục tiêu phục vụ cho nền kinh tế, mà một số những ngân hàng thương mại được thành lập chủ yếu phục vụ cho hệ thống kinh doanh sân sau của các cổ đông lớn nắm quyền chi phối trong ngân hàng thương mại. Do đó, khi bị tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam lâm vào tình trạng khó khăn với chất lượng hoạt động kém, nguy cơ đổ vỡ đã xảy ra.

Hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần trong suốt thời gian mở cửa thị trường tài chính chưa được pháp luật điều chỉnh kịp thời với những biến tướng xảy ra trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Vì vậy, đã xuất hiện mô hình sở hữu chéo giữa ngân hàng với doanh nghiệp phi ngân hàng, với nhóm cổ đông cá nhân hoặc giữa ngân hàng với ngân hàng. Hơn nữa, việc kinh doanh yếu kém đã đẩy các ngân hàng thương mại cổ phần đứng bên bờ vực phá sản từ đó buộc phải sáp nhập, hợp nhất hoặc bị nhà nước mua lại với giá 0 đồng. Việc sở hữu chồng chéo trong hệ thống các ngân hàng nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích của các cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu phần lớn cổ phần trong ngân hàng thương mại. Chính những điều này đã làm xâm hại đến quyền và lợi ích của nhà đầu tư, cổ đông đang diễn ra một cách phổ biến trong thời gian gần đây.

Với cùng hoạt động đầu tư nhưng phần lợi ích thì nhóm cổ đông lớn được hưởng trong khi rủi ro hay thiệt hại thì cổ đông nhỏ hoặc nhóm cổ đông không nắm quyền chi phối lại phải gánh chịu, điều này xuất phát từ việc bất cân xứng thông tin đối với khoản đầu tư và đã tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường chứng khoán như làm suy giảm khả năng huy động vốn cổ đông trong và ngoài nước của các ngân hàng thương mại. Việc suy giảm đầu tư từ các cổ đông nước ngoài đã làm cho hệ thống ngân hàng rất khó tiếp cận được với công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý, điều hành của các nước trên thế giới. Do các cổ đông nước ngoài đầu tư vào hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần thường sẽ đem theo công nghệ và kinh nghiệm để vận dụng vào hệ thống ngân hàng trong nước. Trong bối cảnh, hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đang trong giai đoạn tái cơ cấu và nâng cao năng lực tài chính thì vấn đề thiết lập các hành lang pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư nhằm để gia tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn cũng như kinh nghiệm của các nhà đầu tư nước ngoài là rất cần thiết.

Vì những lý do trên, Tác giả quyết định chọn đề tài ”Bảo vệ cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần theo pháp luật Việt Nam” để làm Luận văn thạc sĩ luật học cho mình với mong muốn đánh giá thực trạng pháp luật doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng, Luật đầu tư, pháp luật chứng khoán… từ góc độ bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng thương mại cổ phần để đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Lợi ích của các cổ đông trong các công ty cổ phần thường không giống nhau, các cổ đông lớn thường nắm quyền chi phối và thực hiện các công việc theo hướng có lợi cho mình. Do đó, làm thế nào để bảo vệ các cổ đông là vấn đề có tính chất quan trọng, vì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán. Chính vì vậy, việc bảo vệ các cổ đông trong công ty cổ phần là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý, nhà khoa học, tiêu biểu như sau:

Sách ”Luật doanh nghiệp, Bảo vệ cổ đông – pháp luật và thực tiễn” của PGS –TS Bùi Xuân Hải, xuất bản năm 2011, Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Đây là cuốn sách được phát triển trên cơ sở đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ vào năm 2010. Dựa trên nền tảng của Luật doanh nghiệp 2005, PGS –TS Bùi Xuân Hải đã tập trung phân tích các vấn đề về lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động của các công ty liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông, thành viên công ty.

Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số dưới góc độ pháp luật, thông qua các luận văn và đề tài nghiên cứu khoa học như:

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật “Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần – So sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Vương Quốc Anh”, của tác giả Nguyễn Hoàng Thuỳ Trang thực hiện năm 2008 tại Đại học Luật TP HCM đã tập trung phân tích các vấn đề pháp lý trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số nêu lên thực tiễn thực hiện pháp luật và so sánh thực trạng, thực tiễn với pháp luật của Vương Quốc Anh từ đó đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số để áp dụng cho các công ty cổ phần.

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật “Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thái Hán thực hiện năm 2012 tại Đại học Luật Hà Nội đã tập trung phân tích thực trạng bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam và so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới để đưa ra một số nghiên cứu tham khảo áp dụng nhằm xây dựng và bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam.

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật “Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán theo pháp luật Việt Nam”, của tác giả Đinh Thị Kiều Trang, thực hiện năm 2009 tại Đại học Luật Hà Nội. Tác giả tập trung nghiên cứu đối với các công ty cổ phần hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đánh giá thực trạng pháp luật cũng như tình hình vi phạm các quyền lợi của cổ đông, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định về bảo vệ cổ đông nói chung và cổ đông trong các công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán theo pháp luật Việt Nam.

Đề tài khoa học ”Bảo vệ cổ đông thiểu số: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho sửa đổi Luật doanh nghiệp”, của tác giả Phan Đức Hiếu –Trưởng ban môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, thực hiện năm 2014 tại Bộ kế hoạch và đầu tư. Tác giả tập trung nghiên cứu các thực tiễn quốc tế tốt về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số như quyền, cơ chế bảo vệ và pháp luật bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số; đánh giá thực trạng bảo vệ cổ đông thiểu số trong thực tiễn quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm phát huy vai trò của pháp luật về doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Hơn nữa, có rất nhiều bài báo, tạp chí bình luận về vấn đề bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần chủ yếu phân tích các khía cạnh của luật áp dụng vào thực tiễn có đủ cơ sở để bảo vệ các cổ đông nhà đầu tư:

Bài viết “Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam”của tác giả Quách Thúy Quỳnh, Giảng viên khoa đào tạo thẩm phán Học viện tư pháp, đăng trên tạp chí Luật học số 4/2010. Trong bài viết, tác giả đã đưa ra 4 kiến nghị liên quan đến việc bảo vệ cổ đông thiểu số như: cải thiện quyền biểu quyết của cổ đông thiểu số, tăng cường quyền tiếp cận thông tin, sửa đổi quy định về tỷ lệ bỏ phiếu, tăng cường các quyền khắc phục của cổ đông.

Bài viết “Bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Lê Thị Xuân Huế, Cục quản lý đăng ký kinh doanh, bài viết tập trung phân tích thực trạng bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam dựa theo đánh giá của World Bank.

Nhìn chung, phần lớn các vấn đề được nêu trong những bài nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của cổ đông, nhóm cổ đông nhỏ bị cổ đông lớn xâm phạm đến quyền lợi. Những giao dịch nội gián, bị chèn ép và bị lãng quên bởi những người quản lý công ty hay chính bởi các cổ đông lớn dẫn đến thiệt hại cho các cổ đông nhỏ. Từ những phân tích nhận định đó các nhà nghiên cứu đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện luật pháp để nâng cao việc bảo vệ cổ đông tạo ra môi trường đầu tư minh bạch. Phạm vi nghiên cứu của các đề tài, luận văn tập trung là các công ty cổ phần đã niêm yết hoặc chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Về tổng thể, Tác giả chưa thấy có công trình nào nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng thương mại. Hơn nữa, lĩnh vực ngân hàng là một trung gian tài chính nó thúc đẩy sự phát triển của dòng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, gần đây việc điều hành kinh doanh của các ngân hàng liên tục xảy ra nhiều biến động mà chủ yếu là các cổ đông lớn trong suốt thời gian dài đã dùng quyền để chi phối những nhà quản lý ngân hàng thực hiện các giao dịch nội gián, cũng như không minh bạch thông tin điều này đã làm xâm phạm đến quyền và lợi ích của cổ đông, nhà đầu tư dẫn đến nhiều thiệt hại. Chính vì vậy, việc Tác giả chọn đề tài ”Bảo vệ cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần theo pháp luật Việt Nam” với nội dung trọng tâm phân tích về việc bảo vệ cổ đông ở lĩnh vực ngân hàng thương mại cổ phần đang diễn ra trong thực tiễn với bối cảnh Ngân hàng nhà nước đang thực hiện việc tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, hoàn toàn không trùng lắp với các công trình khoa học đã được công bố trước đó.

3. Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ một số lý luận về quyền lợi của các cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 và Luật các tổ chức tín dụng 2010, đồng thời đánh giá thực trạng bị xâm hại quyền lợi của cổ đông nhỏ, cổ đông không chi phối từ phía cổ đông lớn nắm quyền chi phối tại các ngân hàng thương mại cổ phần đã diễn ra trong thời gian vừa qua. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định trong lĩnh vực ngân hàng thương mại cổ phần để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông, nhà đầu tư tại Việt Nam trong thời gian tới.

4. Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng thương mại, chủ yếu là sử dụng Luật doanh nghiệp 2014 và Luật các tổ chức tín dụng 2010 và các văn bản pháp lý có liên quan đến việc bảo vệ cổ đông. Tác giả sẽ đưa vào thực trạng một số bất cập đang diễn ra trong lĩnh vực ngân hàng thương mại cổ phần làm tình huống để phân tích. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một số quy định của pháp luật nước ngoài làm tham chiếu để phân tích, so sánh với những quy định của pháp luật Việt Nam.

5. Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn chỉ tập trung ở các quy định của pháp luật tại Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và các văn bản pháp lý có liên quan về việc bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng thương mại cổ phần. Luận văn không nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bảo vệ cổ đông trong ngân hàng Thương mại cổ phần ở khía cạnh kinh tế học, xã hội học cũng như các quy định pháp luật khác không liên quan.

  • Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu để làm rõ những mục đích nghiên cứu, chi tiết như sau:

Phương pháp nghiên cứu luật học: dùng để nhận diện những vấn đề pháp lý đang trục trặc, lựa chọn ra giải pháp cũng như đưa ra những lập luận cho quan điểm về những vấn đề nghiên cứu.

Phương pháp phân tích luật viết: sử dụng để phân tích sâu vào nội dung của các quy định trong hiến pháp, luật, văn bản dưới luật để đưa ra những nhận định đối với quy định của luật hiện hành như: Luật doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng, Điều lệ và Quy chế quản trị của các ngân hàng thương mại cổ phần nhằm hiểu rõ ý chí của nhà làm luật để giải thích về những quy định của luật. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Phương pháp so sánh: để thấy điểm giống nhau và khác nhau giữa khung pháp lý về bảo vệ cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần so với công ty cổ phần.

Ngoài các phương pháp nói trên, Luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn và dùng sự kiện để chứng minh nhận định nên ra trong luận văn.

6. Câu hỏi nghiên cứu

Toàn bộ các vấn đề nghiên cứu trong luận văn nhằm mục đích trả lời cho các câu hỏi xung quanh việc bảo vệ cổ đông thiểu số trong lĩnh vực ngân hàng thương mại cổ phần, như sau:

Thứ nhất, quy định pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số tại các ngân hàng thương mại cổ phần có sự khác biệt gì so với việc bảo vệ cổ đông thiểu số tại các công ty cổ phần?

Thứ hai, những quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam đã đủ để bảo vệ cho cổ đông và cổ đông thiểu số trước những biến động của thị trường và trước sự áp đảo của cổ đông lớn chưa?

Thứ ba, cần điều chỉnh những quy định pháp luật nào để có thể giảm bớt những thiệt hại mà các cổ đông phải gánh chịu trước sự yếu thế so với nhóm cổ đông lớn?

7. Kết cấu của Luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 2 Chương :

  • Chương 1: Lý luận chung về bảo vệ cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần
  • Chương 2: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện

Chương 1: Lý luận chung về bảo vệ cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần

1.1 Khái quát về cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần và ngân hàng thương mại cổ phần.

1.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần

Về lịch sử, Công ty cổ phần ra đời dựa trên nền tảng của sự phát triển kinh tế, sau loại hình công ty đối nhân nhưng lại là loại hình công ty đối vốn đầu tiên. Công ty cổ phần xuất hiện khi nhu cầu vốn của các nhà kinh doanh gia tăng mà năng lực của họ không đủ đáp ứng cho nhu cầu hoạt động, từ đó mô hình Công ty cổ phần ra đời và sau này được pháp luật hoàn thiện thành định chế pháp lý. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Theo nghiên cứu mới nhất về lịch sử hình thành, Công ty cổ phần ra đời từ năm 3000 trước công nguyên ở vùng Địa Trung Hải, tuy nhiên trong giai đoạn đầu Công ty cổ phần chỉ là sự bỏ vốn vào hoạt động của các cá nhân vào tổ hợp hoặc là hội trong lĩnh vực hàng hải là chủ yếu. Mãi cho đến năm 1600, mô hình Công ty cổ phần chính thức được hình thành là công ty Đông Ấn (East India Company) ở nước Anh, nó được thành lập bởi một nhóm gồm 218 cổ đông hoạt động trong lĩnh vực hải cảng và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn. Đến năm 1874 công ty này bị giải thể do hết thời hạn cấp phép và không được gia hạn.

Ở nước Anh, việc các Công ty cổ phần ra đời đã tạo nên thị trường mua bán giao dịch cổ phần, các nhà đầu cơ đã làm lủng đoạn thị trường gây nên cơn sốt giá. Do đó, việc thành lập Công ty cổ phần bị buộc phải xin phép thành lập với rất nhiều điều kiện ràng buộc và thời gian cấp phép chỉ từ 20 năm đến 50 năm. Ngoài ra, Công ty cổ phần vào thời kỳ này chỉ được thành lập dành riêng cho lĩnh vực kinh doanh quốc tế, hàng hải còn các ngành nghề khác thì theo hình thức hùn hạp cùng làm và chịu trách nhiệm liên đới. Chính vì những bất cập trên nên số lượng các Công ty cổ phần được thành lập ở Anh giảm mạnh để chuyển sang thành lập tại Mỹ, buộc chính quyền Anh thay đổi những quy định cứng nhắc đối với việc thành lập Công ty cổ phần. Từ năm 1720 cho đến năm 1862, các CTCP được thành lập theo luật về Công ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn.

Ở Mỹ, loại hình Công ty cổ phần phát triển mạnh hơn so với ở Anh, ban đầu mô hình này được thành lập chủ yếu để phục vụ cho hoạt động xây dựng giao thông đường sắt. Nguyên nhân là do ngành xây dựng đường sắt cần nhiều nguồn vốn tài trợ mà thị trường chứng khoán ở New York phát triển mạnh và cũng tại nơi này, năm 1811 chính quyền ban New York đồng ý công bố luật về tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các công ty sản xuất. Chính vì thế, mọi nguồn vốn đầu tư trên thế giới vào thời điểm này đã đổ về New York và tính trách nhiệm hữu hạn trở nên phổ biến vì bang nào không dùng đến tính trách nhiệm hữu hạn thì sẽ không thể thu hút dòng vốn đầu tư vào bang đó. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Tại Việt Nam, các mô hình công ty cổ phần được du nhập khi Việt Nam là thuộc địa của các nước tư bản như Bộ luật thương mại 1807, Luật công ty Trách nhiệm hữu hạn 1925, Dân luật Bắc Kỳ 1931, và Dân luật Trung Kỳ 1936 – 1938 lần lượt được dịch các mô hình công ty theo pháp, luật của các nước thực dân ra tiếng việt.

Từ sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước năm 1975 và cho đến những năm đầu của thập niên 80 thì tất cả hình thức Công ty không hầu như không được pháp luật thừa nhận. Khái niệm về mô hình công ty trong giai đoạn này không được hiểu đúng bản chất pháp lý mà nó được hiểu theo hình thức kinh doanh. Hai chữ “Công ty” trong thời bao cấp vẫn được dùng để chỉ một số nhà máy, xí nghiệp quốc doanh sản xuất và cung cấp dịch vụ.

Cuối năm 1987, đánh dấu cột mốc xuất hiện loại hình công ty Trách nhiệm hữu hạn trong Luật đầu tư nước ngoài được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 29/12/1987. Cùng thời gian này, các quỹ tín dụng xuất hiện “như nấm sau cơn mưa”, đến năm 1990 đã có đến 7000 các quỹ tín dụng được thành lập và huy động hơn 350 tỷ đồng, một hình thức sơ khai của công ty cổ phần đã được hình thành.

Khi Luật công ty được ban hành vào ngày 21/12/1990 thì mô hình Công ty cổ phần mới được pháp luật thừa nhận và áp dụng trong đời sống kinh doanh của người Việt Nam. Để điều chỉnh và áp dụng kịp thời với các loại hình kinh doanh sau thời điểm Luật công ty được ban hành nhiều văn bản dưới luật nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau nhưng được tổ chức dưới dạng Công ty cổ phần như trong Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1998 quy định về các loại hình tổ chức tín dụng có hình thức tổ chức tín dụng cổ phần của nhà nước và nhân dân, nó được hiểu là các Ngân hàng thương mại cổ phần là hình thức hoạt động của Công ty cổ phần hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ.

1.1.1.2. Sự hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần.

Hình thức sơ khai của ngân hàng trong lịch sử có thể được hình thành trước khi con người phát minh ra tiền, vì ban đầu với những tài sản là lương thực như: ngũ cốc, nông sản, gia cầm rồi sau này đến vàng, trong thời gian chưa sử dụng hết các nhà tư bản đem gửi tại các đền thờ – đây là nơi an toàn nhất vào thời điểm này. Do đó, các đền thờ trong thời kỳ này giống như 1 ngân hàng là nơi cất trữ tài sản và phục vụ cho các tầng lớp quý tộc, nhà buôn, hoàng triều và thời điểm này ngân hàng sơ khai không dành người dân bình thường trong xã hội.

Hoạt động ngân hàng phát triển từ thế kỷ thứ IV trước công nguyên, ở vùng Địa Trung Hải. Tại Ai Cập, ngũ cốc đã được sử dụng như loại tiền tệ bên cạnh các kim loại quý như vàng, bạc. Thời đó, ngân hàng hoạt động với hệ thống tín dụng thương mại, trong đó, việc thanh toán chỉ cần ghi sổ từ tài khoản của người mua sang tài khoản của người bán mà không cần sử dụng tiền mặt. Đây là nghiệp bù trừ hay thanh toán điện tử của các ngân hàng hiện đại.

Thời kỳ đầu, ngân hàng hoạt động với một số nghiệp vụ đơn giản như: đổi tiền, chuyển tiền, bảo hộ tiền, cho vay. Ngành ngân hàng trải qua nhiều bước thăng trầm trong lịch sử hình thành từ thời thượng cổ đến thời kỳ trung cổ và bị gián đoạn do sự sụp đổ của đế quốc La Mã, cho đến thời kỳ phục hưng ngành ngân hàng mới được phục hồi và phát triển mạnh.

Đến thế kỷ thứ 17, loại hình ngân hàng hiện đại mới xuất hiện trên thế giới với các ngân hàng được thành lập: năm 1609 ở Hà Lan, năm 1619 ở Đức và năm 1694 ở Anh. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Ở Việt Nam, Ngân hàng Quốc gia chính thức được thành lập theo Sắc lệnh số 15/SL ngày 06/05/1951 của chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn 1945 – 1975 thời kỳ chiến tranh tại Việt Nam ngân hàng trong thời kỳ này chủ yếu là nơi cất giữ tiền để phục vụ chiến tranh và thực hiện các nghiệp vụ đơn giản như cho vay để phát triển sản xuất.

Hoạt động ngân hàng thời kỳ 1976 – 1985, hệ thống ngân hàng Việt Nam bước sang giai đoạn cải tiến và mở rộng hoạt động của ngân hàng theo Quyết định 32/CP ngày 11/2/1977 của Hội đồng Chính phủ, Tổng giám đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Thể lệ cho vay vốn lưu động và quy định về cho vay đầu tư xây dựng cơ bản đối với các xí nghiệp quốc doanh.

Giai đoạn thực hiện đổi mới toàn diện và sâu sắc hệ thống ngân hàng từ năm 1986 đến nay nền kinh tế được chuyển dịch dần từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng, tạo nền tảng pháp lý căn bản hơn cho hệ thống ngân hàng tiếp tục đổi mới phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Sau nhiều lần điều chỉnh, đến nay các ngân hàng, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước được điều chỉnh theo Luật các tổ chức tín dụng 2010.

1.1.2. Khái quát chung về Ngân hàng thương mại cổ phần

1.1.2.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.

Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.

Ở Việt Nam: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ với nhiệm vụ cơ bản nhất là huy động vốn và cho vay vốn, là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, thu hút vốn từ nơi nhàn rỗi và đưa vốn đến những nơi thiếu hụt, đây chính là hoạt động chính của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, ngoài những chức năng nêu trên Ngân hàng thương mại còn được định nghĩa tại khoản 2 điều 4 luật các Tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận.

Như vậy, Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, là trung gian tài chính giữa người gửi tiền và người vay tiền với mục tiêu mang lại lợi nhuận. Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn có thể cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ trong xã hội. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

1.1.2.2. Cơ cấu tổ chức và quản trị ngân hàng thương mại

Theo quy định tại Điều 32 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định “Cơ cấu tổ chức quản lý của tổ chức tín dụng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc)”. Như vậy, với mô hình của Ngân hàng thương mại cổ phần là 1 loại hình của công ty cổ phần với đầy đủ cơ cấu tổ chức của loại hình công ty cổ phần quy định trong Luật doanh nghiệp.

Cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành ở Ngân hàng thương mại cổ phần gồm nhiều phòng ban và cấp quản lý đặc biệt hệ thống kiểm soát nội bộ khá lớn. Tuy nhiên, bộ máy quản lý chính tại Ngân hàng thương mại cổ phần được phân biệt theo chức năng với hai cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành và cấp quản lý kinh doanh. Tùy thuộc vào quy mô hoạt động của từng Ngân hàng thương mại cổ phần thì bộ máy quản trị điều hành cũng sẽ khác nhau tuy nhiên nhìn chung tất cả các Tổ chức tín dụng hiện đang hoạt động tại Việt Nam thì bộ máy quản trị điều hành đều phải có: hội đồng quản trị, ban kiểm soát và ban Tổng giám đốc. Tổng giám đốc sẽ chi phối điều hành các công việc hằng ngày vì vậy dưới ban tổng giám đốc sẽ có bộ máy trực thuộc để hoạt động kinh doanh. Tiêu chuẩn năng lực của bộ máy quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần được quy định rất rõ trong Luật các Tổ chức tín dụng, ngoài ra thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản trị điều hành như thành viên hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc phải được sự phê chuẩn của Ngân hàng nhà nước dựa theo đề nghị của Hội đồng quản trị. Nhiệm vụ chức năng của bộ máy điều hành Ngân hàng thương mại cổ phần như sau:

Hội đồng quản trị: Giữ vai trò quản trị Tổ chức tín dụng, số lượng thành viên tối thiểu là 5 thành viên và tối đa là 11 thành viên, trong đó có ít nhất 1 thành viên độc lập. Hội đồng quản trị phải có ít nhất một phần hai tổng số thành viên là thành viên độc lập và thành viên không phải là người điều hành Tổ chức tín dụng. Ngoài ra, Chủ tịch của Hội đồng quản trị không được đồng thời tham gia hội đồng quản trị hoặc quản lý điều hành tổ chức tín dụng khác.

Ban kiểm soát: Giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật, điều lệ của Tổ chức tín dụng, tình hình tài chính trong việc quản trị điều hành Tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông. Ngoài ra, ban kiểm soát còn có bộ phận giúp việc là bộ phận kiểm toán nội bộ để thực hiện nhiệm vụ của mình. Số thành viên trong ban kiểm soát tối thiểu là 3 người, đồng thời số thành viên của ban kiểm soát tối thiểu một phần hai là thành viên chuyên trách. Trong đó, một người làm trưởng ban kiểm soát hoạt động theo chế độ chuyên trách, nhiệm kỳ của ban kiểm soát là không quá 5 năm.

Tổng giám đốc: là người điều hành cao nhất của Tổ chức tín dụng, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Tổng giám đốc phải là những người có trình độ chuyên môn, năng lực điều hành một tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm. Giúp việc cho tổng giám đốc là phó tổng giám đốc. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

1.1.2.3 Mối quan hệ giữa pháp luật doanh nghiệp và pháp luật chuyên ngành trong điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản trị và hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam:

Các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam có thể được thành lập dưới các dạng: công ty cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc có thể là hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên, phần lớn các Tổ chức tín dụng trong nước được thành lập theo mô hình công ty cổ phần. Do đó, các Ngân hàng thương mại cổ phần bản thân chúng là các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Nhưng nó là công ty cổ phần với loại hình đặc biệt cơ cấu tổ chức và thành lập Ngân hàng thương mại cổ phần chịu sự chi phối bởi Luật doanh nghiệp và Luật các Tổ chức tín dụng.

Trên nền tảng quy định của Luật doanh nghiệp, Ngân hàng thương mại cổ phần còn phải tuân thủ các quy định của Luật các tổ chức tín dụng từ việc thành lập cho đến tổ chức hoạt động, điều hành trong Ngân hàng thương mại cổ phần. Vì các pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng là một trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện nên trước khi thành lập các Tổ chức tín dụng phải có đủ các điều kiện thành lập mới được cấp phép như: vốn pháp định tối thiểu 3.000 tỷ đồng, có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, có quy chế quản lý nội bộ về tổ chức hoạt động.

Đối với mô hình hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần thì giống mô hình hoạt động của công ty cổ phần tuy nhiên trong Luật các tổ chức tín dụng quy định rõ các thành phần quản trị điều hành bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, Tổng giám đốc trong khi trong tại điều 134 Luật doanh nghiệp cho phép công ty cổ phần được lựa chọn cơ cấu tổ chức hoạt động theo hai mô hình có ban kiểm soát hoặc không có ban kiểm soát. Như vậy, với quy mô phải có tối thiểu 100 cổ đông, không hạn chế số lượng tối đa và ngành nghề kinh doanh đặc thù nên tất các các Ngân hàng thương mại cổ phần đều phải hoạt động theo mô hình phải có ban kiểm soát và ban kiểm soát giữ vai trò quan trọng trong việc điều hành giám sát hoạt động của ngân hàng.

1.1.3. Quyền của cổ đông trong Ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Để tạo ra môi trường đầu tư lành mạnh, bảo vệ các nhà đầu tư thì nhà nước phải sử dụng pháp luật làm công cụ để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, theo đó Luật doanh nghiệp đã quy định rất rõ về quyền của cổ đông khi thực hiện việc góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Những cơ chế kiểm soát bên trong thông qua cấu trúc quản trị nội bộ, hay cơ chế kiểm soát bên ngoài và thiết chế đảm bảo thực thi pháp luật là những yếu tố bổ trợ, yếu tố đảm bảo là điều kiện cho các quyền cổ đông được thực thi nhằm bảo vệ cổ đông.

Một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật doanh nghiệp là bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của cổ đông, đảm bảo sự công bằng giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cổ đông. Khoản 5 điều 113 Luật doanh nghiệp 2010 quy định “mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền và lợi ích ngang nhau”. Đối với cổ đông đầu tư vào các Ngân hàng thương mại vì đây là ngành nghề thuộc lĩnh vực lĩnh vực đặc thù của nền kinh tế nên nhà nước sẽ kiểm soát chặt việc chi phối của từng doanh nghiệp này. Do đó, ngoài việc bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông theo Luật doanh nghiệp thì Luật các tổ chức tín dụng cũng là phương tiện bảo vệ hiệu quả đối với các cổ đông.

1.1.3.1. Quyền mua và chuyển nhượng cổ phần

Theo khoản 3 điều 53 Luật các tổ chức tín dụng quy định “các cổ đông được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông”, điều khoản này cũng được quy định trong Luật doanh nghiệp tuy nhiên với quyền mua thêm cổ phần phải tuân thủ về tỷ lệ sở hữu tối đa đối với từng cổ đông là cá nhân – tối đa 5% vốn điều lệ hoặc cổ đông là tổ chức – tối đa 15% vốn điều lệ. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Theo quy định tại Khoản 6 Điều 5 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 “tổ chức tín dụng phải có tối thiểu 100 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa”, ngoài ra số lượng tối đa với cổ đông là cá nhân chỉ được sở hữu là 5% vốn điều lệ và 15% vốn điều lệ đối với cổ đông là tổ chức, đây là các điều khoản nhằm tránh sự chi phối của cổ đông lớn gây ra bất lợi cho các cổ đông nhỏ nên luật cũng hạn chế việc sở hữu của các cổ đông tránh sự ảnh hưởng của cổ đông lớn trong việc điều hành Ngân hàng thương mại nhằm gây bất lợi cho cổ đông nhỏ. Ngoài ra, đối với cổ phần ưu đãi cổ tức do chính Ngân hàng thương mại phát hành thì các đối tượng là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và người quản lý điều hành khác của Ngân hàng thương mại không được quyền mua đối với loại cổ phần này.

Đối với việc chuyển nhượng cổ phần, Luật doanh nghiệp cho phép tự do chuyển nhượng cổ phần ngoại trừ một số trường hợp hạn chế hoặc Điều lệ công ty quy định. Tuy nhiên, để tránh việc các cổ đông chuyển nhượng cổ phần gây bất lợi cho các cổ đông khác thông qua việc đẩy giá trị cổ phần tăng cao trong thời gian điều hành quản lý ngân hàng và bán lại số cổ phần đang sở hữu để thu lợi. Luật các Tổ chức tín dụng đã hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần đối với các cổ đông đang là người quản lý, điều hành trực tiếp ngân hàng trong thời gian đảm nhiệm chức vụ và trong thời gian xử lý hậu quả theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc của Ngân hàng nhà nước.

1.1.3.2. Quyền tiếp cận thông tin và quản trị

Đây là một trong những quyền cơ bản nhất của cổ đông, trên nguyên tắc đảm bảo sự công bằng về quyền và lợi giữa các cổ đông tại khoản 1 điều 114 Luật doanh nghiệp và khoản 6 điều 53 Luật các Tổ chức tín dụng đều quy định rất rõ việc này. Với quyền tiếp cận thông tin các cổ đông có thể tiếp cận được các nguồn thông tin về tình hình kinh doanh, tình hình tài chính, điều lệ và các quy định nội bộ của ngân hàng, từ những thông tin có được các cổ đông sẽ biết cách sử dụng hiệu quả các quyền khác để bảo vệ mình như quyền khởi kiện, quyền về quản trị công ty, quyền yêu cầu mua lại cổ phần. Ngoài ra, đối với các cổ phiếu của ngân hàng được niêm yết đại chúng trên thị trường chứng khoán thì thông tin được quy định phải niêm yết công khai tình hình kinh doanh, tài chính và những thông tin giao dịch bất thường quy định tại chương VIII Luật chứng khoán về việc công bố thông tin điều này giúp cổ đông dễ dàng tiếp cận với thông tin đầy đủ và kịp thời.

Tuy nhiên, việc tiếp cận thông tin còn phụ thuộc vào tỷ lệ sở hữu cổ phần, tại khoản 2 điều 114 Luật doanh nghiệp quy định với những cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng mới có đầy đủ các quyền của cổ đông như: được đề cử người vào Hội đồng quản trị và BKS, được xem xét các nghị quyết của hội đồng quản trị và báo cáo tài chính. Hơn nữa, với những nhóm cổ đông lớn còn có quyền yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề quản lý điều hành. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ trong việc tiếp cận thông tin quản trị của doanh nghiệp trong việc nắm giữ cổ phần và cổ đông nhỏ sẽ chịu rủi ro nhiều hơn so với cổ đông lớn vì quyền tiếp cận thông tin bị bất cân xứng. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

1.1.3.3. Quyền dự họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông

Cơ quan quản lý cao nhất của loại hình công ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông và phải thực hiện họp thường niên mỗi năm một lần theo quy định tại khoản 1 điều 136 Luật doanh nghiệp. Việc tham gia vào cuộc họp thường niên này giúp các cổ đông nắm rõ hoạt động kinh doanh của ngân hàng hằng năm, vì vậy việc tham dự họp là quyền của các cổ đông tại khoản 1 điều 114 Luật doanh nghiệp và khoản 1 điều 53 Luật các Tổ chức tín dụng quy định mỗi cổ đông phổ thông đều có quyền tham dự họp đại hội đồng cổ đông và được quyền phát biểu ý kiến, mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết.

Trong thực tế, không phải tất cả cổ đông đều được tham dự cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hoặc sự có mặt của các cổ đông nhỏ lẻ gần như chỉ để đủ cơ cấu. Với những thay đổi điều lệ hoạt động hoặc kế hoạch kinh doanh, nhiều Tổ chức tín dụng đã chỉ lấy ý kiến của các cổ đông lớn mà bỏ qua các cổ đông nhỏ. Do một số Tổ chức tín dụng đã quy định trong Điều lệ là chỉ có những cổ đông với một mức sở hữu cổ phần nhất định mới được quyền trực tiếp tham dự họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, không mời nhà đầu tư nhỏ lẻ đến dự Đại hội đồng cổ đông hoặc không cung cấp tài liệu cho các nhà đầu tư này trước khi họp Đại hội đồng cổ đông. Vì vậy, các cổ đông sở hữu ít cổ phần không liên kết thành nhóm có đủ điều kiện thì đương nhiên mất quyền dự họp và biểu quyết. Ngoài ra, các Công ty cổ phần thường đưa ra lý do giảm chi phí cho việc tổ chức cuộc họp, dễ dàng sắp xếp cơ sở vật chất cho việc tổ chức họp, đây là sự phân biệt đối xử đối với cổ đông thiểu số, vi phạm quyền cơ bản của cổ đông theo quy định tại điều 114 Luật doanh nghiệp và điều 53 Luật các Tổ chức tín dụng. Khi các cổ đông nhỏ bị hạn chế quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông, đồng nghĩa với việc mất đi quyền tiếp cận, trao đổi, chất vấn ban lãnh đạo thì không thể đảm bảo tính khách quan, công bằng. Việc mất quyền dự họp diễn ra thường xuyên sẽ làm cho các nhà đầu tư mất lòng tin vào những quy định của pháp luật và ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế.

1.1.3.4. Quyền bầu, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị

Đây là nhóm quyền liên quan đến việc tham gia vào quản trị của cổ đông, nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích trực tiếp của cổ đông. Hội đồng quản trị đóng vai trò trung tâm trong cơ cấu quản trị công ty của một doanh nghiệp. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm cuối cùng không chỉ về các vấn đề quản trị mà còn chủ động gánh vác và hoàn thành các trách nhiệm mà công ty trông đợi Hội đồng quản trị giải quyết. Do đó, việc bầu thành viên Hội đồng quản trị là quyền của các cổ đông. Tuy nhiên, đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần thì các cổ đông chỉ được quyền đề xuất thành viên Hội đồng quản trị còn quyền phê chuẩn đồng ý thuộc về thẩm quyền của cơ quan quản lý là Ngân hàng nhà nước.

Theo khoản 2 và khoản 4 điều 114 Luật doanh nghiệp quy định các cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục sáu tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại điều lệ của công ty thì có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và ban kiểm soát. Tùy theo quyết định của ĐHĐCĐ thì các cổ đông/nhóm cổ đông được quyền đề cử một hoặc một số người làm ứng viên Hội đồng quản trị. Đối với bầu thành viên Hội đồng quản trị thì tại khoản 9 điều 53 Luật các Tổ chức tín dụng quy định các cổ đông phổ thông được ứng cử, đề cử người vào Hội đồng quản trị theo quy định điều lệ của Tổ chức tín dụng hoặc theo quy định của pháp luật. Như vậy, Luật các Tổ chức tín dụng không quy định mức sở hữu tối thiểu số lượng cổ phần để đề cử vào Hội đồng quản trị mà để các Tổ chức tín dụng tự quyết định phân chia số lượng thành viên Hội đồng quản trị. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

1.1.3.5. Quyền yêu cầu mua lại cổ phần

Các cổ đông có quyền yêu cầu Công ty cổ phần mua lại phần vốn góp của mình, đây được xem như một trong các quyền quan trọng để bảo vệ cổ đông thiểu số. Khi cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông theo quy định tại điều lệ có quyền yêu cầu Công ty cổ phần mua lại cổ phần của mình, yêu cầu này phải được lập thành văn bản và gửi đến Công ty cổ phần trong vòng 10 kể từ ngày nghị quyết được thông qua. Như vậy, đối với cơ chế này luật doanh nghiệp cho phép các cổ đông tự bảo vệ chính họ khi các cổ đông lớn đưa ra những thay đổi có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chính bản thân của cổ đông nhỏ hoặc trong trường hợp công ty bị thâu tóm bởi nhóm cổ đông lớn và họ chiếm tỷ lệ đa số để thay đổi những quy định của công ty theo hướng có lợi cho cổ đông lớn nhằm gây thiệt hại cho cổ đông nhỏ. Tuy nhiên, việc cổ đông yêu cầu mua lại cổ phần đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần thì còn phải chịu tác động bởi Luật các Tổ chức tín dụng, không phải tất cả mọi yêu cầu của cổ đông về việc mua lại cổ phần đều được thực hiện mà Ngân hàng thương mại cổ phần chỉ được mua lại cổ phần khi vẫn đảm bảo được các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng, giá trị thực của vốn điều lệ không được giảm hơn mức vốn pháp định.

Về cơ chế xác định giá mua Luật doanh nghiệp quy định Công ty cổ phần phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông với giá trị thị trường hoặc giá tính theo nguyên tắc tại Điều lệ trong thời gian 90 ngày kể từ ngày yêu cầu, trong trường hợp không thỏa thuận được giá thì các bên có thể thuê một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp để định giá.

1.1.3.6. Quyền khởi kiện người quản lý

Điểm mới và nổi bật của Luật doanh nghiệp 2015 so với các Luật doanh nghiệp trước đây chính là bổ sung thêm quyền khởi kiện của các cổ đông đối với người quản lý điều hành doanh nghiệp như: thành viên hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc. Theo quy định tại điều 161 Luật doanh nghiệp quy định cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông trong thời hạn 6 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc. Khởi kiện người quản lý công ty được xem là một trong các quyền cơ bản của cổ đông và nó đã nhiều lần được Ngân hàng thế giới sử dụng là tiêu chí quan trọng để đánh giá về mức độ bảo vệ nhà đầu tư của các nền kinh tế. Theo báo cáo kinh doanh năm 2016 của Ngân hàng thế giới, mức độ bảo vệ cổ đông thiểu số (protecting minority investors) của Việt Nam đứng thứ 118 trong số 189 nền kinh tế khác trên thế giới, chỉ số này được cải thiện rất nhiều trong các năm qua, năm 2006 là 170 trong tổng số 174 nền kinh tế và năm 2008 là 170 trong tổng số 181 nền kinh tế. Các tiêu chí để xếp hạng của Ngân hàng thế giới đối với chỉ số bảo vệ nhà đầu tư dựa trên các tiêu chí như: tính minh bạch trong các giao dịch, tính chịu trách nhiệm của giám đốc, khả năng của các cổ đông trong việc kiện những người điều hành quản lý với những hành vi sai trái, các chỉ số ưu tiên trong việc bảo vệ nhà đầu tư. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Quyền khởi kiện người quản lý có thể xem đây là quyền tự vệ của cổ đông. Theo PGS-TS Phạm Duy Nghĩa thì “Không ai hiểu doanh nghiệp rõ hơn là các nhà quản trị, thông tin “tay trong” dễ dàng có thể biến thành tiền có lợi cho cá nhân và gia đình họ. Cổ đông phải dựa vào thông tin do người quản trị cung cấp, bởi vậy họ cần được bảo vệ trước những luồng thông tin bất cân xứng. Nếu pháp luật và các thiết chế thực thi còn kém hiệu quả thì những nhà đầu tư này buộc phải tìm cách bảo vệ đồng tiền của họ; họ tìm cách tiệm cận với mọi nguồn thông tin và can dự vào tất cả các quyết định kinh doanh có thể ảnh hưởng đáng kể đến nguồn vốn đầu tư”. Bằng việc ghi nhận quyền khởi kiện của người quản lý công ty trong luật đã thể hiện được 2 mục đích cơ bản. Thứ nhất, tạo điều kiện cho cổ đông phục hồi lại những quyền bị mất do hành vi vi phạm của người quản lý gây ra. Thứ hai, pháp luật đã tạo ra một cơ chế răn đe đối với người quản lý để họ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận của mình.

1.1.3.7. Quyền của nhóm cổ đông thiểu số

Hai hay nhiều cổ đông có thể liên kết với nhau thành nhóm cổ đông để gia tăng số lượng cổ phần nắm giữ từ đó gia tăng quyền trong việc được cung cấp tài liệu, đề cử người tham gia vào Hội đồng quản trị, ban kiểm soát. Tại khoản 2 điều 114 Luật doanh nghiệp quy định cổ đông/nhóm cổ đông sở hữu từ 10% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục 6 tháng hoặc quy định tỷ lệ nhỏ hơn theo điều lệ công ty. Như vậy, các cổ đông nhỏ khi thực hiện liên kết với nhau để tăng tỷ lệ sở hữu hơn 10% thì ngoài những quyền của cổ đông phổ thông; cổ đông, nhóm cổ đông sẽ có thêm một số quyền quan trọng như: đề cử người vào Hội đồng quản trị và ban kiểm soát; xem xét và trích lục các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính hằng năm, yêu cầu ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh.

Đối với Luật doanh nghiệp không quy định tỷ lệ sở hữu tối đa đối với các doanh nghiệp, cá nhân. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn trong hoạt động điều hành tín dụng, điều 55 Luật các Tổ chức tín dụng quy định rất cụ thể về tỷ lệ sở hữu tối đa của mỗi thành viên trong Ngân hàng thương mại cổ phần, đối với cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ; cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ; cổ đông và người có liên quan đến cổ đông thì không được sở hữu quá 20% vốn điều lệ. Luật các Tổ chức tín dụng quy định tỷ lệ sở hữu tối đa nhằm hạn chế việc cá nhân hay tổ chức chi phối nắm giữ nhiều cổ phần để chi phối toàn bộ hoạt động, lợi dụng quyền hạn để làm những việc mang lại lợi ích cá nhân, điều này cũng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông nhỏ trong việc đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng.

1.2 Sự cần thiết và vai trò của việc bảo vệ cổ đông trong Ngân hàng thương mại cổ phần. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

1.2.1 Sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông trong ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Hạn chế sự lạm quyền của người quản lý công ty:

Mô hình hoạt động hiện tại của các Ngân hàng thương mại cổ phần phân biệt chủ yếu theo hai cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành và cấp quản lý kinh doanh. Một là Cấp quản trị điều hành là Hội đồng quản trị gồm Chủ tịch Hội đồng quản trị và một số thành viên chuyên trách, làm việc theo chế độ tập thể. Về nguyên tắc Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý đối với mọi hoạt động của Ngân hàng thương mại, chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn; ban hành điều lệ, các cơ chế, qui chế tổ chức và hoạt động của ngân hàng. Hai là cấp quản lý kinh doanh là Ban điều hành gồm Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng và các phòng ban tham mưu giúp việc tại hội sở chính. Như vậy, với mô hình này thì Hội đồng quản trị thực hiện nhiệm vụ xây dựng chiến lược và Ban tổng giám đốc chịu trách nhiệm thực hiện chiến lược đó.

Với những cổ đông sở hữu tỷ lệ cổ phần từ 10% vốn điều lệ trở lên là có quyền đề cử người tham gia vào Hội đồng quản trị, tùy theo điều lệ của từng Ngân hàng thương mại cổ phần quy định số lượng cổ phần sở hữu tương ứng với số lượng người đề cử vào Hội đồng quản trị, như vậy với những cổ đông sở hữu nhiều cổ phần thì có thể chiếc ghế Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ thuộc về nhóm cổ đông sở hữu nhiều cổ phần. Vì vậy, việc điều hành kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần sẽ không tránh khỏi việc lạm dụng quyền chi phối của Hội đồng quản trị lên người quản lý.

1.2.1.2. Mối quan hệ bất bình đẳng giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ.

Dựa vào tỷ lệ sở hữu cổ phần mà cổ đông nắm giữ để phân loại cổ đông, được chia thành hai loại: cổ đông sở hữu nhiều vốn còn gọi là cổ đông lớn và cổ đông sở hữu ít vốn còn gọi là cổ đông nhỏ. Theo Luật doanh nghiệp quy định tất cả các cổ đông đều có quyền và lợi ích đối với phần vốn góp của mình nhưng không phải tất cả các cổ đông đều có các quyền lợi, khả năng tham gia chi phối hoạt động, kiểm soát công ty giống nhau. Khi có mâu thuẫn, tranh chấp thì “cổ đông lớn có khả năng lợi dụng sức mạnh để bóc lột cổ đông thiểu số”. Với cổ đông lớn thì sẽ có quyền cử người tham gia vào Hội đồng quản trị và chiếm đa số thành viên trong Hội đồng quản trị, khi đó họ có khả năng sẽ chi phối tới việc ra quyết định và đưa những người nhà vào các vị trí quản lý, điều hành và kiểm soát. Vì vậy, các cổ đông lớn có thể lợi dụng vào việc này để thông qua các quyết định các giao dịch nhằm mang lại lợi ích cho bản thân họ nhằm gây thiệt hại đến lợi ích của cổ đông nhỏ trong Ngân hàng. Vì thế, người ta thường gọi người quản lý trong công ty cùng với các cổ đông lớn là người nhà, kẻ bên trong còn cổ đông nhỏ bị coi là “người ngoài”.

Cổ đông nhỏ luôn là trung tâm của quản trị và là đối tượng mà các nhà làm luật luôn phải quan tâm khi xây dựng pháp luật doanh nghiệp. Cổ đông nhỏ chiếm số lượng đa số, rất đông có thể lên đến 90% số lượng cổ đông trong Ngân hàng thương mại cổ phần nhưng tỷ lệ cổ phần mà tất cả họ nắm giữ lại rất nhỏ không đáng kể so với cổ đông lớn và hầu như họ chẳng có vai trò gì trong quản trị điều hành ngân hàng. Do nắm số lượng cổ phần thấp nên họ không có bất kỳ quyền hoặc được cung cấp các thông tin nội bộ và luôn bị cổ đông lớn áp đảo và nắm quyền biểu quyết, thông qua các quyết định. Vì số lượng cổ đông thiểu số thường nhiều ở những công ty đại chúng nên họ thường không biết nhau trong khi các cổ đông lớn lại quá hiểu về nhau thậm chí còn liên kết với nhau để thông qua các quyết định đường lối, chính sách phát triển công ty. Khi họp Đại hội đồng cổ đông người ta hầu như không thấy được vai trò của cổ đông thiểu số tại cuộc họp, mà chủ yếu chỉ tập trung nghe và “tiếp thu” các đề xuất từ phía cổ đông lớn.

1.2.2. Vai trò của việc bảo vệ cổ đông Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

1.2.2.1. Vai trò đối với công ty và nhà đầu tư

Đối với nhà đầu tư khi bỏ tiền ra mua cổ phần đồng nghĩa với việc bỏ tiền ra mua thứ tài sản vô hình được gọi là cổ phần, khi thì được xác nhận bởi một tờ cổ phiếu, khi chỉ được ghi nhận qua bút toán hoặc danh sách cổ đông. Giá trị cổ phần phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp phát hành ra nó, khi doanh nghiệp bị phá sản thì cổ phần chẳng có giá trị nhiều hơn mảnh giấy đã dùng để in ra nó. Thị trường chứng khoán và các Ngân hàng thương mại cổ phần sẽ lớn mạnh nếu (i) nhà đầu tư có cơ sở tin rằng những thông tin về doanh nghiệp, kế hoạch kinh doanh cũng như tương lại của doanh nghiệp do người quản trị đưa ra là đáng tin cậy, (ii) người quản trị doanh nghiệp thu tiền của dân để kinh doanh một cách hợp lý vì lợi ích của cổ đông chứ không vì lợi ích riêng của bản thân và gia đình họ mà bóc lột của cổ đông thiểu số. Chính vì vậy, việc bảo vệ nhà đầu tư, cổ đông trước những thông tin bất cân xứng là trọng tâm của pháp luật để giúp nhà đầu tư yên tâm khi ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp.

Các cổ đông sở hữu số vốn góp lớn luôn có khả năng chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động của công ty, còn cổ đông nhỏ do sự yếu thế hơn về tỷ lệ sở hữu cổ phần nên khả năng tham gia quản lý, điều hành và giám sát hoạt động của công ty luôn bị hạn chế và kéo theo đó là quyền lợi của họ không được đảm bảo, thậm chí là luôn bị các cổ đông lớn chèn ép, xâm phạm quyền lợi. Do đó, thông qua việc bảo vệ cổ đông giúp các doanh nghiệp minh bạch hóa thông tin nội bộ công ty và giúp cho cô đông nhỏ thực hiện quyền giám sát hoạt động của doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được rủi ro bị người quản lý lợi dụng gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty.

1.2.2.2 Vai trò thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và thu hút đầu tư

Việc đánh giá môi trường đầu tư kinh doanh của Ngân hàng thế giới trong những năm vừa qua đối với các quốc gia trong đó chỉ tiêu quan trọng được đưa ra để đánh giá là việc bảo vệ nhà đầu tư. Vì nhà đầu tư sẽ không bỏ vốn kinh doanh nếu quyền và lợi ích chính đáng của họ không được pháp luật bảo đảm thực Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Chính vì vậy, trong quá trình sửa đổi Luật doanh nghiệp, từ Luật công ty 1990 sau ba lần sửa đổi đến Luật doanh nghiệp 2015 thì vai trò bảo vệ cổ đông thiểu số được gia tăng lên theo sự thay đổi của Luật doanh nghiệp. Việc đánh giá chỉ số bảo vệ nhà đầu tư của Việt Nam cũng gia tăng qua các năm trong báo cáo của Ngân hàng thế giới, năm 2009 xếp hạng 170 trong tổng số 180 nền kinh tế toàn cầu và đứng trong nhóm yếu kém nhất trên thế giới. Tuy nhiên, chỉ số này dần được cải thiện đến năm 2014 chỉ số này là 157 trong tổng số 189 nền kinh tế và đến 2016 tức là sau khi Luật doanh nghiệp 2015 có hiệu lực thì chỉ số này gia tăng đáng kể lên mức 118 trong tổng 189 nền kinh tế. Tại báo cáo kinh doanh 2017 của Ngân hàng thế giới thì Việt Nam được đánh giá tăng chỉ số bảo vệ cổ đông thiểu số qua các điểm, một là dễ dàng kiện ban giám đốc trong trường hợp gây thiệt hại từ việc thực hiện các giao dịch giữa các bên liên quan; hai là tăng cường quyền của cổ đông và vai trò chính trong việc ra quyết định; ba là tăng cường cơ cấu sở hữu và kiểm soát của công ty; bốn là tăng các yêu cầu đối với việc minh bạch thông tin công ty.

Việc bảo vệ cổ đông thiểu số trong Luật doanh nghiệp 2015 thể hiện rất rõ nét trong việc thay đổi một số nội dung: (i) giảm tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông, với quyết định thông thường là 51% và quyết định quan trọng là 65% (theo điều 144 Luật doanh nghiệp) trong khi theo Luật doanh nghiệp 2005 tỷ lệ này là 65% và 75%; (ii) giảm tỷ lệ tham dự họp đối với điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông, lần thứ nhất và lần thứ hai tương ứng là 51% và 33% (theo điều 141 Luật doanh nghiệp) trong khi theo Luật doanh nghiệp 2005 tỷ lệ này là 65% và 51%; (iii) quyền khởi kiện người quản lý công ty (theo điều 161 Luật doanh nghiệp); (iv) yêu cầu công khai hóa thông tin kịp thời, đầy đủ đối với công ty cổ phần (theo điều 171 Luật doanh nghiệp). Việc thay đổi Luật doanh nghiệp trong giai đoạn này cũng là bước tiến tốt trong việc gia tăng vai trò bảo vệ nhà đầu tư nhằm để gia tăng thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển nền kinh tế. Bởi vì, khi quyền lợi của các cổ đông trong công ty cổ phần được bảo đảm, thì các nhà đầu tư sẽ yên tâm trong hoạt động đầu tư, kinh doanh của mình. Từ đó, góp phần làm lành mạnh môi trường kinh doanh và nâng cao hiệu quả của việc huy động vốn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, bảo vệ được quyền lợi của cổ đông còn là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư.

1.2.2.3. Đảm bảo sự phát triển của loại hình công ty cổ phần và thị trường chứng khoán

Phương thức đầu tư của các nhà đầu tư vào nền kinh tế gồm hai loại: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Nếu đầu tư trực tiếp vào nền kinh tế thì sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm thêm cho xã hội trong khi đầu tư gián tiếp là một kênh có thể huy động tiền nhàn rỗi trong dân cư vào nền kinh tế thông qua việc đầu tư mua cổ phần trong một số doanh nghiệp. Vì vậy, trong trường hợp các nhà đầu tư không an tâm với số vốn bỏ ra đầu tư sẽ làm cho nền kinh tế chậm phát triển vì nguồn tiền nhàn rỗi lúc này sẽ được sử dụng qua các kênh truyền thống và an toàn như gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ. Việc bảo vệ cổ đông, bảo vệ các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nhỏ là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán của một quốc gia.

Khi các nhà đầu tư được bảo vệ thì quy mô đầu tư sẽ gia tăng bên cạnh sự gia tăng về số lượng và chất lượng các nhà đầu tư cũng sẽ tăng nhanh bởi vì họ sẽ tự tin hơn trong việc bảo vốn vào các doanh nghiệp vì quyền lợi của họ được pháp luật bảo vệ. Nếu pháp luật thực hiện tốt việc bảo vệ cho các cổ đông nhỏ có thể thu hút nguồn vốn thừa trong dân đang để dưới sang sổ tiết kiệm thành các khoản đầu tư vào nền kinh tế. Nghiên cứu của Giáo sư Bradley nhấn mạnh rằng tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ yếu kém hơn ở những nền kinh tế có mức độ bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn và có chuẩn mực quản trị công ty tốt. Kinh nghiệm của Thái Lan, Nhật Bản, Singapore và Indonesia trong cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương cuối thế kỷ 20 có thể coi là một minh chứng.

1.3 Cách thức và biện pháp bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

1.3.1 Cách thức bảo vệ quyền lợi của cổ đông

1.3.1.1 Bảo vệ cổ đông bằng công cụ pháp luật

CTCP hay Ngân hàng thương mại cổ phần đều là các pháp nhân để được công nhận sự tồn tại của nó thông qua các văn kiện pháp lý cấu tạo nên. Theo Luật doanh nghiệp quy định đối với hai văn kiện chính này bao gồm: giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và điều lệ công ty. Bản điều lệ công ty trước hết là do các cổ đông sáng lập tạo nên, (i) về mục đích nó quy định quyền hạn và bổn phận của các cổ đông, của các thành viên hội đồng quản trị, (ii) về tác dụng nó điều chỉnh các hoạt động nội bộ của công ty, (iii) về pháp lý nó bản hợp đồng giữa công ty với các cổ đông và giữa các cổ đông với nhau. Các tính năng của điều lệ nghe chừng có vẻ là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các mối quan hệ trong công ty tuy nhiên trên thực tế điều lệ chỉ là công cụ tăng thêm quyền cho các cổ đông lớn vì vậy việc bảo vệ cổ đông thiểu số không thể chỉ trông cậy vào bản điều lệ. Mặc khác, khi mà phần lớn nhiều Công ty cổ phần không quan tâm đến việc soạn thảo bản điều lệ theo đúng với thực trạng của mình mà thường sử dụng bản điều lệ mẫu rất đơn giản. Như vậy, nhà nước bằng công cụ pháp luật phải đặt ra các nguyên tắc, quy định nhằm giúp các cổ đông thiểu số có thể bảo vệ chính mình. Với các công ty cổ phần đại chúng được niêm yết trên thị trường chứng khoán thì việc bảo vệ các cổ đông trong công ty sẽ có thêm công cụ hỗ trợ nữa là Luật chứng khoán. Tóm lại, nhà nước sử dụng công cụ pháp luật để bảo vệ cổ đông qua các hình thức sau: (i) quy định về quyền của cổ đông đặc biệt là cổ đông thiểu số, Luật doanh nghiệp 2015 đã bổ sung phần quyền khởi kiện dành cho cổ đông thiểu số, (ii) quy định về nghĩa vụ của chủ thể có liên quan đến quyền và lợi ích của cổ đông, (iii) tạo điều kiện cho cổ đông thực hiện các quyền khi thực tế xảy ra tranh chấp.

1.3.1.2. Bảo vệ cổ đông thông qua cơ chế điều chỉnh của điều lệ.

Cùng với các quy định của pháp luật, điều lệ là một trong những văn bản quy định nội bộ doanh nghiệp do các cổ đông sáng lập công ty lập ra, nó điều chỉnh các quan hệ về điều hành quản lý, giải quyết các vấn đề phát sinh và định hướng phát triển trong một doanh nghiệp. Ngoài ra, điều lệ còn là bản hợp đồng giữa các cổ đông với nhau giữa doanh nghiệp với các cổ đông, do đó việc xây dựng bản điều lệ càng chi tiết sẽ giảm thiểu được các vấn đề phát sinh tranh chấp. Hậu quả của việc xây dựng bản điều lệ sơ xài là khi công ty đi vào hoạt động sẽ xảy ra hàng loạt các tranh chấp vì bản điều lệ không có những quy định cụ thể đúng với thực trạng của công ty. Vì vậy, theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2015, tất cả các công ty được thành lập đều phải có điều lệ và nó phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp với quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn. Tại điều 25 Luật doanh nghiệp quy định rất chi tiết về những nội dung của bản điều lệ và có nội dung khá quan trọng là ngoài những quy định bắt buộc của Luật doanh nghiệp đối với điều lệ công ty thì điều lệ công ty còn bao gồm những nội dung khác do thành viên, cổ đông thỏa thuận nhưng không được trái với quy định của pháp luật, như vậy một công ty khi soạn thảo bản điều lệ thì có thể thêm nội dung khác mà mình thấy cần thiết. Đối với các công ty niêm yết phải thực hiện xây dựng theo điều lệ mẫu theo quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 và phải xây dựng quy chế quản trị công ty theo quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ tài chính. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Tuy nói bản điều là quy định quyền và nghĩa vụ của các cổ đông nhưng nó chính là sự sắp đặt mà người sáng lập công ty đưa ra nhằm cân bằng quyền lợi trong công ty ở một mức độ nào đó để có thể thu hút được nhiều vốn mà vẫn giữ được quyền kiểm soát cho mình. Vì thế, ngoài những ràng buộc của luật không thể thay đổi được thì cổ đông sáng lập sẽ tính toán để giải quyết hai vấn đề chính (i) dành cho các cổ đông những quyền lợi như thế nào để khuyến khích họ bỏ tiền vào công ty của mình; (ii) ấn định trung tâm quyền lực trong công ty, phân chia quyền hành giữa Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị. Bản điều lệ có thể được xem là “hiến pháp” của công ty do đó khi có những thay đổi liên quan đến điều lệ phải được cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty thông qua là Đại hội đồng cổ đông với tỷ lệ thể hiện ý chí đồng thuận cao nhất của các cổ đông. Vì vậy, việc bảo vệ cổ đông ngoài công cụ pháp luật thì còn có bản điều lệ công ty tuy nhiên trên thực tế nhiều doanh nghiệp đã làm ra bản điều lệ với quyền lợi nghiên về phía nhóm cổ đông lớn nắm quyền chi phối hoặc cổ đông sáng lập ra công ty.

1.3.2. Biện pháp bảo vệ quyền lợi của cổ đông

1.3.2.1 Về điều kiện họp và thông qua quyết định của đại hội cổ đông.

Điều 141 Luật doanh nghiệp 2014 quy định cuộc họp được tiến hành khi có cổ đông dự họp đại diện cho ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết thay vì là 65% tổng số phiếu biểu quyết theo Luật doanh nghiệp 2005. Đối với điều kiện diễn ra cuộc họp triệu tập lần hai khi cuộc họp thứ nhất không đủ điều tiến hành họp với tỷ lệ tối thiểu 33% tổng số phiếu biểu quyết tham dự họp thay vì là 51% tổng số phiếu biểu quyết theo Luật doanh nghiệp 2005, và việc triệu tập họp lần ba là không phụ thuộc vào số lượng phiếu biểu quyết của cổ đông. Như vậy, Luật doanh nghiệp 2015 đã thay đổi lớn ở điều kiện tham dự họp theo đúng với thông lệ quốc tế và cam kết gia nhập WTO. Luật công ty của nhiều nước phát triển quy định điều kiện để thông qua các quyết định thông thường của Đại hội đồng cổ đông là ít nhất 51% tổng sổ cổ phần có quyền biểu quyết như Luật công ty của Australia, New Zealand, Trung Quốc, và nhiều tiểu bang ở Hoa Kỳ. Thậm chí luật công ty của Đức không quy định phải có số cổ đông đại diện ít nhất bao nhiêu phần trăm trong tổng số cổ phần có quyền biểu quyết để đại hội có thể tiến hành hoặc có thể quyết nghị.

Luật các Tổ chức tín dụng không quy định về điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông vì vậy các Ngân hàng thương mại cổ phần phải tuân thủ theo điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông của Luật doanh nghiệp tuy nhiên tại khoản 3 điều 59 Luật các Tổ chức tín dụng quy định tỷ lệ số phiếu biểu quyết thông qua tại cuộc họp là 51% tổng số phiếu biểu quyết đối với việc phê chuẩn quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng quản trị, ban kiểm soát và 65% tổng số phiếu biểu quyết với những vấn đề liên quan đến việc thay đổi điều lệ, vốn điều lệ, đầu tư mua bán tài sản và việc chia tách hợp nhất. Như vậy, việc tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông của các Ngân hàng thương mại cổ phần phải có tỷ lệ tham dự họp tối thiểu là 65% tổng số phiếu biểu quyết khi nội dung họp liên quan đến các vấn đề quan trọng như nêu trên. Đây là sự thiếu thống nhất trong pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Việc quy định tỷ lệ tham dự họp hay tỷ lệ thông qua quyết định tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông là 51% hay 65% đôi khi cũng không thể bảo vệ được các cổ đông thiểu số trong một số trường hợp như Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương, tổng số cổ phần đang lưu hành là 3,597,768,575 cổ phần trong số đó thì cổ đông nhà nước nắm giữ 77,11% vốn điều lệ còn lại là cổ đông nước ngoài chiếm 15% vốn điều lệ và nhóm cổ đông nhỏ chiếm 7,89% vốn điều lệ. Do đó, ở Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương thì tất cả mọi việc đều do cổ đông nhà nước quyết định, các cổ đông khác đành phải chấp nhận theo cổ đông lớn. Tuy nhiên, trong trường hợp của Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam thì quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông tham dự họp lại phát huy hiệu quả. Ngày 29/4/2016 Đại hội đồng cổ đông thường niên của Eximbank bất thành vì chỉ có tổng số cổ đông đại diện cho 617 triệu cổ phần với tỷ lệ là 50,19% cổ đông có quyền biểu quyết đến dự họp. Theo quy định của pháp luật và điều lệ Eximbank, tổng số cổ đông dự họp thấp hơn tỷ lệ 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, không đủ điều kiện tiến hành Đại hội. Chính vì điều kiện này mà Đại hội đồng cổ đông của Eximbank trong năm 2016 đã diễn ra bất thành do thiếu tỷ lệ tham dự họp theo quy định của luật và điều lệ.

1.3.2.2. Thông qua phương thức bầu dồn phiếu

Cơ chế bầu dồn phiếu là mỗi cổ đông có sẽ có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân cho số lượng thành viên được bầu của Hội đồng quản trị hoặc ban kiểm soát và cổ đông có quyền dồn hết hoặc một phần tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên. Đặc điểm quan trọng của bầu dồn phiếu là các cổ đông có quyền cùng nhau lập nhóm để đề cử và dồn phiếu bầu cho người do họ đề cử, số lượng ứng cử viên mà mỗi nhóm đề cử phụ thuộc vào số lượng ứng cử viên do đại hội quyết định và tỷ lệ sở hữu cổ phần của mỗi nhóm. Như vậy, cổ đông hoặc nhóm cổ đông chỉ nắm 10%, thậm chí ít hơn số phiếu bầu cũng có thể đưa được người đại diện của mình vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, thay vì ít nhất phải 51% như bầu cử thông thường. Nếu bầu cử theo cách thức bình thường, thì số người trúng cử hoàn toàn phụ thuộc vào số phiếu bầu của một nhóm sở hữu đa số cổ phần có quyền biểu quyết (trên 50%) trong mọi trường hợp. Còn bầu cử theo phương thức dồn phiếu, nhóm cổ đông đa số chỉ bầu được đa số, chứ không phải là toàn bộ số người trúng cử. Bên cạnh đó, số lượng thành viên được bầu dồn phiếu càng nhiều, thì nhóm cổ đông thiểu số càng có nhiều cơ hội bầu được số ứng viên sát với tỷ lệ biểu quyết của mình. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Khác với Luật Doanh nghiệp 2005 là việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, khoản 3 điều 144 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định nếu điều lệ công ty không quy định khác việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu. Như vậy, phương thức bầu dồn phiếu không được quy định bắt buộc thực hiện như Luật Doanh nghiệp 2005 (Điểm c Khoản 3 Điều 104).

Với quy định của Luật doanh nghiệp 2015 theo nguyên tắc biểu quyết quá bán của Hội đồng quản trị, thì dù theo phương thức bầu dồn phiếu đại diện của cổ đông thiểu số cũng không thể ngăn chặn lại các quyết định của Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, dù đại diện của nhóm cổ đông thiểu số chiếm số ít trong Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và ý kiến của họ cũng không làm ảnh hưởng đến quyết định của đại diện nhóm cổ đông lớn nhưng sự có mặt của họ cũng buộc các thành viên khác phải quan tâm đến lợi ích của cổ đông thiểu số. Ngoài ra, khi đại diện của cổ đông thiểu số là thành viên của Hội đồng quản trị thì họ còn có thể nắm được thông tin liên quan đến hoạt động của công ty và giám sát việc công khai thông tin của Hội đồng quản trị và người quản lý công ty. Vì vậy, phương thức bầu dồn phiếu là một trong những cách thức bảo vệ cổ đông thiểu số nhưng trong Luật doanh nghiệp 2015 thì phương thức bầu dồn phiếu không còn là quy định bắt buộc nữa. Tuy nhiên, đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần thì vẫn phải thực hiện bầu thành viên Hội đồng quản trị và ban kiểm soát theo phương thức bầu dồn phiếu theo quy định tại điểm d khoản 3 điều 59 Luật các Tổ chức tín dụng.

1.3.2.3. Quy định về nghĩa vụ của người quản lý điều hành

Người quản lý điều hành doanh nghiệp có vai trò đặc biệt trong công tác quản trị công ty, những người quản lý điều hành có thể được thuê bên ngoài hoặc đại diện vốn cho cổ đông tuy nhiên giữa người quản lý và các cổ đông, thành viên chưa chắc đã có chung mục đích và lợi ích. Có thể người quản lý công ty chính là người chủ sở hữu – cổ đông, tuy nhiên dù cho họ có là cổ đông hay là người làm thuê thì vẫn có khả năng họ không trung thực và vì lợi ích của cá nhân mình thay vì đặt mục tiêu lợi ích của công ty lên hàng đầu. Chính vì vậy, việc giám sát người quản lý công ty cũng là một trong những việc có thể bảo vệ cổ đông.

Các Ngân hàng thương mại cổ phần là các doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt động của các ngân hàng cũng có những yếu tố khác xa với các công ty. Sự không rõ ràng của một số nguồn thông tin tài chính khiến khó đánh giá chất lượng hoạt động và rủi ro; độ rủi ro lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạt động là rất cao và rất dễ dẫn đến phá sản; chịu sự quản lý chặt chẽ với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng. Các cổ đông ngân hàng phải chịu nhiều rủi ro lớn hơn nhiều so với các doanh nghiệp phi tài chính về quản trị doanh nghiệp hơn, lợi ích của cá nhân quản lý và sự chiếm dụng công khai của ban điều hành như: đầu tư sở hữu chéo, đầu tư ngoài ngành, cho vay các công ty sân sau của người quản trị điều hành. Cả Luật doanh nghiệp và Luật các Tổ chức tín dụng đều quy định rất rõ nghĩa vụ của người quản lý đối với doanh nghiệp mà họ điều hành. Tuy nhiên, trong thực tế cho thấy ngành ngân hàng tại Việt Nam trong thời gian qua, hàng loạt các vụ án xảy ra trong ngành ngân hàng toàn bộ liên quan đến người quản lý điều hành đã lạm dụng quyền hạn thực hiện các hành vi nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích cá nhân và gây thiệt hại cho Tổ chức tín dụng mà họ điều hành, như: đầu tư sở hữu chéo, bị mua lại với giá 0 đồng, bị sáp nhập lại với nhau.

1.3.2.4. Thông qua việc kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi

Giao dịch tư lợi là một khái niệm không chính thức trong pháp luật thực định của Việt Nam, tuy nhiên, thường được hiểu là giao dịch giữa một bên là công ty/doanh nghiệp và một bên là bao gồm nhưng không giới hạn trong cổ đông, thành viên, người quản lý hoặc người có liên quan của các đối tượng đã nêu hoặc công ty con, công ty liên kết, công ty khác mà người quản lý của công ty có lợi ích liên quan. Để giám sát các giao dịch có tư lợi tốt hơn những năm trước, Luật doanh nghiệp 2015 quy định việc kiểm soát các giao dịch tư lợi chặt chẽ hơn Luật doanh nghiệp 2005, cụ thể là (i) giao dịch với cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần của công ty và những người có liên quan của họ thay vì tỷ lệ sở hữu là 35% như Luật doanh nghiệp 2005; (ii) Hội đồng quản trị được chấp thuận các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất, tỷ lệ này trong luật doanh nghiệp 2005 là 50%. Như vậy, với việc kiểm soát các giao dịch tư lợi nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số thì Luật doanh nghiệp có mức độ bảo vệ tốt hơn.

Với quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng về việc kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi bị cấm thực hiện hoặc hạn chế thực hiện được quy định rõ nét và kiểm soát chặt chẽ hơn. Tại điều 126 Luật các Tổ chức tín dụng quy định rất rõ về những đối tượng không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng với các điều kiện ưu đãi. Luật các Tổ chức tín dụng 2010 mở rộng thêm đối tượng bị cấm giao dịch tín dụng bao gồm cả pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm soát. So với luật Tổ chức tín dụng 2007 đối tượng bị cấm giao dịch tín dụng với ngân hàng chỉ là cá nhân. Ngân hàng là hoạt động trong lĩnh vực tài chính do đó việc kiểm soát sự an toàn của Tổ chức tín dụng là cần thiết do đó các giao dịch có khả năng tư lợi là bị cấm hoàn toàn. Chẳng hạn như đối tượng không được vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần mình đang làm việc gồm: Thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, ban kiểm soát và những người có liên quan đến các chức danh này. Việc cấm các giao dịch với các đối tượng liên quan này xảy ra trong ngân hàng là một trong những cách giảm thiểu việc thực hiện giao dịch tư lợi do trong trường hợp những đối tượng này thực hiện việc vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần mà mình đang nắm giữ quyền điều hành sẽ dễ dẫn đến việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những điều kiện của khoản vay sẽ dễ có nguy cơ mất vốn và vỡ nợ gây thiệt hại cho cổ đông.

1.3.2.5. Về quy định đối với ban kiểm soát Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

Điểm mới của Luật doanh nghiệp 2015 so với các Luật doanh nghiệp trước đó là lần đầu tiên thừa nhận và đưa vào luật một mô hình quản lý Công ty cổ phần không có ban kiểm soát, mà hiện nay phần lớn các quốc gia trên thế giới đang áp dụng phổ biến. Với mô hình này, chức năng giám sát được chuyển về Hội đồng quản trị, xoá bỏ ban kiểm soát. Tuy nhiên, giúp việc cho Hội đồng quản trị sẽ có ban kiểm toán nội bộ và các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát, tổ chức thực hiện chức năng giám sát và kiểm soát đối với việc quản lý điều hành Công ty cổ phần. Theo tài liệu cho Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2017 của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) tăng số lượng thành viên Hội đồng quản trị từ 6 tăng lên 9 người nhằm thực hiện các nghĩa vụ của Hội đồng quản trị theo mô hình mới. Theo đó, Vinamilk sẽ thay đổi cơ cấu quản trị từ mô hình Ban Kiểm soát sang mô hình Tiểu ban Kiểm toán (tên gọi khác là Ban Kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng Quản trị). Đây có thể là doanh nghiệp đầu tiên thực hiện chuyển đổi từ mô hình cũ sang cơ chế một cấp theo quy định mới của Luật doanh nghiệp.

Đối với lĩnh vực kinh doanh đặc thù thì luật quy định về và trò và nhiệm vụ của Ban kiểm soát rất chặt chẽ và chi tiết, theo điều 44 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 cơ cấu ban kiểm soát sẽ gồm ban kiểm soát nội bộ và ban kiểm toán nội bộ. Nhiệm kỳ của ban kiểm toán không qua 5 năm và có ít nhất 3 thành viên trong đó một phần hai tổng số thành viên là chuyên trách.

Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Ban kiểm soát, trong đó có hai nguyên nhân chủ yếu là (i) sự phức tạp trong quá trình quản lý công ty và quan hệ giữa các cổ đông; và (ii) sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp Công ty cổ phần. Do đó, cơ cấu ban kiểm soát là đại diện của cổ đông kiểm tra giám sát hoạt động của Công ty cổ phần nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cổ đông nhỏ. Tuy nhiên, trên thực tế vai trò của Ban kiểm soát chưa được thể hiện đúng chức năng của luật quy định.

KẾT LUẬN CHƯƠNG I Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

NHTMCP là loại hình hoạt động như một Công ty cổ phần với ngành nghề kinh doanh có điều kiện và được chi phối bởi Luật các Tổ chức tín dụng và Luật doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức và mô hình hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giống như mô hình của Công ty cổ phần đại chúng có rất nhiều cổ đông và quy mô lớn. Quyền và lợi ích của cổ đông được đảm bảo đầy đủ theo luật doanh nghiệp, ngoài ra với Luật các Tổ chức tín dụng có một số điều khoản quy định nhằm bảo vệ cổ đông chặt chẽ hơn. Do ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực đặc thù đối với nền kinh tế vì vậy trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần thì vai trò của Ban kiểm soát đặc biệt quan trọng hơn so với mô hình Công ty cổ phần để kiểm soát các giao dịch nội bộ và bên ngoài của Ngân hàng thương mại cổ phần.

Đối với việc quản lý và kiểm soát Ngân hàng thương mại cổ phần thì Ngân hàng nhà nước tham gia quá sâu vào hoạt động điều hành của ngân hàng đặc biệt đối với các chức danh là thành viên Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc phải được sự chấp thuận của Ngân hàng nhà nước dựa trên danh sách đề cử của Đại hội đồng cổ đông thì mới đủ điều kiện tham gia điều hành Ngân hàng thương mại cổ phần. Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần

One thought on “Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464