Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam khu vực miền Trung dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Quan điểm, chính sách chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục pháp luật cho các phạm nhân tại trại giam khu vực miền Trung
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vai trò lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động của Nhà nước và xã hội; bởi vậy, hoạt động Giáo dục pháp luật nói chung, Giáo dục pháp luật cho các đối tượng xã hội cụ thể nói riêng phải luôn bám sát quan điểm, đường lối và gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm, coi trọng Giáo dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân, cho từng nhóm đối tượng xã hội vì Giáo dục pháp luật là biện pháp hữu hiệu để đưa thông tin, kiến thức pháp luật đến với nhân dân nói chung, đội ngũ Cán bộ công chức, viên chức nói riêng; mặt khác, khẳng định Nhà nước ta luôn đảm bảo tôn trọng quyền con người, quyền công dân, mọi người đếu bình đẳng trước pháp luật.
Nghị quyết Đại hội VI đã xác định: “Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật… Cán bộ quản lý các cấp, từ trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết về pháp luật. Cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật”. Mục tiêu của công tác Giáo dục pháp luật được Đảng ta xác định: “Tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng”. Chủ thể, hình thức Giáo dục pháp luật cũng đã được Đảng ta đề cập rất cụ thể trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII:
Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật. Huy động các lực lượng đoàn thể, chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong các cơ quan nhà nước và xã hội.
Giải pháp có tính thực tiễn để phát huy vai trò của Giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các tầng lớp nhân dân là: “Các luật ban hành cần đảm bảo tính khả thi, dễ hiểu, quy định cụ thể để giảm bớt tình trạng phải chờ đợi quá nhiều văn bản hướng dẫn mới thi hành được. Tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích, giáo dục pháp luật để nhân dân hiểu và tự giác chấp hành”. Đại hội IX tiếp tục khẳng định: “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”.
Điểm mốc quan trọng nhất đánh dấu sự quan tâm mạnh mẽ và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật là Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Mục tiêu, yêu cầu xuyên suốt của Chỉ thị này là: công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cần được tăng cường thường xuyên, liên tục và ở tầm cao hơn, nhằm làm cho cán bộ, nhân dân hiểu biết pháp luật và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thông qua đó mà kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật; đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của pháp luật trong điều chỉnh các lĩnh vực, các quan hệ xã hội. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Việc quán triệt những quan điểm, đường lối của Đảng về phổ biến, Giáo dục pháp luật chính là cơ sở để xây dựng các giải pháp khả thi, phù hợp bảo đảm Giáo dục pháp luật cho các đối tượng xã hội khác nhau; đồng thời, vận dụng các quan điểm, đường lối đó vào Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam hiện nay.
Về truyền thống dân tộc và tư tưởng bao dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh: dân tộc ta có truyền thống “yêu nước, thương người”, “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại” và “lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Kế thừa truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng, người ta mới sinh ra vốn đều chưa rõ tốt xấu, nhưng về sau do ảnh hưởng của môi trường xã hội, giáo dục, mà dần dần mỗi người một khác nhau.
Về chính sách hình sự về giáo dục cải tạo phạm nhân: chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta còn thể hiện rõ trong mục đích của hình phạt. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ: tổ chức triển khai thi hành pháp luật về thi hành án hình sự; chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự; tổng kết công tác thi hành án hình sự. Đồng thời, cơ quan này còn có một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể: tổ chức kiểm tra công tác thi hành án hình sự thuộc lực lượng công an nhân dân; quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án; trực tiếp quản lý các TG thuộc Bộ Công an; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sựt; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Công an giao.
Một trong những nhiệm vụ cụ thể thuộc nhiệm vụ, quyền hạn kể trên của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an là lãnh đạo, chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng các quy định pháp luật về Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG thuộc Bộ Công an cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác này. Để thực hiện nhiệm vụ đó, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an đã tổ chức xây dựng, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG hoặc có liên quan đến công tác này, như phối hợp với Viện Khoa học giáo dục Việt Nam biên soạn bộ tài liệu “Giáo dục công dân” dành cho PN, trong đó có phần Giáo dục pháp luật. Công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG phải dựa trên nội dung, tinh thần của các văn bản đó nhằm bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án hình sự; đồng thời, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, nề nếp của công tác này.
Với tư cách là cơ quan thi hành án phạt tù, một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của TG thuộc Bộ Công an là tiếp nhận, tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo PN, trong đó có việc tổ chức Giáo dục pháp luật cho PN. Trên cơ sở các quy định pháp luật, các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, các TG là nơi trực tiếp tổ chức Giáo dục pháp luật cho PN dưới sự chỉ đạo, điều hành của Giám thị TG và các Phó giám thị TG (thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Giám thị theo sự phân công hoặc ủy quyền của Giám thị và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao). Chính vì vậy, công tác Giáo dục pháp luật cho PN cũng phải luôn đặt dưới sự chỉ đạo, điều hành của TG.
3.2. Các nguyên tắc cơ bản trong giáo dục pháp luật Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về giáo dục pháp luật cho phạm nhân: đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ đã có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi mỗi phạm nhân phải tuyệt đối chấp hành các quy định pháp luật về nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức và thời lượng giáo dục pháp luật mà chủ thể giáo dục đã xây dựng và triển khai dành riêng cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trong các trại giam; phải có tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm cao trong việc học tập pháp luật để vừa vận dụng, phục vụ trực tiếp cho quá trình chấp hành án phạt tù, vừa chuẩn bị hành trang kiến thức pháp luật để tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù.
Nguyên tắc kết hợp giữa quản lý nghiêm khắc và đối xử nhân đạo với phạm nhân: Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục. Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt.
Nguyên tắc phối kết hợp chặt chẽ giữa trại giam, các cơ quan hữu quan, gia đình phạm nhân và bản thân mỗi phạm nhân
Công tác giáo dục pháp luật không chỉ là trách nhiệm của cá nhân, cơ quan hay đơn vị chức năng, mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên: Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, các tổ chức, cơ quan, đoàn thể xã hội, nhà trường, gia đình và sự nỗ lực của mỗi cá nhân. Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa trại giam, các cơ quan hữu quan, gia đình phạm nhân và bản thân mỗi phạm nhân.
Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật cho phạm nhân với giáo dục công dân, dạy văn hóa: phạm nhân phải học pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hoá, học nghề. Phạm nhân chưa biết chữ phải học văn hoá để xoá mù chữ. Phạm nhân là người nước ngoài được khuyến khích học tiếng Việt. Việc quán triệt quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật cho phạm nhân với giáo dục công dân, dạy văn hóa và dạy nghề cho họ là nhằm bảo đảm tính đồng bộ, hài hòa và hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam.
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giáo dục pháp luật tại các trại giam Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
3.3.1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy hướng dẫn tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho phạm nhân
Nhằm tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân đảm bảo hiện thực hóa mục đích của hình phạt, Nhà nước, các cơ quan chức năng cần xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có các quy định cụ thể về chủ thể, nội dung, hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân theo quy định của pháp luật.
Thứ nhất, về phía cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm về phổ biến, giáo dục pháp luật cần:
- Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phổ biến, giáo dục pháp luật;
- Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;
- Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật; Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật;
- Thống kê, tổng kết về phổ biến, giáo dục pháp luật;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong phổ biến, giáo dục pháp luật;
- Hợp tác quốc tế về phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ hai, nội dung tuyên truyền, giáo dục cần đề cập đến nội dung chính sau:
Những thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và của địa phương; những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước liên quan đến phạm nhân và tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù;
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, pháp luật; Quyền và nghĩa vụ của phạm nhân được quy định trong Luật Thi hành án hình sự; Luật đặc xá và các văn bản hướng dẫn thi hành khác;
Quy định về tội phạm, hình phạt, về hoãn, tạm đình chỉ, miễn, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, về đặc xá, xóa án tích và những nội dung cơ bản, cần thiết khác được quy định trong các Nghị quyết của Quốc hội, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Cư trú, Luật Giáo dục, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy nội địa, Luật Dạy nghề, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đặc xá, Luật Phòng, chống ma túy, Luật Phòng, chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS);
- Nội quy trại giam và các quy định về tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, xếp loại chấp hành án phạt tù;
- Những quy tắc cơ bản về nếp sống trật tự, văn minh trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ;
- Các chuẩn mực đạo đức xã hội trong các mối quan hệ với bản thân, với người khác, với công việc, với gia đình và cộng đồng;
- Các kỹ năng sống cơ bản, cần thiết đối với phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù và tái hòa nhập cộng đồng;
- Một số vấn đề cơ bản về lịch sử, văn hóa và truyền thống của dân tộc Việt Nam.
3.3.2. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra, thực hiện công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Kiểm tra, giám sát (KTGS) là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng; đồng thời, là biện pháp cơ bản, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB,ĐV) quản lý trại giam.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, cùng với việc đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, công tác Kiểm tra giám sát và thi hành kỷ luật Đảng (THKLĐ) luôn được bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho phù hợp với yêu cầu của công tác xây dựng Đảng và rèn luyện đội ngũ CB,ĐV. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa X) đã bổ sung hai nội dung quan trọng về công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng. Thứ nhất, cấp ủy và ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp được giao nhiệm vụ giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương. Thứ hai, tăng thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ đối với đảng viên. Mục đích của công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng là nhằm xây dựng các tổ chức đảng và đội ngũ CB,ĐV trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao. Trong đó, giám sát là việc làm thường xuyên, liên tục để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các vi phạm ngay từ lúc manh nha. Cùng với giám sát, kiểm tra là để làm rõ đúng, sai, kết luận và xử lý các vi phạm; trên cơ sở đó, cấp ủy xem xét, thi hành kỷ luật theo đúng nguyên tắc, quyền hạn và mức độ vi phạm, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, nâng cao tính tiền phong, gương mẫu của CB,ĐV. Công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng luôn đi liền và hỗ trợ lẫn nhau, bám sát nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những sai phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng và CB,ĐV, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng.
Những năm qua, cùng với việc hoàn thiện cơ cấu, tổ chức, Ủy ban kiểm tra các cấp đã thực hiện tương đối toàn diện nhiệm vụ Kiểm tra giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng; trong đó, tập trung vào kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm và giải quyết kịp thời đơn, thư tố cáo, phục vụ cho công tác nhân sự đại hội đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, kiện toàn cấp ủy và các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp. Công tác Kiểm tra giám sát đã chú trọng kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng làm nhiệm vụ ở những lĩnh vực dễ nảy sinh khuyết điểm; tăng cường kiểm tra tài chính đảng đối với cấp ủy cấp dưới và cấp ủy cùng cấp, góp phần tích cực vào thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp đã chủ động tham mưu, giúp cấp ủy xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm và tính khả thi cao. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Công tác Thi hành kỷ luật đảng được cấp ủy và Ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục; bảo đảm công tâm, khách quan, từng bước khắc phục tình trạng kỷ luật “nhẹ trên, nặng dưới”, xử lý nội bộ… Qua đó, cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban kiểm tra các cấp đã kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý, những quy định không còn phù hợp, đề xuất với cấp có thẩm quyền nghiên cứu, bổ sung, góp phần hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm; củng cố tổ chức đảng ở những nơi yếu kém, phát huy vai trò, trách nhiệm, uy tín của đội ngũ CB,ĐV…
Tuy nhiên, đối chiếu với yêu cầu đề ra, công tác Kiểm tra giám sát còn bộc lộ những thiếu sót, khuyết điểm, như một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của công tác Kiểm tra giám sát của Đảng, còn xem đó là công việc của Ủy ban kiểm tra, nên thiếu quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, vi phạm nguyên tắc, mất đoàn kết nội bộ, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận CB,ĐV chậm được phát hiện, kiểm tra và xử lý; một số Ủy ban kiểm tra thực hiện chức năng, nhiệm vụ chưa toàn diện, chưa đạt hiệu quả cao, nhất là việc kiểm tra cấp ủy viên cùng cấp có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra tài chính của cấp ủy cùng cấp…
Để góp phần xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ CB,ĐV, các cấp uỷ cần tăng cường công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng theo đúng các nội dung và yêu cầu đã quy định. Theo đó, “Công tác Kiểm tra giám sát phải góp phần phát hiện và khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; bên cạnh việc tiếp tục thực hiện kiểm tra tổ chức và cá nhân đảng viên có dấu hiệu vi phạm, phải tăng cường chủ động giám sát, kiểm tra về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, CB,ĐV, về nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và việc chấp hành Điều lệ Đảng. Coi trọng kiểm tra, phát hiện nhân tố tích cực”. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Trước hết, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban kiểm tra các cấp và CB, ĐV đối với công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng. Cấp ủy các cấp cần nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng; đồng thời, tăng cường các biện pháp truyên truyền, giáo dục, nhằm tạo sự chuyển biến căn bản trong nhận thức và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Uỷ ban kiểm tra và mọi CB,ĐV. Đặc biệt, các cấp uỷ cần hết sức coi trọng công tác Kiểm tra giám sát đối với những nội dung liên quan đến việc chuẩn bị đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XI của Đảng; tập trung vào việc lựa chọn nhân sự cấp ủy, chấp hành nguyên tắc, thủ tục đại hội, tài chính của Đảng, giải quyết đơn, thư tố cáo… Cấp ủy các cấp, trước hết là đồng chí bí thư, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc và những quy định trong Điều lệ Đảng; thường xuyên sâu sát cơ sở, tăng cường kiểm tra nắm tình hình, tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, xác định các nội dung, biện pháp lãnh đạo, nhằm bảo đảm cho công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng mang lại hiệu quả thiết thực. Cùng với việc biểu dương kịp thời các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt công tác Kiểm tra giám sát, các cấp cần đấu tranh, phê phán những nhận thức không đúng, như: thiếu quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng, những biểu hiện của “bệnh hình thức”, ngại va chạm, thiếu tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, hoặc tư tưởng “gió chiều nào che chiều ấy”…
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần nắm vững phạm vi, trách nhiệm và những vấn đề cơ bản trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng. Do chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng khác nhau, nên phạm vi Kiểm tra giám sát cũng được quy định khác nhau. Vì thế, việc nắm vững phạm vi, trách nhiệm của các tổ chức đảng, bảo đảm cho công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng được tiến hành theo đúng quy định của Điều lệ Đảng; khắc phục được tình trạng chồng chéo nội dung và đối tượng Kiểm tra giám sát. Để làm được điều đó, các cấp cần đưa nội dung lãnh đạo công tác Kiểm tra giám sát vào nghị quyết của cấp ủy; cụ thể hóa các quy định trong Điều lệ Đảng, các chỉ thị, hướng dẫn của trên về công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng cho phù hợp với đặc điểm, tình hình của các tổ chức đảng. Việc tiến hành công tác Kiểm tra giám sát phải theo đúng tư tưởng chỉ đạo: “Chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”; gắn kiểm tra thường xuyên, định kỳ với kiểm tra những tổ chức đảng và CB, ĐV có dấu hiệu vi phạm. Các cấp uỷ cần tăng cường kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên là cán bộ chủ trì, nhất là những nơi có biểu hiện vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, quy chế làm việc, mất đoàn kết nội bộ, thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ… Trong quá trình tiến hành công tác Kiểm tra giám sát, cấp uỷ các cấp cần dựa vào tổ chức đảng, đảng viên, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình; gắn công tác Kiểm tra giám sát của Đảng với công tác thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân và của các đoàn thể chính trị-xã hội. Việc Thi hành kỷ luật đảng phải nghiêm minh, chính xác, kịp thời, theo đúng nội dung, quy trình xử lý vi phạm. Mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật đảng; nếu vi phạm phải xử lý, không có trường hợp ngoại lệ, không phân biệt chức vụ cao hay thấp, tuổi đảng nhiều hay ít… Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Để nâng cao hiệu quả công tác Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng, các tổ chức đảng cần thường xuyên quan tâm xây dựng, kiện toàn Ủy ban kiểm tra, cơ quan và cán bộ kiểm tra các cấp. Việc kiện toàn Ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra cần chú ý bảo đảm theo đúng quy định trong Điều lệ Đảng. Chủ nhiệm và ủy viên Ủy ban kiểm tra các cấp đều phải qua chế độ bầu cử (do hội nghị toàn thể của ban chấp hành bầu) và phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y. Ủy ban kiểm tra hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy cùng cấp; sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ủy ban kiểm tra cấp trên; bảo đảm theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, quyết định theo đa số. Trong quá trình hoạt động, Ủy ban kiểm tra các cấp phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định trong Điều lệ Đảng (Điều 32, chương VII); chủ động, tích cực làm tham mưu cho cấp uỷ thực hiện chức năng Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng; đồng thời, phải giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. Cấp uỷ các cấp cần quan tâm tới đội ngũ cán bộ làm công tác Kiểm tra giám sát, nhất là trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, luân chuyển… nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, cũng như chế độ, chính sách, để họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.
Cùng với đó, Ủy ban kiểm tra các cấp cần tăng cường tính chủ động trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ; tập trung giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc mà CB,ĐV và nhân dân quan tâm. Các tổ chức đảng cần tiến hành rà soát những vụ việc còn tồn đọng để chỉ đạo thẩm tra, xác minh, kết luận, nhất là những vấn đề liên quan đến đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XI của Đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục đổi mới phương pháp Kiểm tra giám sát và Thi hành kỷ luật đảng, theo hướng: tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ cùng cấp và sự kiểm tra của Ủy ban kiểm tra cấp trên đối với Ủy ban kiểm tra cấp dưới; kịp thời giải quyết các đơn, thư tố cáo, tập trung vào những CB, ĐV có liên quan đến nhân sự cấp ủy và đại biểu đi dự đại hội cấp trên; đồng thời, phát hiện những nhân tố điển hình tiên tiến để biểu dương, khen thưởng kịp thời.
Đối với cơ quan quản lý thi hành án là cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an có trách nhiệm tham mưu cho các cấp có thẩm quyền xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam.
Đối với cơ quan thi hành án là cơ quan trực tiếp tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân, sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện của Đảng ủy, Ban Giám thị, cán bộ chỉ huy đối với công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam có vai trò đặc biệt quan trọng, là khâu có tính chất đột phá, mở đường để khai thông công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân theo hướng chất lượng, hiệu quả và thiết thực.
Cụ thể cần tăng cường:
- Tổ chức triển khai thi hành pháp luật về thi hành án hình sự;
- Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
- Tổng kết công tác thi hành án hình sự. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
- Kiểm tra công tác thi hành án hình sự.
3.3.3. Bảo đảm các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực phục vụ công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam
Trong thời gian qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã có những chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực của pháp luật, hiệu quả quản lý của Nhà nước.Tuy nhiên, hiện nay công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại trại giam đang bộc lộ một số tồn tại, dẫn đến trình độ nhận thức pháp luật của một bộ phận cán bộ quản lý trại giam còn hạn chế.
Nguyên nhân của tình trạng trên là: Nhận thức chung của xã hội về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại trại giam chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này; Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mặc dù đã được áp dụng khá đa dạng, phong phú, song nhìn chung hiệu quả còn chưa cao, có một số hình thức chưa phù hợp với đối tượng tuyên truyền, phổ biến và tình hình thực tiễn; Đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn có mặt hạn chế và chưa đồng đều, đặc biệt là ở các trại giam; Cơ chế phối hợp giữa các trại giam trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn chưa đồng bộ, kém hiệu quả. Kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhìn chung còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác này.
Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường có định hướng Xã hội chủ nghĩa, trước xu thế hội nhập toàn diện đời sống kinh tế xã hội đất nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, vấn đề nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật để qua đó củng cố, tăng cường hiệu lực pháp luật đang trở nên cấp thiết. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên theo quan điểm tác giả cần tiến hành một số giải pháp sau:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo tăng cường thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại trại giam. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cần quán triệt Chỉ thị số 32/CT-TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, phổ biến, giáo dục pháp luật, qua đó tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của các tổ chức cơ sở Đảng của trại và đảng viên về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Các cấp ủy phải thường xuyên tiến hành xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật tại trại giam cấp mình và phải luôn xác định vai trò gương mẫu của các đảng viên và vai trò tiên phong của họ trong việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật. Đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, kịp thời đôn đốc, chỉ đạo xử lý những vướng mắc nảy sinh trong quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Bên cạnh việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thì sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn của Ban giám thị trại giam là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng. Để nâng cao chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, Ban giám thị trại giam cần thực hiện tốt những vấn đề sau:
Phải từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Ban giám thị trại nói chung và trong việc ra kế hoạch về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng. Trong quá trình hoạt động của mình, Ban giám thị trại không chỉ chú ý tới việc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật mà quan trọng hơn là phải chỉ đạo, giám sát hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, xem đây là biện pháp hàng đầu trong việc đảm bảo thi hành Hiến pháp và luật trong tại giam.
Hàng năm Ban giám thị trại cần chủ động xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật cho trại của mình.Kế hoạch phải phù hợp với đường lối, chủ trương của cấp trên và phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế, xã hội của từng trại.Thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm và khen thưởng kịp thời những người có thành tích xuất sắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Chú trọng xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật – vai trò quyết định chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật. Do vậy, cần tuyển chọn những người có phẩm chất, năng lực, trình độ, có khả năng tuyên truyền, giáo dục hoặc hòa giải tốt, có lòng nhiệt tình, say mê với công việc phổ biến, giáo dục pháp luật. Bên cạnh đó, phải đặc biệt chú trọng việc rà soát, phân loại, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp và định hướng nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật thường xuyên cho đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (chú ý cung cấp kiến thức, cần bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật, giúp họ không chỉ có kiến thức vững mà còn có khả năng thu hút người nghe và truyền đạt hiệu quả nội dung pháp luật).
Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật: Cần đổi mới nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng không chỉ đáp ứng nhu cầu kiến thức cơ bản về pháp luật, mà còn phải thiết thực, đáp ứng yêu cầu thực tiễn để một mặt nâng cao trình độ nhận thức cho các đối tượng, mặt khác giúp họ có khả năng vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống. Trên cơ sở nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật đã được cung cấp, các báo cáo viên biên soạn lại cụ thể, phù hợp với đặc điểm, điều kiện, trình độ nhận thức, tính chất công việc của từng đối tượng. Định kỳ có tiến hành sơ kết, đánh giá để xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xác định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật thời gian tiếp theo.
Cần đa dạng hóa hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật, không chỉ thông qua buổi lên lớp mà bằng những cách thức như tọa đàm, buổi nói chuyện, hoạt cảnh tình huống, lời ca, tiếng hát…
Ngoài ra, cần lồng ghép việc phổ biến, phổ biến, giáo dục pháp luật tại các buổi sinh hoạt trại.Chú trọng nâng cao hiệu quả hình thức thi tìm hiểu pháp luật. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Cơ sở hạ tầng của các trại giam tuy còn khó khăn nhưng đã có nhiều cải thiện, có điện lưới quốc gia, hệ thống giao thông được cải tạo, nâng cấp tốt hơn, nhiều buồng giam người bị kết án tử hình, phạm nhân phạm các tội xâm phạm ANQG và số buồng giam loại phạm nhân nguy hiểm đã được trang bị thiết bị nghe nhìn, máy dò kim loại. Tất cả các cơ sở giam giữ đã được trang bị hệ thống thông tin liên lạc, thu được tín hiệu của các kênh truyền hình Trung ương, địa phương nơi trại đóng; phương tiện phục vụ công tác, chiến đấu, vận tải hàng hoá, cấp cứu được tăng cường; tất cả các trại giam, đều được thành lập và xây dựng bệnh xá; có buồng điều trị cho phạm nhân tại trung tâm y tế cấp huyện, bệnh viện cấp tỉnh và bệnh viện chuyên khoa khu vực thuộc Bộ Y tế; nhiều trại giam được trang bị máy phân tích nước tiểu tự động, máy điện tim, máy chụp X-Quang, máy siêu âm, phục vụ yêu cầu khám, chữa bệnh cho phạm nhân và cán bộ. Nhiều trại đã được đầu tư nước sinh hoạt và xây dựng hệ thống nước thải sinh hoạt.
Cơ sở vật chất phục vụ cán bộ, chiến sĩ ở các trại giam, trại tạm giam và nhiều nhà tạm giữ cũng đã được quan tâm đầu tư, mở rộng diện tích nhà làm việc, nhà ăn tập thể, nhà doanh trại, xây dựng hệ thống đường giao thông, cấp nước sạch, trang bị máy tính đã cải thiện điều kiện làm việc, ở, sinh hoạt cho cán bộ, chiến sỹ.
Tuy nhiên, cần tăng cường đầu tư kinh phí để xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Đồng thời, bảo đảm kinh phí để củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
Kiện toàn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác thi hành án phạt tù đảm bảo đủ về số lượng và nâng cao trình độ chuyên môn. Hiện nay, đội ngũ cán bộ, chiến sỹ làm công tác thi hành án phạt tù tại Trại tạm giam miền Trung còn thiếu về lực lượng và trình độ nghiệp vụ chưa đồng đều. Ngoài ra, cần có chính sách hợp lý để thu hút cán bộ tốt nghiệp ngành ngoài đến công tác tại trại tạm giam, nhất là những người có trình độ về các lĩnh vực như: y tế, khoa học kỹ thuật, sư phạm, tâm lý… Lựa chọn cán bộ, chiến sĩ có khả năng đi đào tạo về khoa học kỹ thuật phục vụ yêu cầu công tác thi hành án phạt tù.
Đề xuất Bộ Công an, Ủy ban nhân dân các tỉnh miền Trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện cho lực lượng cán bộ, chiến sỹ làm công tác thi hành án phạt tù nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, như: hệ thống rào điện tử, máy camera, máy ghi âm, máy dò tìm kim loại, máy phá sóng điện thoại, phương tiện truy bắt phạm nhân trốn khỏi nơi giam… Nếu chưa có điều kiện trang bị ở từng buồng giam thì trước mắt nên trang bị các buồng giam có những phạm nhân chưa yên tâm tư tưởng cải tạo, thường xuyên vi phạm nội quy… Bố trí, lựa chọn cán bộ, chiến sỹ để đưa đi đào tạo về việc sử dụng, quản lý các phương tiện khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ lâu dài yêu cầu nhiệm vụ của công tác thi hành án phạt tù.
Định kỳ hàng tháng lãnh đạo trại tạm giam phải kiểm tra hồ sơ công tác của mạng lưới Cộng tác viên bí mật toàn trại. Đánh giá ưu, khuyết điểm của từng cán bộ, từng cơ sở thông qua các cuộc họp. Đề xuất Tổng cục Thi hành án Hình sự và Hỗ trợ tư pháp tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá về công tác xây dựng, sử dụng cơ sở bí mật, đặc tình trại tạm giam theo quí hoặc năm để rút kinh nghiệm ở TTG, mở lớp tập huấn cho cán bộ, chiến sĩ làm công tác thi hành án phạt tù tại các trại tạm giam công an tỉnh, thành phố theo định kỳ hàng năm để cập nhật kiến thức, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong công tác xây dựng, lãnh đạo và sử dụng Cộng tác viên bí mật. Phải thường xuyên tổ chức tập huấn cho cán bộ, chiến sỹ theo các phương án phòng chống đột xuất, nhất là phương án vũ trang bảo vệ trại tạm giam và chốt chặn truy bắt phạm nhân trốn trại. Sau mỗi đợt tập huấn Ban Giám thị trại phải có nhận xét, đánh giá rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả khi xử lý tình huống.
3.3.4. Nâng cao trình độ kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Để bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam thì nhất thiết phải nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam.
Thời gian quan, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện các nhiệm vụ được giao của cán bộ làm công tác tuyên truyền pháp luật tại các trại giam còn bộc lộ một số khó khăn, hạn chế như sau:
Sự quan tâm của lãnh đạo trại đối với công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng đội ngũ người làm công tác tuyên truyền còn hạn chế, dẫn đến nguồn lực đảm bảo cho công tác tuyên truyền của trại còn gặp một số khó khăn, hạn chế nhất định.
Năng lực, trình độ của đội ngũ người làm công tác tuyên truyền ở một số trại còn chưa cao, có lúc, có nơi còn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Nhằm tiếp tục kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng đội ngũ người làm công tác tuyên truyền pháp luật ở các trại theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả, thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ người làm công tác tuyên truyền. Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện nội dung, phương pháp đào tạo bảo đảm cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu các trại. Có cơ chế thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ làm công tác tuyên truyền, để đảm bảo đội ngũ này luôn có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình và cách thức tổ chức đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay. Rà soát và chỉnh sửa chương trình đào tạo để tiếp cận dần tới mục tiêu ra trường người học có thể thực hiện ngay nhiệm vụ xây dựng pháp luật. Nâng cao trình độ chuyên môn và phương pháp giảng dạy cho đội ngũ giảng viên. Thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy những môn học trực tiếp liên quan đến công tác xây dựng pháp luật theo hướng lấy tình huống thực tiễn để người học có được tư duy cũng như kĩ năng giải quyết vấn đề.
Cần nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng các trại trong việc bố trí, đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác tuyên truyền pháp luật; bảo đảm nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của trại. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế tranh thủ tối đa các nguồn tài trợ của cơ quan, tổ chức, nhất là các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực tuyên truyền pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác tuyên truyền pháp luật.
3.3.5. Đổi mới giáo dục pháp luật cho phạm nhân
- Về nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân:
Ngoài những nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân có tính chất “quy định cứng”, tùy theo tỷ lệ thống kê tội danh mà phạm nhân đã phạm phải, phụ thuộc vào tình hình tội phạm tái phạm, tái phạm nguy hiểm, cán bộ giáo dục pháp luật có thể chủ động đề xuất với Ban Giám thị trại giam xây dựng những chuyên đề giáo dục pháp luật có tính chất hẹp, chuyên sâu hơn để giảng dạy cho phạm nhân nhằm ngăn ngừa diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm ở khu vực có thể tác động tiêu cực tới phạm nhân sau khi họ ra trại, khiến họ có thể tái phạm.
- Về hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân:
Hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam được sử dụng phổ biến, bắt buộc lâu nay là học tập tập trung trên lớp. Ngoài việc tập trung tối đa cơ sở vật chất, nhân lực nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hình thức này, các trại giam cần tiếp tục đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật khác phù hợp với điều kiện của từng trại giam.
3.3.6. Xã hội hóa công tác tuyên truyền pháp luật
Xã hội hóa công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân:Công tác giáo dục cải tạo, hướng nghiệp, đào tạo nghề cho phạm nhân đã có nhiều đổi mới, cải cách mang ý nghĩa nhân văn, tạo môi trường thuận lợi để phạm nhân học tập, lao động, rèn luyện, cải tạo tiến bộ. Đã thực hiện chủ trương xã hội hóa một bước công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân.
Để nâng cao chất lượng công tác giáo dục cải tạo phạm nhân, những năm qua Bộ Công an đã ban hành Nội quy trại giam, Quy chế dân chủ trong trại giam; quy định hoạt động hoà giải, Ban tự quản phạm nhân; ban hành 4 tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, quy định xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù và phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Cơ quan tuyên huấn, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam và một số cơ quan tổ chức nghiên cứu khoa học về giáo dục ban hành các Thông tư liên tịch hướng dẫn về giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, dạy văn hóa, dạy nghề cho phạm nhân và triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phổ biến pháp luật cho phạm nhân; phối hợp trong công tác giáo dục phạm nhân nữ, phạm nhân trong độ tuổi trưởng thành và giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng; tổ chức học xoá mù chữ cho số phạm nhân không biết chữ.
Trong hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân, Ban tự quản phạm nhân, nhất là Tiểu ban học tập, văn hóa cần phát huy vai trò tích cực, là cầu nối giữa phạm nhân với Ban Giám thị, cán bộ giáo dục pháp luật của trại giam, phản ánh kịp thời tâm tư, tình cảm, khả năng học tập, tiếp thu kiến thức pháp luật của phạm nhân với Giám thị, Hội đồng giáo dục, cán bộ giáo dục pháp luật để kịp thời đề ra phương hướng, biện pháp tháo gỡ khó khăn, động viên, giúp đỡ những phạm nhân yếu kém trong học tập.
Bản thân mỗi phạm nhân cần nhận thức được rằng, việc trại giam tổ chức hoạt động giáo dục pháp cho phạm nhân trong các trại giam là sự thể hiện chính sách nhân đạo, nhân văn của Đảng, Nhà nước đối với phạm nhân, phục vụ trực tiếp cho việc hiện thực hóa mục đích của hình phạt. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Việc duy trì, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, có chế tài khen thưởng kịp thời – kỷ luật nghiêm minh đối với phạm nhân trong quá trình tham dự hoạt động giáo dục pháp luật là một biện pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này.
Đề xuất Ủy ban nhân dân các tỉnh, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, công ty, xí nghiệp hỗ trợ tài chính, trang bị kỹ thuật dạy nghề để trại tạm giam tổ chức dạy nghề định hướng nghề nghiệp cho phạm nhân. Địa phương và các tổ chức xã hội nơi phạm nhân về cư trú cần có chương trình, kế hoạch cụ thể để hỗ trợ, giúp đỡ họ về tái hòa nhập cộng đồng không bị bỡ ngỡ, xa lánh và bỏ rơi.
Công tác vận động quần chúng nhất là quần chúng nhân dân nơi đơn vị đóng quân có nhiều dân cư từ những nơi khác đến nên được phổ biến, tuyên truyền sâu rộng để tranh thủ sự ủng hộ, tham gia vào công tác quản lý và giáo dục phạm nhân nói chung của trại. Phối hợp với thân nhân phạm nhân trong công tác giáo dục giúp phạm nhân yên tâm cải tạo, chấp hành tốt nội quy tích cực học tập lao động trở thành người có ích cho xã hội.
3.4. Một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục pháp luật tại các trại giam khu vực miền Trung
Chế độ, chính sách của Nhà nước đối với PN là sự thể chế hóa quan điểm đối xử của Nhà nước ta đối với những người bị kết án phạt tù nhằm bảo đảm hiệu quả của công tác thi hành án phạt tù, giáo dục, định hướng PN trở thành người có ích cho xã hội. Do vị trí địa lý, điều kiện tư nhiên, văn hóa –xã hội Miền Trung khác với các vùng miền khác của cả nước, do vậy, chế độ, chính sách của Nhà nước đối với PN miền Trung cần thể hiện rõ tính đặc thù.
Chính sách của Nhà nước đối với người đang chấp hành hình phạt tù trong trại giam Miền Trung không chỉ thể hiện nguyên tắc trừng trị đối với người đang chấp hành bản án, “trong thời gian chấp hành hình phạt, người bị kết án tù phải bị giam giữ, phải lao động và học tập theo quy định của pháp luật”, mà còn thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Trong thời gian chấp hành bản án, họ được tôn trọng và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, được bảo đảm về đời sống vật chất và tinh thần.
Chế độ, chính sách của Nhà nước đối với PN miền Trung có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả công tác Giáo dục pháp luật cho họ, bởi vì nội dung của chế độ, chính sách có liên quan đến mọi mặt đời sống của họ trong TG; bao gồm chế độ về ăn, mặc, ở, sinh hoạt, phòng và khám chữa bệnh cho PN; chính sách về lao động, học tập; chính sách về thăm, gặp, nhận quà, gửi thư, bưu kiện, bưu phẩm và liên lạc bằng điện thoại với thân nhân; chính sách về khiếu nại, tố cáo; chính sách về khen thưởng, kỷ luật; chính sách về tạm đình chỉ, giảm thời hạn chấp hành án, đặc xá đối với PN… Việc học tập, tìm hiểu để nắm bắt, hiểu rõ những chế độ, chính sách đó sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy PN chủ động, tích cực tham gia chương trình Giáo dục pháp luật dành cho họ theo phương châm: biết để chấp hành tốt, biết để phấn đấu theo các tiêu chí được nêu trong chính sách với mục tiêu được giảm án, được đặc xá. Khi mục tiêu đã được xác định một cách rõ ràng dựa trên sự hiểu biết đầy đủ, cụ thể về chế độ, chính sách của Nhà nước đối với PN thì đó đồng thời là động cơ phấn đấu của mỗi PN.
Việc tổ chức thực hiện chế độ, chính sách của Nhà nước đối với phạm nhân Miền Trung có tác động mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc hơn đến sự nỗ lực, phấn đấu học tập pháp luật của PN. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước đối với phạm nhân là hoạt động của lực lượng cảnh sát trại giam, sử dụng tổng hợp các biện pháp công tác để áp dụng các quy định của Nhà nước về chính sách đối với phạm nhân nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của họ, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù.
Nếu việc tổ chức thực hiện chính sách bảo đảm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bảo đảm tính công khai, công bằng, minh bạch và bảo đảm áp dụng thống nhất tại tất cả các phân trại, các TG thì sẽ có tác dụng động viên, khích lệ tinh thần, tư tưởng của PN; tạo dựng cho họ niềm tin đối với việc thực hiện chính sách. Đến lượt mình, niềm tin lại trở thành động cơ để PN tích cực học tập pháp luật và thực hiện pháp luật về thi hành án hình sự. Ngược lại, việc tổ chức thực hiện chế độ, chính sách thiếu nhất quán, có sự chủ quan, tùy tiện, thiếu công bằng sẽ làm mất đi niềm tin trong phạm nhân. Khi đó, hoạt động học tập pháp luật của họ sẽ trở nên miễn cưỡng, đối phó, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG.
3.4.1. Cần tăng cường chương trình hỗ trợ pháp lý
Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng (C86) Bộ Công an có nhiệm vụ giáo dục phổ biến pháp luật cho phạm nhân, đây là nội dung rất quan trọng trong công tác giáo dục cải tạo phạm nhân. Nội dung này cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật và văn bản hướng dẫn thi hành. Đặc biệt, khi phạm nhân sắp chấp hành xong hình phạt tù, họ được học chương trình đầu ra do trại giam tổ chức, gồm các nội dung: Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành xong án phạt tù; giới thiệu một số thủ tục hành chính, văn bản pháp luật có những điều luật liên quan đến các hoạt động thường ngày như:
Luật Giao thông, Luật Cư trú, thông tin về HIV/AIDS và phòng chống lây nhiễm; tư vấn hỗ trợ kỹ năng sống, kỹ năng tìm việc làm… Một số trại giam trong chương trình giáo dục tại lớp học đầu ra còn mời cả người hoàn lương tiến bộ đến trao đổi kinh nghiệm để tái hòa nhập cộng đồng.
Thời gian qua, Bộ Công an cũng đã xây dựng trang web giáo dục hướng thiện và hòa nhập cộng đồng, trong đó có chuyên mục tư vấn trao đổi, chủ yếu là tư vấn pháp luật nhằm giúp người mãn hạn tù có kiến thức pháp luật để vận dụng trong cuộc sống. Người chấp hành xong án phạt tù được tư vấn pháp luật qua email, trực tiếp qua điện thoại…
Các trại giam đã tích cực trong thực hiện công tác phổ biến, giáo dục tư vấn pháp lý với nhiều biện pháp, hình thức sáng tạo khác nhau như: Tổ chức lớp học giáo dục công dân; tuyên truyền chính sách pháp luật qua hệ thống phát thanh của trại giam; thi tìm hiểu Hiến pháp, pháp luật… Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Trong các trại giam, cán bộ giáo dục, cán bộ quản giáo là lực lượng nòng cốt thực hiện công tác giáo dục, tư vấn pháp luật cho phạm nhân; họ là người nắm rõ hoàn cảnh, lai lịch, tội trạng của phạm nhân vì vậy công tác giáo dục phổ biến tư vấn pháp luật cho kết quả tốt, tác động hiệu quả đến nhận thức của phạm nhân.
Bộ Công an đã có chương trình phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam về việc phổ biến, giáo dục, tư vấn pháp luật, hỗ trợ cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù. Khi thấy cần thiết, các trại giam có thể mời cán bộ hội luật gia các tỉnh, thành phố thực hiện việc tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý, giải đáp những vấn đề phạm nhân quan tâm, giúp họ có nhận thức đầy đủ khi tái hòa nhập cộng đồng.
Từ thực tiễn các đơn vị trại giam, Bộ Công an cũng đưa ra những kiến nghị, đó là: đối tượng giáo dục, tư vấn ở đây là phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù trong các cơ sở giam giữ, họ có nhiều điểm khác nhau như trình độ văn hóa, nhận thức pháp luật, độ tuổi, giới tính, đặc điểm văn hóa vùng miền và nhất là tính chất, mức độ phạm tội cũng khác nhau… Vì vậy, phải nghiên cứu từng con người cụ thể mới có biện pháp tư vấn, giáo dục phù hợp.
3.4.2. Gắn kết việc giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và pháp luật với đào tạo nghề
Gắn kết việc giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và pháp luật là một yêu cầu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Việc gắn kết, một mặt không chỉ đảm bảo quán triệt hiệu quả phương pháp luận trong giáo dục, nghiên cứu nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc lịch sử cụ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nguyên tắc này đòi hỏi phải đảm bảo, chú ý đến tính đặc thù trong giáo dục người phạm tội.
- Từ đó hình thành thái độ học tập, nghiên cứu đúng đắn, đạt hiệu quả cao trong quá trình cải tạo.
Gắn kết không chỉ được xem là một yêu cầu, mà còn được xem là một biện pháp, phương pháp giảng dạy và học tập cả với cán bộ trại giam và phạm nhân nhằm khơi tạo hứng thú, động lực trong quá trình cải tạo vốn đã, đang còn ý kiến cho rằng chương trình giáo dục pháp luật này thường rất khô khan, khó, khổ.
Để có sự gắn kết phù hợp, trước hết cần hiểu thế nào là gắn kết. Theo quan điểm của tác giả, gắn kết có thể được hiểu, xem xét dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Trong bài viết này, tác giả xem xét gắn kết như một liên kết, liên hệ và phương pháp thực hiện. Theo đó, trọng tâm của bài viết là chỉ ra sự liên kết hay liên hệ quan điểm của Triết học Mác – Lênin về bản chất con người với Điều 28, Điều 29, Điều 36 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và biện pháp thực hiện.
- Sự gắn kết này cần được thực hiện qua hai bước:
Một là, trình bày và phân tích quan điểm của Triết học Mác – Lênin về bản chất con người.
Hai là, liên hệ với quy định của pháp luật về việc giáo dục, đào tạo nghề cho phạm nhân để thấy mối tương quan giữa hai vấn đề triết học và luật pháp. Hay nói cách khác, bài viết xem xét một số điều luật của Luật Thi hành án hình sự từ góc nhìn của Triết học Mác – Lênin về bản chất con người. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Triết học Mác – Lênin quan niệm rằng, thứ nhất, con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội. Mác quan niệm rằng con người là động vật cao cấp nhất, là sản phẩm của sự tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên như tiến hóa luận của Đác-uyn đã khẳng định. Như mọi động vật khác, con người là một bộ phận của thiên nhiên. Con người phải tìm kiếm thức ăn, nước uống… từ trong thiên nhiên và phải đấu tranh để tồn tại, ăn uống, sinh con đẻ cái. Như vậy, con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của con người đối với tự nhiên. Tuy nhiên, Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính sinh học, là bản năng sinh vật của con người cho dù con người vốn là một sinh vật có đầy đủ những đặc trưng của sinh vật nhưng con người vẫn có nhiều điểm để phân biệt với những sinh vật khác.
Con người là một bộ phận của tự nhiên nhưng trong mối quan hệ với tự nhiên con người hoàn toàn khác con vật ở chỗ tự nhiên chỉ là cơ thể vô cơ của con người và con người có khả năng tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên trong khi đó con vật hoàn toàn lệ thuộc vào tự nhiên và chỉ sản xuất ra bản thân nó. Ngọn nguồn của sự khác biệt đó chính do hoạt động thực tiễn quy định. Thông qua hoạt động lao động sản xuất con người, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình, hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội. Chính vì vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình phát triển luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống quy luật tự nhiên – quy định phương diện sinh học. Hệ thống quy luật tâm lý, ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người và người.
Ba hệ thống quy luật này cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người. Mặt sinh học và mặt xã hội, nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Hai mặt này hòa quyện với nhau tạo thành thực thể Người. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Thứ hai, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội. Sự khác biệt về bản chất của con người với con vật là ở ba quan hệ: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Ba mối quan hệ này đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất, bao trùm mọi hoạt động của con người, cả trong lao động, sinh con đẻ cái và trong tư duy. C.Mác khẳng định: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Khẳng định này đã chỉ rõ ba quan hệ (quan hệ với thiên nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với bản thân) cấu thành bản chất của con người thể hiện trong toàn bộ hoạt động cụ thể của con người. Vì vậy, không có con người trừu tượng mà chỉ có những con người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định, nghĩa là con người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức. Chỉ trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể đó, con người mới bộc lộ và thực hiện được bản chất thực sự của mình. Xét về bản chất của một con người cũng như của một dân tộc phải xuất phát từ toàn bộ những quan hệ xã hội ấy.
Điều cần lưu ý là khi C.Mác nhấn mạnh mặt xã hội trong việc xác định bản chất của con người không đồng nghĩa với việc phủ định mặt tự nhiên trong đời sống con người mà nhấn mạnh với mục đích chỉ rõ tiêu chí phân biệt con người với con vật chính là ở bản chất xã hội và sự khác biệt trong việc giải quyết vấn đề con người của C.Mác với các nhà triết học trước C.Mác cũng là ở bản chất xã hội của con người mà các triết gia đó không thấy. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là cái duy nhất, do đó cần phải thấy được cái biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội.
Như vậy, theo quan điểm của Triết học Mác – Lênin, bản chất con người không được sinh ra mà được sinh thành, nó hình thành và thay đổi cùng với sự hình thành và thay đổi của các quan hệ xã hội. Trong các quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế giữ vai trò quyết định, các quan hệ xã hội khác giữ vai trò quan trọng tác động đến sự hình thành và thay đổi bản chất con người.
Vì vậy, để hình thành và thay đổi bản chất con người theo chiều hướng tốt đẹp, hướng đến chân – thiện – mỹ phải xuất phát từ chính các quan hệ xã hội của chính con người.
Một người phạm tội có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân sâu xa là do quá trình giáo dục, tự giáo dục, điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân, gia đình và xã hội. Vì vậy mà dân gian mới có câu nhàn cư vi bất thiện; gần mực thì đen, gần đèn thì sáng; con nhà tông không giống lông cũng giống cánh v.v….Kết quả luôn có nguyên nhân, muốn thay đổi kết quả này hình thành kết quả khác tốt hơn phải xuất phát từ nguyên nhân. Trên nền tảng lý luận của Triết học Mác – Lênin về bản chất con người cùng với truyền thống nhân nghĩa, trọng giáo dục, chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và nhà nước Việt Nam đã được thể hiện trong những điều luật của Luật Thi hành án hình sự năm 2010.
Cụ thể, Điều 28 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định về chế độ học tập, học nghề và được thông tin của phạm nhân (1. Phạm nhân phải học pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hóa, học nghề. Phạm nhân chưa biết chữ phải học văn hóa để xóa mù chữ. Phạm nhân là người nước ngoài được khuyến khích học tiếng Việt. Phạm nhân được bố trí ngày thứ bảy để học tập, học nghề và được nghỉ ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật. Căn cứ yêu cầu quản lý, giáo dục phạm nhân và thời hạn chấp hành án, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức dạy học cho phạm nhân theo chương trình, nội dung do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quy định. 2. Phạm nhân được cung cấp thông tin về thời sự, chính sách, pháp luật của Nhà nước).
Điều 29 quy định về chế độ lao động của phạm nhân (1. Phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và đáp ứng yêu cầu quản lý, giáo dục, hòa nhập cộng đồng; được nghỉ lao động các ngày thứ bảy, ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật. Thời gian phạm nhân lao động và học tập, học nghề không quá 08 giờ trong 01 ngày. Trường hợp đột xuất hoặc thời vụ, giám thị trại giam có thể yêu cầu phạm nhân làm thêm giờ nhưng không được quá 02 giờ trong 01 ngày. Trường hợp phạm nhân lao động thêm giờ hoặc lao động trong ngày thứ bảy, chủ nhật thì được nghỉ bù hoặc bồi dưỡng bằng tiền, hiện vật. 2. Phạm nhân nữ được bố trí làm những công việc phù hợp với giới tính, sức khỏe và độ tuổi; không làm công việc nặng nhọc, độc hại thuộc danh mục cấm sử dụng lao động nữ. 3. Phạm nhân mắc bệnh hoặc có nhược điểm về thể chất, tinh thần thì tuỳ mức độ, tính chất của bệnh tật và trên cơ sở chỉ định của y tế trại giam, trại tạm giam được miễn hoặc giảm thời gian lao động). Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Điều 36 quy định về khen thưởng phạm nhân (1. Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân chấp hành tốt nội quy, quy chế trại giam, có thành tích trong lao động hoặc lập công thì được khen thưởng theo một hoặc nhiều hình thức sau: a) Biểu dương; b) Thưởng tiền hoặc hiện vật; c) Tăng số lần được liên lạc bằng điện thoại, số lần gặp thân nhân, số lần và số lượng quà được nhận. 2. Giám thị trại giam, giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu quyết định khen thưởng phạm nhân. Việc khen thưởng phải bằng văn bản, được lưu vào hồ sơ phạm nhân. Phạm nhân được khen thưởng thì được ưu tiên đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và đề nghị xét đặc xá theo quy định của pháp luật).
Ở góc độ giải pháp này, tác giả chưa phân tích ý nghĩa, tác dụng của các điều luật trên cũng như những thành công và hạn chế của công tác giáo dục và đào tạo nghề cho phạm nhân, mà chủ yếu là tập trung chỉ rõ sự gắn kết phù hợp quan điểm của Triết học Mác – Lênin về bản chất con người với một số điều của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 cũng như mối tương quan giữa hai vấn đề.
Các điều luật trên đã thể hiện rõ sự vận dụng quan điểm của Triết học Mác – Lênin về bản chất con người, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước được hình thành trên cơ sở niềm tin và chân lý về sự hình thành, thay đổi bản chất của con người vốn được sinh ra không phải để được gọi là phạm nhân. Một khi thay đổi quan hệ xã hội của phạm nhân (chủ yếu là các quan hệ kinh tế, giáo dục) thì ít hay nhiều bản chất của con người sẽ thay đổi.
Tóm lại, giảng dạy quan điểm của Triết học Mác – Lênin về bản chất con người cần chú trọng việc gắn kết nội dung với các điều luật trên của Luật Thi hành án hình sự năm 2010. Sự gắn kết này có nhiều ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn to lớn. Một trong những ý nghĩa quan trọng của sự gắn kết trên đây là giúp đảm bảo quán triệt tốt phương pháp luận triết học: đảm bảo nguyên tắc lịch sử – cụ thể trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn.
3.4.3. Xây dựng nội dung cụ thể để thực hiện Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
- Thứ nhất, phân loại tập trung đối tượng được giáo dục:
Đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam: Trước khi phạm nhân hết thời hạn chấp hành án phạt tù từ một tháng đến hai tháng, Giám thị trại giam điều chuyển phạm nhân về một phân trại để tổ chức giáo dục; đối với trại giam có từ 5 phân trại trở lên thì có thể điều chuyển về 2 phân trại để tổ chức giáo dục. Trường hợp phân trại giam ở cách xa trung tâm từ 50 km trở lên thì có thể điều chuyển hoặc giữ nguyên tại phân trại đang quản lý phạm nhân để tổ chức giáo dục. Đối với phạm nhân là người nước ngoài, phạm nhân đang giam riêng, phạm nhân phạm tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, không tập trung theo đội (tổ) thì phải tổ chức giáo dục theo nhóm hoặc từng cá nhân theo nội dung, chương trình quy định.
Đối với phạm nhân đang chấp hành án tại các trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện: Tùy theo số lượng phạm nhân, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quyết định điều chuyển về một đội (tổ) phạm nhân hoặc giữ nguyên tại đội (tổ), nơi họ đang chấp hành án phạt tù để tổ chức giáo dục.
Đối với số phạm nhân đã được đề nghị xét đặc xá đang chờ quyết định của Chủ tịch nước hoặc đã được đề nghị giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù đang chờ quyết định của Tòa án: Ngay sau khi Tổ thẩm định liên ngành của Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương xét duyệt xong hoặc ngay sau khi Hội đồng thẩm định xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Hội đồng của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có văn bản đề nghị giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù, Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức quản lý theo quy định để tổ chức giáo dục và tư vấn cho họ.
Đối với phạm nhân nữ sắp chấp hành xong án phạt tù được tổ chức giáo dục riêng.
Thứ hai, về nội dung, chương trình giáo dục chính, bao gồm:
- Giáo dục pháp luật: Các quy định về xóa án tích, về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; quy định của pháp luật về cư trú, về bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội;
- Phổ biến một số chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng; Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
- Giáo dục về chính sách đại đoàn kết dân tộc; về đạo đức, lối sống, nghị lực lập thân, lập nghiệp, nếp sống văn hóa, ý thức chấp hành các quy tắc đạo đức xã hội; trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội;
- Giáo dục về hòa nhập cộng đồng; kỹ năng tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống, khắc phục khó khăn, thách thức của cuộc sống, từ chối việc rủ rê, lôi kéo của các đối tượng xấu và phòng tránh các tệ nạn xã hội.
Chương trình giáo dục bổ trợ bao gồm: Tổ chức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, đọc sách báo, nghe các chương trình phát thanh, xem video, truyền hình của Trung ương, địa phương và các hoạt động vui chơi, giải trí khác.
Đối với số phạm nhân là người chưa thành niên, cần tăng thời lượng giáo dục về đạo đức, kĩ năng sống và tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí.
Đối với phạm nhân là người nước ngoài, tiếp tục dạy tiếng Việt, giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và pháp luật Việt Nam, đặc biệt là các quy định về cư trú, thủ tục xuất, nhập cảnh.
- Thứ ba, về phương pháp, hình thức giáo dục:
Tổ chức giáo dục phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù theo các lớp học, có cán bộ, giáo viên, chuyên gia giảng bài, giới thiệu chuyên đề, cán bộ quản giáo theo dõi, hướng dẫn thảo luận theo đội (tổ), kết hợp phát tài liệu cho phạm nhân tự nghiên cứu, học tập và thảo luận. Kết thúc lớp học, cần tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả, cho phạm nhân viết thu hoạch, khai báo, tố giác tội phạm và các hành vi sai phạm của phạm nhân khác, tham gia ý kiến vào việc khắc phục sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.
Kết hợp tổ chức truyền thông với các hình thức phát thanh, truyền hình cáp nội bộ, video, bảng tin, pa nô, áp phích hoặc tự nghiên cứu tài liệu.
Có thể mời những người đã chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương làm kinh tế có hiệu quả hoặc tham gia tích cực các hoạt động xã hội, các phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và các doanh nghiệp đến tọa đàm, trao đổi thông tin về tình hình kinh tế – xã hội, việc làm, định hướng nghề nghiệp, phổ biến kinh nghiệm sống, hòa nhập cộng đồng, tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống cho phạm nhân. Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc mời các cơ quan, tổ chức, cá nhân đến thông tin, trao đổi với phạm nhân bảo đảm mục tiêu, yêu cầu và hiệu quả giáo dục.
Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, các cuộc thi tìm hiểu, thi kĩ năng thực hành và các hoạt động giáo dục khác bằng các hình thức phong phú, đa dạng. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
- Thứ tư, về tài liệu giáo dục:
Chương trình, nội dung, tài liệu giáo dục do Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn phù hợp với yêu cầu giáo dục, thời điểm, trình độ nhận thức, đặc điểm vùng miền nơi phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù về cư trú.
Các trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu, số liệu và dẫn chứng cụ thể ở đơn vị, địa phương để tham khảo, minh họa hoặc báo cáo thực tế nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu, nội dung giáo dục.
- Thứ năm, về cán bộ giáo dục:
Cán bộ làm nhiệm vụ giáo dục, giảng bài cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù là lãnh đạo đơn vị, cán bộ các đội nghiệp vụ của trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trình độ đại học hoặc các cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm công tác, có kiến thức về giáo dục, tâm lý, sư phạm.
Các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể mời giáo viên, báo cáo viên hoặc người có chuyên môn về pháp luật, giáo dục công dân có trình độ đại học hoặc cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm công tác, có kiến thức về giáo dục, tâm lý, sư phạm của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Công an các đơn vị, địa phương, các cơ sở giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Hội Liên hiệp thanh niên và Hội Luật gia của các tỉnh, thành phố tham gia giảng bài cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù.
Kết luận chương 3
Nhằm tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân đảm bảo hiện thực hóa mục đích của hình phạt, Nhà nước, các cơ quan chức năng cần xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có các quy định cụ thể về chủ thể, nội dung, hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra thực hiện giáo dục pháp luật cho phạm nhân, bảo đảm các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, nguồn nguồn nhân lực phục vụ công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam; Nâng cao trình độ kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam là hoạt động có mục đích, có tổ chức, tuân theo kế hoạch được các trại giam triển khai thực hiện thông qua các phương pháp đặc thù và bằng những hình thức phù hợp, hướng tới cung cấp cho phạm nhân những kiến thức pháp luật về các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung, các nội dung pháp luật cụ thể liên quan đến quá trình chấp hành án phạt tù trong trại giam nói riêng; làm hình thành ở phạm nhân hiểu biết pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân; giúp họ có khả năng hòa nhập cộng đồng, biết sống và làm việc theo pháp luật sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù.
Trong giai đoạn hiện nay, tình trạng vi phạm pháp luật có xu hướng gia tăng, tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp thì việc giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam nói chung, trại giam Miền Trung nói riêng càng có vai trò đặc biệt quan trọng: giúp cho phạm nhân nâng cao pháp luật; nhận thức được tội lỗi của mình gây ra; ý thức, trách nhiệm về quyền và nghĩa vụ của phạm nhân.
Cũng như hoạt động giáo dục pháp luật cho các đối tượng xã hội khác, hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam được cấu thành từ các yếu tố cơ bản: mục đích, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật. Ngoài các đặc điểm chung, mỗi yếu tố cấu thành giáo dục pháp luật cho phạm nhân đều mang những nét đặc thù xuất phát từ đối tượng đặc thù là phạm nhân và môi trường đặc thù là trại giam.
Quá trình giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau: yếu tố trực tiếp (đối tượng giáo dục, chủ thể giáo dục); yếu tố gián tiếp (nhu cầu văn hoá, tinh thần, chính sách và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước đối với phạm nhân).
Qua khảo sát, đánh giá cho thấy điều kiện địa lý, cơ sở vật chất của trại giam có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Cơ cấu tình hình phạm nhân trong các trại giam bao gồm diễn biến tăng, giảm số lượng phạm nhân, cơ cấu lứa tuổi, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu thành phần dân tộc, cơ cấu trình độ văn hóa, cơ cấu tội danh… cũng là những nhân tố khác nhau dẫn phạm nhân đến việc thực hiện hành vi phạm tội khi còn ở ngoài xã hội.
Trong những năm qua, công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân đã được tăng cường và đạt được những kết quả quan trọng: cơ sở vật chất phục vụ giáo dục pháp luật cho phạm nhân từng bước được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới; đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân; mục tiêu của giáo dục pháp luật cho phạm nhân được chú trọng xây dựng; nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân đã được chủ thể lựa chọn và biên soạn cụ thể, chi tiết; hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân đã từng bước đa dạng hóa phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trại giam; hầu hết phạm nhân đã được học tập pháp luật theo quy định của chương trình.
Bên cạnh đó, công tác giáo dục pháp luật còn bộc lộ hạn chế đội: ngũ cán bộ giáo dục pháp luật cho phạm nhân vẫn còn thiếu về số lượng và yếu về kỹ năng nghiệp vụ sư phạm; phương pháp giáo dục pháp luật cho phạm nhân vẫn mang tính xơ cứng; hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân tuy đa dạng nhưng chưa đi vào chiều sâu và thực chất.
Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cho công tác này. Để có thể đề ra những giải pháp bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở khu vực này cần dựa trên các quan điểm có tính chất chỉ đạo sau: 1) Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng xã hội; 2) Thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam nói riêng; 3) Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong quá trình giáo dục pháp luật cho phạm nhân; 4) Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; sự tổ chức, điều hành của các trại giam; 5) cần phải lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật phù hợp với đặc điểm tình hình phạm nhân trong các trại giam; 6) Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật cho phạm nhân với giáo dục công dân, dạy văn hóa và dạy nghề cho họ.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong những năm tới cần thực hiện các nhóm giải pháp sau đây: nhóm giải pháp bảo đảm từ phía cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; nhóm giải pháp bảo đảm từ phía các cơ quan thi hành án hình sự với tư cách chủ thể giáo dục pháp luật cho phạm nhân; giải pháp đổi mới giáo dục pháp luật cho phạm nhân; nhóm giải pháp bảo đảm tác động tới phạm nhân trong các trại giam – đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân là một công tác rất quan trọng nhưng đang gặp nhiều vướng mắc khó khăn trên phương diện lý luận và thực tiễn. Trong phạm vi đề tài luận văn nên kết quả nghiên cứu của tác giả mới chỉ là bước đầu. Để đánh giá được thực trạng, nguyên nhân, thành tựu, hạn chế từ đó đề ra giải pháp tầm quốc gia trong giáo dục pháp luật đối với phạm nhân tại các trại giam phù hợp với sự phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam thì phạm vi nghiên cứu phải mở rộng hơn ở tầm quốc gia và có sự so sánh các trại giam ở ba miền Bắc, Trung, Nam và cần phải tiếp cận giải quyết vấn đề dưới nhiều góc độ giáo dục học, tâm lý học, tội phạm học, khoa học pháp luật. Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam