Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành về thỏa thuận thi hành án dân sự và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện thỏa thuận trong thi hành án dân sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

3.1.1. Những kết quả đạt được

Thực tiễn THADS đã cho thấy hiệu quả đáng kể của biện pháp thỏa thuận THADS. Trong quá trình giải quyết hồ sơ THA, cơ quan, tổ chức THADS đảm bảo và tạo mọi điều kiện cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Kế thừa nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận của pháp luật dân sự, pháp luật THADS cũng có những quy định về quyền thỏa thuận THA của các đương sự.

Đánh giá về những kết quả đạt được của ngành THADS trong những năm vừa qua cho thấy các cơ quan, tổ chức THADS đã quan tâm thực hiện tốt phương châm kiên trì hòa giải, thuyết phục để đương sự nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết hồ sơ THADS, thông qua đó thỏa thuận, thương lượng với nhau, từ đó góp phần dung hòa các mâu thuẫn và giữ gìn tình đoàn kết. Do tác động của cơ chế thị trường, tình trạng tranh chấp trong các giao dịch, quan hệ xã hội có chiều hướng gia tăng, nhất là các tranh chấp đất đai, dân sự, hôn nhân gia đình… xảy ra ngày càng đa dạng, phức tạp. Trước thực trạng đó, cơ quan, tổ chức THADS đã càng chú trọng việc thỏa thuận giữa các đương sự. Với tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình, cán bộ công chức ngành THADS, đặc biệt là các chấp hành viên, thừa phát lại bằng kiến thức, kinh nghiệm sống, bằng lòng tận tâm với công việc đã tạo điều kiện cho các đương sự thỏa thuận thành công nhiều vụ việc THADS như thỏa thuận về nội dung THA, thỏa thuận về giá, tổ chức thẩm định giá, về nhận lại tài sản để khấu trừ vào tiền THA, về việc áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập, về phương thức THA, thỏa thuận về giảm giá tài sản khi không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành, về giải tỏa kê biên… “Cơ chế định giá tài sản nếu các bên đương sự không thỏa thuận được giá tài sản thì có thể thỏa thuận chọn hoặc Chấp hành viên chọn tổ chức thẩm định giá để xác định giá tài sản để đưa tài sản ra bán đấu giá đã xóa bỏ sự nghi ngờ về tính xác thực của giá tài sản do Hội đồng định giá thực hiện mà Chủ tịch Hội đồng là Chấp hành viên như trước đây, giảm thiểu những khiếu nại của đương sự về giá tài sản, giảm bớt phần rủi ro cho Chấp hành viên do không có đủ chuyên môn để quyết định giá tài sản với tư cách là Chủ tịch hội đồng định giá tài sản” [1, tr. 33, 34]. Việc thỏa thuận THADS đã giúp cơ quan, tổ chức THADS giải quyết dứt điểm các vụ việc lớn, phức tạp tồn đọng; góp phần giảm đáng kể khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dài trong THADS. Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Ví dụ: Bà Hồ Thị Minh Thảo và bà Nguyễn Thị Nga có tranh chấp với nhau về việc vay tài sản. Hai bên không thể tự giải quyết nên đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả quyết định: buộc bà Nguyễn Thị Nga phải trả cho bà Hồ Thị Minh Thảo số tiền 142.000.000đ (Một trăm bốn mươi hai triệu đồng) và khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Tuy nhiên thời gian kéo dài, bà Nga không thực hiện nghĩa vụ của mình theo nội dung bản án. Bà Thảo làm đơn yêu cầu THA gửi Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây, Cơ quan THA đã ban hành Quyết định THA, tống đạt và thông báo theo đúng quy định pháp luật cho bà Nga về việc phải thi hành khoản tiền 142.000.000đ (Một trăm bốn mươi hai triệu đồng) và khoản tiền lãi cho bà Thảo. Chấp hành viên phụ trách hồ sơ đã tiến hành xác minh và động viên thuyết phục cả hai bên người được THA và người phải THA về việc thực hiện nội dung bản án, quyết định THA. Sau đó, vì thông cảm với điều kiện khó khăn của bà Nga, hai bên đương sự (bà Thảo và bà Nga vốn là bạn bè thân thiết từ trước) có văn bản thỏa thuận với nhau đề nghị Cơ quan THADS không tiếp tục việc THA. Chi cục THADS ghi nhận sự thỏa thuận của các bên và đối chiếu với các quy định của pháp luật, các yếu tố đạo đức đồng thời xem xét việc thỏa thuận này không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác thì sau đó đã ban hành Quyết định đình chỉ THA theo điểm c khoản 1 Điều 50 LTHADS. Hồ sơ THA kết thúc với sự cảm thông, chia sẻ của người được THA và sự tích cực tác nghiệp, giải thích pháp luật của đồng chí Chấp hành viên và các cán bộ THA khác.

3.1.2. Những hạn chế, vướng mắc Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

3.1.2.1. Những hạn chế, vướng mắc trong quy định về thỏa thuận thi hành án dân sự

Về thỏa thuận về giá và tổ chức thẩm định giá, thỏa thuận về giao tài sản để THA, thỏa thuận về giảm giá tài sản khi không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành.

Theo quy định Điều 98, 100, 104 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì chỉ có người được THA, người phải THA được thỏa thuận về giá, tổ chức thẩm định giá, thỏa thuận về giao tài sản để THA, thỏa thuận về giảm giá tài sản khi không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không phải là đương sự theo quy định tại Điều 3 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 nên không được thỏa thuận về giá, tổ chức thẩm định giá, thỏa thuận về giao tài sản để THA, thỏa thuận về giảm giá tài sản khi không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành. Điều này là chưa hợp lý, không bảo vệ quyền lợi của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong THADS khi mà tài sản bị kê biên và định giá là thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác.

  • Về thỏa thuận khi tài sản thi hành án thuộc sở hữu chung với người khác

Điều 74 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã quy định các trường hợp để xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung. Tuy nhiên, LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 không quy định chế tài khi người phải THA và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất cố tình không thỏa thuận phân chia tài sản chung, quyền sử dụng đất chung phải THA hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy khi họ không thực hiện theo yêu cầu của Chấp hành viên thì cũng không có biện pháp chế tài nào cả.

  • Về yêu cầu định giá lại đối với trường hợp các đương sự đã thỏa thuận được về giá

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 99 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản. Có thể thấy, quyền yêu cầu định giá lại được thực hiện sau khi kê biên, định giá tài sản cho đến trước khi thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Tuy nhiên, pháp luật THADS đã không có một quy định nào buộc đương sự phải nêu ra lý do làm căn cứ cho yêu cầu của mình. Điều này sẽ dẫn đến sự tùy tiện hoặc cố tình lợi dụng quyền yêu cầu định giá lại để kéo dài thời gian THA một cách “hợp pháp” gây khó khăn cho công tác THA. Tuy nhiên, theo quy định trên thì việc định giá tài sản dù được thực hiện bằng hình thức nào, kể cả việc định giá do các bên tự thỏa thuận ngay tại thời điểm kê biên cũng có thể bị người phải THA hoặc người được THA yêu cầu định giá lại, điều này rõ ràng là không hợp lý, vì lẽ, các bên có quyền tự phá vỡ các thỏa thuận của chính mình và có thể sẽ gây thiệt hại cho phía còn lại mà không bị một ràng buộc nào về mặt pháp lý. Đồng thời, việc yêu cầu định giá lại sẽ không có giá trị khi các bên đã thỏa thuận được về giá của tài sản. Bởi vì, bản chất các thỏa thuận của đương sự về việc giải quyết vụ việc là giao dich dân sự thông thường nên thỏa thuận đó có hiệu lực ngay tại thời điểm các bên thỏa thuận (được ghi nhận bằng biên bản thỏa thuận) và có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên. Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Ví dụ: Bản án số 18/2010/KDTM-ST ngày 29/12/2010 buộc bà Phạm Thị Đông và người có quyền và nghĩa vụ liên quan là ông Trần Đình Thảo phải trả cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam số tiền 13,9 tỷ đồng và khoản lãi phát sinh, nếu bà Đông không trả được khoản tiền cho Ngân hàng thì kê biên, bán tài sản thế chấp để THA bao gồm giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Cơ quan THA đã kê biên và bán đấu giá thành tài sản ngày 27/9/2013 và người mua được tài sản trên đã nộp đủ số tiền. Tuy nhiên, người phải THA liên tục nại ra các lý do để khiếu nại đến các cơ quan, mặc dù đã được giải quyết nhưng người phải THA không chấp nhận, tiếp tục khởi kiện ra Tòa án để hủy kết quả bán đấu giá mục đích để trì hoãn việc giao tài sản. Cũng tương tự, trong quá trình tổ chức thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 69/2011/QĐST.KDTM ngày 22/6/2011, khi kê biên tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, người phải THA đã thỏa thuận đồng ý di chuyển cây cảnh nếu có người mua trúng đấu giá nhưng khi cơ quan THA chuẩn bị giao tài sản cho người mua trúng đấu giá thì người phải THA không chịu di dời tài sản mà yêu cầu phải trả thêm tiền là giá trị của các loại cây cảnh… [30, tr. 258].

Đây là trường hợp các đương sự đạt được thỏa thuận trước khi bán đấu giá tài sản nhưng sau đó người phải THA gây khó khăn bằng cách yêu cầu định giá lại. Do đó, cần phải có hạn chế không cho đương sự yêu cầu định giá khi các bên đã đạt được thỏa thuận về xử lý tài sản.

  • Về hiệu lực của thỏa thuận THADS

Pháp luật THADS chưa quy định cụ thể về hiệu lực của thỏa thuận THADS. Theo quy định pháp luật, kết quả thoả thuận của các đương sự không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì được ghi nhận và kết quả THA theo thoả thuận được công nhận (khoản 1 Điều 6 LTHADS). Tuy nhiên, nếu các bên không thực hiện theo đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận hoặc chỉ thực hiện một phần nghĩa vụ đã thỏa thuận thì các bên sẽ buộc thực hiện theo thỏa thuận hay theo bản án, quyết định dân sự?

Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì trước khi yêu cầu THA hoặc đã yêu cầu THA nhưng cơ quan cơ quan, tổ chức THA chưa ra quyết định THA, bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu THA vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu THA đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định dân sự. Còn khi cơ quan, tổ chức THA đã ra quyết định THA các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan, tổ chức THADS căn cứ nội dung quyết định THA và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 50 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014. Như đã phân tích ở mục 2.6 các quy định trên của pháp luật còn chưa cụ thể, chưa giải quyết được triệt để mọi tình huống xảy ra trên thực tế. Văn bản ghi nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự chưa có giá trị pháp lý trong thực tiễn. Khi có sự vi phạm thỏa thuận xảy ra thì không có chế tài nào để xử lý đương sự nên quy định như vậy là chưa đủ tính răn đe và bắt buộc đương sự phải thi hành. Lỗ hổng này của pháp luật THADS đã tạo điều kiện để cho đương sự lách luật, cố tình chống đối, chây ỳ, ỷ lại, thiếu tính hợp tác dẫn tới tình trạng nhiều án theo đơn có giá trị lớn tồn đọng tại các cơ quan, tổ chức THADS.

3.1.2.2. Những hạn chế trong thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật thi hành án dân sự về thỏa thuận thi hành án dân sự

THADS là việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định trên thực tế. Khi tổ chức THA, nếu nhìn nhận sự việc chỉ từ nội dung của bản án, quyết định thì chưa thấy hết tính chất của nó. Để tổ chức thi hành bản án, quyết định là rất phức tạp do phát sinh nhiều vấn đề mà khi xét xử Tòa án có thể chưa nhìn nhận được. Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

  • Thứ nhất, sự chống đối, kiên quyết không thỏa thuận của đương sự:

Theo quy định của pháp luật THADS, cơ quan THADS phải tuân thủ các trình tự, thủ tục THA một cách chặt chẽ; bắt đầu từ khi thụ lý, ban hành quyết định đến quá trình tổ chức THA. Tuy nhiên, khó khăn nhất là trong việc tổ chức THA. Các vấn đề tranh chấp dân sự thường diễn biến rất phức tạp qua nhiều giai đoạn nhưng khi xét xử Tòa án chưa xem xét hoặc chưa điều tra một cách kỹ lưỡng để đưa ra phán quyết phù hợp, đúng pháp luật. Đến khi tổ chức THA, đương sự không đồng tình, phản đối, kiên quyết không thi hành. Do đó, việc thỏa thuận THADS là rất quan trọng, giúp dung hòa mâu thuẫn, hài hòa lợi ích của hai bên tranh chấp để từ đó đi tới kết thúc hồ sơ THA.

Tuy nhiên trên thực tế rất khó khăn để hai bên người được THA và người phải THA thỏa thuận với nhau. Nếu bản án, quyết định được giải quyết một cách công tâm, khách quan, đúng pháp luật thì tính tự nguyện thi hành của đương sự trong giai đoạn THA rất cao. Theo quy định của pháp luật, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải được mọi công dân, mọi tổ chức tôn trọng và thực hiện. Đây chính là nguyên tắc Hiến định. Tuy nhiên, nếu việc giải quyết của Tòa án thiếu tính thuyết phục, không có tính khả thi trên thực tế, không được sự đồng tình của người dân thì dù bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì vẫn rất khó có thể tổ chức thi hành trên thực tế và thường xuyên vấp phải sự chống đối, không thể tiến hành thỏa thuận được cho hai bên đương sự.

  • Thứ hai, đương sự đã tiến hành thỏa thuận với nhau, có văn bản ghi nhận và sự chứng kiến của cán bộ THADS nhưng họ vẫn không thực hiện theo đúng thỏa thuận đã đưa ra

THADS là giai đoạn rất nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi cùa người phải THA. Vì vậy, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định. Chấp hành viên và cán bộ THA đã tìm mọi biện pháp thích hợp, đúng pháp luật để vận động, thuyết phục người phải THA tự nguyện thi hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các bên đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thỏa thuận với nhau trong THADS trên cơ sở việc thỏa thuận này không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Tuy nhiên, người phải THA mặc dù có điều kiện thi hành, đã tiến hành thương lượng với người được THA nhưng bên cạnh đó vẫn tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh để không thi hành theo đúng nội dung đã thỏa thuận. Điều này đã gây khó khăn cả về mặt thời gian và công sức cho Cơ quan THA. Do đó, Cơ quan THA buộc phải tổ chức cưỡng chế để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử vụ án tranh chấp vay tài sản giữa ông Từ Văn Hiệp – ông Vũ Mạnh Hà và buộc ông Hiệp phải trả cho ông Hà 14.500.000đ (Mười bốn triệu, năm trăm nghìn đồng). Sau khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật, ông Hiệp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định. Ông Hà làm đơn yêu cầu THA và nộp tại Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả. Cơ quan THADS thụ lý đơn, ban hành Quyết định THA, tống đạt và thông báo hợp pháp cho cả hai bên đương sự. Sau đó, các bên thỏa thuận với nhau trước sự chứng kiến của đồng chí Chấp hành viên phụ trách hồ sơ về việc sẽ thi hành khoản tiền theo từng tháng, mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Ông Hiệp trả được cho ông Hà 5.000.000đ (Năm triệu đồng) thì không tiếp tục thi hành nghĩa vụ còn lại. Chấp hành viên tiến hành xác minh và đôn đốc thi hành, được biết ông Hiệp có công ăn việc làm, thu nhập gia đình ổn định nhưng thái độ chây ỳ, thiếu hợp tác, không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Sau nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở, thuyết phục ông Hiệp mà không có kết quả, Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả ban hành Quyết định trừ vào thu nhập của ông Hiệp tại Công ty than Thống Nhất TKV (nơi ông Hiệp làm việc).

  • Thứ ba, khó khăn trong việc thực hiện thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung theo quy định tại Điều 74 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014

Trên thực tế, chấp hành viên đã hướng dẫn các đương sự, các đồng sở hữu chủ thực hiện theo quy định tại Điều 74 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuy nhiên, việc thực hiện thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung gặp một số vướng mắc sau [42]:

Người phải THA và các người đồng sở hữu, sử dụng chung không không thỏa thuận, không thực hiện việc khởi kiện, vì không muốn tài sản của mình bị xử lý THA. Một số trường hợp không khởi kiện nhưng lại có đơn khiếu nại, yêu cầu không được kê biên vì đó là tài sản chung của gia đình. Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Chấp hành viên tiếp tục giải thích yêu cầu người được THA khởi kiện, đề nghị Tòa án xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung để kê biên, xử lý THA thì Tòa án không thụ lý với lý do: Tài liệu kèm theo đơn chưa có văn bản thỏa thuận của các đồng sở hữu, sử dụng về việc xác định phần tài sản cụ thể của người phải THA trong khối tài sản chung; đồng thời phần đất thuộc quyền sử dụng chung chưa được đo đạc tách ra thành thửa đất riêng của người phải THA trong khối tài sản Việc yêu cầu này của Tòa án thì Chấp hành viên, người được THA không thể thực hiện được trong thực tế vì các đồng sở hữu, sử dụng không thỏa thuận; việc án chưa kê biên thì không thể có thửa đất được đo đạc, tách thửa theo yêu cầu.

Chấp hành viên hướng dẫn đương sự khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung để kê biên THA thì không được Tòa án chấp nhận bởi lý do trên; quá bức xúc với vụ việc của mình, người được THA quay lại khiếu nại Chấp hành viên chậm THA.

  • Thứ tư, việc thỏa thuận về giá và tổ chức thẩm định giá rất khó thực hiện trên thực tế

Việc định giá tài sản nếu được thông qua bằng sự thỏa thuận của các bên đương sự sẽ là cách tốt nhất cho việc xử lý tài sản để THA. Một là, không tốn chi phí và thời gian thẩm định giá. Hai là, do các bên tự thỏa thuận nên tránh được khiếu nại về giá tài sản cũng như sẽ thuận lợi hơn khi giao tài sản cho người trúng đấu giá. Tuy nhiên, việc định giá theo hình thức này rất ít khi xảy ra. Bởi lẽ, khi cơ quan THA đã phải sử dụng đến biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản, cũng đồng nghĩa với việc các bên đương sự đã không tìm được tiếng nói chung trong việc THA. Vì vậy, mà việc các bên ngồi lại với nhau để thỏa thuận về giá tài sản kê biên cũng như việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá là rất khó xảy ra [43].

  • Thứ năm, vi phạm trong việc thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá và bán đấu giá tài sản.

Cụ thể: Không cho đương sự thực hiện quyền thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá, vi phạm thời hạn đương sự thực hiện quyền thỏa thuận về tổ chức đấu giá. Đồng thời, khi thực hiện ký hợp đồng Chấp hành viên đã không chú ý về những điều khoản thỏa thuận, thỏa thuận không chặt chẽ như: thỏa thuận thời điểm chuyển tiền mua trúng đấu giá của Trung tâm bán đấu giá không rõ, chưa ràng buộc trách nhiệm của tổ chức bán đấu giá trong việc chuyển tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản cho cơ quan THA, dẫn đến việc không thu hồi được để xử lý THA theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Bán đấu giá không thành lần thứ ba nhưng không thông báo cho người được THA nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án. Đồng thời, dẫn đến việc thi hành án bị kéo dài [30, tr. 175, 176].

  • Thứ sáu, vi phạm trong quá trình thỏa thuận về giá tài sản kê biên

Trên thực tế, nhiều trường hợp Chấp hành viên chạy theo thành tích, đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết pháp luật và tâm lý của các đương sự muốn giải quyết nhanh vụ việc để tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của nên đã ép các đương sự thỏa thuận, làm cho nội dung thỏa thuận không thể hiện đúng ý chí của họ. Nhiều vụ việc sau khi các đương sự đã thỏa thuận được với nhau, Chấp hành viên lập biên bản ghi nhận nhưng các đương sự vẫn kiên quyết không thi hành, lúc này mâu thuẫn không những không được giải quyết mà còn trở nên phức tạp hơn, nhiều vụ việc phải giải quyết nhiều lần những vẫn không có kết quả.

Ví dụ: Chấp hành viên Chi cục THADS huyện T, tỉnh H tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản nhà, đất của vợ chồng bà Hoan vào ngày 24/8/2011, bán đấu giá thành vào ngày 19/12/2011. Quá trình tổ chức THA Chấp hành viên đã ra thông báo, tống đạt cho bà Hoan, ông Dần để ông, bà thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Tuy nhiên, đến ngày 20/12/2011 ông Dần, bà Hoan mới có đơn khiếu nại và ngày 28/12/2012, Chi cục THADS huyện T mới nhận được đơn của ông Dần, bà Hoan khiếu nại Chấp hành viên có các hành vi trái pháp luật sau: (01) khiếu nại Chấp hành viên kê biên tài sản có giá trị lớn hơn nhiều đối với nghĩa vụ phải THA; (02) kê biên nhà đất là nơi ở của người phải THA khi người phải THA còn có các tài sản khác; (03) bà Hoan và gia đình không thỏa thuận với người được THA về giá của tài sản kê biên nhưng biên bản kê biên (đã đánh máy sẵn) là đã thỏa thuận giá trị tài sản là không đúng thực tế, việc Chấp hành viên đưa ra giá tài sản kê biên là 705.000.000đ là quá thấp so với giá trị thực tế của tài sản; (04) kê biên tài sản chung vợ chồng nhưng ông Dần không được thông báo theo khoản 1 Điều 74 LTHADS nên ông không thực hiện được các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình [30, tr. 310]. Sau đó, người phải THA đã khiếu nại đến cơ quan THADS có thẩm quyền.

3.1.3. Những nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Những tồn tại khi thực hiện thỏa thuận giữa các đương sự trong giai đoạn THADS trước hết xuất phát từ nguyên nhân khách quan, cụ thể:

Xã hội ngày càng phát triển, hội nhập quốc tế sâu sắc, các quan hệ xã hội vận động, phát triển không ngừng nên có sự thay đổi nhanh chóng, tính chất cũng ngày càng đa dạng, phức tạp hơn, nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh nên pháp luật nội dung cũng như pháp luật tố tụng, pháp luật THADS không thể điều chỉnh kịp thời. Cụ thể, một số quy định của pháp luật chưa đáp ứng thực tế, có những quy định chưa phù hợp hoặc không còn phù hợp, chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng, chi tiết, cụ thể và có những cách hiểu khác nhau hoặc chưa được hướng dẫn kịp thời, đặc biệt là các quy định liên quan đến thỏa thuận THADS của các đương sự. Có những quy định chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Số lượng các vụ việc THADS ngày càng gia tăng và phức tạp trong khi nhiều Cơ quan THADS chưa được đảm bảo về số lượng biên chế, trang bị, điều kiện cơ sở vật chất…

Sự phối hợp giữa Cơ quan THADS và các đương sự, giữa các đương sự với nhau vẫn chưa thực sự chặt chẽ nên giải quyết các việc THADS theo hướng các bên tự thỏa thuận vẫn chưa đạt hiệu quả tốt nhất.

  • Bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì còn tồn tại nhiều nguyên nhân chủ quan như:

Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của các cán bộ, công chức trong ngành THADS cũng là nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế trong quá trình thỏa thuận Trình độ, năng lực và ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức, kể cả cán bộ lãnh đạo quản lý còn hạn chế. Vẫn còn tình trạng Chấp hành viên, cán bộ làm công tác THADS vi phạm trình tự, thủ tục thi hành án, bị xử lý kỷ luật, một số trường hợp còn có biểu hiện tiêu cực, gây phiền hà, nhũng nhiễu đối với đương sự. Chẳng hạn, “Trong hai năm 2010, 2011, đã xử lý kỷ luật 86 trường hợp, trong đó: khiển trách 33 trường hợp; cảnh cáo 25 trường hợp; hạ bậc lương 03 trường hợp; giáng chức 01 trường hợp; cách chức 09 trường hợp; buộc thôi việc 08 trường hợp; tạm đình chỉ công tác 06 trường hợp, do bị khởi tố hình sự; 01 trường hợp bị kỷ luật khai trừ khỏi Đảng, đang làm thủ tục kỷ luật về chính quyền” [1].

Ngoài ra, trình độ, sự hiểu biết pháp luật của đương sự còn hạn chế cũng là một nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc các đương sự tự thỏa thuận, thương lượng với nhau. Ở nước ta hiện nay, tình trạng người dân chưa hiểu biết nhiều về pháp luật nói chung và pháp luật THADS nói riêng còn phổ biến. Khi đương sự không biết quy định của pháp luật thì họ không thể biết được những quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quá trình THA cho nên sẽ gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách hợp pháp. Có nhiều đương sự chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà không quan tâm đến lợi ích của người khác, gây khó khăn cho việc các bên tự thỏa thuận với nhau.

Để việc giải quyết các vụ việc THA theo hướng để các đương sự có thể tự thỏa thuận với nhau thì việc khắc phục những hạn chế trên là vô cùng cần thiết.

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN THỎA THUẬN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

3.2.1. Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự về thỏa thuận trong thi hành án dân sự

Thứ nhất, cần quy định người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong THADS là đương sự để họ có quyền thỏa thuận về giá và tổ chức thẩm định giá, thỏa thuận về giao tài sản để THA, thỏa thuận về giảm giá tài sản khi không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành

Nhằm bảo đảm quyền lợi của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong THADS thì người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải được tham gia thỏa thuận liên quan đến tài sản của họ. Do đó, để người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận về giá và tổ chức thẩm định giá, thỏa thuận về giao tài sản để THA, thỏa thuận về giảm giá tài sản khi không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì cần coi họ là đương sự trong THADS.

Thứ hai, cần quy định chế tài khi người phải THA và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất cố tình không thỏa thuận phân chia tài sản chung, quyền sử dụng đất chung phải THA hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết

Nhằm đảm bảo quyền lợi của người được THA cũng như thực hiện được bản án, quyết định dân sự thì trong trường hợp xác định người phải THA có tài sản chung với người khác thì khi người phải THA và các chủ sở hữu chung cố tình không thỏa thuận về việc phân chia tài sản cũng như cố tình không khởi kiện ra Tòa án thì cần phải có chế tài đối với những người gây khó khăn cho quá trình THADS.

Thứ ba, cần quy định khi các bên thỏa thuận được về giá tài sản kê biên thì các bên không được yêu cầu định giá lại tài sản.

Nhằm tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự cũng như đảm bảo giá trị pháp lý của thỏa thuận theo quy định của pháp luật dân sự thì trong trường hợp các bên đã thỏa thuận được về giá tài sản kê biên, thì không bên nào được quyền yêu cầu định giá lại tài sản. Quy định như vậy mới tạo cho đương sự ý thức tôn trọng các thỏa thuận của chính họ đưa ra, cũng như ý thức chấp hành pháp luật nói chung.

Thứ tư, cần quy định rõ hơn về hiệu lực thỏa thuận THADS

Quy định về hiệu lực thỏa thuận THADS phải rõ ràng. Kết quả THA theo thỏa thuận được công nhận phải cụ thể. Biên bản ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên, với sự chứng kiến của Chấp hành viên phải có giá trị pháp lý thực sự trên thực tế. Cần thiết có chế tài xử lý đối với những trường hợp vi phạm nội dung biên bản. Có như vậy mới tạo dựng được niềm tin của người dân, từ đó nâng cao vị thế của hệ thống Cơ quan THADS.

3.2.2. Kiến nghị thực hiện pháp luật về thỏa thuận thi hành án dân sự Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Để những quy định của pháp luật về thỏa thuận THADS được áp dụng có hiệu quả trong thực tế cần phải thực hiện đồng bộ một số biện pháp sau:

  • Thứ nhất, nâng cao năng lực, trình độ của chấp hành viên, thừa phát lại

Để xác định thỏa thuận của các đương sự trong THADS có phù hợp với pháp luật hay không? Hoặc thuyết phục các đương sự thỏa thuận trong THADS thì đòi hỏi vị trí, vai trò và trách nhiệm của chấp hành viên, thừa phát lại rất lớn, ngoài kiến thức về pháp luật nói chung và pháp luật THADS nói riêng thì còn rất cần kiến thức về xã hội và các kỹ năng khác.

Chấp hành viên, thừa phát lại phải có đủ năng lực để đảm đương nhiệm vụ được giao. Chấp hành viên, thừa phát lại phải nắm vững, chuyên sâu về pháp luật THA. Đây chính là cốt lõi chuyên môn và là cơ sở vững chắc để xây dựng bản lĩnh nghề nghiệp cho chấp hành viên, thừa phát lại. Để ghi nhận thỏa thuận hoặc thuyết phục hai bên đương sự thỏa thuận với nhau thì bản thân chấp hành viên, thừa phát lại phải có một vốn kiến thức xã hội vững chắc, phong phú.

Giao tiếp nói chung và giao tiếp trong THADS nói riêng của chấp hành viên, thừa phát lại có một vị trí và vai trò rất lớn đối với hiệu quả công tác THA, đặc biệt là việc thuyết phục đương sự thỏa thuận với nhau. Vì vậy, chấp hành viên, thừa phát lại phải không ngừng nâng cao kỹ năng giao tiếp của bản thân.

Giao tiếp của chấp hành viên, thừa phát lại với đương sự trong THA là giao tiếp nhiều chiều, phức tạp. Quyền lợi bên này đồng thời là nghĩa vụ tương ứng bên kia nên rất gay gắt và quyết liệt. Do đó, chấp hành viên, thừa phát lại phải bao quát quá trình thỏa thuận của đương sự; chú ý đến quan điểm của các bên để điều chỉnh nhằm giảm bớt căng thẳng không cần thiết, trên cơ sở đó dẫn dắt các đương sự về những vấn đề có thể thỏa thuận được. Để làm được việc trên, chấp hành viên, thừa phát lại phải thực sự là người chủ động xử lý các tình huống, phải hết sức công bằng, khách quan. Ngoài ra, còn phải bao quát được cả về nội dung thỏa thuận, không để các đương sự nêu ra những vấn đề quá xa so với nội dung của bản án và quyết định THA.

  • Thứ hai, chấp hành viên, thừa phát lại tiến hành thỏa thuận THADS phải nắm vững pháp luật về thỏa thuận THADS

Chấp hành viên, thừa phát lại phải nắm vững các quy định của pháp luật về thỏa thuận THADS, tránh tình trạng do không nắm vững quy định của pháp luật mà giải thích sai cho đương sự, dẫn tới việc dù đạt được sự thỏa thuận của đương sự nhưng thỏa thuận đó lại vi phạm điều cấm pháp luật, hơn nữa xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự.

Khi nhận được hồ sơ THA, chấp hành viên, thừa phát lại phải nắm chắc đặc thù, đặc điểm bản án đang thi hành (hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động hay hôn nhân gia đình); phải hiểu rõ và cặn kẽ nhân thân của các đương sự (họ tên, chỗ ở, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hóa…). Ngoài ra, chấp hành viên, thừa phát lại phải hiểu rõ những mâu thuẫn, tranh chấp nào đã phát sinh nhằm chứng minh được nghĩa vụ và quyền lợi chính đáng của đương sự và tính đúng đắn của các quy phạm pháp luật do Tòa án áp dụng để giải quyết vụ việc; từ đó xây dựng được kế hoạch cho những bước tiếp theo. Đây là bước đầu rất quan trọng của chấp hành viên, thừa phát lại đối với việc thuyết phục đương sự thỏa thuận với nhau.

Khi tiến hành thỏa thuận, chấp hành viên, thừa phát lại không phải chỉ đơn thuần nắm vững pháp luật về hình thức mà còn phải nắm vững pháp luật về nội dung để giải thích cho các đương sự bởi trình độ dân trí của người dân chưa cao, trình độ lập pháp còn hạn chế, nhiều quy định của pháp luật còn khó hiểu. Vì vậy, người dân chưa thể hiểu rõ được các quy định của pháp luật, chưa hiểu biết được hành vi cùa mình là đúng hay sai, quyền và lợi ích hợp pháp của mình có bị xâm phạm hay không.

Như vậy, để giải quyết hồ sơ THA hiệu quả và đúng quy định của pháp luật thì ngoài việc nhận thức rõ vai trò, vị trí, mục đích, ý nghĩa của hoạt động thỏa thuận THADS giữa các đương sự, chấp hành viên, thừa phát lại phải nắm vững hơn ai hết các chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung và những vấn đề liên quan đến hồ sơ THA mà mình chịu trách nhiệm nói riêng.

  • Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về thỏa thuận THADS

Cần tiếp tục triển khai công tác tuyên truyền pháp luật nói chung và pháp luật THADS nói riêng; các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho cán bộ các cấp, các ngành và nhân dân lao động.

Hiện nay, trình độ dân trí của nước ta chưa cao, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nhiều mâu thuẫn, tranh chấp dân sự phát sinh do các bên đương sự không hiểu biết pháp luật. Có trường hợp, đương sự không nắm được quyền và nghĩa vụ của mình theo nội dung bản án, quyết định làm cho quá trình tổ chức THA nói chung và quá trình thỏa thuận THADS nói riêng trở nên khó khăn. Bởi vậy, Đảng và Nhà nước cần có chính sách phù hợp, tổ chức tuyên truyền pháp luật rộng rãi, đặc biệt đối với những vùng sâu, vùng xa, nơi có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Để góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, việc thông tin, cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật, tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật, mở rộng các hình thức tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý cho các tầng lớp nhân dân trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết. Trong đó, công tác phổ biển, giáo dục pháp luật cần đa dạng các hình thức để phù hợp với từng đối tượng được phổ biến ở khu vực thành thị, nông thôn, vùng dân tộc ít người; với từng đối tượng có độ tuổi hay trình độ khác nhau… Ngoài ra, cần tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa, vai trò của thỏa thuận THADS trong đời sống xã hội, để khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự chủ động thỏa thuận, thương lượng với nhau, giảm bớt công việc của cơ quan, tổ chức THADS cũng như căng thẳng trong quan hệ xã hội.

  • Thứ tư, cần thiết có sự đồng tình, ủng hộ của các cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội tại xã, phường

Hoạt động THA mang tính chất hành chính – tư pháp, là hoạt động phối hợp. Trong hoạt động của mình, chấp hành viên, thừa phát lại phải thường xuyên liên hệ rất chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị – xã hội để cùng phối hợp trong các hoạt động liên quan đến THA.

Đây là lực lượng hậu thuẫn rất lớn, rất mạnh mẽ mà chấp hành viên, thừa phát lại phải tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của họ trong hoạt động THA. Nếu vụ việc THA nào mà cơ quan, tổ chức THA làm tốt công tác phối hợp với địa phương mà được cả hệ thống chính trị ở đó ủng hộ, đồng thuận thì kết quả thi hành vụ việc đó được thực thi một cách trọn vẹn trong bầu không khí đoàn kết. Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Để tăng cường hiệu quả trong thuyết phục, động viên các đương sự thì địa điểm tổ chức thỏa thuận nên tại trụ sở cơ quan, tổ chức THADS với thành phần được mời đa dạng như đại diện chính quyền địa phương, đại diện tổ chức chính trị – xã hội… Với sự sắp xếp như vậy thì buổi làm việc sẽ đạt được rất nhiều mục đích, ngoài việc thuyết phục các đương sự tự nguyện THA trên cơ sở thỏa thuận với nhau thì còn thông báo cho cấp ủy chính quyền địa phương biết trong thời gian tới sẽ có một vụ việc THA tại địa phương và đề nghị lãnh đạo địa phương quan tâm ủng hộ và phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức THA, giải đáp một cách thỏa đáng những thắc mắc của các thành phần tham gia để đi đến thống nhất về nhận thức nhằm tuyên truyền, vận động các đương sự tự nguyện THA và tuyên truyền cho nhân dân trong khu vực THA đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.

  • Thứ năm, sự thỏa thuận THADS cần có định hướng ngay từ giai đoạn Tòa án giải quyết vụ án

Mặc dù sự thoả thuận của các đương sự là quan trọng nhất nhưng để sự thoả thuận đó thực sự đạt được hiệu quả và có tính khả thi cũng như tạo thuận lợi cho cơ quan, tổ chức THA thì cần có sự định hướng ngay từ giai đoạn giải quyết vụ việc của các cơ quan có thẩm quyền. Để làm được điều này, cơ quan, tổ chức THADS cần tham gia đóng góp ý kiến hoặc đề nghị Tòa án phối hợp chặt chẽ, khuyến khích đương sự thỏa thuận và tự nguyện THA ngay trong quá trình giải quyết vụ việc. Có như vậy, hoạt động THADS mới thực sự đạt hiệu quả trên thực tế, làm giảm lượng án tồn đọng.

Trên đây là một số kiến nghị về việc xây dựng và thực hiện pháp luật để nâng cao hiệu quả công tác thỏa thuận THADS trong pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay. Cơ sở của các kiến nghị đều xuất phát từ tính chất của các tranh chấp dân sự và từ yêu cầu đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong dân sự.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Các quy định về thỏa thuận THADS được ghi nhận và áp dụng vào thực tiễn đã đem lại nhiều kết quả khả quan như số lượng các hồ sơ THA theo đơn tồn đọng được cơ quan, tổ chức THADS thụ lý và giải quyết ngày càng triệt để, các đương sự thỏa thuận và thương lượng được với nhau, thông qua đó giúp cho việc giải quyết hồ sơ THA nhanh chóng đồng thời góp phần củng cố mối đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định về thỏa thuận THADS trong thực tế còn tồn tại những hạn chế nhất định do một số quy định của pháp luật về thỏa thuận THADS của đương sự chưa được cụ thể, chi tiết, phù hợp với thực tiễn; trình độ, năng lực chuyên môn của một số cán bộ ngành THADS còn chưa cao. Để tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế còn tồn tại, trong chương 3 của luận văn đã chỉ rõ những nguyên nhân của hạn chế và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thỏa thuận THADS để việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn đạt được hiệu quả cao hơn. Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

KẾT LUẬN

Việc duy trì và hoàn thiện vấn đề thỏa thuận THADS giữa các đương sự trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Ghi nhận sự thỏa thuận THADS giữa các đương sự là một hoạt động quan trọng nhằm góp phần duy trì truyền thống đoàn kết dân tộc, tạo nên nội lực phát triển của đời sống kinh tế, xã hội trước sự tồn tại nhiều tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Quy định này cũng phù hợp với xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới luôn chú trọng sự thỏa thuận trong việc giải quyết các tranh chấp.

Luận văn đã phần nào làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thỏa thuận THADS của các đương sự, khái quát lược sử hình thành và phát triển của pháp luật THADS Việt Nam về vấn đề thỏa thuận THADS giữa các đương sự. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, luận văn đã phân tích làm rõ các quy định của pháp luật THADS Việt Nam về những thỏa thuận đó và chỉ ra những bất cập, vướng mắc của quy định hiện hành cũng như việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn. Luận văn cũng đi sâu nghiên cứu, chỉ rõ những nguyên nhân của bất cập này và đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật THADS Việt Nam về vấn đề thỏa thuận THA của các đương sự cũng như đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện thỏa thuận trong THADS. Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thỏa thuận thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam

One thought on “Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

  1. Pingback: Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464