Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam khu vực miền Trung dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát chung về các trại giam khu vực miền Trung
2.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên – địa lí và cơ sở vật của các trại giam khu vực miền Trung ảnh hưởng đến công tác giáo dục pháp luật cho các phạm nhân
- Về vị trí địa lý:
Miền Trung Việt Nam (Trung Bộ) có phía Bắc giáp khu vực đồng bằng Sông Hồng và Trung du miền núi vùng Bắc Bộ; phía Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu vùng Nam Bộ; phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp 2 nước Lào và Campuchia.Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có diện tích tự nhiên 90.790 km2 chiếm 28% diện tích tự nhiên cả nước và chia làm 2 tiểu vùng:
Bắc Trung Bộ Việt Nam gồm có 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế. Vùng Bắc Trung Bộ có tính chất chuyển tiếp giữa các vùng kinh tế phía Bắc và các vùng kinh tế phía Nam. Phía Tây là sườn Đông Trường Sơn, giáp nước Lào có đường biên giới dài 1.294 km với các cửa khẩu Quan Hoá, Lang Chánh (Thanh Hoá), Kỳ Sơn (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Lao Bảo (Quảng Trị), tạo điều kiện giao lưu kinh tế với Lào và các nước Đông Nam á trên lục địa; Phía Đông hướng ra biển Đông với tuyến đường bộ ven biển dài 700 km, với nhiều hải sản và có nhiều cảng nước sâu có thể hình thành các cảng biển. Vùng có nơi hẹp nhất là Quảng Bình (50km), nằm trên trục giao thông xuyên Việt là điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Bắc và phía Nam.
Duyên hải miền Trung gồm 8 tỉnh thành theo thứ tự Bắc – Nam: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận. Duyên hải miền Trung có phía Bắc là đèo Hải Vân, điểm cuối của dãy Trường Sơn Bắc, giáp với Bắc Trung Bộ; phía Tây là dãy Trường Sơn Nam với hệ thống cao nguyên đất đỏ bazan, giáp với Lào và Tây Nguyên, phía Đông là biển Đông với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thềm lục địa và biển sâu tạo điều kiện phát triển các cảng quốc tế; phía Nam giáp với Đông Nam Bộ.
- Địa hình: Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Địa hình Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có độ cao thấp dần từ khu vực miền núi xuống đồi gò trung du, xuôi xuống các đồng bằng phía trong dải cồn cát ven biển rồi ra đến các đảo ven bờ.
Bắc Trung Bộ nơi bắt đầu của dãy Trường Sơn, mà sườn Đông đổ xuống Vịnh Bắc Bộ, có độ dốc khá lớn. Lãnh thổ có bề ngang hẹp, địa hình chia cắt phức tạp bởi các con sông và dãy núi đâm ra biển, như dãy Hoàng Mai (Nghệ An), dãy Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh)… sông Mã (Thanh Hoá), sông Cả (Nghệ An), sông Nhật Lệ (Quảng Bình)… Cấu trúc địa hình gồm các cồn cát, dải cát ven biển, tiếp theo là các dải đồng bằng nhỏ hẹp, cuối cùng phía Tây là trung du, miền núi thuộc dải Trường Sơn Bắc. Nhìn chung địa hình Bắc Trung Bộ phức tạp, đại bộ phận lãnh thổ là núi, đồi, hướng ra biển, có độ dốc, nước chảy xiết, thường hay gây lũ lụt bất ngờ gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân.
Duyên hải miền Trung thuộc khu vực cận giáp biển. Địa hình ở đây bao gồm đồng bằng ven biển và núi thấp, có chiều ngang theo hường Đông – Tây (trung bình 40 – 50km), hạn hẹp hơn so với Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Có hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bờ biển sâu với nhiều đoạn khúc khuỷu, thềm lục địa hẹp. Các miền đồng bằng có diện tích không lớn do các dãy núi phía Tây trải dọc theo hướng Nam tiến dần ra sát biển và có hướng thu hẹp dần diện tích lại. Đồng bằng chủ yếu do sông và biển bồi đắp, khi hình thành nên thường bám sát theo các chân núi.
- Về khí hậu:
Khu vực Trung Bộ vào mùa đông, do gió mùa thổi theo hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào nên toàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kèm theo mưa. Đây là điểm khác biệt với thời tiết khô hanh vào mùa Đông vùng Bắc Bộ. Đến mùa Hè không còn hơi nước từ biển vào nhưng có thêm gió mùa Tây Nam (còn gọi là gió Lào) thổi ngược lên gây nên thời tiết khô nóng, vào thời điểm này nhiệt độ ngày có thể lên tới trên 40 độ C, trong khi đó độ ẩm không khí lại rất thấp.
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt nhất trong cả nước. Hàng năm thường xảy ra nhiều thiên tai như bão, lũ, gió Lào, hạn hán, mà nguyên nhân cơ bản là do vị trí, cấu trúc địa hình tạo ra. Vùng này cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lạnh, tuy nhiên không nhiều như ở Bắc Bộ.
- Tài nguyên đất: Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Diện tích đất cát, sỏi, đất bạc màu chiếm tỷ lệ lớn. Có 3 loại đất chính là đất đỏ vàng phân bố ở vùng trung du miền núi, thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày và khai thác lâm nghiệp, trồng cây ăn quả; đất phù sa ven sông thích hợp cây lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày; đất cát hoặc cát pha ven biển chất lượng thấp chỉ trồng một số loại cây hoa màu, trồng rừng phi lao, bạch đàn chống gió, cát.
Diện tích rừng của cả vùng năm 2001 là 3.378 nghìn ha.Tài nguyên rừng của vùng chỉ đứng sau Tây Nguyên và chính nó đã cung cấp một phần quan trọng về gỗ và lâm sản hàng hoá cho Đồng bằng sông Hồng, đáp ứng một phần xuất khẩu của nước ta.
- Tài nguyên biển:
Chiều dài bờ biển khoảng hơn 1000 km, biển vùng này khá sâu ở sát bờ, nhiều eo biển, cửa sông, vũng, vịnh thuận lợi cho phát triển kinh tế biển du lịch, giao thông biển, đánh bắt cá, phát triển các hải cảng lớn.
Ven biển có nhiều đồng muối chất lượng tốt, khả năng khai thác lớn như đồng muối Sa Huỳnh – Quảng Ngãi, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Biển có nhiều đảo và quần đảo; ngoài khơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có ý nghĩa chiến lược về an ninh quốc phòng và là nơi cư ngụ của tàu thuyền, là bình phong chắn gió, cát biển cho ven bờ.
Vùng biển có nhiều loài cá có giá trị như cá trích, mòi, nhồng (tầng nổi) cá thu (tầng trung), cá mập, mối… (tầng đáy), tạo điều thuận lợi cho phát triển khai thác đánh bắt hải sản.
Các trại giam có đặc điểm chung là đều đóng ở vùng sâu, vùng xa thuộc khu vực rừng núi, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, giao thông đi lại khó khăn, cách xa các trung tâm chính trị, kinh tế – văn hoá. Trại giam đóng ở nơi địa hình bị che lấp, cây cối rậm rạp.
Về cơ sở vật chất và trang bị phương tiện của trại còn thiếu thốn, lạc hậu; khu giam giữ hầu hết được xây dựng từ những năm 1980, chỉ một số công trình được đầu tư mới nhưng việc xây dựng, quy hoạch tổng thể thì chưa hợp lý, các buồng giam, khu giam nằm rải rác không theo một hệ thống nhất định. Toàn bộ khu giam giữ phạm nhân được trang bị 01 camera quan sát chung nhưng đã hỏng; 01 máy vi tính trang bị phần mềm quản lý phạm nhân. Ngoài ra không còn được trang bị phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ gì khác. Công trình khu giam giữ xây dựng đã lâu, hiện các buồng giam đã xuống cấp nghiêm trọng, phải thường xuyên gia cố, sửa chữa nhất là về mùa mưa các tường, trần buồng giam bị thấm, dột nước; về mùa nắng không bảo đảm thoáng mát về điều kiện về không khí, ánh sáng… Phương tiện hỗ trợ công tác giáo dục và quản lý phạm nhân rất hạn chế, hiện chỉ có: 01 hệ thống loa phát thanh, 01 nhà cấp 4 làm nhà thăm gặp, 01 dãy nhà hạnh phúc để tổ chức cho phạm nhân tiến bộ thăm gặp 24 giờ.
Đội ngũ tổ chức cán bộ, tổng số cán bộ, chiến sỹ toàn phân trại ngoài Phó Giám thị phụ trách phân trại, phân trại trưởng, phó phân trại trưởng, còn lại chỉ có: 8 đồng chí tập trung ở các công tác chuyên môn như: quản giáo, trực trại, trinh sát, giáo dục. Về trình độ, được đào tạo đại học chính quy chuyên ngành quản lý, cải tạo phạm nhân có 03 đồng chí.Còn lại là đào tạo ngành ngoài, trung cấp và số chiến sỹ phục vụ có thời hạn chưa qua đào tạo. Tổng số cán bộ chiến sĩ (CBCS) thực hiện công tác thi hành án phạt tù tại đơn vị đã qua đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ số lượng còn ít (chỉ chiếm 30%).
2.1.2. Tình hình phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam khu vực Miền Trung ảnh hưởng đến công tác giáo dục pháp luật Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Hiện tại, theo nghiên cứu của tác giả, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu và công bố số liệu liên quan đến tình hình phạm nhân ở Miền Trung. Để có được các số liệu chính xác, tác giả đã thực hiện điều tra vào tháng 3 năm 2017, phát phiếu khảo sát nhằm thu thập thông tin. Kết quả điều tra, thu thập thông tin được ghi rõ tại Phần Phục Lục của Luận văn này.
Những năm gần đây tình trạng phạm tội có những diễn biến phức tạp, số lượng người có án phạt tù đưa đến các trại giam chấp hành án với hành vi, tính chất phạm tội cũng nguy hiểm hơn (Vì theo quy định của ngành nên tác giả chỉ đưa số liệu tỷ lệ % không đưa số tuyệt đối, ngoài những số liệu đã công khai).
Số lượng người bị kết án phạt tù vào trại giam năm sau cao hơn năm trước, nếu lấy năm 2013 là 100,0% thì năm 2016 tỷ lệ phạm nhân nhân trại giam tăng lên 127,0%. Sự biến động số lượng phạm nhân sẽ là khó khăn, thách thức đối với trại giam trong công tác tổ chức giáo dục pháp luật cho phạm nhân; gây áp lực về cơ sở vật chất phục vụ giáo dục pháp luật; về đội ngũ cán bộ giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu giáo dục pháp luật do sự gia tăng số lượng phạm nhân trong từng trại.
Giới tính: thực tế trong công tác quản lý trại giam cho thấy phạm nhân là nam giới đông: năm 2013 phạm nhân nam chiếm tỷ lệ 87,4%, phạm nhân nữ là 12,6%; năm 2016 tỷ lệ phạm nhân nam chiếm 85,91%, phạm nhân nữ là 14,09%. Cũng qua nghiên cứu 50 hồ sơ phạm nhân nữ (tháng 3/2012) có 40% phạm nhân tội trộm cắp; 13% phạm nhân tội giết người; 16,6% phạm nhân phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 10% phạm nhân phạm tội buôn bán phụ nữ; 6,6% phạm nhân phạm tội buôn bán và sử dụng chất ma túy; 6,6% phạm nhân phạm tội tham ô tài sản; 7,2% phạm nhân phạm tội khác.
Từ thực tế công tác quản lý và theo các số liệu thống kê hàng năm cho thấy số lượng phạm nhân nữ đưa vào trại trong các năm gần đây có xu hướng tăng, kéo theo rất nhiều phức tạp trong công tác quản lý, giam giữ và bố trí lao động cải tạo (số phạm nhân nữ được giam khu vực riêng; nhiều trường hợp phạm nhân nữ có thai, sinh con, nuôi con trong trại giam,…). Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức và thực hiện các chế độ chính sách đối với họ, việc bố trí cải tạo lao động cho họ cũng rất khó khăn và có thể ảnh hưởng đến quyền lợi mà họ được hưởng. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Đặc điểm lứa tuổi: thực tế cho thấy trong tổng thể phạm nhân ở các trại giam, phạm nhân ở độ tuổi sung sức để lao động chiếm số đông, nhưng do động cơ phạm tội, họ đã vi phạm pháp luật phải vào trại. Qua khảo sát năm 2013 số lượng phạm nhân nói trên ở các trại giam cho thấy lứa tuổi từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chiếm 0.05 %; từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chiếm 0.97%; từ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi chiếm 47.2%; từ 30 tuổi đến dưới 40 tuổi chiếm 28,2%; từ 40 tuổi đến dưới 50 tuổi chiếm 16,3%; từ 50 tuổi đến dưới 60 tuổi chiếm 6.0%; từ 60 tuổi trở lên 1,0%. Cũng qua số liệu trên cho thấy ở lứa tuổi thanh niên chiếm đa phần, đặc điểm ở lứa tuổi này dễ bị kích động, lôi kéo rủ rê, bên cạnh đó về nghề nghiệp lại không có hoặc có nhưng không ổn định, lười biếng lao động cộng với tính hiếu thắng ngông cuồng, thích đua đòi ăn chơi, hưởng lạc dẫn đến vi phạm pháp luật.
Về phạm nhân đa số trong độ tuổi lao động chiếm đến trên 92%, về trình độ văn hóa nếu tính trong 5 năm qua: có 428/2.459 phạm nhân mù chữ, chiếm tỉ lệ 17,4%; tiểu học: có 636/2.459 chiếm tỉ lệ 25,3%; trung học cơ sở: có 446/2.459 phạm nhân, chiếm tỉ lệ 19.8%; trung học phổ thông trở lên: có 208/2.459 phạm nhân, chiếm tỉ lệ 8,4%. Trong công tác quản lý phạm nhân, việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém nhất định như: Số lượng cộng tác viên bí mật (CTVBM) còn ít (thời điểm cao nhất là 06 cơ sở bí mật – năm 2016) chưa đủ để bố trí trong tất cả các buồng giam, tổ, đội phạm nhân, hiệu quả hoạt động của một số Cộng tác viên bí mật còn hạn chế. Công tác khai thác phạm nhân còn quá ít, cá biệt có trường hợp bị đối tượng nghi ngờ, cô lập, không phát huy được tác dụng hoặc bị khống chế, lợi dụng cung cấp thông tin sai sự thật. Thời gian chấp hành án của số phạm nhân được giữ lại phân trại rất ngắn nên việc xây dựng và sử dụng Cộng tác viên bí mật cũng gặp rất nhiều khó khăn. Hoạt động kiểm soát công khai thường xuyên (kiểm tra, soát xét thân thể, thư, quà… khi xuất, nhập trại) hiệu quả còn thấp, chưa có máy móc, công cụ, phương tiện hỗ trợ phát hiện vật cấm do thân nhân phạm nhân gửi vào. Do vậy, trong những năm qua nhiều trường hợp phạm nhân lợi dụng sự sơ hở để mang vật cấm như: thuốc lá, tiền mặt… vào buồng giam, khu giam. Thống kê cho thấy trong thời gian từ 2005 đến 2015 đã có 248 lượt phạm nhân bị xử lý kỷ luật, trung bình có trên 24 lượt phạm nhân vi phạm/1 năm.
Đặc điểm về địa vị xã hội và nghề nghiệp: Kết quả khảo sát số lượng phạm nhân ở các trại giam cho thấy số phạm nhân có nghề nghiệp làm ở các công ty nhà nước chiếm 14,3%, số người làm ruộng chiếm 8%, số làm ăn tự do chiếm 71,9%. Trong số làm ăn tự do thì một số lớn có nghề thuộc loại lao động giản đơn hoặc lao động phổ thông, công việc không ổn định, thu nhập thấp không đáp ứng được nhu cầu vật chất của cuộc sống. Số còn lại (loại không có nghề nghiệp) thì lười biếng, cuộc sống chỉ dựa dẫm vào người khác nhưng lại muốn có nhiều tiền ăn tiêu. Số này vào trại giam rất khó bố trí công việc, bên cạnh đó vì thói quen lười nhác không muốn lao động nên thường trốn tránh lao động bằng nhiều thủ đoạn và bịa ra các lý do khác nhau để xin nghỉ lao động. Vì vậy trên phương diện giáo dục cải tạo cần tổ chức dạy nghề, tổ chức lao động cho phạm nhân, một mặt tạo thói quen lao động, mặt khác giúp họ có nghề nghiệp biết làm việc để khi hết hạn tù trở về gia đình, cộng đồng xã hội tự làm ăn sinh sống, không tái phạm. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Công tác giáo dục phạm nhân, đơn vị đã triển khai thực hiện tốt quy định của pháp luật và nội dung giáo dục của Tổng cục Thi hành án Hình sự và Hỗ trợ tư pháp (THAHS&HTTP), những năm qua đã tổ chức các lớp học đầu vào, đầu ra và tổ chức các lớp học theo chương trình, kế hoạch chung của Tổng cục Thi hành án Hình sự và Hỗ trợ tư pháp và Công an tỉnh hướng dẫn. Tuy nhiên, trong công tác giáo dục phạm nhân việc áp dụng công tác vận động quần chúng còn những khó khăn hạn chế như: địa bàn trại tiếp giáp nhiều nhà trọ, công ty, xí nghiệp, với số đông công nhân, người ở trọ là những người nhập cư đến từ những địa phương khác nên gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục họ kết hợp phòng chống sự lôi kéo móc nối của phạm nhân với đối tượng bên ngoài (chủ yếu là người thân hoặc đồng bọn đã ra trại) để thực hiện các hành vi vi phạm (năm 2014 đã bắt được 5 vụ phạm nhân câu kết với người thân cất giấu điện thoại di động, thuốc lá, thuốc tân dược vào khu vực lao động để sử dụng). Mặt khác, trách nhiệm quản lý của chính quyền địa phương đôi lúc còn lỏng lẻo, sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm của các chủ nhà trọ và ban lãnh đạo của các công ty, xí nghiệp khiến cho tình hình an ninh trật tự ở địa bàn xung quanh khu vực trại luôn phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý, giáo dục phạm nhân; trại chưa có thư viện, phòng đọc sách báo chuyên dụng. Việc tổ chức giáo dục dạy nghề và định hướng nghề nghiệp cho phạm nhân chưa triển khai thực hiện được do tính chất công việc của số phạm nhân được giữ lại chủ yếu là phục vụ vệ sinh, sửa chữa và giúp việc trong công tác quản lý can phạm. Trong công tác tổ chức ăn, mặc, ở, khám chữa bệnh, thực hiện chế độ, chính sách cho phạm nhân được bố trí ở trong 11 buồng giam tập thể; diện tích nằm trung bình của mỗi phạm nhân là 1,5 m2.
2.2. Đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam khu vực mền Trung Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
2.2.1. Những thành tựu đạt được
- Nâng cao nhận thức pháp luật
Mục đích của việc giáo dục pháp luật là để giáo dục nâng cao ý thức pháp luật từ đó giúp cho phạm nhân uốn nắn những tư tưởng lệch lạc trong hành vi, hành động của phạm nhân, dần dần hình thành ở họ thói quen chấp hành pháp luật, chấp hành Nội quy trại giam, những quy định của pháp luật.
Theo số liệu khảo sát của tác giả (công bố tại Phụ lục) thì phạm nhân có nhận thức pháp luật rất cao đối với các nội dung được giảng dạy sau khi vào trại giam như: “Quyền cơ bản của công dân (71,6%), quyền và nghĩa vụ của phạm nhân (80%); Nội dung cơ bản về các loại tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự (63,2%). Nội dung cơ bản quy định về hoãn, tạm đình chỉ, miễn giảm thời hạn chấp hành án (70,4%)”. Nhận thức pháp luật của phạm nhân như vậy là điều kiện rất thuận lợi cho công tác giáo dục cải tạo phạm nhân trở thành người có ích cho xã hội. Trong từng nhóm đối tượng thì mức độ nhận thức khác nhau:
- Đối với nhóm có trình độ học vấn thấp:
Theo kết quả khảo sát, trình độ học vấn của phạm nhân tương đối thấp, tiểu học 25,3%, trung học cơ sở 51,2. Trong đó Trình độ tiểu học: loại 1 tiền án 17,4%, loại 3 tiền án trở lên 4,3%; trình độ trung học cơ sở: loại 1 tiền án: 19,8%, loại 2 tiền án 1,1%; trình độ trung học phổ thông: loại 1 tiền án 15,8%, loại 2 tiền án 2,6%, loại 3 tiền án 2,6%; trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học: loại 1 tiền án 16,7%, loại 2 tiền án 2,1%, loại 3 tiền án 12,5%. Tuy nhiên, họ là những người đã từng bị xét xử, tức là trải qua bài học về pháp luật thật đa diện trong thực tế pháp lý, cho dù đó có thể là học vỡ lòng họ cũng có thể lĩnh hội được một tổ hợp kiến thức pháp luật nhất định, tuy không tự giác nhưng họ cũng biết được những nội dung cần thiết của pháp luật, nhưng họ lại tái phạm. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Nhóm phạm nhân phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia: Theo kết quả khảo sát, trình độ học vấn của nhóm tội này cao hơn so với loại tội phạm khác, thậm chí nhóm tội này còn có hiểu biết sâu sắc về chế độ, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đặc biệt là mảng pháp luật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của họ. Họ là những người có trình độ thì họ nắm bắt rõ kiến thức pháp luật hiện hành. Song vì chúng chống đối về tư tưởng, chính trị cho nên sự hiểu biết về pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bị vô hiệu hoặc là để chống đối lại khi có điều kiện thuận lợi. Theo kết quả khảo sát, nhận thức pháp luật của phạm nhân cao (90,9% trở lên) đối với các nội dung liên quan đến quá trình chấp hành án.
Nhóm phạm nhân phạm các tội về trật tự quản lý kinh tế. Kết quả khảo sát cho thấy nhận thức đầy đủ về nội dung liên quan đến phạm nhân chiếm 86,4%, quy định về hoãn, tạm đình chỉ, miễn, giảm thời hạn chấp hành án 77,3%. Tuy nhiên nhận thức các nội dung của hình phạt chỉ chiếm 59,1%. Qua nghiên cứu báo cáo về tình hình loại đối tượng này ta thấy phần lớn khi vào trại chưa nhận rõ tội lỗi và còn đổ lỗi cho cơ chế pháp luật và sự quản lý của nhà nước chưa chặt chẽ.
- Phạm nhân nhận thức được tội lỗi của mình gây ra
Những quan niệm sai lệch được hình thành từ hiểu biết ít ỏi và mơ hồ về pháp luật vốn là nguồn sinh ra thái độ sai trái (tiêu cực) đối với các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Những vi phạm pháp luật ở mức độ tội phạm do chính các chủ thể thi hành và áp dụng pháp luật gây ra lại hết sức trầm trọng. Hiện tượng ấu trĩ (thiếu hiểu biết) về pháp luật đúng là hiện tượng phổ biến đối với người phạm tội. Sự ấu trĩ ở đây thể hiện ở chỗ người phạm tội không có hoặc không đủ kiến thức pháp luật cần thiết và phù hợp với yêu cầu hiện tại, xuất phát từ vị trí vai trò, chức năng của chính người phạm tội.
Mục đích của việc giáo dục pháp luật là để giáo dục nâng cao ý thức pháp luật từ đó giúp cho phạm nhân uốn nắn những tư tưởng lệch lạc trong hành vi, hành động của phạm nhân, dần dần hình thành ở họ thói quen chấp hành pháp luật, chấp hành Nội quy trại giam, những quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Theo số liệu khảo sát thì phạm nhân có nhận thức pháp luật rất cao đối với các nội dung được giảng dạy sau khi vào trại giam như: “Quyền cơ bản của công dân (71,6%), quyền và nghĩa vụ của phạm nhân (80%); Nội dung cơ bản về các loại tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự (63,2%). Nội dung cơ bản quy định về hoãn, tạm đình chỉ, miễn giảm thời hạn chấp hành án (70,4%)”. Nhận thức pháp luật của phạm nhân như vậy là điều kiện rất thuận lợi cho công tác giáo dục cải tạo phạm nhân trở thành người có ích cho xã hội. Trong từng nhóm đối tượng thì mức độ nhận thức khác nhau:
Đối với nhóm có trình độ học vấn thấp: Theo kết quả khảo sát, trình độ học vấn của phạm nhân tương đối thấp, tiểu học 25,3%, trung học cơ sở 51,2. Trong đó Trình độ tiểu học: loại 1 tiền án 17,4%, loại 3 tiền án trở lên 4,3%; trình độ trung học cơ sở: loại 1 tiền án: 19,8%, loại 2 tiền án 1,1%; trình độ trung học phổ thông: loại 1 tiền án 15,8%, loại 2 tiền án 2,6%, loại 3 tiền án 2,6%; trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học: loại 1 tiền án 16,7%, loại 2 tiền án 2,1%, loại 3 tiền án 12,5%. Tuy nhiên, họ là những người đã từng bị xét xử, tức là trải qua bài học về pháp luật thật đa diện trong thực tế pháp lý, cho dù đó có thể là học vỡ lòng họ cũng có thể lĩnh hội được một tổ hợp kiến thức pháp luật nhất định, tuy không tự giác nhưng họ cũng biết được những nội dung cần thiết của pháp luật, nhưng họ lại tái phạm.
Nhóm phạm nhân phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia: Theo kết quả khảo sát, trình độ học vấn của nhóm tội này cao hơn so với loại tội phạm khác, thậm chí nhóm tội này còn có hiểu biết sâu sắc về chế độ, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đặc biệt là mảng pháp luật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của họ. Họ là những người có trình độ thì họ nắm bắt rõ kiến thức pháp luật hiện hành. Song vì họ chống đối về tư tưởng, chính trị cho nên sự hiểu biết về pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bị vô hiệu hoặc là để chống đối lại khi có điều kiện thuận lợi. Theo kết quả khảo sát, nhận thức pháp luật của phạm nhân cao (90,9% trở lên) đối với các nội dung liên quan đến quá trình chấp hành án.
Nhóm phạm nhân phạm các tội về trật tự quản lý kinh tế. Kết quả khảo sát cho thấy nhận thức đầy đủ về nội dung liên quan đến phạm nhân chiếm 86,4%, quy định về hoãn, tạm đình chỉ, miễn, giảm thời hạn chấp hành án 77,3%. Tuy nhiên nhận thức các nội dung của hình phạt chỉ chiếm 59,1%. Qua nghiên cứu báo cáo về tình hình loại đối tượng này ta thấy phần lớn khi vào trại chưa nhận rõ tội lỗi và còn đổ lỗi cho cơ chế pháp luật và sự quản lý của nhà nước chưa chặt chẽ.
“Khi mới đến qua học tập tôi nhận thức pháp luật thi hành án hình sự, 50 điều nội quy trại giam, 4 tiêu chuẩn thi đua chấp hành án, 20 điều nếp sống văn hoá mới, 8 chỉ tiêu thi đua, cùng tất cả các quy định đối với phạm nhân thể hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước là nhân đạo là tạo điều kiện thuận lợi cho người phạm tội cải tạo để trở thành người công dân tốt. Tuy nhiên phương hướng cải tạo của tôi là không cải tạo chỉ chờ pháp luật công minh xem xét bản án oan sai để sớm trả lại công lý và công bằng cho tôi theo đúng chính sách pháp luật của Nhà nước”. (Một Nam phạm nhân trong cuộc khảo sát của tác giả).
Qua các buổi học giáo dục pháp luật, nhiều phạm nhân đã nhận thức rõ tội lỗi của mình tự nguyện cung cấp nhiều nguồn thông tin có giá trị góp phần đấu tranh chống tội phạm ngoài xã hội. Theo kết quả khảo sát 90,4% phạm nhân đã nhận thức rõ được tội lỗi, có những phạm nhân khi vào trại chưa nhận thức tội lỗi nhưng sau khi vào trại được học tập pháp luật đã nhận thức được tội lỗi của mình. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Đến nay, các trại giam miền Trung đã có cơ sở vật chất đảm bảo với các tiện nghi tương đối đầy đủ, có hệ thống nước sạch, các công trình phục vụ sinh hoạt, học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ… cho cán bộ, chiến sĩ (CBCS) và phạm nhân. Phúc lợi xã hội được quan tâm, đời sống vật chất, tinh thần của Cán bộ chiến sĩ và phạm nhân đơn vị ngày càng được nâng lên, cảnh quan, môi trường cải tạo của phạm nhân ngày càng được đảm bảo, chế độ, chính sách của phạm nhân được công khai, minh bạch, từ đó phạm nhân yên tâm, cố gắng cải tạo, thi đua cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
Ngoài việc cho phạm nhân học tập những nội dung cơ bản chính sách của Nhà nước, Luật Thi hành án hình sự và các Nghị định, Thông tư đối với người phạm tội…, trại đã tổ chức cho phạm nhân học tập, giáo dục cho họ về các giá trị, đạo đức, pháp luật, lối sống.
Từ đó dần hình thành và phát triển ở phạm nhân những tình cảm, niềm tin, những thói quen phù hợp với giá trị đã học; giúp phạm nhân có sự thống nhất giữa hành động và ý thức. Qua đó, phạm nhân tự định hướng cho bản thân, biết nhìn lại những lỗi lầm của mình trong quá khứ để vượt qua mặc cảm, tự ti, sửa chữa những sai lầm.
Để phục vụ nhu cầu đọc sách, nghe nhìn của phạm nhân, mỗi buồng giam đều được trang bị tivi màu 21 inch trở lên; hằng ngày được phát một tờ báo Nhân dân. Mỗi Trại có ba thư viện, hiện có trên 5.000 cuốn sách các loại. Để tìm nguồn cung cấp sách cho phạm nhân, trại đã phối hợp với các tổ chức, cá nhân, như Công ty Văn hóa sáng tạo Trí Việt – First New tặng 1.000 cuốn sách “Hạt giống tâm hồn”; 1.000 cuốn sách “Gian truân chỉ là thử thách”; 100 cuốn sách “Vượt lên cái chết” do Cục C86 tặng… Phối hợp với Thư viện các tỉnh miền Trung hằng tháng tổ chức chuyển đổi gần 2.000 đầu sách để phục vụ nhu cầu đọc sách, học tập của phạm nhân…
Bên cạnh đó, đơn vị còn chủ động phối hợp với Hội Luật gia, Trung tâm Trợ giúp pháp lý, Công an, Hội Liên hiệp Thanh niên các tỉnh miền Trung đến tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Đây là hình thức, phương pháp giáo dục mới, thể hiện sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng xã hội đối với công tác giáo dục cải tạo phạm nhân. Ngoài ra, đơn vị liên tục phối hợp với Phòng Giáo dục – đào tạo, Trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn mở các lớp xóa mù chữ cho phạm nhân. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Nhiều phạm nhân đã không kìm được sự xúc động khi tâm sự với cán bộ rằng họ đã vui sướng thế nào khi viết những dòng chữ đầu tiên gửi về cho thân nhân. Những dòng chữ đó dẫu còn nguệch ngoạc, nét chữ run run, nhưng chứa đựng biết bao tình cảm thiêng liêng, sâu kín trong lòng họ đối với người thân và cũng thể hiện tính kiên trì, nhẫn nại mà họ mới được rèn luyện, với sự chỉ bảo tận tình của cán bộ trong môi trường cải tạo – điều đó trước đây họ không có được bởi mỗi khi trình bày nguyện vọng, gửi gắm tâm tư… họ đều phải mượn lời văn, nét chữ của người khác.
Một trong những công tác vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân là việc dạy nghề và truyền nghề cho phạm nhân. Các Trại giam đã phối hợp với một số đối tác đầu tư xây dựng hệ thống nhà xưởng tổ chức lao động, dạy nghề cho phạm nhân; chủ động phối hợp với các trung tâm đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh mở các lớp dạy nghề ngắn hạn như nghề may công nghiệp, nghề sửa chữa xe máy, nghề cơ khí, sửa chữa điện tử và tổ chức thi sát hạch cấp chứng chỉ nghề cho phạm nhân.
Ngoài ra, trại còn tổ chức dạy một số nghề phổ thông cho phạm nhân như đan lát hàng thủ công mỹ nghệ, cạo mủ cây cao su, xây dựng, cơ khí, mộc… giúp phạm nhân rèn luyện sự kiên trì, khéo léo trong lao động, học cho mình một nghề phổ thông để kiếm sống khi ra trại…
Trong những năm qua, nhiều phạm nhân hết án trở về tái hòa nhập cộng đồng, mang theo một hành trang mới là ý thức hoàn lương, xây dựng cuộc sống, tương lai mới, cùng với sự giúp đỡ của gia đình và người thân, chính quyền địa phương, với sự cố gắng chịu khó phấn đấu của bản thân, đã sửa chữa lỗi lầm, hoàn lương, hướng thiện, làm ăn chân chính bằng mồ hôi, sức lao động của mình. Nhiều người trong số đó đã viết thư gửi đến cảm ơn Ban Giám thị, Cán bộ chiến sĩ đơn vị.
Để thân nhân phạm nhân cùng phối hợp với cán bộ trại động viên, giúp đỡ phạm nhân yên tâm lao động, học tập, rèn luyện, cải tạo tiến bộ, công tác tổ chức cho thân nhân thăm gặp, liên lạc với thân nhân, nhận quà, tiền, quản lý tiền lưu ký của phạm nhân được thực hiện nghiêm túc, công khai, đảm bảo đúng quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi để phạm nhân chấp hành án.
Đặc biệt, Ban Giám thị các Trại luôn quan tâm, tạo điều kiện cho phạm nhân chấp hành tốt nội quy trại giam, tích cực học tập, lao động bằng hình thức cho thăm thêm giờ, thêm lượt, gặp thêm lần trong tháng, liên lạc điện thoại với người thân, gặp vợ ở phòng hạnh phúc trong nhà thăm gặp 24 giờ… Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Đặc biệt, nhằm đổi mới phương pháp, hình thức giáo dục, cải tạo phạm nhân, lãnh đạo Tổng cục VIII và Ban Giám thị trại đã tổ chức phát động nhiều phong trào thi đua như tổ chức cuộc thi tìm hiểu về ma túy, phòng chống HIV; tổ chức cho phạm nhân “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; kể chuyện về cuộc đời hoạt động của Bác Hồ; tổ chức cho phạm nhân tìm hiểu và học tập Hiến pháp sửa đổi; thi tìm hiểu Luật Thi hành án hình sự và các nghị định, thông tư; tổ chức học tập và thi đội hình đội ngũ, lễ tiết tác phong; tổ chức tọa đàm văn hóa giao tiếp, ứng xử, hội thi tay nghề giỏi trong phạm nhân; tổ chức Hội thao và thi viết với chủ đề “Nét bút tri ân” chào mừng kỷ niệm 65 năm thành lập lực lượng Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (7/11/1950 – 7/11/2015) để phạm nhân tri ân những người thầy đặc biệt của mình; tổ chức cho phạm nhân tham gia viết thư với chủ đề “Gửi lời xin lỗi”. Đây là các phương pháp giáo dục mang ý nghĩa nhân văn, từ đó đã tác động, giáo dục và làm thay đổi nhận thức rất rõ rệt của phạm nhân.
Trong đó, qua ba năm tổ chức viết thư “Gửi lời xin lỗi”, Ban tổ chức đã nhận được hơn 3.700 bức thư của phạm nhân, trong đó ngoài việc viết cho thân nhân, các phạm nhân còn viết thư gửi người bị hại, người thân bị hại cũng như gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, thầy cô, bạn bè.
Với kết quả này cho thấy đây là một hình thức giáo dục phạm nhân mới; là một bước đột phá trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân, mang ý nghĩa thiết thực và nhân văn, cần được nhân rộng và thực hiện thường xuyên; định kỳ để góp phần vào công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân trở thành người có ích cho xã hội.
Để giúp đỡ, động viên cả về vật chất lẫn tinh thần cho những phạm nhân ốm đau, bệnh nặng, không có thân nhân thăm gặp, có hoàn cảnh kém may mắn khắc phục một phần khó khăn trong đời sống, sinh hoạt để họ an tâm chấp hành án, Ban Giám thị trại đã phát động, tổ chức đóng góp, ủng hộ xây dựng Quỹ “Tấm lòng vàng”. Quỹ do Cán bộ chiến sĩ của trại, thân nhân gia đình phạm nhân và những phạm nhân đang chấp hành án có điều kiện hơn với lòng hảo tâm của mình tự nguyện đóng góp, ủng hộ, xây dựng quỹ.
Trong hai năm Ban Giám thị phát động xây dựng, quyên góp, ủng hộ Quỹ Tấm lòng vàng, đơn vị đã nhận được những tấm lòng hảo tâm của rất nhiều thân nhân phạm nhân với số tiền gần 300 triệu đồng để hỗ trợ, động viên phạm nhân có hoàn cảnh khó khăn, ốm đau, bệnh tật, phần nào đã làm vơi đi những thiệt thòi, vất vả của những phạm nhân này.
- Hình thành ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của phạm nhân
Ý thức trách nhiệm bắt đầu từ việc chăm lo sức khỏe, trau dồi tri thức cho bản thân, cho đến thực hiện các hành vi của mình theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội, rồi từ đó thực thi nghĩa vụ và trách nhiệm một cách tự nguyện. Từ những việc tưởng chừng là đơn giản như vậy nhưng đã góp phần xây dựng được ý thức trách nhiệm với trại giam nói riêng và xã hội nói chung. Dù muốn hay không muốn, đã là phạm nhân thì họ chỉ bị tước bỏ quyền tự do đi lại, nhưng quyền công dân cơ bản thì vẫn tồn tại do đó phạm nhân thì cần phát huy ý thức trách xã hội để xây dựng những cái tốt và mang lại lợi ích công, để tạo nên cái tốt chung cho cả cộng đồng và đó cũng là chăm lo cho cái tốt riêng, như Mác đã “nhận định “trong cái chung nó luôn chứa đựng những cái riêng”. Trách nhiệm đối với xã hội xuất phát từ ý thức và lương tâm mà mỗi phạm nhân cần phải có. Ý thức từ những việc nhỏ nhặt như giúp đỡ những người gặp khó khăn, tham gia vào các hoạt động cộng đồng tại trại giam… sẽ tạo ra vô vàn giá trị tốt đẹp từ vật chất cho đến tinh thần để hình thành nên ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của phạm nhân. Ngoài ra ý trách nhiệm giúp cho phạm nhân có tính kỷ luật và tự giác trong đời sống thường nhật tại trại giam. Tuy nhiên, không hẳn phạm nhân nào cũng đã nhận thức được đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với trại giam. Hiện nay chưa có cuộc khảo sát cũng như không có một số liệu nào nói về ý thức trách nhiệm của phạm nhân ở mức độ nào. Nhưng nếu nhìn vào thực tế những gì đang diễn ra hàng ngày làm thước đo sự ý thức ấy thì câu trả lời sẽ là “chưa cao”. Cụ thể như từ những việc xảy rác bừa bãi, gây gỗ, nói xấu nhau… Có nói đó là sự khủng hoảng ý thức trách nhiệm trầm trọng mà hệ quả làm băng hoại các giá trị đạo đức con người. Nguy hiểm hơn, lâu dần nó lại hình thành một thứ “chuyện bình thường”. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Tuy nhiên, cho dù ý thức trách nhiệm thấp, nhưng chúng ta vẫn không mất đi niềm tin, đó là nhờ trong trại giam vẫn duy trì những giá trị đạo lí truyền thống như “thương người như thế thương thân”, “lá lành đùm lá rách hay “nghèo cho sạch rách cho thơm”.
Với các hành động “tự làm gương” đã làm cho nhiều người trong chúng ta phải suy nghĩ mà tự giác tiết chế những hành vi xấu của mình, mà điều chỉnh các hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của trại giam.
- Nguyên nhân của sự thiếu ý thức trách nhiệm là vì đâu?
Thứ nhất xuất phát từ xã hội. Thời kỳ Cộng sản Nguyên thủy trình độ phát triển còn thấp kém, con người phải nưong tựa, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau chống chọi lại với những khó khăn của thiên nhiên. Mọi thành quả trong thời kỳ này đều phục vụ lợi ích cho cộng đồng. Nhưng, từ khi công cụ kim khí ra đời, con người tiến đến đủ sống và tạo ra sản phẩm dư thừa. Tuy nhiên, sản phẩm dư thừa này không được chia đều cho mỗi cá nhân mà bị chiếm đoạt bởi những người cơ hội. Mọi người không được thừa hưởng như nhau, sự chiếm dụng “của công làm của riêng” đã gây nên sự bất công trong xã hội, thế là không ai còn muốn đóng góp vào “cái chung” nữa. Ý thức trách nhiệm xã hội bị phá hủy từ đó. Đất nước ta trải qua hàng ngàn năm ở chế độ quân chủ. Thời kỳ này lo cho xã hội là công việc của vua chúa, quan lại, dân không có quyền cũng như không được phép bàn chuyện “trị quốc”. Thần dân đã bị giết chết đi ý thức trách nhiệm xã hội bởi có muốn cũng không được. Sau khi xã hội phong kiến sụp đổ, đất nước lại lâm vào hoàn cảnh chiến tranh. Khi chiến tranh kết thúc, chính sách bao cấp của nhà nước đã tạo nên tâm lý “ỷ lại” và yếu tố như một mã gen di truyền cho đến ngày nay khiến người dân trở nên thụ động và thờ ơ, vô cảm với xã hội.
Thứ hai là gia đình, gia đình là tế bào của xã hội, bộ mặt của xã hội cũng xuất phát từ trong gia đình mà ra. Ngày nay một thực trạng khả phố biến ở nhiều gia đình khá giả là ông bố bà mẹ đặc biệt quan tâm “tài năng” cho các con mình khi còn rất bé. Các bé được chú trọng đào tạo tài năng để chí ít không trở thành “hiện tượng” thì cũng phải cho bằng người ta mà quên đi giáo dục ý thức chia sẻ với cộng đồng. Trong khi đó, những đứa trẻ trong những gia đình khó khăn thì phải bươn trải cho cuộc sống hàng ngày. Bản thân của mình còn không được đầy đủ thì lấy gì mà nghĩ cho người khác. Mà nếu sau này chúng thành danh đó cũng là nhờ những công lao của cha mẹ, nên chúng “trả ơn” cho gia đình hơn là “báo đáp” xã hội cũng là điều dễ hiểu nên “ăn cơm nhà, thổi tù và hàng tổng” là câu nói thể hiện yếu tố này.
Thứ ba, một bản năng tự nhiên của con người chúng ta là luôn chăm lo cho bản thân của mình trước đã. Khi làm bất cứ việc gì thì luôn tự hòi “tôi sẽ được gì”. Câu nói “hãy cho đi rồi bạn sẽ được nhận”, nhưng không hẳn ai cũng biết những giá trị mà họ nhận được là gì cho nên các hoạt động thể hiện tinh thần cống hiến cho cộng đồng thường không được ủng hộ và phát huy rộng rãi. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Qua đó cho chúng ta thấy cá nhân chưa thể hiện được vai trò của người người công dân trong xã hội, gia đình chưa thể hiện hết nhiệm vụ giáo dục của mình, và môi trường xã hội chưa tốt để vun bón cho ý thức xã hội, thì phạm nhân trong trại giam làm sao để thể hiện ý thức trách nhiệm của mình khi không có sự giáo dục.
Muốn mỗi phạm nhân có ý thức trách nhiệm thì trước tiên phải làm họ nhận thức được các giá trị mà mình đã cống hiến. Phải làm cho họ hiểu những việc làm cống hiến cho trại giam không chỉ đơn thuần là “cho đi”, mà ngược lại họ sẽ “nhận lại” được rất nhiều. Ngoài ra muốn phạm nhân này chăm lo cho phạm nhân khác, đặt nhu cầu lợi ích chung của trại giam lên trên thì trại giam cũng phải có nhiệm vụ đảm bảo công bằng cho nhu cầu và lợi ích chính đáng của phạm nhân, bởi suy cho cùng phạm nhân chỉ đóng góp cho trại giam khi họ được thừa hưởng nhu cầu và lợi ích từ xã hội.
Pháp luật là hệ thống qui tắc hành vi do nhà nước xác lập nhằm điều chỉnh hành vi của mọi thành viên trong xã hội. Thông qua hệ thống quy phạm pháp luật, nhà nước qui định quyền và nghĩa vụ của mỗi con người trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội.
“Tôi nhận rõ tội lỗi, thành khẩn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả hành vi vi phạm của mình gây ra. Tôi nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, bản án quyết định của toà án, nội quy trại giam. Tôi luôn tin tưởng vào các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước” (Một Nam phạm nhân trong cuộc khảo sát của tác giả).
Theo kết quả khảo sát của tác giả có 93,6% phạm nhân đã hiểu được đường lối chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người lầm lỗi. Chính vì vậy, sau khi ra trại đã có nhiều phạm nhân đã trở thành những công dân có ích cho xã hội.
2.2.2. Một số vấn đề đang đặt ra trong công tác giáo dục pháp luật tại các trại giam khu vực miền Trung Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Việc đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân của công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam hiện nay, bên cạnh cơ sở lý luận, luôn đòi hỏi phải có những minh chứng, luận cứ thực tiễn. Các minh chứng, luận cứ thực tiễn sẽ giúp cho việc phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân của công tác Giáo dục pháp luật cho PN mang tính đúng đắn, khách quan và khoa học, tránh được căn bệnh giáo điều, sự suy diễn chủ quan, cảm tính hay tùy tiện. Theo lôgíc đó, để tìm kiếm các minh chứng, luận cứ thực tiễn cho việc đánh giá đúng thực trạng công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam trong những năm qua, tác giả đã sử dụng phương pháp Điều tra xã hội học thông qua việc xây dựng, phát ra, thu về và xử lý số liệu hai loại Phiếu thu thập ý kiến: Mẫu phiếu dành cho cán bộ Giáo dục pháp luật trong TG và Mẫu phiếu dành cho PN trong các TG. Nội dung các mẫu phiếu gồm những câu hỏi liên quan tới các khía cạnh khác nhau của hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG. Các phiếu thu thập ý kiến được phát ra – thu về (Mẫu tại Phụ lục, thực hiện tháng 03/2017) tại 6 TG do Bộ Công an quản lý, đứng chân trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở miền Trung gồm: 1) TG Thanh Lâm (tỉnh Thanh Hóa); 2) TG số 6 (tỉnh Nghệ An); 3) TG Xuân Hà (tỉnh Hà Tĩnh); 4) TG Bình Điền (tỉnh Thừa Thiên – Huế); 4) TG Đắk Tân (tỉnh Đắk Lắk); 5) TG Đại Bình (tỉnh Lâm Đồng); 6) TG Thủ Đức (tỉnh Bình Thuận).
Về số lượng phiếu, đối với Phiếu thu thập ý kiến (Dành cho Cán bộ giáo dục pháp luật trong TG): số lượng phiếu phát ra là 650 phiếu; số lượng phiếu thu về là 584 phiếu; đạt tỷ lệ 89.84%. Đối với Phiếu thu thập ý kiến (Dành cho PN trong các TG): số lượng phiếu phát ra là 1300 phiếu; số lượng phiếu thu về là 1258 phiếu; đạt tỷ lệ 96.76%. Sở dĩ phải xây dựng, triển khai hai mẫu phiếu thu thập ý kiến dành cho hai đối tượng khảo sát khác nhau (CBGDPL với tư cách là chủ thể giáo dục và PN với tư cách là đối tượng tiếp nhận Giáo dục pháp luật) là để có đầy đủ cơ sở so sánh, đối chiếu kết quả thu được, ý kiến của hai nhóm đối tượng này trước cùng một vấn đề bởi họ là “đối tác” của nhau trong hoạt động Giáo dục pháp luật. Ngoài ra, để bảo đảm tính xác thực, độ tin cậy của kết quả Điều tra xã hội học, tác giả còn sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn thông qua việc gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn trực tiếp các Cán bộ giáo dục pháp luật và PN tại 6 TG miền Trung.
Trên cơ sở kết quả xử lý phiếu, tác giả tập trung phân tích, đánh giá thực trạng công tác Giáo dục pháp luật cho PN ở Miền Trung – Việt Nam trong những năm qua trên phương diện những điểm thành công, kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập của công tác này; phân tích các nguyên nhân đưa đến những thành công và nguyên nhân của những hạn chế. Cuộc Điều tra xã hội học có mục đích phục vụ trực tiếp cho việc viết luận văn, bởi vậy, các bảng số liệu và từng số liệu cụ thể được sử dụng trong luận văn, nếu không có sự dẫn nguồn cụ thể khác, thì có nghĩa đó là các bảng số liệu và số liệu được khai thác từ cuộc Điều tra xã hội học do chính tác giả luận văn thực hiện. Các mẫu phiếu thu thập ý kiến và kết quả xử lý phiếu được trình bày ở phần Phụ lục của luận văn.
- Về mặt hạn chế, công tác Giáo dục pháp luật cho PN ở Việt Nam hiện nay vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập sau đây:
Số lượng cán bộ giáo dục pháp luật của các trại giam tuy có sự gia tăng, đại đa số đã được trang bị kiến thức pháp luật, song vẫn thiếu và trình độ không đồng đều. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Kết quả Điều tra xã hội học cho thấy, trong khi có 52.99% Cán bộ giáo dục pháp luật tham gia cuộc khảo sát trả lời họ có trình độ chuyên môn từ cử nhân luật trở lên thì vẫn còn 11.05% Cán bộ giáo dục pháp luật của các TG mới chỉ đạt trình độ sơ cấp về luật, nghĩa là họ mới chỉ được học một số môn luật lồng ghép trong chương trình đào tạo không chuyên về luật hoặc tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật. Đối với số này, việc trực tiếp lên lớp giảng dạy pháp luật cho PN chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn. Kết quả khảo sát cũng cho thấy có 35.96% Cán bộ giáo dục pháp luật cho PN đạt trình độ trung cấp luật. Tổng cộng, số Cán bộ giáo dục pháp luật có trình độ sơ cấp và trung cấp luật chiếm 47.01% hợp lệ. Ngoài ra, vẫn còn một số ít (02.05%) Cán bộ giáo dục pháp luật chưa được trang bị kiến thức pháp luật với những lý do như: chưa tham dự một chương trình đào tạo, tập huấn kiến thức pháp luật nào; đã có học qua một vài môn luật nhưng không liên quan đến nội dung Giáo dục pháp luật cho PN hiện nay nên coi như chưa được trang bị. Số này chủ yếu là những cán bộ tốt nghiệp các trường đại học và cao đẳng sư phạm, được tuyển dụng để làm công tác dạy văn hóa cho PN. Những con số trên đây cho thấy trình độ kiến thức pháp luật của đội ngũ Cán bộ giáo dục pháp luật không đồng đều.
Một khía cạnh khác thể hiện sự không đồng đều về trình độ, kéo theo sự hạn chế về chất lượng của đội ngũ Cán bộ giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là đa số họ được trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật thông qua hình thức đào tạo vừa làm vừa học (hệ tại chức) và tập huấn chuyên đề, bồi dưỡng kiến thức pháp luật. Các số liệu Điều tra xã hội học cho thấy chỉ có 08.99% Cán bộ giáo dục pháp luật được hỏi đã được đào tạo Đại học Luật/Cảnh sát hệ chính quy và 22.40% tốt nghiệp Trung cấp Luật/Cảnh sát hệ chính quy; tổng cộng là 31.39%. Số còn lại 68.61% được đào tạo Đại học Luật/Cảnh sát hệ vừa làm vừa học (42.15%), đào tạo Trung cấp Luật/Cảnh sát hệ vừa làm vừa học (16.22%), đào tạo Đại học Luật hệ từ xa (00.36%) và hình thức tập huấn chuyên đề, bồi dưỡng kiến thức pháp luật (09.88%). Dĩ nhiên, các hình thức đào tạo trên và văn bằng được cấp đều nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia và có giá trị pháp lý như nhau; song, ai cũng hiểu được đặc thù của các hình thức đào tạo này và chất lượng đào tạo không thể sánh với đào tạo hệ chính quy tập trung.
- Báo cáo Tổng kết 30 năm đổi mới công tác giáo dục cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng của Tổng cục VIII nêu rõ:
Đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục, quản giáo còn thiếu về số lượng, một bộ phận còn yếu về chất lượng, nhất là thiếu đội ngũ cán bộ được đào tạo cơ bản về chuyên ngành tâm lý, giáo dục, sư phạm, dạy nghề nên thiếu kiến thức, hạn chế, bất cập về khả năng tư duy và kỹ năng tổ chức giải quyết các yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của công tác giáo dục cải tạo phạm nhân.
Nhiều trại giam chưa thực hiện được việc sàng lọc, phân loại đối tượng phạm nhân theo mức án, theo trình độ học vấn hoặc theo nhu cầu, nguyện vọng của phạm nhân trước khi tổ chức giáo dục pháp luật cho họ.
Đối tượng PN trong các TG có cơ cấu rất đa dạng và mang những nét đặc thù riêng chỉ có ở đối tượng này, như: phạm những tội khác nhau và có mức án phạt tù khác nhau; trình độ học vấn rất không đồng đều, từ mù chữ cho đến tốt nghiệp đại học, thậm chí sau đại học; có sự đa dạng về thành phần dân tộc; có nghề nghiệp và địa bàn cư trú rất khác nhau trước khi nhập trại; đa số không có hoặc rất thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật; một bộ phận có diễn biến tâm lý phức tạp trong quá trình giáo dục cải tạo; có cả PN là người nước ngoài… Những nét đặc thù trên đây dẫn đến một thực tế là mặt bằng nhận thức của các PN trong một TG rất không đồng đều. Nếu chủ thể tổ chức Giáo dục pháp luật xếp chung tất cả các đối tượng PN này vào cùng một lớp học để tiến hành Giáo dục pháp luật thì hiệu quả giáo dục sẽ rất không đồng đều và thấp.
Từ thực tế đó, việc tiến hành sàng lọc, phân loại PN theo mức án, theo trình độ học vấn hoặc theo nhu cầu, nguyện vọng của PN trước khi tổ chức Giáo dục pháp luật cho họ là rất cần thiết. Khảo sát vấn đề này ở đội ngũ Cán bộ giáo dục pháp luật của các TG và ở PN cho kết quả như sau: tổng cộng có tới 83.86% Cán bộ giáo dục pháp luật khẳng định việc tiến hành sàng lọc, phân loại PN theo mức án, theo trình độ học vấn hoặc theo nhu cầu, nguyện vọng của PN trước khi tổ chức Giáo dục pháp luật cho họ là rất cần thiết (43.23%) và cần thiết (40.63%). Về phía các PN được khảo sát, tỷ lệ tương ứng về mức độ rất cần thiết và cần thiết là 46.85% và 29.93%, tổng cộng là 76.78%. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Mặc dù việc tiến hành sàng lọc, phân loại PN theo mức án, theo trình độ học vấn hoặc theo nhu cầu, nguyện vọng của PN trước khi tổ chức Giáo dục pháp luật cho họ là cần thiết như vậy; khi được hỏi cũng có tới 59.34% Cán bộ giáo dục pháp luật và 53.85% PN nói họ có được phân loại, nhưng trên thực tế chỉ có rất ít TG làm được việc này. Lý do được các TG đưa ra là vì lực lượng Cán bộ giáo dục pháp luật mỏng, thiếu cán bộ Giáo dục pháp luật là người dân tộc, PN lại đông, quá tải so với quy mô giam giữ của TG nên không đủ sức tổ chức Giáo dục pháp luật theo sàng lọc, phân loại PN. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả của công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG, cũng là hạn chế của công tác này.
Về nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân, một số nội dung đã lạc hậu, phân bố không đồng đều, chậm triển khai, thiếu học liệu; chưa có những nội dung chuyên biệt phù hợp với tình hình tội phạm ở từng khu vực.
Nội dung Giáo dục pháp luật cho PN hiện đang được triển khai theo chương trình do Tổng cục VIII phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục biên soạn. Đó là bộ tài liệu “Giáo dục công dân” gồm 3 tập: Tập I dành cho PN mới đến TG chấp hành hình phạt tù; Tập II dành cho PN đang chấp hành hình phạt tù; Tập III dành cho PN sắp chấp hành xong hình phạt tù; trong mỗi tập đều có nội dung Giáo dục pháp luật. Kết quả phỏng vấn sâu các Cán bộ giáo dục pháp luật tại các TG và trao đổi ý kiến với PN do tác giả luận văn thực hiện cho thấy các ý kiến đều khẳng định những bài học trong Bộ tài liệu nêu trên về cơ bản là phù hợp, cần thiết; nội dung phù hợp với tâm lý, nhu cầu thông tin của PN. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện nội dung chương trình này ở các TG đang bộc lộ hạn chế, bất cập sau: Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Thứ nhất, khoản 1 Điều 28 Luật Thi hành án hình sự quy định “Phạm nhân phải học pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hoá, học nghề”. Theo tinh thần đó, việc học pháp luật (GDPL) phải được đặt ngang hàng với giáo dục công dân. Tuy nhiên, theo chương trình hiện hành thì nội dung Giáo dục pháp luật cho PN chỉ là một chủ đề thuộc nội dung giáo dục công dân. Điều đó dễ dẫn đến tình trạng Cán bộ giáo dục pháp luật xem nhẹ phần Giáo dục pháp luật và về mặt hình thức trình bày cũng như tên gọi của Bộ tài liệu, nhiều người dễ nhầm tưởng không có phần Giáo dục pháp luật. Hơn nữa, đặt tên Bộ tài liệu là “Giáo dục công dân” để dạy cho PN cũng không ổn, bởi trong TG, khái niệm “công dân” không còn nguyên nghĩa do PN đã bị tước và hạn chế một số quyền công dân. Tên gọi đúng, phù hợp với các nội dung của Bộ tài liệu phải là “Giáo dục phạm nhân”.
Thứ hai, trong Bộ tài liệu “Giáo dục công dân” gồm 3 tập nêu trên, mỗi tập đều gồm 3 chủ đề là giáo dục đạo đức, Giáo dục pháp luật và giáo dục kỹ năng sống với số tiết giảng được phân bổ còn nhiều bất cập.
Ngoài ra, trong tập II còn dành 4 bài (7 tiết) cho phần tự chọn, linh hoạt thuộc nội dung giáo dục đạo đức và 4 bài (7 tiết) cho phần tự chọn, linh hoạt thuộc nội dung Giáo dục pháp luật. Trong 3 nhóm nội dung ở 3 tập tài liệu nói trên, nội dung Giáo dục pháp luật luôn được dành số trang nhiều nhất. Ví dụ, tập II có 183 trang thì nội dung giáo dục đạo đức gồm 53 trang, nội dung Giáo dục pháp luật gồm 106 trang và nội dung giáo dục kỹ năng sống gồm 24 trang; suy ra, nội dung Giáo dục pháp luật chiếm 57.92% dung lượng trang của tập II. So sánh giữa số tiết dành cho Giáo dục pháp luật với số lượng trang dành cho nội dung Giáo dục pháp luật thì dễ dàng nhận thấy phần Giáo dục pháp luật là quá nặng đối với cả người dạy và người học; nói đúng hơn, số tiết dành cho mỗi phần đều ít so với nội dung cần truyền đạt cho PN. Từ đây, khó tránh khỏi tình trạng dạy và học theo kiểu hình thức, đối phó cho xong chương trình mà không chú trọng tới chất lượng, hiệu quả học tập của PN.
Thứ ba, nhiều nội dung Giáo dục pháp luật trong tập I liên quan đến Pháp lệnh Thi hành án phạt tù và Quy chế TG, quyền và nghĩa vụ của PN không còn phù hợp sau khi Luật Thi hành án hình sự và Nghị định số 117/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi hành. Trong khi chờ đợi Tổng cục VIII tổ chức biên soạn lại Bộ tài liệu “Giáo dục công dân” mới, nếu đội ngũ Cán bộ giáo dục pháp luật của các TG không chủ động, linh hoạt trong cập nhật thông tin, không tự giác biên soạn lại bài giảng theo các văn bản Quy phạm pháp luật mới thì sẽ dẫn đến việc truyền đạt cho PN những thông tin, kiến thức pháp luật đã lạc hậu, lỗi thời.
Thứ tư, vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, một số TG ở nước ta chưa tổ chức được các lớp Giáo dục pháp luật cho số PN đang chấp hành án phạt tù trong TG theo những nội dung Giáo dục pháp luật quy định tại Tập II “Giáo dục công dân”; nhiều PN, do đó, cũng chưa được học tập những nội dung pháp luật này. Đây là sự thiệt thòi đối với PN trong quá trình chấp hành án phạt tù; những TG đó, bởi vậy, cũng chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao nếu không nói là chưa thực hiện đúng quy định pháp luật về Giáo dục pháp luật cho PN. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Thứ năm, tài liệu học tập pháp luật dành cho PN hiện cũng rất ít, số lượng bản photocopy Bộ tài liệu “Giáo dục công dân” trong thư viện, tủ sách, của các TG hiện không đáng kể, đồng nghĩa với việc nhiều PN không được phát tài liệu học tập, phải dùng chung tài liệu học tập cùng PN khác. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng tiếp thu nội dung Giáo dục pháp luật của PN, bởi rất nhiều người trong số họ không đủ năng lực để có thể nghe giảng một lần là hiểu ngay, đòi hỏi phải tự đọc thêm tài liệu thì may ra mới hiểu.
Thứ sáu, đặc điểm tình hình PN trong các TG ở Việt Nam cho thấy nổi lên sự khác biệt về cơ cấu các tội danh giữa các TG đứng chân trên những khu vực, địa bàn khác nhau (chẳng hạn, tại các trại giam ở khu vực miền núi phía Bắc Trung Bộ tỷ lệ phạm nhân phạm các tội về ma túy chiếm tỷ lệ cao tới 63.13%); khác biệt về đặc điểm nhân thân (phạm tội lần đầu, đã có tiền án…); khác biệt về cơ cấu giới tính, lứa tuổi, thành phần dân tộc… Những khác biệt đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả Giáo dục pháp luật chung và đặt ra những yêu cầu riêng về Giáo dục pháp luật cho mỗi nhóm đối tượng. Tình hình trên đòi hỏi Tổng cục VIII và các TG phải xây dựng những chuyên đề Giáo dục pháp luật có tính chất chuyên biệt dành riêng cho các nhóm đối tượng và theo đặc điểm của từng địa bàn, khu vực. Ví dụ: đối với PN là người dân tộc thiểu số cần xây dựng chuyên đề Giáo dục pháp luật chuyên biệt về chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc… Tuy nhiên, cho đến nay, Tổng cục VIII và các TG vẫn chưa thực hiện được việc này.
Về phương pháp, đa số cán bộ giáo dục pháp luật của các trại giam vẫn thiên về sử dụng phương pháp thuyết trình, còn nhiều hạn chế về kỹ năng nghiệp vụ sư phạm.
Sự cố gắng của đội ngũ Cán bộ giáo dục pháp luật cho PN tại các TG trong vận dụng các phương pháp Giáo dục pháp luật có tính tương tác, tạo sự chủ động, tích cực của PN trong lĩnh hội tri thức pháp luật là điều cần ghi nhận, Tuy nhiên, trong Giáo dục pháp luật cho PN tại các TG từ trước đến nay, phương pháp tương tác sư phạm theo kiểu thảo luận, tranh luận, nêu các tình huống pháp luật thực tế… còn ít được vận dụng. Các phương pháp được sử dụng chủ yếu là thuyết trình theo kiểu độc thoại, một chiều. Theo cách thức này, Cán bộ giáo dục pháp luật chủ yếu đóng vai trò “thợ nói”, cứ việc truyền đạt nội dung bài học về pháp luật, PN cứ việc nghe, hiểu được thì hiểu, ghi chép được thì ghi chép, hiểu và ghi chép được đến đâu là việc của PN một cách mặc nhiên; có nghĩa là, Cán bộ giáo dục pháp luật đứng ở vị trí trung tâm của Giáo dục pháp luật, còn PN rơi vào trạng thái thụ động, tự phát. Rõ ràng, phương pháp Giáo dục pháp luật kiểu này không phù hợp với đối tượng người học là PN – những người vốn dĩ tham dự học tập pháp luật trong tâm thế gò bó, miễn cưỡng. Do ảnh hưởng lâu dài của phương pháp độc thoại nên khi được hỏi, đa số PN (78.30%) khẳng định Cán bộ giáo dục pháp luật vẫn dùng phương pháp độc thoại; các phương pháp tương tác sư phạm hai chiều ít được sử dụng hơn. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Phương pháp độc thoại một chiều khiến cho PN rơi vào trạng thái thụ động trong tiếp thu kiến thức, bị “căng cứng” về tâm lý, chán nản về thái độ và mất đi sự hưng phấn, năng động, tích cực trong quá trình học tập pháp luật. Hệ quả tất yếu của phương pháp này là chất lượng, hiệu quả của công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG bị giảm sút nghiêm trọng; người dạy – Cán bộ giáo dục pháp luật – rơi vào trạng thái quan liêu, kinh viện, giáo điều; còn người học – PN – thì xác định học tập theo kiểu đối phó cho xong. Ngoài ra, thiếu hoặc không có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cũng là nhược điểm, hạn chế khá phổ biến của đội ngũ Cán bộ giáo dục pháp luật cho PN trong các TG hiện nay. Kỹ năng nghiệp vụ sư phạm là gốc rễ tạo nên bài giảng sinh động, tiết học hấp dẫn người nghe. Thiếu kỹ năng nghiệp vụ sư phạm đồng nghĩa với những bài giảng khô khan, nhàm chán, tiết học uể oải, cảm giác kéo dài đối với PN. Qua phỏng vấn, trao đổi trực tiếp của tác giả luận văn với nhiều Cán bộ giáo dục pháp luật của các TG, đại đa số Cán bộ giáo dục pháp luật, nhất là những người tốt nghiệp Đại học Luật, Học viện Cảnh sát, đều phàn nàn về việc họ thiếu các kỹ năng sư phạm cần thiết nên hoạt động giảng bài thường khó hấp dẫn, lôi cuốn được PN. Họ cũng đề nghị Tổng cục VIII, Bộ Công an thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ Cán bộ giáo dục pháp luật cho PN. “Một bộ phận cán bộ giáo dục còn thiếu kinh nghiệm, nghiệp vụ sư phạm nên khi làm công tác giáo dục chưa mang lại hiệu quả cao”.
Việc áp dụng công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ hoạt động giảng bài trên lớp cho PN trong các TG cũng rất hạn chế. Theo khảo sát thực tế của tác giả luận văn tại nhiều TG thì hiện chỉ có rất ít Cán bộ giáo dục pháp luật ở một số TG đã soạn giáo án điện tử, tự mua máy tính xách tay và TG có trang bị máy chiếu phục vụ giảng bài cho PN trên lớp; đa số các TG khác chưa thực hiện được việc này.
Những hạn chế, bất cập nêu trên về phương pháp Giáo dục pháp luật, dĩ nhiên, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả giảng dạy pháp luật cho PN.
Hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam tuy đã đa dạng hóa nhưng chưa đi vào chiều sâu và thực chất
Hình thức Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở miền Trung hiện nay chủ yếu vẫn là tổ chức thành các lớp học tập trung tại hội trường. Điều này được 96.40% Cán bộ giáo dục pháp luật và 81.16% PN tham gia cuộc Điều tra xã hội học khẳng định. Với số lượng PN tương đối đông và phương pháp giảng bài độc thoại thì hiệu quả học tập pháp luật của PN sẽ bị hạn chế. Thậm chí, qua trao đổi, phỏng vấn trực tiếp Cán bộ giáo dục pháp luật và PN tại một số TG thì có những TG mới chỉ tổ chức đọc, phổ biến nội dung Giáo dục pháp luật cho PN qua hệ thống loa truyền thanh, mạng truyền hình cáp nội bộ hoặc có tổ chức lớp học nhưng còn mang tính hình thức. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Tùy theo điều kiện cụ thể của từng TG, hình thức Giáo dục pháp luật cho PN tuy đã được đa dạng hóa nhưng cũng chủ yếu dừng lại ở cấp độ hình thức, chưa đi vào chiều sâu và thực chất của từng hình thức Giáo dục pháp luật cụ thể. Chẳng hạn, hình thức cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật cho PN đã được một số TG triển khai, được 58.05% Cán bộ giáo dục pháp luật và 66.77% PN ghi nhận, nhưng hạn chế, bất cập ở chỗ rất thiếu các loại sách, báo, tạp chí chuyên ngành luật; các loại tài liệu pháp luật, tài liệu học tập theo nội dung chương trình Giáo dục pháp luật dành cho PN. Quan sát thực tế tại một số TG cho thấy trong tủ sách dành cho PN chủ yếu là các loại truyện tranh, sách văn học…, rất ít đầu sách về pháp luật.
Hình thức niêm yết thông tin pháp luật tại bảng tin của trại/phân trại, ở buồng giam PN được hầu hết các TG áp dụng nhưng chủ yếu là quy chế TG, nội quy buồng giam; các chế độ, chính sách, quy định pháp luật mới đối với PN ít khi được cập nhật.
Hình thức tổ chức cho PN thi tìm hiểu pháp luật ít được các TG triển khai; trong khi đó có PN đề xuất: “Tôi có nguyện vọng được tổ chức học tập, thi tìm hiểu pháp luật tại trại giam để tập thể phạm nhân chúng tôi hiểu biết về pháp luật nhiều hơn, nhất là đối với phạm nhân là người dân tộc thiểu số”.
Hình thức Giáo dục pháp luật thông qua lồng ghép trong chương trình học văn hóa, học nghề, hoạt động văn hóa – văn nghệ, thể thao, sinh hoạt tổ, đội hầu như chưa được áp dụng vì cán bộ dạy văn hóa, dạy nghề thiếu thông tin, kiến thức pháp luật hoặc không có thời gian để lồng ghép.
Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục pháp luật cho phạm nhân tuy có được thực hiện nhưng còn mang nặng tính hình thức. Trong hoạt động Giáo dục pháp luật, công tác kiểm tra, đánh giá là bước cuối cùng nhằm nhận xét, đánh giá kết quả tiếp thu kiến thức, sự chuyển biến trong nhận thức, hiểu biết pháp luật của đối tượng sau khi kết thúc một đợt học tập pháp luật. Việc kiểm tra, đánh giá kết quả cũng là thông tin phản hồi, là thước đo đánh giá tính phù hợp của nội dung, tính hiệu quả của phương pháp, hình thức Giáo dục pháp luật cho PN. Theo tinh thần đó, các TG đã có chú ý đến công tác đánh giá kết quả Giáo dục pháp luật cho PN thông qua việc phát cho PN Bản thu hoạch kết quả học tập pháp luật. Tùy từng TG mà Bản thu hoạch có thể là giấy trắng phát cho PN để họ tự viết ra những gì học tập được; hoặc có thể là Bản thu hoạch được thiết kế sẵn, ngoài việc điền đầy đủ các thông tin cá nhân (họ tên, năm sinh, quê quán, can tội…), PN được yêu cầu viết thu hoạch theo các mục: I- Nguyên nhân dẫn đến phạm tội; II- Nội dung đã được học; III- Nhận thức sau khi được học tập; IV- Cung cấp những thông tin đồng phạm và các hành vi vi phạm pháp luật ngoài xã hội mà chưa bị phát hiện; V- Cam kết trong thời gian chấp hành án hoặc chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập pháp luật của PN mới chỉ mang tính hình thức, bộc lộ những hạn chế, bất cập sau: Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
Trong Bản thu hoạch kết quả học tập pháp luật, ở mỗi mục chỉ dành một số ít dòng trống để PN tự ghi nội dung được học, nhận thức sau khi được học tập pháp luật. Đối với những PN nghiêm túc, muốn viết đầy đủ những nội dung pháp luật mà họ nhận thức được thì sẽ không đủ chỗ để viết thu hoạch.
Trong Bản thu hoạch kết quả học tập pháp luật cũng không có chỗ dành cho Cán bộ giáo dục pháp luật cho điểm hoặc ghi nhận xét nội dung thu hoạch của PN. Đối với những PN có năng lực phán đoán thì họ sẽ suy luận “viết thu hoạch cho vui”. Yêu cầu PN viết thu hoạch nhưng lại không tổ chức đánh giá, cho điểm thì làm sao lượng hóa, biết được nhận thức của PN chuyển biến như thế nào sau một chương trình học tập pháp luật. Trên thực tế, các TG chưa thực hiện việc đánh giá kết quả học tập pháp luật của PN theo đúng nghĩa sư phạm.
Hệ quả tất yếu của hạn chế nêu trên là PN viết thu hoạch mà không nhận được thông tin phản hồi từ Cán bộ giáo dục pháp luật, không biết bài viết của mình có đạt yêu cầu không, có được biểu dương, khen ngợi hay phải viết lại, học lại.
Về cơ sở vật chất, mặc dù đã được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới; song cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân chưa đồng đều giữa các trại giam và chưa đáp ứng nhu cầu của công tác này.
Số liệu thống kê về cơ sở vật chất phục vụ công tác Giáo dục pháp luật cho PN của một số TG cho thấy tình trạng không đồng đều giữa các TG ở Miền Trung về cơ sở vật chất phục vụ công tác Giáo dục pháp luật cho PN. Trong khi các TG như Bình Điền được trang bị cơ sở vật chất phục vụ công tác Giáo dục pháp luật cho PN khá đầy đủ về số lượng phòng học, tủ sách, đầu sách, thì các TG khác lại chỉ được trang bị khá sơ sài, ngoài nhà học tập thì còn thiếu phòng đọc, tủ sách, đầu sách phục vụ Giáo dục pháp luật cho PN. Những TG còn thiếu thốn cơ sở vật chất chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn trong tổ chức Giáo dục pháp luật cho PN. Mặt khác, có tương đối đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ Giáo dục pháp luật cho PN nhưng nếu các TG không biết cách bố trí khai thác, sử dụng một cách khoa học, hiệu quả thì cũng khó đạt được kết quả phục vụ Giáo dục pháp luật cho PN như mong muốn.
Kết luận chương 2
Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là hoạt động có mục đích, có tổ chức, tuân theo kế hoạch, chương trình nhất định; được các TG triển khai thực hiện thông qua các phương pháp đặc thù và bằng những hình thức phù hợp, hướng tới cung cấp, trang bị cho PN những thông tin, kiến thức pháp luật; làm hình thành ở PN tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật phù hợp; giúp họ có khả năng hòa nhập cộng đồng, biết sống và làm việc theo pháp luật sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù.
Bên cạnh những đặc điểm chung của Giáo dục pháp luật, hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG còn có những đặc thù riêng của nó, như: Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là hoạt động giáo dục diễn ra trong một môi trường đặc biệt và dành cho những đối tượng đặc biệt: môi trường TG và đối tượng là PN đang chấp hành án phạt tù; là quá trình hoạt động diễn ra theo cơ chế/mô hình “vừa xây, vừa chống”; quan hệ quản lý là quan hệ có tính chất mệnh lệnh – phục tùng…
Công tác Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Miền Trung có vai trò đặc biệt quan trọng, một trong số đó là góp phần chuẩn bị hành trang kiến thức pháp luật để PN tái hòa nhập cộng đồng sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù, trở thành công dân có ích cho xã hội, không phạm tội mới. Cũng như Giáo dục pháp luật cho các đối tượng xã hội khác, hoạt động Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG được cấu thành từ các yếu tố: mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức Giáo dục pháp luật. Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG là hoạt động khó khăn, phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm cả chủ quan và khách quan. Luận văn: Thực trạng giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp giáo dục PL cho phạm nhân tại các trại giam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
