Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Những quy phạm pháp luật về thủ tục chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 và so sánh với Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Vừa qua Dự thảo Bộ luật Tố tụng Dân sự trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII, 10/2015. Dự thảo đã sửa đổi bổ sung một số điều liên quan đến vấn đề Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Ngày 1/7/2016 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 mới có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên để có cái nhìn khách quan và cập nhật thông tin, sau đây tác giả xin trình bày về nội dung và sau đó so sánh Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về những vấn đề liên quan đến hoạt động Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • Các quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Thứ nhất, thời hạn quyết định đưa Vụ án dân sự ra xét xử

Thời hạn quyết định đưa Vụ án dân sự ra xét xử được quy định tại Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [10, tr5]. Theo đó, tuỳ từng loại vụ án mà thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định khác nhau, cụ thể như sau:

  1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:
  2. Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.
  3. Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 điều này. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • Bảng: Thời hạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Sở dĩ pháp luật quy định thời hạn ra quyết định đưa Vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (được quy định tại Điều 25 và Điều 27 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011) ra xét xử là 4 tháng, kể từ ngày thụ lý, vì những vụ án này việc giải quyết thường phức tạp để có đủ chứng cứ, tài liệu nhiều khi Tòa án phải tiến hành thu thập, ủy thác thu thập..v.v nên mất nhiều thời gian. Mặt khác, đối với những vụ án kinh doanh, thương mại và lao động (được quy định tại Điều 29 và 31 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011) là 2 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, vì những vụ án này phát sinh từ các quan hệ rất nhạy cảm, đòi hỏi phải giải quyết kịp thời. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì việc giải quyết có thể kéo dài, vì vậy pháp luật quy định Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 2 tháng đối với Vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 và 1 tháng đối với vụ án kinh doanh, thương mại và lao động quy định tại Điều 29 và Điều 31 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Trong quá trình Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, nếu thẩm phán tiến hành giải quyết vụ án xét thấy các vụ án này chứng cứ rõ ràng, không có tính chất phức tạp hay gặp trở ngại khách quan thì Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vụ án trong thời hạn luật định mà không cần phải gia hạn. Tuy vậy đối với những vụ án có tính chất phức tạp hay gặp phải trở ngại khách quan thì Tòa án có thể gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Vậy những vụ án có “tính chất phức tạp” và “trở ngại khách quan” là như thế nào? Khái niệm này đã được giải thích và hướng dẫn cụ thể tại Khoản 3 Điều 14 Nghị Quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [10, tr5], theo đó:

Những vụ án có tính chất phức tạp là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc nguời Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài…

  • Thứ hai, thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa

Khoản 3 Điều 179 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định, sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.

Theo Khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [10, tr5], thì “Lý do chính đáng” là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được như: cần phải có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành tố tụng có tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử mà người có thẩm quyền chưa cử được người khác thay thế; vụ án có tính chất phức tạp đã được xét xử nhiều lần ở nhiều cấp Toà án khác nhau, nên không còn đủ Thẩm phán để tiến hành xét xử vụ án đó mà phải chuyển vụ án cho Toà án cấp trên xét xử hoặc phải chờ biệt phái Thẩm phán từ Toà án khác đến… nên cản trở Toà án tiến hành phiên toà trong thời hạn quy định”. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Ví dụ: Theo luật định, thời hạn giải quyết một vụ tranh chấp dân sự cả sơ và phúc thẩm (xét xử hai cấp) tối đa không quá một năm. Thế nhưng, có những vụ tranh chấp kéo dài cả chục năm, thậm chí gần 2 thập kỷ và “xuyên thế kỷ” nhưng vẫn chưa có hồi kết. Suốt 18 năm, 2 công dân Võ Văn Vinh và Đặng Đạo (ngụ Bình Định) không biết bao nhiêu lần ngược xuôi, nhảy tàu, ngồi xe từ Bình Định vào TP HCM rồi ra Hà Nội để đáo tụng đình. Đến nay vụ kiện đòi Công an TP HCM cùng Công ty VIKAMEX bồi thường thiệt hại đã có đến 9 bản án (4 sơ thẩm, 4 phúc thẩm và một giám đốc thẩm) nhưng vẫn chưa có hồi kết. cho đến năm 2010 vụ án đang quay trở lại vạch xuất phát, sơ thẩm lần 5 [44]. Khi gặp những vụ án này thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá hai tháng đối với các tranh chấp về dân sự; hôn nhân gia đình và một tháng đối với các tranh chấp về kinh doanh và thương mại, lao động. Tuy nhiên, theo tôi có một hạn chế ở đây là: trên thực tế, các tranh chấp về kinh doanh và thương mại diễn ra khá phổ biến và có nhiều tình tiết phức tạp không kém gì các tranh chấp dân sự. Trong thời hạn hai tháng, Tòa án khó có thể chuẩn bị được các công việc cần thiết cho vụ án. Pháp luật quy định về thời hạn đối với những tranh chấp này là hai tháng chưa phù hợp với tình hình thực tế.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 179 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 về Thời hạn chuẩn bị xét xử đã được sửa đổi bổ sung thành Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trong đó quy định mới Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.”. Và Điều 203 cũng quy định thêm khoản 2 về:

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: a) Lập hồ sơ vụ án; b) Yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ, văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện cho Tòa án; yêu cầu người khởi kiện nộp bản sao các tài liệu, chứng cứ để Tòa án gửi cho các đương sự; c) Thông báo yêu cầu người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí, xét miễn, giảm tiền tạm ứng án phí; d) Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; đ) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; e) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Ngoài ra Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 vẫn giữ nguyên thời hạn chuẩn bị xét xử của các loại vụ án. Như vậy điều này gây khó khăn cho các vụ án kinh doanh, thương mại, lao động. Hơn nữa cách viết số tháng ở điều này không thống nhất. Ơ trên viết bằng số ở dưới viết bằng chữ.

2.1.2. Các quy định về phân công Thẩm phán Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Việc phân công thẩm phán phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

  • Thứ nhất, việc phân công phải nhanh chóng

Theo quy định tại Điều 172 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì: “Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án.” Việc nhanh chóng chỉ định một thẩm phán xử lý vụ án là hết sức quan trọng. Các sự kiện phát sinh trong một Vụ án dân sự là tương đối nhiều và phức tạp. Cần phải có người có thẩm quyền đứng ra thực hiện các biện pháp ngăn chặn khi cần thiết, như vậy mới đảm bảo tính công bằng của vụ án.

  • Thứ hai, việc phân công phải minh bạch.

Theo đó, Khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [10, tr4], hướng dẫn thì đối với Tòa án cấp huyện Chánh án có thể tự mình hoặc ủy nhiệm cho một phó chánh án phân công Thẩm phán giải quyết vụ án. Đối với Tòa án cấp tỉnh, Chánh án có thể ủy nhiệm cho một Phó chánh án hoặc ủy quyền cho Chánh tòa hoặc phó chánh tòa phân công Thẩm phán giải quyết vụ án. Khi phân công Thẩm phán giải quyết vụ án không phải ra quyết định bằng văn bản nhưng cần phân công Thẩm phán đã được phân công xem xét đơn khởi kiện và các chứng cứ tài liệu kèm theo để thụ lý vụ án.

Nếu phát sinh các điểm không rõ ràng giữa Thẩm phán hay Thư kí đối với các tình tiết của vụ án như đồng thời là đương sự, là thân thích của đương sự …hay đã từng tham gia vụ tố tụng với tư cách Kiểm sát viên, việc thay đổi người tố tụng sẽ được tiến hành theo quy định từ Điều 46 đến 51 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng được quy định tại Điều 50,51 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011.

Nếu trong quá trình xử lý, Thẩm phán bị thay đổi hay không thể tiếp tục thì Chánh án sẽ chọn một Thẩm phán khác, để vụ án được tiến hành một các liên tục.

Theo Điều 41 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì trong giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Thẩm phán có nhiệm vụ: Tiến hành lập hồ sơ vụ án; Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; Tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự…

Theo quy định tại Khoản  1 Điều 172 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án , Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án”; đồng thời, theo quy định tại Điều 173 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có nhiệm vụ thông báo về việc thụ lý vụ án và Khoản 1 Điều 174 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho…”. Như vậy, giả sử nếu Thẩm phán được Chánh án phân công giải quyết vụ án vào ngày cuối cùng theo thời hạn trên thì không thể đảm bảo thông báo thụ lý vụ án đúng thời hạn. Đồng thời, có trường hợp vụ án đã được thụ lý nhưng Chánh án lại chậm trễ trong việc phân công cho Thẩm phán giải quyết. Do đó, cần sửa đổi quy định này cho phù hợp hơn. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 172 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được bổ sung sửa đổi thành Điều 197 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Theo đó quy định mới như sau:

Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án theo nguyên tắc quay vòng hoặc ngẫu nhiên. 2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án.

Như vậy Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã kéo dài thêm thời hạn phân công thẩm phán lên 5 ngày, bảo đảm thuận lợi hơn cho Tòa án giải quyết vụ án nhưng vẫn nhanh chóng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

2.1.3. Các quy định về thụ lý và tống đạt văn bản tố tụng

  • Về thụ lý

Sau khi thụ lý vụ án, để thực hiện việc Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Tòa án phải thông báo việc thụ lý Vụ án dân sự. Các yêu cầu đối với việc thông báo thụ lý vụ án được quy định tại Điều 174, Điều 175, Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan và cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo trong thời hạn nhất định, đó là thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn, nhưng không quá 15 ngày nữa. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Cùng với việc phải nộp cho Tòa án các văn bản và tài liệu trên đây, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Đây là trường hợp bị đơn kiện lại đối với nguyên đơn, vì vậy Tòa án có thể xem xét để giải quyết trong cùng một vụ án để sớm kết thúc việc giải quyết tranh chấp. Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết. Trường hợp bị đơn có yêu cầu cùng về yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn), thì đây là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Về quy định Thông báo về việc thụ lý vụ án tại Điều 174 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được sửa đổi thành Điều 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trong đó nội dung văn bản thông báo bổ sung thêm nội dung “Vụ án được thụ lý theo thủ tục thông thường hay thủ tục rút gọn.” và “… yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có)”.

Như vậy, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã quy định chi tiết hơn một số nội dung có trong văn bản thông báo về việc thụ lý vụ án. Tuy nhiên, vấn đề về hậu quả pháp lý nếu người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu vẫn chưa được quy định rõ ràng.

  • b. Về tống đạt

Về vấn đề tống đạt văn bản tố tụng được quy định từ Điều 146 đến Điều 156 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Trong đó Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của Bộ luật này có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo bao gồm:

  • Bản án, quyết định của Toà án.
  • Đơn khởi kiện, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị.
  • Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự.
  • Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và các chi phí khác.
  • Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định.

Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng do những người sau đây thực hiện: Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng; Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc khi Toà án có yêu cầu; Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật này quy định; Nhân viên bưu điện; Những người khác mà pháp luật có quy định.

BLTTDS có quy định rõ người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo mà không làm đúng trách nhiệm của mình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 174 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 “Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án…”.

Có 2 cách hiểu khác nhau về việc thực hiện thủ tục thông báo trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án.

Quan điểm thứ nhất cho rằng thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, là thời hạn luật yêu cầu Tòa án phải “gửi” thông báo về việc thụ lý vụ án đi, còn khi nào đương sự “nhận” được thông báo hoặc biết được thông báo thụ lý vụ án đó thì luật không điều chỉnh. Vì luật chỉ quy định “thông báo” chứ không quy định phải “tống đạt hợp lệ” thông báo về việc thụ lý vụ án cho đương sự.

Quan điểm thứ 2 cho rằng việc gửi “Thông báo về việc thụ lý vụ án” đi và việc đương sự nhận được “Thông báo về việc thụ lý vụ án” phải là trong thời hạn ba ngày làm việc, được thể hiện trong hồ sơ vụ án là đã tống đạt hợp lệ cho đương sự. Quan điểm này đang được hiểu và áp dụng trong thực tế. Tuy nhiên, việc bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án nhận được “Thông báo về việc thụ lý vụ án” trễ hơn thời hạn “ba ngày làm việc” là chuyện thường gặp.

Để các văn bản tố tụng đến tận tay đương sự hoặc để đương sự biết được thông tin đó có thể bằng nhiều phương thức khác nhau, được quy định tại Điều 149 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 là Niêm yết công khai; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Đối với trường hợp văn bản tố tụng được gửi bằng đường bưu điện: “Thông báo về việc thụ lý vụ án” và các văn bản tố tụng khác thường được gửi qua đường bưu điện cho các đương sự. Đây là phương thức mà Tòa án thường thực hiện trước khi áp dụng các phương thức khác. Trường hợp thông báo không đến tay đương sự trong thời hạn ba ngày bao gồm nhiều yếu tố khách quan như: thư đến trễ, địa chỉ mà đương sự cung cấp không chính xác hoặc đã thay đổi, ở những vùng hẻo lánh, vùng rừng núi thì việc chuyển thư đến tận nhà đương sự là điều khó khăn vì cơ sở vật chất tại những vùng này còn nghèo nàn, lạc hậu, đường đi còn hiểm trở. Với một số đặc thù nêu trên thì với thời hạn ba ngày làm việc Tòa án không thể dự liệu được thời gian mà đương sự nhận được thông báo thụ lý vụ án, vì lý do khách quan ở trên.

Đối với trường hợp niêm yết công khai: Chỉ thực hiện thủ tục này khi không rõ tung tích của người được thông báo hoặc không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp. Có thể người tống đạt đã mất một khoảng thời gian xác minh, tống đạt không thành công trước đó hay việc xác minh không có kết quả mới áp dụng thủ tục này. Thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng là mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết (theo quy định tại Khoản 3, Điều 154 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011). Như vậy, để Tòa án có thể biết được kết quả của việc thông báo đó thì ít nhất cũng phải sau 15 ngày niêm yết. Thời hạn niêm yết công khai đó đã vượt quá số ngày theo quy định, vậy điều này có mâu thuẫn với quy định tại Điều 174 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 ?

Đối với thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thì: “ Văn bản cần tống đạt phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp” (theo quy định tại Điều 155 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011). Với phương thức cấp, tống đạt, thông báo này thì đúng trong thời hạn ba ngày luật định. Nhưng để tiến hành được thủ tục này, phải đảm bảo các yêu cầu của Khoản 1: “Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không đảm bảo cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt hoặc thông báo”. Trong các cách để báo tin cho đương sự thì đây là cách đảm bảo đúng thời hạn, nhưng để thực hiện được thì phải trải qua các bước khác mà không có kết quả mới được áp dụng cách này hoặc chỉ áp dụng trong những trường hợp đã được pháp luật quy định. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Đối với trường hợp cần ủy thác tư pháp hoặc không thể thực hiện được việc ủy thác tư pháp đối với trường hợp đương sự là người nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài mà chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì Tòa án phải mất thời hạn tối đa là 6 tháng để niêm yết công khai và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo Điểm c, Khoản 2, Điều 15 của Thông tư liên tịch số 15/2011 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật tương trợ tư pháp quy định:

Như vậy, việc ủy thác tư pháp cần ít nhất là 6 tháng mới có kết quả để Tòa giải quyết vụ việc dân sự. Nhưng theo quy định tại Điều 174 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 có dẫn đến việc vi phạm thủ tục tố tụng? Chưa kể, trong Vụ án dân sự, có nhiều đương sự đang cư trú ở nhiều nước khác nhau, có nước đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự với Việt Nam, có nước chưa ký. Do đó, việc xác minh, tống đạt đòi hỏi mất nhiều thời gian và tuân thủ các quy định về thủ tục chặt chẽ.

Như vậy, thời gian tống đạt văn bản tố tụng là ba ngày được quy định trong Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 là khoảng thời gian còn quá ngắn khi áp dụng trong nhiều trường hợp. Hơn nữa quy định về vấn đề thời gian vẫn chưa thống nhất.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Quy định Thông báo về việc thụ lý vụ án tại Điều 174 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được sửa đổi thành Điều 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tuy nhiên, Khoản 1 vẫn được giữ nguyên, tức là thời hạn thông báo thụ lý vụ án vẫn là ba ngày.

Bên cạnh đó Điều 154 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được sửa đổi thành Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Nhưng thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng vẫn là 15 ngày. Như vậy Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 vẫn chưa khắc phục được những hạn chế của quy định tại Điều 174 và Điều 154 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011.

2.1.4. Các quy định về thu thập chứng cứ Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • Yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ

Khoản 1 Điều 85 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định: “1. Trong trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.”

Việc giao nộp chứng cứ được thực hiện ngay khi đương sự nộp đơn khởi kiện. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chưa đủ cơ sở để giải quyết thì thẩm phán yêu cầu đương sự tiếp tục giao nộp bổ sung chứng cứ.

Theo đó khi yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, Tòa án cần phải nêu cụ thể chứng cứ cần giao nộp bổ sung và xác định rõ đương sự nào phải nộp bổ sung các chứng cứ đó. Thủ tục giao nhận chứng cứ tuân theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 84 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Khi nhận các chứng cứ do đương sự giao nộp, Tòa án phải tiến hành lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ. Nội dung biên bản phải có đầy đủ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ, thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Tòa án. Nếu chứng cứ là tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài thì đương sự phải nộp kèm theo bản dịch sang tiếng Việt đã được công chứng, chứng thực.

Pháp luật đã quy định cụ thể nghĩa vụ giao nộp chứng cứ của đương sự, nhưng lại chưa có quy định nào về thời hạn giao nộp chứng cứ. Tuy một số quy định của Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã thể hiện việc ấn định thời hạn để đương sự cung cấp chứng cứ. Chẳng hạn, quy định tại Điều 175 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án, người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo nếu có. Trong trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do, nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn, nhưng không quá 15 ngày. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Khoản 1 Điều 84 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi bổ sung 2011 quy định: “1. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Tuy nhiên, ở cả hai quy định này lại không quy định rõ về hậu quả pháp lý về việc đương sự không giao nộp chứng cứ trong thời hạn ấn định. Bên cạnh đó, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 không ấn định thời hạn giao nộp chứng cứ. Trên thực tế có những trường hợp, đương sự không giao nộp hết các chứng cứ trong giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự mà đợi đến khi tại phiên tòa sơ thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự mới giao nộp chứng cứ mới, làm thay đổi các tình tiết của vụ án khiến nhiều phiên tòa sơ thẩm phải kéo dài để các bên có thời gian chuẩn bị.

Như vậy quy định tại Điều 175 và Điều 84 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 vẫn còn những hạn chế cần khắc phục.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 84 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 về Giao nộp chứng cứ đã được sửa đổi bổ sung thành Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tại Khoản 1 Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã bỏ quy định “…đương sự phải chịu hậu quả pháp lý nếu không nộp hoặc nộp không đầy đủ…” thành nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà các đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật Tố tụng Dân sự để giải quyết”. Khoản 2, 4, 5 được quy định mới như sau:

Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác có liên quan hoặc thông báo cho đương sự khác về việc họ đã giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án nếu các tài liệu, chứng cứ đó không thể sao gửi cho đương sự khác được;… 4. Thời gian giao nộp chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ việc ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới cung cấp, giao nộp chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp chứng cứ đó. Đối với chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên toà sơ thẩm hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự; 5. Trường hợp chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.

Điều 175 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 được thành Điều 199 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

  • Tuy nhiên nội dung quy định vẫn được giữ nguyên. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Như vậy tuy rằng Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã sửa đổi về quy định về hậu quả pháp lý được quy định tại Điều 96, nhưng vẫn không quy định rõ về hậu quả pháp lý về việc đương sự không giao nộp chứng cứ trong thời hạn ấn định là như thế nào. Tuy nhiên, Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã ấn định được thời hạn giao nộp chứng cứ “Thời gian giao nộp chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm.”

  • b. Thu thập chứng cứ

Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự.

Theo nguyên tắc được quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì “Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định”. Tuy nhiên, cụ thể hóa nguyên tắc này, các Khoản 1, 2 Điều 85 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 chỉ quy định những trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ và các biện pháp mà Tòa án được tiến hành như sau:

  1. Trong trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.
  2. Trong các trường hợp do Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng; c) Trưng cầu giám định; d) Quyết định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản; đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ; e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết VVDS.

Quy định đã nêu rõ các biện pháp thu thập chứng mà Tòa án được tiến hành nhưng còn một số hoạt động mà Tòa án tiến hành có cùng mục đích là thu thập chứng cứ. Ví dụ: Hoạt động hòa giải, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm và xét xử tại phiên tòa phúc thẩm. Vì vậy, việc Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 chỉ quy định Tòa án tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ tại Điều 85 chưa có tính bao quát. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Bên cạnh đó, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 không nêu rõ hoạt động thu thập chứng cứ này diễn ra trong giai đoạn tố tụng nào? Chẳng hạn, sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án có được tiến hành ghi bổ sung lời khai của đương sự, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ hay yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ cũng như các hoạt động khác?

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 85 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 về thu thập chứng cứ đã được sửa đổi bổ sung thành Điều 97 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trong đó đã quy định mới:

Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng; c) Trưng cầu giám định; d) Quyết định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản; đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ; e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; i) Các hoạt động khác mà Bộ luật này có quy định.

Như vậy, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã quy định thêm một số biện pháp do Thẩm phán tiến hành để thu thập chứng cứ như: “…h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; i) Các hoạt động khác mà Bộ luật này có quy định.” Tuy nhiên, vẫn còn bỏ ngỏ nhiều biện pháp.

  • Khoản 4, 5 Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định:

Thời gian giao nộp chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm.” Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ việc ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới cung cấp, giao nộp chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp chứng cứ đó. Đối với chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên toà sơ thẩm hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự; 5. Trường hợp chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.

BLTTDS 2015 cũng đã quy định rõ hoạt động thu thập chứng cứ này diễn ra trong các giai đoạn tố tụng như: chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tại phiên tòa sơ thẩm, hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo.

  • c. Trưng cầu giám định theo yêu cầu Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Điều 90 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định về việc trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định được tiến hành theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự. Do các đương sự có nghĩa vụ chứng minh nên điều luật này đã quy định dành sự chủ động cho các đương sự trong việc yêu cầu trưng cầu giám định và Tòa án không chủ động trưng cầu giám định mà chỉ trưng cầu giám định theo yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên quy định này đã ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết vụ án tại Tòa án các cấp. Trong trường hợp các chứng cứ không rõ ràng, cần phải được trưng cầu giám định mới có thể ra kết luận chính xác để giải quyết vụ án nhưng các đương sự lại không yêu cầu thì Tòa án không thể tiến hành trưng cầu giám định để đưa ra quyết định chính xác.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 90 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được sửa đổi bổ sung thành Điều 102 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trong đó đã quy định tại Khoản 2, 3, 4: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, những vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định. 3. Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết Tòa án yêu cầu người giám định, tổ chức giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết. 4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án đã được kết luận giám định trước đó.

Như vậy Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã quy định về vấn đề nếu đương sự không yêu cầu thì Thẩm phán vẫn có quyền ra quyết định trưng cầu giám định. Điều này giúp cho Thẩm phán có thể chủ động hơn trong việc thu thập chứng cứ nhằm giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ án. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

d. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong trường hơp Thẩm phán đã tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ nhưng thuộc trường hợp phải từ chối, thay đổi.

Việc từ chối, thay đổi Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án xuất phát từ nguyên tắc “Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự” được quy định tại Điều 16 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được sửa đổi, bổ sung. Theo đó, “Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.”

Nguyên tắc này được cụ thể hóa tại Điều 46 (Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng) và Điều 47 (Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân). Đối với Thẩm phán, khi thuộc một trong các trường hợp sau họ phải bị thay đổi: (1) Đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự; (2) Đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó; (3) Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ; (4) Là người thân thích với thành viên Hội đồng xét xử khác; (5) Đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì vẫn được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; (6) Đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Thư ký Toà án.

Khi Thẩm phán rơi vào 01 trong 06 trường hợp trên, Thẩm phán phải từ chối hoặc bị thay đổi. Tuy nhiên, trong thực tiễn nảy sinh vướng mắc khi Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ (một vài hoạt động hoặc toàn bộ các hoạt động cần thiết cho việc giải quyết vụ án) mới phát hiện Thẩm phán thuộc trường hợp phải từ chối, thay đổi thì các tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán đó đã thu thập có được sử dụng để giải quyết vụ án hay không?

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 46, 47 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được sửa đổi bổ sung thành Điều 52, 53 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trong đó vẫn chưa nhắc đến việc sẽ xử lý những công việc mà thẩm phán đã làm trước khi bị thay đổi sẽ như thế nào. Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, do Bộ luật Tố tụng Dân sự không quy định rõ trường hợp này nên có nhiều ý kiến trái chiều là khó tránh khỏi. Để đánh giá ý kiến nào phù hợp hơn cần xem xét trên các khía cạnh bản chất của việc từ chối, thay đổi Thẩm phán cũng như trình tự, thủ tục tiến hành từng hoạt động thu thập chứng cứ mà Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định.

  • e. Trách nhiệm trao đổi chứng cứ Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Trong quá trình CBXXST, các bên đương sự cũng có quyền trao đổi tài liệu, nghiên cứu hồ sơ vụ án đề xây dựng những lập luận bảo vệ chứng cứ của mình hay phản bác những chứng cứ của bên kia. Tuy nhiên, Điều 84 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định về việc Giao nộp chứng cứ lại không quy định về vấn đề này. Hơn nữa, việc trao đổi các chứng cứ, tài liệu giữa các đương sự là trách nhiệm của các bên đương sự dưới sự hỗ trợ của Tòa án hay trách nhiệm của Tòa án cung cấp các tài liệu cho đương sự khi có yêu cầu? Nếu quy định các bên đương sự có trách nhiệm trao đổi các chứng cứ, tài liệu cho nhau thì Tòa án chỉ có vai trò hỗ trợ thông báo có những danh mục chứng cứ tài liệu các bên phải trao đổi trong một thời hạn nhất định. Nếu xác định trách nhiệm của Tòa án thì việc thông báo và cho phép đọc, ghi chép, sao chụp các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đối với các đương sự chỉ khi đương sự có yêu cầu. Trường hợp có các chứng cứ mới do đương sự bổ sung sau thì Tòa án có nghĩa vụ thông báo cho bên kia biết hay không? Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 vẫn chưa có quy định nào về vấn đề này.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 84 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 về Giao nộp chứng cứ đã được sửa đổi bổ sung thành Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trong đó quy định:

Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác có liên quan hoặc thông báo cho đương sự khác về việc họ đã giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án nếu các tài liệu, chứng cứ đó không thể sao gửi cho đương sự khác được. Việc đương sự giao nộp chứng cứ cho Tòa án phải được lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ.

Như vậy Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã khắc phục được hạn chế trong Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS 2011.

2.1.5. Các quy định về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập

  • Yêu cầu phản tố

Theo Khoản 4 Điều 60 và Khoản 1 Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Với quy định trên, phản tố có thể được hiểu là việc bị đơn khởi kiện lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc. Mục đích của yêu cầu phản tố là để bù trừ nghĩa vụ, khấu trừ nghĩa vụ hoặc loại trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Về bản chất, yêu cầu phản tố cũng là yêu cầu khởi kiện nên yêu cầu này có thể được khởi kiện bằng vụ án độc lập. Nhưng vì yêu cầu này có liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án đang được giải quyết và nhằm cho vụ án giải quyết chính xác, nhanh chóng hơn nên bị đơn có quyền yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án. Trong trường hợp, nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút yêu cầu độc lập thì vụ án vẫn được tiếp tục. Khi đó, Tòa án sẽ ban hành quyết định đình chỉ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập và ra thông báo thay đổi địa vị tố tụng cho đúng với tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án.

Về điều kiện của yêu cầu phản tố, theo Khoản 2 Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, để yêu cầu phản tố được Tòa án chấp nhận thụ lý, giải quyết trong cùng vụ án thì yêu cầu đó phải đảm bảo một trong các điều kiện: (1) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; (2) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và (3) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

Đồng thời, tại Khoản 3, 4 và 5 Điều 13 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [10, tr4 ]còn hướng dẫn chi tiết các điều kiện của yêu cầu phản tố. Cụ thể:

Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn; do đó, bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Ví dụ: Nguyên đơn Trần Bình Minh khởi kiện bị đơn Hồ An bồi thường thương tích, anh An đưa ra yêu cầu phản tố bằng cách đề nghị anh Minh trả nợ. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vì không có căn cứ.

Ví dụ: Anh A có chiếc xe ô tô thuộc sở hữu riêng đã bán cho anh C, nhưng nói với con mình (B) là cho anh C thuê mỗi tháng 6 triệu đồng. Sau đó A chết, B khởi kiện yêu cầu C phải thanh toán tiền thuê xe trong thời gian một năm là 72 triệu đồng. Anh C có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu ô tô. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh C thì dẫn đến không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của B đòi C thanh toán tiền xe ô tô.

Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh chóng hơn.

Ví dụ: Chị K khởi kiện anh T phải trợ cấp nuôi con (C) một tháng 300.000đ. Anh T có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án xác định (C) không phải là con anh.

Bên cạnh đó, theo các khoản 1, 2 Điều 13 Nghị quyết số 05/2012, khi xem xét các điều kiện của yêu cầu phản tố, cần lưu ý, được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết. Đồng thời, cần phân biệt yêu cầu phản tố với ý kiến của bị đơn. Theo đó, chỉ coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập).

Về trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố, theo Điều 178 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, thì thủ tục yêu cầu phản tố được thực hiện theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Cho nên, trình tự giải quyết yêu cầu phản tố cũng được thực hiện như trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu khởi kiện.

  • Thứ nhất, về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Theo Khoản 2 Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận khi thuộc 01 trong 03 trường hợp gồm:

Để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; b. Loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc; c. Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

Tuy nhiên, do Bộ luật Tố tụng Dân sự không quy định rõ nên đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau về yêu cầu phản tố của bị đơn đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, bị đơn chỉ có quyền phản tố đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập khi yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với bị đơn. Nếu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập đối với nguyên đơn thì bị đơn không thể đưa ra yêu cầu phản tố đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Quan điểm thứ hai cho rằng, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bất kể yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với nguyên đơn hay đối với bị đơn. Bởi vì, Bộ luật Tố tụng Dân sự không hạn chế quyền phản tố của bị đơn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Như vậy hiểu theo quan điểm nào mới đúng? Bên cạnh đó, quy định về quyền phản tố của bị đơn trong Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng không thống nhất. Tại Khoản 1 Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, Khoản 4 Điều 60 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 chỉ quy định bị đơn có quyền phản tố đối với nguyên đơn mà không quy định quyền phản tố đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 60, 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 được sửa đổi thành Điều 72, 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Điều 200 vẫn giữ nguyên nội dung ở Điều 176. Điều 72 đã sửa đổi bổ sung trong đó Khoản 5 quy định: 5. Đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có các quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.” Như vậy ngoài việc quy định bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 còn quy định quyền phản tố đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • Thứ hai, về phạm vi áp dụng yêu cầu phản tố

Theo Khoản 1 Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, bị đơn có yêu cầu phản tố chỉ áp dụng đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Cho nên, trong trường hợp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập thì bị đơn không có quyền phản tố đối họ, bất kể để giải quyết đúng đắn vụ án cần phải giải quyết yêu cầu này của bị đơn. Vướng mắc này được thể hiện qua vụ án sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/11/2014, bà N.T.L cho rằng, vào ngày 22/3/2014, bà O có vay của bà L số tiền 4.000.000 đồng, thời hạn vay đến tháng 06/2014 sẽ hoàn vốn vay, lãi 3%/tháng. Khi vay bà O có lập biên nhận ngày 22/3/2014. Khi đến hạn thanh toán, bà L có yêu cầu thanh toán nhưng bà O không thực hiện. Vì vậy, bà L khởi kiện yêu cầu bà O có nghĩa vụ thanh toán vốn vay 4.000.000 đồng và nợ lãi 1.000.000 đồng.

Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bà O thừa nhận có vay của bà L như trình bày của bà L. Tuy nhiên, vào ngày 04/7/2014, bà O, bà L và bà H.T.H thỏa thuận chuyển nghĩa vụ từ việc bà O trả nợ vay cho và L sang bà O phải trả nợ cho bà H đối với khoản nợ mà bà L nợ bà H. Sau đó, bà O đã trả cho bà H xong. Nay bà L khởi kiện bà O nên bà O yêu cầu bà H trả lại số tiền mà bà O đã trả cho bà H xong để bà O trả nợ cho bà L.

Bà H cung cấp lời khai việc chuyển nghĩa vụ trả nợ của bà O như trình bày của bà O. Bởi vì, trước đó, bà L có nợ tiền mua bán của bà H là 5.000.000 đồng. Theo thỏa thuận của các bên nên bà O đã trả 5.000.000 đồng cho bà H xong. Bà H không đồng ý trả lại số tiền này cho bà O.

Trong khi đó, bà L không thừa nhận có việc chuyển nghĩa vụ trả nợ của bà O như bà O, bà H khai vì bà L không nợ tiền mua bán của bà H như trình bày của bà H.

Chúng ta thấy rằng, yêu cầu của bà O cần phải được xem xét, giải quyết trong cùng vụ án để đảm bảo kịp thời quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên. Tuy nhiên, với quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì bà O không có quyền yêu cầu bà H hoàn lại số tiền mà bà O đã trả cho bà H trong cùng vụ án. Bởi vì, bà H không có yêu cầu độc lập nên bà O không có quyền yêu cầu phản tố đối với bà H. Chính quy định này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bà L.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 được sửa đổi thành Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tuy nhiên nội dung vẫn giữ nguyên nội dung ở Điều 176. Như vậy Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 chưa quy định chính xác về vấn đề này. Đề nghị cần sửa đổi bổ sung. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • b. Về yêu cầu độc lập

Theo Khoản 4 Điều 56 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về bản chất, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng là một yêu cầu khởi kiện, có thể được khởi kiện thành vụ án độc lập. Tuy nhiên, nếu giải quyết yêu cầu độc lập sẽ không bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên yêu cầu này phải được giải quyết trong cùng vụ án. Đồng thời, khi yêu cầu độc lập được giải quyết trong cùng vụ án thì vụ án được giải quyết nhanh hơn, tránh việc phải xác định vụ án giải quyết trước, sau, kéo dài thời gian giải quyết các vụ án làm mâu thuẫn trong nhân dân trầm trọng hơn.

Về điều kiện của yêu cầu độc lập, theo Khoản 1 Điều 177 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được chấp nhận là yêu cầu độc lập khi đảm bảo đầy đủ 03 điều kiện gồm: (1) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; (2) yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết và (3) yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

Về thời điểm đưa ra yêu cầu độc lập, theo Khoản 2 Điều 177 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Về thời điểm bắt đầu, Bộ luật Tố tụng Dân sự không quy định như yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu có thể xác định khi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được Tòa án thông tin chính thức về vụ án đang giải quyết. Việc thông tin này có thể qua thông báo thụ lý vụ án nếu như người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được xác định ngay trong đơn khởi kiện của người khởi kiện; hoặc thông qua văn bản yêu cầu tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà có căn cứ xác định việc giải quyết vụ án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ.

Về trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết yêu cầu độc lập, theo Điều 178 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, cũng như yêu cầu phản tố, trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Cho nên, trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết yêu cầu độc lập cũng được thực hiện như trình tự thủ tục thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện.

  • Thứ nhất, về quyền, nghĩa vụ của bị đơn có yêu cầu phản tố và quyền, nghĩa vụ của đương sự bị yêu cầu phản tố, bị yêu cầu độc lập Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Bên cạnh quy định quyền chung của các đương sự tại Điều 58 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 còn quy định quyền riêng của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phù hợp với tư cách tham gia tố tụng của họ. Tuy nhiên, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 chỉ mới quy định quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn theo Khoản 2 Điều 61 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 mà không quy định quyền, nghĩa vụ của bị đơn khi họ có yêu cầu phản tố; quyền, nghĩa vụ của bị đơn, nguyên đơn bị yêu cầu phản tố, bị yêu cầu độc lập. Trong khi đó, bản chất của yêu cầu phản tố là việc bị đơn khởi kiện lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nên bị đơn phải có quyền lợi của nguyên đơn; nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bị phản tố có quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn; nguyên đơn, bị đơn bị yêu cầu độc lập có quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn. Việc không quy định rõ quyền, nghĩa vụ của đương sự liên quan đến yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự liên quan đến 02 loại yêu cầu này. Đồng thời, sẽ khó ràng buộc nghĩa vụ của họ trong các hoạt động tố tụng.

Chẳng hạn, theo Điểm e, Khoản 1 Điều 192 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì khi nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng thì Tòa án ban hành quyết định đình chỉ yêu cầu khởi kiện của họ. Do Bộ luật Tố tụng Dân sự không quy định bị đơn có yêu cầu phản tố có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn nên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, khi Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 mà bị đơn vẫn vắng mặt thì Tòa án không có căn cứ để đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn. Bởi vì, Điều 199 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 chỉ quy định Tòa án đình chỉ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập khi nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng mà không quy định trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 61 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được chuyển thành Điều 73 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tuy nhiên, nội dung vẫn được giữ nguyên như điều luật cũ. Như vậy rất cần thiết phải sửa đổi bổ sung điều luật này theo hướng đã phân tích ở trên.

  • Thứ hai, về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn

Theo Khoản 2 Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận khi thuộc 01 trong 03 trường hợp gồm: Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; b. Loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc; c. Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

Tuy nhiên, do Bộ luật Tố tụng Dân sự không quy định rõ nên đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau về yêu cầu phản tố của bị đơn đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, bị đơn chỉ có quyền phản tố đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập khi yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với bị đơn. Nếu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập đối với nguyên đơn thì bị đơn không thể đưa ra yêu cầu phản tố đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập [21, tr36]. Quan điểm thứ hai cho rằng, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bất kể yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với nguyên đơn hay đối với bị đơn. Bởi vì, Bộ luật Tố tụng Dân sự không hạn chế quyền phản tố của bị đơn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Như vậy hiểu theo quan điểm nào mới đúng? Bên cạnh đó, quy định về quyền phản tố của bị đơn trong Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng không thống nhất. Tại Khoản 1 Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, Khoản 4 Điều 60 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 chỉ quy định bị đơn có quyền phản tố đối với nguyên đơn mà không quy định quyền phản tố đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 60, 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 được sửa đổi thành Điều 72, 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Điều 200 vẫn giữ nguyên nội dung ở Điều 176. Điều 72 đã sửa đổi bổ sung trong đó Khoản 5 quy định: 5. Đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có các quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.” Như vậy ngoài việc quy định bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 còn quy định quyền phản tố đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

  • Thứ ba, về phạm vi áp dụng yêu cầu phản tố Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Theo Khoản 1 Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, bị đơn có yêu cầu phản tố chỉ áp dụng đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Cho nên, trong trường hợp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập thì bị đơn không có quyền phản tố đối họ, bất kể để giải quyết đúng đắn vụ án cần phải giải quyết yêu cầu này của bị đơn. Vướng mắc này được thể hiện qua vụ án sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/11/2014, bà N.T.L cho rằng, vào ngày 22/3/2014, bà O có vay của bà L số tiền 4.000.000 đồng, thời hạn vay đến tháng 06/2014 sẽ hoàn vốn vay, lãi 3%/tháng. Khi vay bà O có lập biên nhận ngày 22/3/2014. Khi đến hạn thanh toán, bà L có yêu cầu thanh toán nhưng bà O không thực hiện. Vì vậy, bà L khởi kiện yêu cầu bà O có nghĩa vụ thanh toán vốn vay 4.000.000 đồng và nợ lãi 1.000.000 đồng.

Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bà O thừa nhận có vay của bà L như trình bày của bà L. Tuy nhiên, vào ngày 04/7/2014, bà O, bà L và bà H.T.H thỏa thuận chuyển nghĩa vụ từ việc bà O trả nợ vay cho và L sang bà O phải trả nợ cho bà H đối với khoản nợ mà bà L nợ bà H. Sau đó, bà O đã trả cho bà H xong. Nay bà L khởi kiện bà O nên bà O yêu cầu bà H trả lại số tiền mà bà O đã trả cho bà H xong để bà O trả nợ cho bà L.

Bà H cung cấp lời khai việc chuyển nghĩa vụ trả nợ của bà O như trình bày của bà O. Bởi vì, trước đó, bà L có nợ tiền mua bán của bà H là 5.000.000 đồng. Theo thỏa thuận của các bên nên bà O đã trả 5.000.000 đồng cho bà H xong. Bà H không đồng ý trả lại số tiền này cho bà O.

Trong khi đó, bà L không thừa nhận có việc chuyển nghĩa vụ trả nợ của bà O như bà O, bà H khai vì bà L không nợ tiền mua bán của bà H như trình bày của bà H.

Chúng ta thấy rằng, yêu cầu của bà O cần phải được xem xét, giải quyết trong cùng vụ án để đảm bảo kịp thời quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên. Tuy nhiên, với quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì bà O không có quyền yêu cầu bà H hoàn lại số tiền mà bà O đã trả cho bà H trong cùng vụ án. Bởi vì, bà H không có yêu cầu độc lập nên bà O không có quyền yêu cầu phản tố đối với bà H. Chính quy định này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bà L.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 176 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 được sửa đổi thành Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tuy nhiên nội dung vẫn giữ nguyên nội dung ở Điều 176. Như vậy Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 chưa quy định chính xác về vấn đề này. Đề nghị cần sửa đổi bổ sung.

2.1.6. Các quy định về hòa giải Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Toà án tổ chức hoà giải trước khi xét xử hầu hết các vụ án, trừ một số trường hợp được quy định tại Điều 181 và Điều 182 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011.

Những Vụ án dân sự không được hòa giải, gồm có: Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội (Điều 181 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011).

Những Vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được, gồm có: Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể hòa giải được vì có lý do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 182 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011).

Nguyên tắc tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 180 Luật sửa đổi bổ sung BKTTDS 2011. Trong đó việc hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình; Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Nội dung, trình tự hòa giải được quy định từ Điều 184 đến Điều 188 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Cụ thể việc hòa giải dân sự có thể được tiến hành qua các bước sau: a. Thẩm phán hướng dẫn và giải thích cách xử lý dự kiến của pháp luật đối với vụ án đang tranh chấp. b. Nguyên đơn, bị đơn, cá nhân, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu quan điểm về vụ tranh chấp và đưa ra hướng giải quyết. c. Thẩm phán xem xét và giải thích các ý kiến của các đương sự. d. Thư ký toà án ghi biên bản hoà giải, có chữ ký của người tham gia hoà giải. Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề tranh chấp trong phiên hoà giải thì toà án lập biên bản hoà giải thành, nếu không hoà giải được thì vụ án được đưa ra xét xử.

Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một thẩm phán được chánh án tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do sự nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • a. Về nguyên tắc tiến hành hòa giải

Khoản 2 Điều 180 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định hòa giải được tiến hành theo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Tuy nhiên ở đây nên bổ sung thêm nguyên tắc.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 180 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được chuyển thành Điều 205 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tuy nhiên nội dung vẫn giữ nguyên không bổ sung gì thêm.

  • b. Về trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt

Trong quá trình hòa giải, có quy định về trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt thì không tiến hành hòa giải được (căn cứ theo Điều 182 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011). Nhưng lại chưa có quy định cụ thể về “cố tình vắng mặt” là như thế nào. Điều này sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc quyết định tiến hành bước tiếp theo trong việc giải quyết vụ án sơ thẩm.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 182 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được chuyển thành Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trong đó vẫn chưa có khoản giải thích về vấn đề thế nào là “cố tình vắng mặt”. Đề nghị cần làm rõ về vấn đề này. Bởi nếu không bị đơn sẽ lấy các lý do khác và biện minh rằng đó không phải là cố tình vắng mặt.

  • c. Về thành phần phiên hòa giải

Như đã nêu, thành phần phiên hòa giải theo quy định tại Điều 184 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 bao gồm: thẩm phán, thư ký phiên tòa, các đương sự và người đại diện hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, Khoản 3 Điều 64 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền “tham gia việc hòa giải”. Việc quy định như vậy đã dẫn tới nhiều ý kiến chưa thống nhất liên quan đến phiên hòa giải.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 184 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được chuyển thành Điều 209 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trong đó đã quy định thêm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và một số thành phần khác. Như vậy Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã khắc phục được hạn chế của Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011.

  • d. Về hình thức hòa giải Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

BLTTDS 2004 và đến Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 vẫn quy định chỉ có một hình thức hòa giải là thông qua Thẩm phán. Thẩm phán sẽ chủ trì phiên hòa giải (Điều 184 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011). Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải thì Thẩm phán hoãn phiên hòa giải. Tuy nhiên điều đáng nói ở đây là liệu với một hình thức như vậy liệu có đảm bảo chất lượng cũng như thời gian hòa giải hay chưa?

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

BLTTDS 2015 cũng không quy định thêm hình thức nào ngoài tiến hành hòa giải với sự chủ trì của Thẩm phán. Thiết nghĩ nên bổ sung quy định thêm về hình thức Hòa giải, nhằm làm phong phú hơn về vấn đề lựa chọn cho các đương sự và giảm bớt “gánh nặng” cho Thẩm phán.

  • e. Về phiên họp tiền xét xử

Ở Pháp và Nga, Thẩm phán sẽ tổ chức phiên họp sơ bộ hay phiên họp “tiền xét xử” để các đương sự thảo luận yêu cầu của họ và những vấn đề xung quanh vụ án. Tuy nhiên, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 không quy định về phiên họp này. Thiết nghĩ quá trình Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự cần chuẩn bị càng kỹ càng giúp cho quá trình xét xử diễn ra dễ dành hơn và đạt kết quả tốt nhất. Vậy nên một phiên họp trước quá trình xét xử là rất cần thiết.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

BLTTDS 2015 đã khắc phục được hạn chế này của Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 khi đã quy định về vấn đề này. Không gọi tên là phiên họp sơ bộ hay tiền xét xử như các nước đã từng sử dụng mà quy định về “phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khái chứng cứ và hòa giải”. Mặc dù tên gọi khác nhưng những nội dung mà Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định phù hợp với nội dung cần thiết của một phiên họp trước khi tiến hành xét xử. Đồng thời phiên họp này gộp luôn cả hoạt động tiến hành hòa giải”.

2.1.7 Các quyết định trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

  • Về quyết định tạm đình chỉ vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 189 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, Thẩm phán được phân công giải quyết Vụ án dân sự sẽ có quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết Vụ án dân sự trong các trường hợp sau:

Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó: Căn cứ này áp dụng cho trường hợp đương sự là cá nhân và là một trong các đương sự đang tham gia vào việc giải quyết vụ án đã chết. Việc chưa có người thừa kế quyền và nghĩa vụ có thể là do chưa xác định ngay được người thừa kế hoặc đã xác định nhưng người thừa kế chưa thể tham gia tố tụng. Vậy nên để đảm bảo quyền tham gia tố tụng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ; Căn cứ này cũng áp dụng tương tự cho trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức và là một trong những đương sự đang tham gia tố tụng mà bị giải thể, sáp nhập, chia tách. Nếu một trong các đương sự trên mà bị giải thể, sáp nhập, chia tách trong quá trình Tòa án đang giải quyết vụ án thì quá trình tố tụng có thể bị gián đoạn do chưa có chủ thể kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan tổ chức đó;

Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật: Trong trường hợp này do đương sự không thể nhận thức và làm chủ được hành vi nên họ sẽ không thể tự tham gia tố tụng, vậy nên cần người đại diện theo pháp luật thay họ tham gia tố tụng; Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế: Người đại diện bao gồm người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền. Quan hệ đại diện này có thể chấm dứt khi xuất hiện những căn cứ do pháp luật quy định. Khi quan hệ đại diện chấm dứt, người đại diện sẽ không có quyền tham gia tố tụng, đồng thời việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự cũng không thể tiếp tục;

Cần Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước khi mới giải quyết được vụ án; Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án mà thời hạn giải quyết đã hết: Đây là trường hợp vụ án mà Tòa án đã thụ lý và đang giải quyết có liên quan đến vụ án khác. Kết quả giải quyết của các vụ án này là căn cứ, cơ sở cho việc Tòa án tiếp tục giải quyết Vụ án dân sự đã thụ lý.

Ngoài các căn cứ trên thì Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự còn bỏ sót căn cứ được quy định tại Điều 41 Luật Phá sản 2014 “Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thực hiện nghĩa vụ về tài sản”, mà chỉ nêu chung chung căn cứ cuối cùng là “Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 189 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã được sửa đổi thành Điều 214 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Điều 214 đã quy định rõ căn cứ “Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản”, đồng thời bổ sung thêm một căn cứ “Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ”. Như vậy việc bổ sung thêm hai căn cứ càng làm cụ thể hơn căn cứ áp dụng tạm đình chỉ Vụ án dân sự của Tòa án.

  • b. Về quyết định đình chỉ vụ án dân sự Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Các căn cứ đình chỉ giải quyết Vụ án dân sự được quy định tại Điều 192 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, như:

Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế; Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó: Các quyền và nghĩa vụ này là quyền nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của đương sự đã chết, gắn liền với cơ quan tổ chức. Vì vậy việc không được thừa kế quyền và nghĩa vụ của cá nhân hoặc quyền và nghĩa vụ của cơ quan tổ chức thì coi như quyền và nghĩ vụ của các nhân hay cơ quan tổ chức đó đương nhiên chấm dứt;

Người khởi kiện rút đơn khởi kiện: Người khởi kiện mong muốn quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo vệ, nhưng nếu họ rút đơn khởi kiện thì coi như muốn chấm dứt việc tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án sẽ xem xét trong vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không để đưa ra quyết định phù hợp;

Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án: Trong tố tụng dân sự rất coi trọng việc hòa giải, thỏa thuận của các đương sự. Vì vậy việc thỏa thuận thành công coi như đã giải quyết được nhu cầu mong muốn của hai bên nên Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Bên cạnh đó còn một số căn cứ đình chỉ như: Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng; Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;Thời hiệu khởi kiện đã hết…

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 192 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 đã sửa đổi thành Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Một số căn cứ đã được lược bỏ cho phù hợp, nhưng căn cứ “Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó”. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Phá sản thì sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì Tòa án cho phép doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. Vậy trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi được hoạt động kinh doanh thì sau khi Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã thì Vụ án dân sự đã bị đình chỉ trước đó lại được tiếp tục giải quyết. Vậy, nếu ra quyết định đình chỉ trong khi thủ tục tố tụng dân sự chưa chấm dứt hoàn toàn thì điều này không đúng với bản chất của đình chỉ giải quyết vụ án là quá trình tố tụng bị dừng lại vĩnh viễn. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • c. Về quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm

Theo quy định tại Điều 195 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 khi không có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án thì Tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thẩm quyền ra quyết định đưa vụ án ra xét xử là thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được lập thành văn bản và có đầy đủ nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 195 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 và theo đúng mẫu số 12 ban hành kèm theo Nghị quyết 05/2012/NQ- Hội đồng thẩm phán [10, tr10]. Quyết định bao gồm các nội dung sau: Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên Tòa án ra quyết định; vụ án được đưa ra xét xử; tên, địa chỉ của đương sự; họ, tên của Hội đồng xét xử, thư ký và họ tên của thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết, Kiểm sát viên nếu có và những người tham gia tố tụng khác; xét xử công khai hay xét xử kín; thời gian, địa điểm mở phiên tòa. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định. Tuy nhiên ở đây lại không quy định rõ “ngay” là trong khoảng bao lâu?

Sau khi có quyết định đưa Vụ án dân sự ra xét xử, đương sự có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch. Việc thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch được quy định tại các điều từ Điều 46 đến Điều 51 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Theo Điều 46 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 và Điều 13 Nghị quyết 03/2012/NQ- Hội đồng thẩm phán [8, tr3], thì thẩm phán, thư ký Tòa án, kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau: Họ đồng thời là đương sự, người đại diện hoặc người thân thích của đương sự; đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án , hoặc có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Ngoài ra, theo Điều 47 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thẩm phán còn phải thay đổi trong trường hợp họ đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là kiểm sát viên, thư ký Tòa án. Theo Điều 48 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thư ký Tòa á còn phải thay đổi trong các trường hợp đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là kiểm sát viên, thẩm phán.

Điều 50 và Điều 51 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng. Việc thay đổi thẩm phán và thư ký Tòa án trong thời gian Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự này do Chánh án Tòa án quyết định; nếu thẩm phán là Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quy định. Thay đổi kiểm sát viên trong thời gian Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định. Quyết định thay đổi hoặc không thay đổi người tiến hành tố tụng phải được công bố công khai tại phiên toà. Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng phải được gửi ngay cho những người có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 51 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • So sánh quy định hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Điều 195 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 được sửa đổi thành Điều 220 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Và tại Khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã sửa đổi và ghi rõ thời hạn về vấn đề “gửi ngay” chưa được nói rõ trong Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011, cụ thể: “2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định.” Điều này tạo thuận lợi trong công tác tống đạt văn bản và làm căn cứ cần thiết khi tham gia tố tụng dân sự.

2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Theo báo cáo tổng kết của ngành Tòa án thì số vụ án dân sự được giải quyết ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, thì tính trung bình mỗi năm các Tòa án nhân dân đã giải quyết trên 150.000 vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình; trên 2.500 vụ việc về kinh doanh, thương mại; trên 2.000 vụ việc về lao động; tỷ lệ các vụ việc mà Tòa án phải giải quyết hàng năm tăng khoảng 15%; các vụ việc về kinh doanh, thương mại và lao động có tỷ lệ tăng cao hơn so với các vụ việc dân sự khác. Về chất lượng xét xử, tính trung bình mỗi năm có khoảng trên dưới 4% các bản án, quyết định của Tòa án bị sửa và 1,5% các bản án, quyết định của Tòa án bị hủy. Cụ thể như sau:

  • Năm 2011, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 095 vụ việc dân sự, đã giải quyết được 222.386 vụ, (đạt 90 %).[30].
  • Năm 2012, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 306 vụ việc dân sự, đã giải quyết được 246.215 vụ, (đạt 90%).[31].
  • Năm 2013, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 912 vụ việc dân sự, đã giải quyết được 274.303 vụ (bằng 91%, vượt 1% so với chỉ tiêu đề ra). [32]
  • Năm 2014, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 320.912 vụ việc dân sự, đã giải quyết được 294.443, (đạt 91,7%).[33].

Từ những số liệu trên ta có biểu đồ sau: Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • Biểu đồ: Việc giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân từ năm 2006 đến 2014

Qua biểu đồ có thể thấy, mặc dù các vụ việc dân sự mà Tòa án phải thụ lý và giải quyết là rất lớn, số lượng tăng lên theo hàng năm, trong đó có nhiều tranh chấp phức tạp nhưng các Tòa án vẫn cố gắng khắc phục khó khăn, giải quyết được từ 80% đến 90% vụ án đã thụ lý. Trong đó, việc Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đã được tiến hành một cách kỹ lưỡng như làm tốt việc hướng dẫn, giải thích pháp luật cho các bên đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ, tích cực xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp đương sự có yêu cầu, tăng cường phối hợp với các cơ quan hữu quan trong việc giải quyết vụ án, nên từng bước khắc phục được việc giải quyết các vụ án tồn đọng. Tỉ lệ các bản án, các quyết định bị hủy, sửa cũng giảm dần qua các năm.

Thông qua thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, trong đó Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đã được quy định cụ thể và rõ ràng hơn rất nhiều so với các văn bản trước đó. Điều này đã giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và cả những người tham gia tố tụng thực hiện một cách thống nhất và chính xác.

Tuy nhiên việc thực hiện các quy định của pháp luật về CBXXSTVADS vẫn còn những tồn tại sau:

  • Xác định sai tư cách người tham gia tố tụng, hoặc bỏ sót người tham gia tố tụng hoặc xác định người chết là đương sự

Thực tế có vụ án Tòa án đã xác định sai tư cách nguời tham gia tố tụng hoặc xác định cả người chết là đương sự. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật nếu trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự chết thì Tòa án phải xem xét để đưa những người thừa kế của họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng mới đúng.

Ví dụ 1: Vụ án chia di sản thừa kế giữa nguyên đơn là bà Lê Thị Ban với bị đơn là ông Lê Văn Hóa do Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm xác định trên phần đất là di sản của cụ Cao Thị Hỵ có công sức vượt lập và tài sản của vợ chồng ông Lê Văn Bán và bà Lưu Thị Da nhưng trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án không đưa bà Lưu Thị Da tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Đơn cử, vụ tranh chấp giữa nguyên đơn Phạm Thị Thuận với bị đơn Lê Đình Thuấn về quyền sử dụng đất qua việc xây dựng tường rào (bản án phúc thẩm số 28 ngày 5.4.2013). UBND xã trả lời đất của bà Thuận được Nhà nước cân đối giao đất theo Nghị định 64 cho hộ gồm 4 người, nhưng tòa án cấp sơ thẩm lại không đưa những người trong hộ tham gia tố tụng [46].

Ví dụ 2: Vụ án “tranh chấp thừa kế và hủy hợp đồng tặng cho nhà” giữa nguyên đơn là ông Trương Trung Hiếu, bà Trương Thị Xuân Hương, ông Trương Ngọc Lễ với bị đơn là cụ Nguyễn Thị Tiết, bà Trương Thị Mỹ Lan, ông Nguyễn Hoàng Đức (Quyết định giám đốc thẩm số 29/DS-GĐT ngày 9/7/2010) cụ thể như sau: Cụ Trương Văn Kiệm (chết năm 2002) và cụ Nguyễn Thị Tâm (chết năm 1998) chung sống có 3 con là ông Trương Trung Hiếu, bà Trương Thị Xuân Hương, ông Trương Ngọc Lễ. Khoảng năm 1949, cụ Kiệm chung sống với cụ Nguyễn Thị Tiết sinh được 12 người con. Năm 1957, cụ Tâm không sống chung với cụ Kiệm nữa, mà cùng 3 con về sống tại tỉnh T. Năm 1972 cụ Kiệm mua căn nhà số 4, đường Phong Phú, thành phố H và sống cùng cụ Tiết cho đến khi chết. Ông Trương Trung Hiếu, bà Trương Thị Xuân Hương, ông Trương Ngọc Lễ khởi kiện cụ Nguyễn Thị Tiết, bà Trương Thị Mỹ Lan, ông Nguyễn Hoàng Đức tranh chấp ngôi nhà nêu trên. Khi Tòa án cấp sơ thẩm đang giải quyết vụ án thì cụ Nguyễn Thị Tiết chết. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải làm thủ tục để đưa những người thừa kế của cụ Tiết tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng Dân sự, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xác định cụ Nguyễn Thị Tiết là bị đơn là sai [45].

  • Thủ tục thu thập chứng cứ không đầy đủ thiếu tính chính xác Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Hầu hết các bản án sơ thẩm của Tòa án cấp huyện bị Tòa án cấp phúc thẩm xử hủy đều có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục thu thập chứng cứ như việc chứng minh và thu thập chứng cứ không đầy đủ và không theo đúng quy định tại Chương VII Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 dẫn đến quyết định giải quyết vụ án không đúng, không đảm bảo được quyền lợi cho các đương sự. Qua nghiên cứu cho thấy những vi phạm mà Tòa án cấp huyện thường mắc phải trong các Vụ án dân sự khá đa dạng như trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, thẩm phán không xác minh triệt để tài sản trên đất, công sức duy trì, tôn tạo của người đang sử dụng tài sản; việc định giá quyền sử dụng đất không theo giá thị trường tại thời điểm xét xử; trong vụ án khác, chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ cơ sở để giải quyết nhưng thẩm phán không yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ mà cho rằng đương sự không cung cấp được chứng cứ nên không xem xét giải quyết hoặc bác yêu cầu của họ…

Bên cạnh đó, cũng có trường hợp án bị hủy là do không thu thập đầy đủ chứng cứ, nhất là trong các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất. Người trực tiếp thụ lý vụ án (thẩm phán, kiểm sát viên) đã không làm việc với Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền về việc giao đất, căn cứ, trình tự, thủ tục giao đất có đúng quy định pháp luật hay không; không làm rõ quá trình quản lý, sử dụng và kê khai đăng ký; tranh chấp đất liền kề nhưng chỉ tiến hành đo đạc một bên; lời khai của đương sự và người làm chứng mâu thuẫn, không thống nhất song lại không được tiến hành đối chất để làm rõ…

Có thể thấy qua vụ án tranh chấp giữa Huỳnh Thị Ngọc Hường và bị đơn Huỳnh Văn Trọng (án phúc thẩm số 154 ngày 19.11.2013) về quyền sử dụng 2 thửa đất liền kề được Nhà nước phân lô giao cho các hộ. Tòa cấp sơ thẩm đã không thu thập hồ sơ quy hoạch phân lô các thửa, biên bản cắm mốc và biên bản làm việc với UBND địa phương về việc đã thu hồi diện tích tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở vị trí nào.

Hay như vụ án ly hôn giữa nguyên đơn Hồ Thị Tình và bị đơn Nguyễn Ngọc Ca (bản án phúc thẩm số 42 ngày 12.12.2013). Lô đất của vợ chồng ông Ca, bà Tình dù chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai, nhưng khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn thì tòa sơ thẩm lại phân chia trong khi tòa chưa xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã lô đất này ai là người đăng ký kê khai và thuộc quyền sử dụng của ai.

Ngoài ra, có một số vụ án tòa sơ thẩm tuyên không rõ ràng dẫn đến khó thi hành án. Chẳng hạn như tuyên buộc đương sự phải trả đất song không ghi rõ tứ cận và không có sơ đồ kèm theo; buộc trả đất và trên đất có tài sản nhưng lại không đề cập giải quyết tài sản trên đất; buộc giao lại giá trị tài sản nhưng không giao quyền sở hữu tài sản cho họ; tuyên đất do nhiều người quản lý nhưng lại không nêu cụ thể là gồm những ai… Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn thụ lý và trong quá trình Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Tòa án vẫn không phát hiện được

Trong thời gian qua, có một số Tòa án địa phương đã thụ lý vụ án đòi trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy đăng ký xe mô tô, xe máy; giấy phép lái xe; giấy chứng minh nhân dân; hộ chiếu… Ví dụ: Vụ án tranh chấp đòi lại giấy tờ chủ quyền nhà giữa nguyên đơn là bà Lương Thị Găng với bị đơn là anh Nguyễn Quang Chúc. Nội dung vụ án cụ thể như sau: Ngày 10/3/2006 bà Lương Thị Găng khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Quang Chúc (con của bà) hoàn trả cho bà giấy tờ bản chính của hai căn nhà (số 509 B phố L và số 284-286 phố T) gồm giấy phép hợp thức hóa quyền sở hữu nhà, giấy phép công nhận quyền sở hữu nhà, tờ khai chuyển dịch tài sản nộp thuế trước bạ. Anh Nguyễn Quang Chúc thừa nhận đang giữ giấy tờ nêu trên nhưng không đồng ý giao giấy tờ về quyền sở hữu nhà, đất cho bà Găng. Như vậy, bà Lương Thị Găng chỉ yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Quang Chúc trả lại cho bà các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, mà không tranh chấp về nhà, đất này. Bộ luật Tố tụng Dân sự không quy định thẩm quyền của Tòa án giải quyết yêu cầu của đương sự đòi các loại giấy tờ do các Cơ quan hành chính Nhà nước cấp cho các đương sự như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở… Hơn nữa, pháp luật cũng không xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở là loại giấy tờ có giá. Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi bổ sung 2011 thì các loại giấy tờ nêu trên không phải là tài sản và không được phép giao dịch, trao đổi. Lẽ ra khi bà Găng có yêu cầu đòi lại giấy tờ nêu trên thì Tòa án cấp sơ thẩm phải giải thích cho bà Găng để bà yêu cầu các Cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục hành chính mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh Chúc trả lại cho bà Găng các giấy tờ về hai căn nhà nêu trên là không đúng thẩm quyền. Tòa án cấp phúc thẩm y án sơ thẩm là sai. Theo Công văn số 141/TANDTC- KHXX ngày 21/9/2011, của Tòa án nhân dân tối cao thì đối với các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản Tòa án không thụ lý giải quyết.

  • Đương sự có yêu cầu giải quyết nhưng cũng bị cấp sơ thẩm không giải quyết (vi phạm vào Điều 5 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011) Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Điều này dẫn đến án bị hủy. Như, vụ án ly hôn giữa nguyên đơn Nguyễn Ngọc Trí và bị đơn Nguyễn Thị Hồng Hoa (bản án phúc thẩm hôn nhân gia đình số 34 ngày 18.9.2013). Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù bà Hoa yêu cầu giải quyết việc mượn vàng của cha mẹ, chi phí xây mồ mả cha mẹ chồng, công đổ đất nâng nền và công sức đóng góp cho gia đình chồng, song cấp sơ thẩm lại không xác minh làm rõ để giải quyết.

  • Một số tòa án địa phương chưa khắc phục được việc để một số Vụ án dân sự quá hạn xét xử theo quy định của pháp luật

Tại diễn đàn Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho hay, năm 2011 toàn ngành vẫn còn trên 1.978. Trong đó số việc do án tuyên không rõ, có sai sót là 911 việc; số việc do bản án, quyết định có căn cứ kiến nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là 276 việc; số việc do án tuyên khó thi hành là 791 việc. Không ít bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải xét xử lại nhiều lần, kết quả các lần xét xử lại trái ngược nhau, đặc biệt là, có một số vụ việc, cơ quan Thi hành án dân sự đã tổ chức thi hành xong, nhưng bản án bị tòa án kháng nghị hủy bỏ đã gây khó khăn, phức tạp cho việc Thi hành án và xử lý hậu quả của việc kháng nghị đó .

  • Nhiều phiên tòa chuẩn bị cơ sở vật chất chưa tốt nên đã không đạt được kết quả như mong muốn, thậm chí phải hoãn phiên tòa

Một vụ án có nhiều người dân hiếu kỳ, lượng người xem đông, bảo vệ không tốt có thể gây ảnh hưởng đến trật tự tại phiên tòa; hay hệ thống âm thanh không đảm bảo cho việc xét xử, không nghe rõ hoặc nghe chập chờn cũng có thể làm gián đoạn quá trình xét xử… Tuy vậy trên thực tế do điều kiện kinh phí Nhà nước cấp cho hoạt động của Tòa án có hạn nên nhiều trường hợp vẫn không bảo đảm được cơ sở vật chất cho việc xét xử.

2.3 Nguyên nhân khiếm khuyết của pháp luật và thực tiễn áp dụng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

  • Một là, quy định pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự còn một số hạn chế

Hoạt động lập pháp, lập quy của Nhà nước ta còn nhiều hạn chế. Có những dự án luật khi soạn thảo còn thiếu sự đầu tư thích đáng về thời gian, công sức, thiếu sự tham gia của các nhà khoa học trong các trường đại học, cơ sở nghiên cứu khoa học và các chuyên gia làm thực tiễn, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành có liên quan trong quá trình soạn thảo văn bản, trình độ và kỹ thuật lập pháp, lập quy của các nhà chuyên môn và các thành viên soạn thảo cũng như các chuyên gia làm nhiệm vụ kiểm tra, thẩm định các dự án luật còn hạn chế. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật khi đưa vào thực tiễn đã bộc lộ sự xung đột lẫn nhau. Thêm nữa, nguyên nhân tồn tại những lỗ hổng trong hệ thống pháp luật có thể do sự cố tình im lặng của các nhà làm luật trong quá trình xây dựng luật. Khi soạn thảo văn bản, nhà làm luật đã cố ý bỏ quên vấn đề đã phơi bày rõ ràng trong thực tế mà đáng ra phải giải quyết nó theo đề xuất của những người thi hành pháp luật; hoặc trong quá trình soạn thảo, sửa đổi, bổ sung luật, nhà làm luật đã cố ý đưa những quan hệ xã hội cần điều chỉnh ra khỏi phạm vi điều chỉnh của luật; hoặc nhà làm luật không thể bao quát được tất cả tình huống của cuộc sống cần phải được điều chỉnh bằng luật; do những thiếu sót trong kỹ thuật lập pháp; hoặc do hoàn cảnh thực tế khách quan mà nhà làm luật đã không thể nhận biết được sự phát triển của các quan hệ xã hội. Chính vì thế mà những quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 cũng không tránh khỏi hạn chế. Đó là: không quy định về hậu quả pháp lý nếu người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện; không quy định rõ về trách nhiệm trao đổi chứng cứ giữa các đương sự, giữa đương sự và Tòa án; không quy định về thời hạn giao nộp chứng cứ của đương sự.

  • Hai là, về hoạt động hỗ trợ Toà án giải quyết các Vụ án dân sự của các cơ quan tổ chức liên quan

Trong những năm qua, Nhà nước đã rất quan tâm đến tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp, như sự ra đời của Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT- BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, cho đến nay tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp vẫn còn một số tồn tại nhất định. Ví dụ, hiện nay quan hệ tranh chấp đất đai xảy ra phổ biến, tính chất ngày càng phức tạp đòi hỏi phải có sự cung cấp thông tin từ cơ quan chức năng trong việc xác minh nguồn gốc đấy, quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…nhưng khi có công văn yêu cầu cung cấp thông tin, các cơ quan chức năng thường chậm trễ trong việc thực hiện yêu cầu gây tâm lý e ngại cho Thẩm phán mỗi khi cần xác minh thông tin. Khi Toà án triệu tập tham gia tố tụng, không ít các cá nhân, tổ chức này không chấp hành…gây khó khăn cho công tác chuẩn bị xét xử của toà án. Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp dân sự vẫn dường như được coi chỉ thuộc về cơ quan tư pháp còn các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội..đứng ngoài hoạt động này.

  • Ba là, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức của người dân còn nhiều hạn chế

Chúng ta đã soạn thảo nhiều văn bản pháp luật, chúng ta có ngày pháp luật 9/11 với những khẩu hiệu “sống và làm việc theo pháp luật”. Bên cạnh đó Nhà nước đã tiến hành rất nhiều biện pháp để phổ cập pháp luật hàng tháng hàng năm như: Hội thi tìm hiểu pháp luật; Hội thảo về pháp luật; tập huấn cho tuyên truyền viên pháp luật…Tuy nhiên đa số người dân còn rất “mơ hồ” khi nhắc tới Luật pháp. Hay kể cả những người được đào tạo luật học cũng không có ý thức tự giác chấp hành quy định. Chính vì thế, trong giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nhiều đương sự vẫn chưa ý thức hết trách nhiệm của mình dẫn đến nhiều tình trạng đương sự lúng túng trong quá trình này như cung cấp chứng chứ, nộp cho Tòa án các tài liệu, hồ sơ…

  • Bốn là, về cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Phương tiện phục vụ cho các hoạt động tố tụng vẫn chưa bảo đảm…Một số Toà án vẫn phải thuê hoặc mượn trụ sở làm việc như Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu, Hậu Giang. Tình trạng thiếu máy vi tính, máy phô tô, máy fax…còn nhiều; Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức Tòa án chưa tương xứng với tính chất công việc…

Tóm tắt Chương 2

Tác giả đi sâu vào phân tích những quy định trong quá trình CBXXST Vụ án dân sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đó là các quy định về thụ lý, tống đạt văn bản; Thu thập chứng cứ; Yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; Hòa giải. Trong đó, về thời hạn thời hạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đã được quy định phù hợp với từng lĩnh vực; Việc phân công thẩm phán được nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn thì thẩm phán có vai trò rất quan trọng trong quá trình xét xử; Việc thông báo thụ lý đã quy định cụ thể hơn về hình thức, thời hạn; Việc lập hồ sơ vụ án đã có những quy định chính xác và đầy đủ hơn.

Từ những quy định trong Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 tác giả đã đánh giá thực trạng của các quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự hiện nay. Có thể nói bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì vẫn còn đó những hạn chế cần khắc phục sửa chửa kịp thời. Đó chính là vấn đề: quy định về vấn đề “Hậu quả pháp lý của người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu” chưa rõ ràng ảnh hưởng đến chất lượng thu thập chứng cứ vụ án; thời hạn thông báo thụ lý vụ án vẫn còn mẫu thuẩn và chưa hợp lý; nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đủ chứng cứ thì hậu quả pháp lý sẽ như thế nào?; vẫn còn bỏ sót một số hoạt động thu thập chứng cứ…

BLTTDS 2015 đã được thông qua và sẽ có hiệu lực vào ngày 1/7/2016, việc so sánh với Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 hiện hành với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 là rất cần thiết. Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã khắc phục được một số hạn chế như: một số biện pháp để thu thập chứng cứ đã được bổ sung; quy định thêm vấn đề Thẩm phán có quyền trưng cầu giám định khi xét thấy cần thiết; quy định về hoạt động của các đương sự trong việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án và giữa các đương sự với nhau… Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề.

Chương 2 đề cập tới thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Có thể thấy nhờ những quy định khá cụ thể mà pháp luật tố tụng dân sự dễ được áp dụng trong thực tiễn. Thực tế cho thấy là số vụ án giải quyết được ngày càng tăng lên từ 80% lên >90% số vụ đã được giải quyết. Qua những số liệu thực tế có thể thấy thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự còn những vướng mắc như: xác định sai tư cách người tham gia tố tụng; thủ tục thu thập chứng cứ không đầy đủ thiếu tính chính xác; Tòa án thụ lý nhưng sai thẩm quyền; cơ sở vật chất ở phiên tòa chưa đảm bảo….

Có rất nhiều nguyên nhân dân đến tình trạng quy định còn thiếu thống nhất và thực tiễn áp dụng còn chưa khả thi. Đó là do thẩm phán thiếu trách nhiệm khi giải quyết vụ án; quy định của pháp luật còn tạo nhiều khe hở hay quy định còn nhiều thiếu sót dẫn đến việc áp dụng pháp luật khó khăn; sự phối hợp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức với cơ quan tư pháp còn yếu kém; quá trình Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự chưa được chú trọng… Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464