Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nội dung các quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trong thi hành án dân sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Theo Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội, chế định Thừa phát lại được thực hiện trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Do đó, sau khi bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền yêu cầu cơ quan THADS hoặc tổ chức thừa phát lại THA. Bên cạnh đó, theo khoản 13 Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP thì khi tổ chức THA, Thừa phát lại thực hiện các thủ tục về THA theo quy định của Nghị định này. Trong trường hợp Nghị định này không quy định thì áp dụng theo quy định của pháp luật về THADS. Điều này có nghĩa là, các đương sự đều có quyền thỏa thuận về việc THADS khi cơ quan THADS hay tổ chức thừa phát lại tổ chức thi hành bản án, quyết định dân sự. Việc thỏa thuận này được thực hiện theo các quy định của pháp LTHADS. Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu về việc thỏa thuận giữa người được THADS, người phải THADS, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong THADS về việc thi hành bản án, quyết định dân sự. Còn thỏa thuận giữa tổ chức thừa phát lại với cơ quan THA, Tòa án về tống đạt THA; Thỏa thuận giữa các đương sự và tổ chức thừa phát lại về xác minh điều kiện THA, về lập vi bằng, về chấm dứt việc THA sẽ được nghiên cứu ở các công trình khác.

2.1 QUY ĐỊNH VỀ NGUYÊN TẮC THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Theo Điều 6 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì các đương sự có quyền thoả thuận về việc THA, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ – CP quy định thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí THA thì Chấp hành viên, thừa phát lại có quyền từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ lý do. Do đó, nguyên tắc thỏa thuận THADS của đương sự là:

2.1.1. Nguyên tắc thỏa thuận thi hành án dân sự phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của các đương sự

Thỏa thuận THADS là sự tự nguyện của các bên nhằm mục đích thi hành bản án, quyết định dân sự đã tuyên. Khi THA, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận với nhau có nghĩa là các đương sự tự lựa chọn, quyết định thực hiện bản án, quyết định dân sự bằng cách hòa giải và thương lượng với nhau. Khi thỏa thuận, người phải THA, người được THA và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gặp gỡ, trao đổi một cách tự nguyện. Mặt khác, trong quá trình thỏa thuận, các bên đều có quyền bình đẳng đưa ra những quan điểm để giải quyết vấn đề một cách hợp lý. Các bên có thể trao đổi, thể hiện ý chí của mình một cách trung thực, thẳng thắn và hợp tác. Những hành vi lừa dối, ép buộc, dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực là không thể chấp nhận được trong thỏa thuận THADS. Hay nói cách khác việc thỏa thuận THADS của các đương sự chỉ được công nhận nếu sự thỏa thuận xuất phát từ ý chí tự nguyện. Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

2.1.2. Nguyên tắc nội dung thỏa thuận của đương sự không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội

Khi các đương sự thỏa thuận với nhau thì theo quy định tại Điều 6 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP thì nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Quy định này của LTHADS hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật dân sự. Tại điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS năm 2005 và điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015 quy định một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”.

Pháp luật là quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra nhằm bắt buộc mọi công dân phải tuân thủ. Pháp luật nước ta được xây dựng trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân. Hệ thống các quy phạm pháp luật chính là hành lang pháp lý để bảo đảm tính hợp pháp trong hoạt động của mỗi công dân. Vì vậy, mọi sự thỏa thuận của các đương sự trong THADS không vi phạm điều cấm của pháp luật là một nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất. Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Sự tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt buộc trong đời sống xã hội cho nên mọi thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật đều không có giá trị pháp lý.

Đạo đức là giá trị tinh thần được hình thành theo thời gian, được mọi người thừa nhận và tự nguyện thực hiện. Đạo đức được điều chỉnh bằng lương tâm mỗi người và bằng dư luận xã hội. Đạo đức giúp cho mỗi người có một cơ sở để lựa chọn sự chuẩn mực trong hành vi của mình. Do vậy, thỏa thuận của các đương sự trong THADS phải bảo đảm không trái với đạo đức xã hội. Nếu thỏa thuận của đương sự trái với đạo đức xã hội thì pháp luật sẽ không thừa nhận những nội dung đó. Tuy nhiên, “đạo đức xã hội” là một khái niệm trừu tượng, phụ thuộc vào quan niệm, lối sống của mỗi người và vào điều kiện của từng vùng miền nên để thực hiện không trái với những chuẩn mực đạo đức trên thực tế còn có nhiều vướng mắc.

2.1.3. Nguyên tắc thỏa thuận không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba

Người thứ ba được hiểu là “người không tham gia hoặc không phải là đại diện tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, nhưng có lợi ích liên quan” [44]. Thỏa thuận của các đương sự được Nhà nước khuyến khích, được cơ quan, tổ chức THADS tạo điều kiện thuận lợi nhưng các đương sự không được lợi dụng để làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba.

Nguyên tắc này được thể hiện tại điểm c khoản 1 Điều 50 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014. Theo đó, Thủ trưởng cơ quan THADS, trưởng văn phòng thừa phát lại phải ra quyết định đình chỉ THA trong trường hợp “đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được THA có văn bản yêu cầu cơ quan THADS đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ THA ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Tại khoản 4 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP cũng có quy định tương tự: “Trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí THA thì Chấp hành viên có quyền từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ lý do”.

Pháp luật nước ta luôn tôn trọng sự thỏa thuận, tự định đoạt của các đương sự. Tuy nhiên, trong quá trình thỏa thuận các bên không được lợi dụng nguyên tắc nhân đạo trên của Nhà nước mà có những hành vi xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Sự tôn trọng, thiện chí là nền tảng cho thành công của quá trình thỏa thuận, đó cũng là yếu tố để các bên đặt lòng tin và cùng nhau giải quyết mâu thuẫn cá nhân, hướng tới vì lợi ích chung của toàn xã hội, tuyệt đối không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người xung quanh.

2.2 QUY ĐỊNH VỀ PHẠM VI THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

THADS là một trong những hoạt động phức tạp vì liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Các quyền và lợi ích hợp pháp này đã được ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức khác. Việc hiện thực hóa các quyền này được thực hiện thông qua cơ quan, tổ chức THADS.

Trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời bảo đảm việc THADS được nhanh chóng, pháp luật quy định khuyến khích người được THA, người phải THA, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng nhau thỏa thuận về việc THA. Tuy nhiên, bản án, quyết định thuộc diện được đưa ra thi hành có nhiều nội dung khác nhau về quyền, nghĩa vụ của các bên đương sự và cách thức xử lý đối với các tài sản, vật chứng có liên quan đến từng vụ việc cụ thể như tịch thu, tiêu hủy, trả lại cho đương sự… Trong số những quyền và nghĩa vụ dân sự được đưa ra thi hành theo bản án, quyết định dân sự, Điều 36 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 phân biệt những loại việc thuộc trách nhiệm của cơ quan THADS phải chủ động ban hành quyết định để tổ chức thi hành và những loại việc chỉ được đưa ra thi hành khi có yêu cầu THA của đương sự. Trong hai trường hợp THA trên thì thỏa thuận về nội dung THADS chỉ được thực hiện đối với trường hợp THA theo đơn yêu cầu.

Về nguyên tắc đối với những nghĩa vụ THA mà cơ quan THA chủ động ra quyết định thì người phải THA buộc phải thực hiện đầy đủ mà không được thỏa thuận nhằm bảo đảm hiệu lƣ̣c của bản án , quyết định dân sự ; bảo vệ lợi ích của Nhà nước , của cá nhân, cơ quan, tổ chức và hơn nữa đương sự không có quyền thỏa thuận với cơ quan THA về việc thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định. Những nghĩa vụ THA mà người phải THA không có quyền thỏa thuận bao gồm:

Quyết định về hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; Tịch thu sung quỹ nhà nước; Các khoản thu khác cho Nhà nước; Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước (điểm a, c, d khoản 2 Điều 36 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014). Đây là những loại việc THA mà bản án, quyết định tuyên người được hưởng quyền lợi là Nhà nước hay ngân sách Nhà nước thì cơ quan THADS phải có trách nhiệm quan tâm, bảo vệ bằng cách chủ động đưa bản án, quyết định ra thi hành để sớm thu hồi lại tài sản, đảm bảo tài sản cho Nhà nước.

Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản. (điểm b, c khoản 2 Điều 36 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014). Đây là trường hợp việc tạm giữ, thu giữ tiền, tài sản là do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trước đó với mục đích phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm THA. Nay theo quyết định của Tòa án được tuyên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp thì phải chủ động trả lại mà không đợi đương sự phải yêu cầu hoặc khoản vật chứng, tài sản bị Toà án tuyên tịch thu tiêu huỷ thì không còn thuộc quyền quyết định của đương sự nên cơ quan THADS chủ động thực hiện việc tiêu huỷ.

Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (điểm đ khoản 2 Điều 36 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014). Đây là trường hợp mà việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm mục đích bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA, bảo đảm hiệu quả của việc THA, cao hơn thế là bào đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án và do tính chất khẩn cấp của việc áp dụng mà Nhà nước cần chủ động thực hiện để phù hợp với mục đích của việc ban hành quyết định đó.

Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản (điểm e khoản 2 Điều 36 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014). Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản (khoản 2 Điều 4 Luật phá sản). Đây là một hiện tượng xã hội tiêu cực cần được hạn chế và ngăn chặn đến mức tối đa bởi các tác động tiêu cực của nó. Khi quy mô của doanh nghiệp, hợp tác xã càng lớn, tham gia vào quá trình phân công lao động của ngành nghề đó càng sâu và rộng, số lượng bạn hàng ngày càng đông thì sự phá sản của nó có thể dẫn đến sự phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp, hợp tác xã khác. Từ đó làm tăng số lượng người thất nghiệp, làm cho sức ép về việc làm ngày càng lớn và có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, thậm chí các tội phạm. Phá sản dây chuyền sẽ dẫn tới sự suy thoái và khủng hoảng nền kinh tế quốc gia, thậm chí khủng hoảng kinh tế khu vực và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những khủng hoảng sâu sắc về chính trị. Do các tác động tiêu cực của phá sản nên cơ quan THADS phải chủ động ban hành quyết định THA để nhanh chóng giải quyết vụ việc đồng thời đương sự cũng không có quyền thỏa thuận với nhau trong trường hợp này.

Ngoài các khoản chủ động đã phân tích ở trên thì các nghĩa vụ THA còn lại, các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau.

2.3 QUY ĐỊNH VỀ NỘI DUNG THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.3.1. Nội dung thỏa thuận thi hành án giữa người được thi hành và người phải thi hành Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

2.3.1.1. Nội dung thỏa thuận thi hành án trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu thi hành án nhưng cơ quan cơ quan, tổ chức thi hành án chưa ra quyết định thi hành án

Pháp luật dân sự nói chung và pháp LTHADS nói riêng luôn tôn trọng sự tự định đoạt và thỏa thuận của các đương sự. Nó xuất phát từ việc các quan hệ dân sự được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các chủ thể.

Trước đây theo Điều 3 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP và khoản 13 Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP thì việc thỏa thuận trước khi yêu cầu cơ quan, tổ chức THA tổ chức thi hành do các đương sự tự nguyện thực hiện. Tuy nhiên, “việc các đương sự thỏa thuận với nhau và tự thực hiện thỏa thuận đó cần được quy định bởi một hành lang pháp lý cụ thể để các bên có thể thực hiện và để thỏa thuận đó thực sự có hiệu quả; trong trường hợp không thực hiện đúng nội dung thỏa thuận thì các bên có quyền yêu cầu cơ quan THA tiếp tục tổ chức THA để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình” [30, tr. 55]. Vì vậy, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định về thỏa thuận cả ở giai đoạn trước khi yêu cầu THA và sau khi đã yêu cầu THA, xác định rõ cách thức thỏa thuận, trách nhiệm thực hiện và hướng giải quyết khi không thực hiện thỏa thuận. Theo đó, việc thỏa thuận THA trước khi yêu cầu THA hoặc đã yêu cầu THA nhưng cơ quan, tổ chức THA chưa ra quyết định THA được lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu THA vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu THA đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định (Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

Như vậy, theo quy định này thì việc tự thỏa thuận của các đương sự trước khi yêu cầu THA hoặc đã yêu cầu THA nhưng cơ quan, tổ chức THA chưa ra quyết định THA hoàn toàn do các đương sự tự quyết định và tự thực hiện. Để các bên không thay đổi thỏa thuận thì có thể nhờ đến người thứ ba xác nhận (luật sư, công chứng viên, hòa giải viên, thừa phát lại…) xác nhận sự thỏa thuận này. Tuy nhiên, theo quy định của Điều 2 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì biên bản thỏa thuận cho dù có sự xác nhận của các chủ thể này vẫn không có giá trị pháp lý bắt buộc các bên phải thực hiện theo đúng thỏa thuận. Hơn nữa, nghĩa vụ dân sự mà các bên bắt buộc phải thực hiện là theo bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành nên nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu THA vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu THA đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định dân sự.

2.3.1.2. Nội dung thỏa thuận thi hành án khi cơ quan, tổ chức thi hành án đã ra quyết định thi hành án Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Trước đây, theo khoản 2 Điều 3 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP và khoản 13 Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP thì sau khi Thủ trưởng cơ quan THADS, trưởng văn phòng thừa phát lại ban hành quyết định THA, đương sự có quyền yêu cầu Chấp hành viên, thừa phát lại chứng kiến việc thỏa thuận. Chấp hành viên, thừa phát lại được giao giải quyết việc THA có trách nhiệm chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận. Trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì Chấp hành viên, thừa phát lại có quyền từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ lý do. Nếu đương sự không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan, tổ chức THADS căn cứ nội dung bản án, quyết định; đơn yêu cầu THA và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận để ra quyết định THA. Tuy nhiên, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP không quy định rõ nội dung của biên bản thỏa thuận đặc biệt là hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận nên cơ quan, tổ chức THADS rất khó khăn trong việc THA khi mà các bên không thực hiện thỏa thuận. Ngoài ra, trong trường hợp các bên không thực hiện đúng thỏa thuận mà bên yêu cầu THA lại yêu cầu THA theo thỏa thuận nhằm trốn tránh thực hiện một nghĩa vụ khác thì Nghị định số 58/2009/NĐ-CP cũng không quy định. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba cũng như lợi ích của Nhà nước.

Để khắc phục điều này, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định trường hợp cơ quan, tổ chức THADS đã ra quyết định THA, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận. Thỏa thuận phải thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia. Nếu các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan, tổ chức THADS căn cứ nội dung quyết định THA và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trong trường hợp đương sự thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan THADS thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định THA thì Thủ trưởng cơ quan THADS, trưởng văn phòng thừa phát lại ra quyết định đình chỉ THA đối với nội dung thỏa thuận không yêu cầu thi hành theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 LTHADS, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí THA. Trường hợp thỏa thuận nêu trên được thực hiện sau khi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác nhận để THA thì phải được sự đồng ý của người mua được tài sản hoặc người nhận tài sản để THA (khoản 3 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP). Việc sửa đổi này nhằm khắc phục tình trạng người phải THA lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người được THA đã đạt được thỏa thuận không tiếp tục việc THA, dẫn đến việc cơ quan THADS phải đình chỉ THA theo quy định, nhưng sau đó, người phải THA đã không giữ đúng cam kết khi thỏa thuận với người được THA, người được THA yêu cầu cơ quan THADS tiếp tục THA nhưng việc THA đã bị đình chỉ. Do đó, nhằm giúp người được THA cân nhắc kỹ lưỡng hơn, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã được bản án, quyết định ghi nhận [30, tr. 15].

Vậy, cơ quan, tổ chức THA ban hành quyết định đình chỉ THA thì hoạt động THA cũng đương nhiên chấm dứt, bản án, quyết định sẽ không được tiếp tục đưa ra thi hành; các bên đương sự cũng chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ đã tuyên trong bản án, quyết định dân sự. Quy định này thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta. Nếu khi người được THA thông cảm cho điều kiện của người phải THA hoặc xét thấy không cần thiết phải tiếp tục thi hành nội dung bản án, quyết định thì họ sẽ từ bỏ quyền lợi của minh, đồng ý cho người phải THA không thực hiện nghĩa vụ theo quyết định THA. Như vậy, thỏa thuận này sẽ được ghi nhận nếu không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể khác.

2.3.1.3. Thỏa thuận trong một số trường hợp cụ thể Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Trách nhiệm thi hành bản án, quyết định của Tòa án là một trách nhiệm pháp lý của các cá nhân và tổ chức có liên quan được Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 106). Để đảm bảo bản án, quyết định dân sự của Tòa án được chấp hành thì trong quá trình tổ chức THA, khi người phải THA có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện, cơ quan, tổ chức THA phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm THA. Đây cũng chính là cách làm cho hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trên thực tế. Tuy nhiên, đương sự vẫn có quyền thỏa thuận với nhau trong khi cơ quan THADS tổ chức THA. Cụ thể:

  • Thỏa thuận hoãn THADS

Với quan điểm khi thi hành bản án, quyết định dân sự thì vì những lý do nhất định như điều kiện khó khăn trong khi khoản phải thi hành có giá trị lớn nên người phải THA chỉ thực hiện được một phần nghĩa vụ. Người phải THA có thể thỏa thuận với người được THA về việc kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ THA. Vì vậy, khoản 1 Điều 48 LTHADS năm 2008 quy định việc thỏa thuận hoãn THA chỉ có thể là thỏa thuận để người phải THA kéo dài thời gian THA. Tuy nhiên, trên thực tế khi người phải THA yêu cầu THA thì trong nhiều trường hợp người phải THA muốn thực hiện cho xong nghĩa vụ nhưng người được THA lại chưa muốn người phải THA thực hiện nghĩa vụ THA vào thời điểm đó nên chính người được THA lại muốn hoãn THA. Do đó, để làm rõ về việc thỏa thuận hoãn THADS thì điểm c khoản 1 Điều 48 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định Thủ trưởng cơ quan THADS, trưởng văn phòng thừa phát lại ra quyết định hoãn THA khi đương sự đồng ý hoãn THA; việc đồng ý hoãn THA phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn THA thì người phải THA không phải chịu lãi suất chậm THA, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Việc quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý nhằm bảo đảm quyền thỏa thuận THA đối với cả người được THA và người phải THA.

  • Thỏa thuận về thực hiện ủy thác THA Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Uỷ thác THADS là hoạt động của thủ trưởng cơ quan THA , trưởng văn phòng thừa phát lại nơi có thẩm quyền nhưng không có điều kiện thi hành bằng một quyết định để chuyển hồ sơ vụ việc THA cho một cơ quan, tổ chức THA khác có điều kiện tổ chức thi hành. Để việc uỷ thác thực sự có hiệu quả và đúng với ý nghĩa của nó thì phải tuân theo quy định tại Điều 55, 56, 57 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Điều 16 Nghị định số 62/2015/NĐ- CP.

Thủ trưởng cơ quan THADS, trưởng văn phòng thừa phát lại phải ủy thác cho cơ quan, tổ chức THADS nơi người phải THA có tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Đối với loại tài sản khác thì có thể ủy thác cho cơ quan, tổ chức THADS nơi có tài sản tổ chức thi hành. Trường hợp người phải THA có nhiều tài sản ở nhiều nơi thì cơ quan, tổ chức THADS thực hiện ủy thác theo thứ tự: “a) Theo thỏa thuận của đương sự; b) Nơi có tài sản đủ để THA; c) Trường hợp tài sản không đủ để THA thì ủy thác đến nơi có tài sản giá trị lớn nhất, nơi có nhiều tài sản nhất” (khoản 2 Điều 16 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

Với quy định nói trên, có thể thấy quyền tự định đoạt của đương sự luôn được pháp luật tôn trọng và ưu tiên. Nếu hai bên thỏa thuận được với nhau địa điểm mà ở đó việc THA được thực hiện dễ dàng, thuận tiện nhất cho cả hai bên đương sự thì pháp luật THA ưu tiên ủy thác tới nơi đó. Quy định này không chỉ tạo điều kiện cho đương sự mà cũng là tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức THADS – nơi nhận ủy thác nhanh chóng giải quyết và kết thúc hồ sơ THA.

Ủy thác THADS là một trong những quy định nhằm làm giảm bớt chi phí của Nhà nước và của đương sự đồng thời làm tăng hiệu quả của việc tổ chức thi hành bản án, quyết định bởi vì cơ quan, tổ chức THA nhận uỷ thác là cơ quan có điều kiện thuận lợi và dễ dàng hơn để thi hành vụ việc và cũng vì có sự thỏa thuận, tự nguyện thi hành của đương sự.

  • Thỏa thuận trong trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải THA

Trừ vào thu nhập của người phải THA là việc CHV, thừa phát lại yêu cầu cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, bảo hiểm xã hội nơi người phải THA nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác chuyển cho cơ quan, tổ chức THA hoặc người được thi hành một phần hay toàn bộ thu nhập của người phải THA để thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, các loại thu nhập của người phải THA là những nguồn thu nhập hợp pháp bao gồm: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này cần phải đáp ứng các điều kiện:

Người phải THA phải thi hành nghĩa vụ trả tiền: Nghĩa vụ trả tiền của người phải THA chính là nghĩa vụ mà theo bản án, quyết định, người phải THA phải trả một khoản tiền nào đó cho người được THA trong các trường hợp như: bồi thường, trả nợ, cấp dưỡng, thanh toán theo hợp đồng… Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Chấp hành viên, thừa phát lại chỉ được áp dụng biện pháp khấu trừ vào thu nhập của người phải THA nếu người phải THA không tự nguyện THA và có căn cứ xác định người phải THA có điều kiện THA, tức là có thu nhập để khấu trừ.

Việc trừ vào thu nhập của người phải THA chỉ được thực hiện trong những trường hợp được pháp luật quy định: Theo quy định tại khoản 2 Điều 78 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải THA có thể được áp dụng trong trường hợp:

  • Theo thỏa thuận của các đương sự;
  • Bản án, quyết định ấn định biện pháp trừ vào thu nhập của người phải THA để THA;
  • THA cấp dưỡng, THA theo định kỳ, khoản tiền phải THA không lớn hoặc tài sản của người phải THA không lớn.

Như vậy, có thể thấy, các đương sự có thể thỏa thuận để áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải THA. Ngoài ra, về mặt nguyên tắc để đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải THA và những người phụ thuộc của người phải THA theo quy định pháp luật thì mức trừ vào thu nhập của người phải THA phải phù hợp theo quy định pháp luật. Theo đó, đối với tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động, mức trừ cao nhất là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng. Tuy nhiên, các bên đương sự vẫn có thể thỏa thuận mức trừ cao hơn 30%.

Đối với thu nhập hợp pháp khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải THA nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và những người phụ thuộc theo quy định của pháp luật. Như vậy, đối với những khoản thu nhập khác thì mức khấu trừ không bắt buộc phải thấp hơn hoặc bằng 30% tổng số tiền thu nhập được nhận hàng tháng. Theo đó, mức khấu trừ trong trường hợp này phụ thuộc vào thu nhập thực tế của người phải THA. Mức trừ này có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với mức trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động của người phải THA. Như vậy, các bên đương sự có thể thỏa thuận với nhau mức trừ phù hợp với ý chí của hai bên đối với khoản thu nhập hợp pháp khác của người phải THA nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và những người phụ thuộc.

Vậy, biện pháp trừ thu nhập của người phải THA là một cách thức để thi hành nghĩa vụ trả tiền cho người được THA. Các bên đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải THA, thỏa thuận mức trừ cụ thể, hợp lý để làm căn cứ cho cơ quan, tổ chức THADS tiến hành các thủ tục khấu trừ theo quy định của pháp luật.

  • Thỏa thuận trong trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản

THADS là một hoạt động phức tạp. Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, cơ quan, tổ chức THA cũng như chấp hành viên, thừa phát lại luôn tác động trực tiếp đến lợi ích vật chất, đến đời sống của người phải THA nên rất nhiều trường hợp người phải THA cố tình chống đối, chây ì, không tự nguyện thi hành. Việc cơ quan, tổ chức THA thực hiện biện pháp cưỡng chế kê biên, bán đấu giá tài sản của người phải THA là một biện pháp nghiêm khắc để đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, quyết định dân sự; khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự đồng thời cũng là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, trong giai đoạn cưỡng chế này, pháp LTHADS vẫn ghi nhận quyền thỏa thuận của các bên đương sự.

  • Thỏa thuận về giá và tổ chức thẩm định giá Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Định giá tài sản là một khâu quan trọng trong quá trình cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản để THADS. Việc định giá tài sản kê biên nhằm mục đích xác định giá khởi điểm để bán đấu giá, thi hành nghĩa vụ trả tiền của người phải THA. Do vậy, việc định giá có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết việc THADS. Thỏa thuận về định giá tài sản kê biên và về tổ chức thẩm định giá được quy định tại Điều 98 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Điều 25 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, cụ thể như sau:

“Ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thoả thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó”.

“Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên hoặc tổ chức thẩm định giá trên địa bàn khác thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn.

Việc thỏa thuận của đương sự về lựa chọn tổ chức thẩm định giá cũng được thực hiện đối với việc định giá lại tài sản kê biên”.

Có thể thấy, Điều 25 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP làm rõ quyền thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá của các đương sự. Theo đó, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định quyền của các đương sự thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá, thì đã xác định họ có quyền thỏa thuận và lựa chọn tổ chức thẩm định giá không chỉ giới hạn trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên mà còn có thể lựa chọn tổ chức thẩm định giá trên địa bàn khác.Trong trường hợp này, Chấp hành viên có trách nhiệm ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn. Mặt khác, Nghị định cũng khẳng định quyền thỏa thuận của đương sự về lựa chọn tổ chức thẩm định giá nêu trên cũng được thực hiện trong trường hợp định giá lại tài sản kê biên.

Như vậy, theo các quy định của pháp LTHADS thì một trong những cách thức định giá tài sản kê biên là các bên đương sự thỏa thuận với nhau ngay khi kê biên tài sản. Việc định giá tài sản nếu được thông qua bằng sự thỏa thuận của các bên đương sự sẽ là cách tốt nhất cho việc xử lý tài sản THA, vừa không tốn chi phí và thời gian thẩm định giá. Thêm nữa do các bên tự thỏa thuận nên tránh được khiếu nại về giá tài sản cũng như sẽ thuận lợi hơn khi giao tài sản cho người trúng đấu giá.

Tuy nhiên, theo quy định LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì chỉ có người được THA, người phải THA được thỏa thuận về giá, tổ chức thẩm định giá. Vậy, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có được thỏa thuận về giá, tổ chức thẩm định giá không? Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Ví dụ: bản án sơ thẩm buộc ông A có nghĩa vụ trả nợ cho B là 100 triệu đồng. B có đơn yêu cầu THA. Cơ quan THA xác định ông A không có tài sản riêng nhưng ông A có mua chung với ông C một chiếc xe ô tô honda civic 2.0. Do không có ai yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu nên cơ quan THA đã kê biên chiếc xe ô tô. Theo các điều 98; 99; 101 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì quyền thỏa thuận về giá tài sản kê biên, về tổ chức thẩm định giá và tổ chức bán đấu giá tài sản thuộc về đương sự. Trong khi đó, theo Điều 3 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014, đương sự bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án, không bao gồm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, ông A là người phải THA có quyền thỏa thuận về giá, tổ chức thẩm định giá với ông B (người được THA), còn ông C là người có tài sản bị kê biên nhưng lại không có quyền thỏa thuận về giá tài sản, tổ chức thẩm định giá tài sản trong khi chiếc xe ô tô cũng thuộc quyền sở hữu của ông.

Điều này rõ ràng là không bảo vệ quyền lợi của ông C – người có quyền lợi liên quan đến việc THA. Đặc biệt nếu ông C cho rằng việc thỏa thuận về giá của chiếc xe ô tô giữa ông A và ông B là không chính xác thì có quyền yêu cầu định giá lại không? Nếu cơ quan THADS chấp nhận thì áp dụng căn cứ pháp lý nào? Thiết nghĩ, cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

  • Thỏa thuận về giao tài sản để THA

Điều 100 LTHADS quy định: “Trường hợp đương sự thoả thuận để người được THA nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được THA thì chấp hành viên lập biên bản về việc thoả thuận.

Trường hợp có nhiều người được THA thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý của những người được THA khác và phải thanh toán lại cho những người được THA khác số tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng.

Việc giao tài sản để trừ vào số tiền được THA được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thoả thuận”.

Quy định trên vừa bảo đảm được quyền tự định đoạt của các bên đương sự và vừa đảm bảo kết quả THA trong khi lại tiết kiệm được thời gian và tiền bạc, rút ngắn quá trình tổ chức THA. Trường hợp khi người phải THA chỉ có một tài sản mà có nhiều người được THA thì người được THA nhận tài sản phải thanh toán cho những người được THA khác số tiền tương ứng với tỷ lệ họ được nhận. Quy định này có ý nghĩa đảm bảo tính công bằng cho tất cả những người được THA. LTHADS mặc dù vẫn tôn trọng sự thỏa thuận, nhất trí của người được THA về việc đồng ý nhận tài sản để THA tuy nhiên vẫn duy trì sự can thiệp của cơ quan, tổ chức THA để đảm bảo trong trường hợp có nhiều người được THA mà chỉ có một người đồng ý nhận thì những người được THA khác cũng không bị thiệt thòi về mặt quyền lợi. Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Khi đương sự thỏa thuận trái với quy định nêu trên hoặc khi người nhận tài sản không thực hiện đúng thì tài sản cần được đem bán để bảo đảm công bằng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên do Điều 3 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 chỉ quy định đương sự trong THADS gồm người được THA, người phải THA mà không có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên thỏa thuận để người được THA nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được THA có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi mà tài sản mà người được THA nhận là tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì thoả thuận để người được THA nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được THA cần phải có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

  • Thỏa thuận về giảm giá tài sản khi không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành

Thực tiễn công tác THADS cho thấy đối với những vụ việc mà cơ quan, tổ chức THA phải tổ chức cưỡng chế kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản thì thời gian thi hành thường kéo dài mới có thể giải quyết dứt điểm. Nguyên nhân chủ yếu là vì tính chất nghiêm khắc của biện pháp cưỡng chế kê biên nên cơ quan, tổ chức THA phải thực hiện đầy đủ, chặt chẽ theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật THADS quy định. Thêm nữa là do tài sản kê biên không bán được. Trong thực tế, rất nhiều trường hợp tài sản kê biên phải định giá lại hoặc giảm giá nhiều lần nhưng vẫn không bán được. Đó là vì người mua còn e ngại đối với tài sản bán đấu giá để THA vì họ cho rằng khi mua tài sản bán đấu giá thì phải trải qua các thủ tục pháp lý phức tạp. Bên cạnh đó, một số người có tâm lý không muốn liên quan tới cơ quan pháp luật. Chính vì vậy mà một số trường hợp tài sản kê biên được định giá sát với mức giá thị trường, thậm chí là thấp hơn nhiều so với giá thị trường nhưng khi hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá vẫn không có người đăng ký tham gia.

Trước đây, Điều 104 LTHADS năm 2008 quy định: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định. Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án”. Theo quy định này thì việc quyết định giảm giá tài sản là do chấp hành viên, thừa phát lại quyết định. Tuy nhiên, để giảm thiểu tổn thất cho người phải THA, bảo vệ quyền lợi của các đương sự thì Điều 17a Nghị định số 125/2013/NĐ-CP quy định: trước khi giảm giá tài sản, Chấp hành viên yêu cầu các đương sự thỏa thuận mức giảm giá. Nếu các đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định mức giảm giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định. Tiếp thu điểm hợp lý này trong Nghị định số 125/2013/NĐ-CP, LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã ưu tiên quyền thỏa thuận của các đương sự về mức giảm giá tài sản trước khi chấp hành viên, thừa phát lại quyết định giảm giá tài sản để bán đấu giá. Theo đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá” (khoản 1 Điều 104). Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Có thể thấy, trong trường hợp giá của tài sản kê biên chưa hợp lý, chưa được người mua chấp nhận thì việc quyết định giảm giá là cần thiết. LTHADS tạo điều kiện cho các đương sự thỏa thuận với nhau về mức giảm giá nhưng chỉ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo và mức giảm “không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó”. Quy định trên thể hiện sự tôn trọng quyền định đoạt của đương sự và cũng là để hạn chế tổn thất cho người phải THA khi mà tài sản kê biên không bán được, bị giảm giá nhiều lần. Nếu hai bên thỏa thuận được với nhau thì hồ sơ THA được nhanh chóng khép lại, rủi ro được hạn chế và cũng là để không tốn thời gian, công sức cho các bước xử lý phức tạp tiếp theo khi mà phải giảm giá tài sản kê biên nhiều lần.

Tuy nhiên, thỏa thuận về giảm giá tài sản giữa người được THA và người phải THA mà không có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong THA là không đảm bảo quyền lợi của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp tài sản bị kê biên là thuộc sở chung của người phải THA với người khác.

Ngoài ra, Điều 104 LTHADS năm 2008 không quy định rõ về trường hợp nếu sau khi giảm giá mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì việc cơ quan, tổ chức THA thực hiện việc giao tài sản cho người được THA để khấu trừ tiền THA có cần thỏa thuận của các bên đương sự không? hay chỉ cần người được THA đồng ý nhận tài sản để khấu trừ tiền THA.

Về vấn đề này có quan điểm cho rằng, việc cơ quan, tổ chức THA thực hiện việc giao tài sản cho người được THA để khấu trừ tiền THA thì theo Điều 100 LTHADS cần phải có sự thỏa thuận của các bên đương sự.

Tuy nhiên, nếu sau khi giảm giá mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành mà việc người được THA nhận tài sản để khấu trừ tiền THA mà cần phải có sự thỏa thuận của các đương sự là gây khó khăn cho việc THA nếu người phải THA muốn giữ lại tài sản nên cố tình không đồng ý để người được THA nhận tài sản để khấu trừ tiền THA. Do đó, để khắc phục việc có cách hiểu khác nhau, Điều 17a Nghị định số 125/2013/NĐ-CP quy định: sau ba lần giảm giá mà không có người tham gia đấu giá, trả giá thì nếu người được THA đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được THA thì Chấp hành viên thông báo cho người phải THA biết. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày người phải THA nhận được thông báo về việc người được THA đồng ý nhận tài sản để THA, nếu người phải THA không nộp đủ số tiền THA và chi phí THA để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được THA. Đối với tài sản là bất động sản và tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được THA để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đó cho người được THA. Người phải THA, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được THA thì bị cưỡng chế THA. Trường hợp người được THA không đồng ý nhận tài sản để THA thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá, nếu tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được THA vẫn không nhận tài sản để trừ vào số tiền được THA thì tài sản được trả lại cho người phải THA. Tiếp thu điểm hợp lý này trong Nghị định số 125/2013/NĐ-CP, LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã quy định rõ hơn về quyền được nhận tài sản của người được THA để khấu trừ tiền THA mà không cần phải có sự thỏa thuận của các bên đương sự nhằm hạn chế người phải THA trốn tránh nghĩa vụ THA, giúp cơ quan, tổ chức THA có cơ sở pháp lý để giao tài sản bán đấu giá không thành cho người được THA để khấu trừ tiền THA.

  • Thỏa thuận về giải tỏa kê biên Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải THA có mục đích cao nhất là nhằm bảo đảm việc thi hành nghĩa vụ trả tiền đồng thời đây cũng là biện pháp có ý nghĩa răn đe đối với người phải THA. Bởi vậy, nếu người phải THA đã tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thanh toán để tránh hậu quả xấu hơn do xử lý tài sản hoặc khi điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế không còn thì không còn lý do để hạn chế quyền của chủ sở hữu, sử dụng. Vì vậy LTHADS xây dựng điều luật về giải tỏa kê biên tài sản của người phải THA. Một trong những trường hợp thực hiện giải tỏa kê biên tài sản là khi “đương sự thoả thuận về việc giải toả kê biên tài sản mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba” (điểm a khoản 1 Điều 105 LTHADS).

Quy định trên đã thể hiện được nguyên tắc xuyên suốt của LTHADS là trong mọi trường hợp, trong mọi giai đoạn thì pháp luật luôn tôn trọng tự do thỏa thuận của các đương sự, tôn trọng sự tự nguyện thực hiện của đương sự khi đáp ứng đúng và đủ quy định của pháp luật.

Khi có các căn cứ giải tỏa kê biên thì Chấp hành viên, thừa phát lại ban hành quyết định giải tỏa và tổ chức trả lại tài sản cho người phải THA trong thời hạn luật định (05 ngày làm việc). Việc quy định rõ ràng về trách nhiệm, thời hạn là điều kiện cần thiết để tiến hành hoạt động THA công khai và dân chủ.

  • Thỏa thuận trong trường hợp cưỡng chế trả vật

Biện pháp buộc chuyển giao vật là một trong các biện pháp cưỡng chế THADS được áp dụng trong trường hợp người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ trả vật theo bản án, quyết định dân sự. Biện pháp buộc chuyển giao vật được quy định tại Điều 114 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014. Vật phải trả theo bản án, quyết định có thể là vật đặc định hoặc vật cùng loại. Biện pháp giao vật chỉ có thể thực hiện khi vật phải trả hiện đang còn và do người phải THA chiếm hữu.

Đối với vật đặc định: Trường hợp vật đó giảm giá trị mà người được THA không đồng ý nhận thì đương sự có quyền thoả thuận THA. Nếu đương sự không thoả thuận được thì chấp hành viên, thừa phát lại cưỡng chế trả vật cho người được THA nhưng đương sự vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả bị giảm giá trị.

Trường hợp vật đặc định không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thoả thuận thì việc THA được thực hiện theo thỏa thuận. Nếu đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.

Đối với vật cùng loại: Trường hợp vật phải trả không còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì người phải THA trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Nếu hai bên đương sự có thỏa thuận khác thì việc THA được thực hiện theo thỏa thuận đó.

Việc cưỡng chế trả vật sẽ được diễn ra dễ dàng nếu có sự đồng thuận thỏa hiệp giữa hai bên đương sự. Vì vậy trong giai đoạn này, cơ quan, tổ chức THADS luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để các bên có được tiếng nói chung trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của cả hai bên.

2.3.2. Nội dung thỏa thuận giữa người được thi hành, người phải thi hành và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

2.3.2.1. Thỏa thuận khi tài sản thi hành án thuộc sở hữu chung với người khác

LTHADS khẳng định việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THA có thể thực hiện đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác. Trước đây, Điều 74 LTHADS năm 2008 quy định chấp hành viên có quyền cưỡng chế đối với tài sản chung của người phải THA với người khác. Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Nếu hết thời hạn pháp luật quy định mà chủ sở hữu chung không khởi kiện thì thì người được THA hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung để bảo đảm THA. Tuy nhiên, để việc áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản chung được thực hiện trên thực tế, tránh tình trạng các đương sự khiếu nại quyết định cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác thì LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã tôn trọng quyền thỏa thuận của các đương sự trong việc phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Theo đó, trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải THA trong khối tài sản chung để THA thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải THA và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được THA có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải THA trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được THA không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải THA trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án.

Như vậy, quy định mới về thỏa thuận cưỡng chế tài sản thuộc sở hữu chung để THA nhằm đảm bảo quyền lợi của người được THA. Tuy nhiên trong thực tiễn khi thi hành vụ việc THA một số bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật có tài sản chung, quyền sử dụng đất chung giữa người phải THA và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản phải THA hầu như không thể thi hành được. Mặc dù, Chấp hành viên giải quyết vụ việc THA đã làm đầy đủ các bước theo quy định tại khoản 1 Điều 74 LTHADS sửa đổi bổ sung năm 2014. Nếu người THA và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản họ không chịu tự thỏa thuận phân chia tài sản, lúc này tòa án sẽ giải quyết việc phân chia tài sản cần có lời khai của đương sự về công sức đóng góp trong khối tài sản chung đó làm căn cứ để tòa án giải quyết việc phân chia tài sản. Khi người phải THA và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản họ không phối hợp thì tòa án không thể phân chia tài sản chung được, nên việc THA trong trường hợp này không thể thực hiện được [40]. Điều này là do LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 không quy định chế tài khi người phải THA và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất cố tình không thỏa thuận phân chia tài sản chung, quyền sử dụng đất chung phải THA hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy khi họ không thực hiện theo yêu cầu của Chấp hành viên thì cũng không có biện pháp chế tài nào cả. Mặc khác việc Chấp hành viên đang tổ chức thi hành án đã có văn bản yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất để THA nhưng Tòa án cũng không thực hiện được được vì vướng thủ tục tố tụng dân sự trong vụ kiện do không có người khởi kiện, người bị kiện …[41]. Do đó, cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

2.3.2.2. Thỏa thuận khi tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác

Pháp luật THADS chỉ ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đối với tài sản gắn liền với đất đã kê biên có trước khi người phải THA nhận được quyết định THA. Trong trường hợp này, “Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất cho người phải THA. Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải THA thoả thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà họ không thoả thuận được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải THA và người có tài sản gắn liền với đất” (điểm a khoản 1 Điều 113 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Như vậy để bảo đảm tối đa quyền lợi cho người có tài sản gắn liền với đất bị kê biên cũng như để tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết THA ở giai đoạn sau, pháp luật THADS cho phép người có tài sản và người phải THA thỏa thuận về phương thức giải quyết tài sản nhằm hài hòa được lợi ích của cả hai bên.

2.3.2.3. Thỏa thuận về chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án

Trong hầu hết các giai đoạn THADS, đương sự luôn mong muốn tự mình thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ THA bởi nó ảnh hưởng và liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ. Tự thực hiện sẽ giúp họ thể hiện một cách đầy đủ nhất ý chí của chính mình. Tuy nhiên trong những trường hợp nhất định thì họ có thể chuyển giao sang chủ thể thứ ba. Pháp luật THADS quy định chuyển giao quyền và nghĩa vụ THA theo thỏa thuận tại khoản 2 và khoản 4 Điều 54 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Điều 15 Nghị định 62/2015/NĐ-CP, cụ thể như sau:

Thứ nhất, trong trường hợp người phải THA chết thì quyền, nghĩa vụ THA được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế. Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Người phải thi hành nghĩa vụ về thanh toán tiền đã chết mà có để lại tài sản thì cơ quan, tổ chức THADS có văn bản thông báo, ấn định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ, để người thừa kế hoặc người quản lý di sản của người phải THA thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ THA của người phải THA để lại. Hết thời hạn này, nếu người thừa kế hoặc người quản lý di sản không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được việc thực hiện nghĩa vụ của người phải THA thì cơ quan, tổ chức THADS áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản để lại của người phải THA để đảm bảo thi hành.

Thứ hai, trong trường hợp đương sự thỏa thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ về THA cho người thứ ba thì người thứ ba có quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ THA được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự về chuyển giao quyền, nghĩa vụ; không được ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của của tổ chức, cá nhân khác và phải được lập thành văn bản có chữ ký xác nhận của người chuyển giao, người nhận chuyển giao quyền, nghĩa vụ THA.

Việc chuyển giao quyền về THA không cần có sự đồng ý của người phải THA, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

Người phải THA chuyển giao nghĩa vụ THA cho người thứ ba thì phải được sự đồng ý của người được THA.

2.3.2.4 Thỏa thuận về việc hoàn trả tài sản khi có quyết định đình chỉ thi hành án do bản án, quyết định dân sự bị hủy một phần hoặc toàn bộ

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 50 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì Thủ trưởng cơ quan THADS ban hành quyết định đình chỉ THA khi: “bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 103 của Luật này”. Để bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá thì “trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác” (khoản 2 Điều 103 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014). Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Bán đấu giá là giai đoạn quan trọng trong quá trình xử lý tài sản của người phải THA để bảo đảm việc THA. Về nguyên tắc, người mua được tài sản bán đấu giá có quyền nhận tài sản sau khi thanh toán xong tiền mua tài sản. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá chưa được bảo đảm quyền lợi, đặc biệt là không hoặc chưa nhận được tài sản. Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua được tài sản bán đấu giá và ảnh hưởng đến hiệu quả THADS, tạo tâm lý không tốt đối với người dân khi có ý định mua tài sản bán đấu giá. Do đó, LTHADS quy định cụ thể Điều 103 khẳng định người mua được tài sản bán đấu giá được bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó.

Tuy nhiên nếu các đương sự “có thỏa thuận khác” thì tài sản bán đấu giá có thể được hoàn trả trong trường hợp bản án, quyết định dân sự bị hủy một phần hoặc toàn bộ. Đó là một quy định “mở”, thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các bên.

2.3.2.5. Thỏa thuận về quyền mua tài sản đấu giá

Pháp luật THADS quy định thỏa thuận về quyền mua tài sản đấu giá cụ thể tại khoản 3 Điều 74 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 và khoản 1 Điều 27 Nghị định 62/2015/NĐ-CP

Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải THA trong khối tài sản thuộc sở hữu chung. Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải THA theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung mà có nhiều chủ sở hữu chung đề nghị mua phần tài sản của người phải THA theo giá đã định thì Chấp hành viên thông báo cho các chủ sở hữu chung đó thỏa thuận người được quyền mua. Nếu không thỏa thuận được thì Chấp hành viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người được mua tài sản bán đấu giá.

Khi bán đấu giá tài sản thuộc sở hữu chung, các đồng sở hữu với người phải THA thường gặp phải rất nhiều thiệt thòi và khó khăn, chính vì vậy pháp luật THADS ưu tiên quyền mua tài sản bán đấu giá đối với các đồng sở hữu đó và trao cho họ quyền thỏa thuận với nhau để mua tài sản nếu có nhiều chủ sở hữu chung đề nghị mua. Quy định này thể hiện tính nhân đạo, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi cho các đương sự của pháp luật nước ta.

2.3.2.6. Thỏa thuận hủy kết quả bán đấu giá tài sản Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Trước đây, Điều 102 LTHADS năm 2008 quy định việc hủy kết quả bán đấu giá chỉ thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên, LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã quy định rõ hơn về việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Theo đó, kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy trong trường hợp có thỏa thuận giữa người có tài sản bán đấu giá, người mua được tài sản bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá tài sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; đối với tài sản THA, thì còn phải có thỏa thuận của người phải THA (điểm a khoản 1 Điều 48 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP).

Theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì “trường hợp đến hạn theo hợp đồng bán đấu giá tài sản mà không giao được tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá thì người này có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng”. Như vậy, hết thời hạn 30 ngày, trường hợp khó khăn, phức tạp thì không quá 60 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền mà Cơ quan THADS chưa giao tài sản bán đấu giá thì người mua được tài sản bán đấu giá có thể thỏa thuận việc hủy kết quả bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá hoặc có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá.

Quy định sửa đổi, bổ sung của LTHADS về thỏa thuận hủy kết quả bán đấu giá tài sản nói trên nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản bán đấu giá và của người được THA. Đặc biệt, trong quá trình bán đấu giá tài sản, người mua được tài sản thường là đối tượng gặp nhiều rủi ro nhất. Thực tế, có những trường hợp bán đấu giá thành nhiều năm nhưng người mua chưa được giao tài sản bởi việc bàn giao tài sản bán đấu giá không đơn thuần như các giao dịch dân sự khác. Bản án, quyết định có thể bị kháng nghị, tạm hoãn thi hành nên chưa thể tiến hành việc giao tài sản. Điều này đã gây nên sự bức xúc cho người mua được tài sản bán đấu giá, từ đó làm nảy sinh nhiều khiếu nại, tố cáo.

2.4 QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định: “Trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu THA hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan THADS chưa ra quyết định THA thì thỏa thuận đó phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận… Trường hợp cơ quan THADS đã ra quyết định THA, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận. Thỏa thuận phải thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia”. Như vậy, theo quy định của pháp luật, thỏa thuận THADS trước hoặc sau khi có yêu cầu THA thì đều phải được lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên.

Trên thực tế, trong quá trình THA, hai bên đương sự tự nguyện thương lượng, thống nhất quan điểm với nhau và có sự chứng kiến của chấp hành viên, thừa phát lại thì thường được ghi nhận bằng Biên bản theo mẫu quy định tại Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp. Biên bản ghi lại kết quả của quá trình trao đổi, thống nhất ý chí giữa các đương sự để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với các bên. Biên bản thể hiện rõ thời gian, địa điểm diễn ra sự thỏa thuận, các thành phần tham gia và nội dung thỏa thuận cụ thể giữa người phải THA và người được THA.

Tuy nhiên có thể thấy việc các đương sự thỏa thuận mà chấp hành viên, thừa phát lại chỉ lập biên bản là chưa bảo đảm quyền lợi cho các bên bởi về bản chất, biên bản chỉ là loại văn bản ghi chép lại những sự việc đã xảy ra hoặc đang xảy ra. Biên bản không có hiệu lực pháp lý để thi hành mà chủ yếu được dùng làm chứng cứ chứng minh các sự kiện thực tế đã xảy ra. Với một văn bản như vậy thì việc THA chưa thể chấm dứt được. Quy định này đã làm giảm đi tính nghiêm minh trong việc thi hành pháp luật THADS. Dù đã lập biên bản nhưng có trường hợp người phải THA vẫn cố tình dây dưa, chống đối mà cơ quan, tổ chức THADS không có chế tài nào để xử lý.

Hiện nay, trình độ dân trí của người dân nhìn chung còn thấp và có sự chênh lệch giữa các vùng miền. Một bộ phận người dân không có kiến thức và ý thức pháp luật nên họ thờ ơ, tùy tiện, chây ỳ trong việc chấp hành pháp luật, đặc biệt là pháp luật THADS. Một bộ phận khác có những hiểu biết pháp luật nhất định nên họ tìm mọi cách để lách luật, tìm ra những kẽ hở và hạn chế của pháp luật để thực hiện hành vi vi phạm nhằm đạt được mục đích. Quy định về hình thức thỏa thuận THADS là một lỗ hổng của pháp luật, tạo điều kiện cho một số đối tượng lợi dụng để chống đối, kiên quyết không thi hành. Thực tế này ngày càng làm cho tỷ lệ án tồn đọng, khó thi hành kéo dài tại các cơ quan, tổ chức THADS.

2.5 QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Khi chưa yêu cầu THA hoặc đã yêu cầu THA nhưng cơ quan, tổ chức THA chưa ra quyết định THA thì việc tự thỏa thuận THA hoàn toàn do các đương sự tự quyết định.

Sau khi có quyết định THA, các bên có quyền tự thỏa thuận việc THA. Các bên có thể yêu cầu chấp hành viên, thừa phát lại chứng kiến thỏa thuận và ghi nhận kết quả thỏa thuận giữa các bên đương sự. Tuy nhiên, khi chứng kiến việc thỏa thuận THA giữa các đương sự mà phát hiện “thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí THA thì chấp hành viên có quyền từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ lý do” (khoản 4 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP).

Thứ nhất, đối với thỏa thuận tại cơ quan, tổ chức THADS thường là trường hợp hai bên đương sự không thể tự thống nhất quan điểm nên họ cần có sự can thiệp, giúp đỡ và chứng kiến của cơ quan, tổ chức THADS. Theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP, “khi đương sự có yêu cầu, chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận trong trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 của Điều này”.

Lúc này, chấp hành viên, thừa phát lại phụ trách hồ sơ là cầu nối để dung hòa lợi ích giữa hai bên, giúp họ đảm bảo được quyền lợi và hạn chế những mâu thuẫn, xung đột đang diễn ra. Chấp hành viên, thừa phát lại giải thích các quy định của pháp luật để hai bên đương sự hiểu nội dung của bản án, quyết định và nghĩa vụ mà họ phải thi hành, từ đó chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận giữa hai bên.

Thứ hai, đối với thỏa thuận ngoài trụ sở cơ quan THADS, khi đương sự có yêu cầu, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận. Người yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận ngoài trụ sở cơ quan THADS mà phát sinh chi phí thì phải thanh toán các chi phí hợp lý cho cơ quan THADS.

Các đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận ngoài trụ sở cơ quan THADS và không yêu cầu có sự chứng kiến của chấp hành viên nhưng quá trình thỏa thuận giữa hai bên phải thông báo cho chấp hành viên biết để ghi nhận kết quả THA vì chấp hành viên phải thực hiện đúng nhiệm vụ mà pháp luật quy định: “kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về THA theo thẩm quyền; thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục THA, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên” (Điều 20 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014).

2.6 QUY ĐỊNH VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Về nguyên tắc, kết quả thoả thuận của các đương sự không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì được ghi nhận và có giá trị pháp lý đối với các bên đương sự trong THA. Vì vậy, “kết quả THA theo thoả thuận được công nhận” (khoản 1 Điều 6 LTHADS). Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu các bên không thực hiện theo đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận hoặc chỉ thực hiện một phần nghĩa vụ đã thỏa thuận thì các bên sẽ buộc thực hiện theo thỏa thuận hay theo bản án, quyết định dân sự?

  • Trước khi yêu cầu THA hoặc đã yêu cầu THA nhưng cơ quan cơ quan, tổ chức THA chưa ra quyết định THA:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu THA vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu THA đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định. Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu các bên đã thực hiện một phần thỏa thuận nhưng sau đó không thực hiện nữa thì việc thi hành bản án, quyết định dân sự sẽ thực hiện như thế nào?

Ví dụ: bản án sơ thẩm dân sự số 09/DSST ngày 23/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện N quyết định buộc A trả nhà cho B. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, B chưa yêu cầu THA thì A và B thỏa thuận như sau: A thay vì trả nhà cho B thì A trả cho B 500 triệu, thỏa thuận này bằng văn bản, có công chứng viên xác nhận. Sau đó A đã trả cho B 300 triệu, còn 200 triệu thì không trả nữa. Vậy, trong trường hợp này B yêu cầu cơ quan THA buộc A trả nhà cho mình hay yêu cầu cơ quan THA buộc A trả cho mình 200 triệu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì A phải trả nhà cho B, còn khoản tiền 300 triệu B đã nhận, A muốn đòi lại thì A khởi kiện ra Tòa án. Vụ việc sẽ trở nên phức tạp hơn nếu mà A đã bán nhà cho người khác thì việc buộc A trả nhà cho B rất khó để thi hành.

  • Cơ quan, tổ chức THA đã ra quyết định THA:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan, tổ chức THADS căn cứ nội dung quyết định THA và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014. Điều này có nghĩa là các bên có thể yêu cầu THA theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định dân sự.

Tuy nhiên đối với những thỏa thuận mà không đúng với nội dung quyết định THA thì cơ quan, tổ chức THADS không thể ghi nhận những thỏa thuận đó mà chỉ có thể hướng dẫn đương sự theo những cách thức nhất định để vừa bảo đảm tối đa quyền lợi cho họ và vừa kết thúc được hồ sơ THA.

Về nguyên tắc, khi các đương sự có sự thỏa thuận với nhau thì Chấp hành viên là người ghi nhận và đôn đốc các bên thực hiện theo các cam kết đã đưa ra. Nếu một trong các bên đương sự hoặc các bên đương sự không thực hiện theo thỏa thuận đã được ghi nhận và có yêu cầu thi hành theo nội dung bản án thì phần nghĩa vụ còn lại chưa thi hành, chấp hành viên sẽ tổ chức thi hành theo đúng nội dung bản án, quyết định.

Ngoài ra, quy định tại Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP: “Thỏa thuận phải thể hiện rõ … hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia” rất rõ ràng nhưng trên thực tế thì không thể thi hành được. Các bên đã thỏa thuận và đã có sự vi phạm thỏa thuận nhưng rất khó để áp dụng các hậu quả pháp lý trong văn bản thỏa thuận đối với đương sự. Cơ quan THADS không còn một cách nào khác ngoài việc tổ chức cưỡng chế THADS. Vì vậy, Luật quy định “Kết quả THA theo thoả thuận được công nhận”

chỉ là hình thức và chỉ phản ánh một khía cạnh của thoả thuận trong THADS chứ chưa bao quát hết các tình huống phát sinh trên thực tế.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

LTHADS hiện hành đã đưa ra những quy định về nguyên tắc, phạm vi, nội dung, hình thức, thủ tục và hiệu lực của thỏa thuận THADS. Có thể thấy rằng, các quy định của pháp LTHADS chưa đầy đủ và chi tiết về vấn đề thỏa thuận THADS của các đương sự. Trên thực tiễn hoạt động áp dụng thủ tục thỏa thuận THADS của đương sự vẫn còn một vài điểm bất cập do một số quy định của pháp luật còn thiếu sót và chưa rõ ràng. Do đó, pháp LTHADS cần có những quy định cụ thể hơn về vấn đề này để đảm bảo hơn nữa tính khả thi của các quy định pháp luật, qua đó nhằm khắc phục những mặt hạn chế còn phát sinh trong quá trình áp dụng luật vào công tác THA đồng thời cũng để nâng cao vị thế của hệ thống các cơ quan THADS trong thực tiễn. Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

2 thoughts on “Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

  1. Pingback: Luận văn: Thỏa thuận thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam

  2. Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam says:

    Luận văn: Quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464