Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ nữ và việc thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Đánh giá chung về tình hình kinh tế – xã hội và thực trạng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ
2.1.1. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Phú Thọ có ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ nữ và thực hiện pháp luật bình đẳng giới
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên là 3.533,4 km2, toàn tỉnh có 13 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 11 huyện), 277 đơn vị hành chính cấp xã, 18 đảng bộ trực thuộc, 804 tổ chức cơ sở Đảng với 86.907 đảng viên (trong đó đảng viên nữ 28.134 chiếm 32,4%), 55 cơ quan hành chính, sự nghiệp trực thuộc Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh [25]. Dân số trên 1.350.000 người, đội ngũ cán bộ, công chức thuộc các cơ quan Đảng, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể và nhà nước cấp tỉnh tính đến ngày 31/3/2015 là 1.887 người, trong đó 695 cán bộ, công chức nữ. Đây là lực lượng quan trọng đóng góp vào sự nghiệp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh. Tuy nhiên trên thực tế còn nhiều bất cập, chênh lệch về số lượng cán bộ công chức nữ và cán bộ công chức nam, tỷ lệ cán bộ công chức nữ chỉ chiếm 36,83%, trong khi lực lượng lao động nữ của tỉnh chiếm trên 50% dân số. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế trong việc phát huy vai trò, khả năng, trí tuệ của phụ nữ (lực lượng lao động đông đảo trong xã hội) đối với việc tham gia phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cũng là một nguyên nhân gây bất bình đẳng giới hạn chế sự tiến bộ phát triển xã hội.
Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ đang tiếp tục phấn đấu “Từng bước vươn lên trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh và hiện đại; cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội” [1,Tr31], đòi hỏi sự huy động tổng lực, sự đổi mới đồng bộ của nhiều yếu tố, mà trước hết là vấn đề nguồn lực con người và vấn đề bình đẳng nam nữ, trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh: “Để xây dựng Chủ nghĩa xã hội thì phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”; người luôn khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”, có thể thấy đây là vấn đề then chốt, khách quan cần thiết phải quan tâm đổi mới.
2.1.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Trong những năm qua, nhận thức đầy đủ và sâu sắc về công tác cán bộ nữ, các cấp ủy Đảng trong tỉnh luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đã có nhiều chuyển biến tích cực trong nhận thức, tổ chức thực hiện công tác cán bộ nữ, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ nữ tham gia tích cực vào đời sống chính trị – xã hội của tỉnh, khẳng định vai trò của cán bộ nữ trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Đội ngũ cán bộ, công chức nữ trong hệ thống chính trị ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, đã có nhiều cán bộ nữ giữ các vị trí chủ chốt trong các cơ quan Đảng, Nhà nước của tỉnh.
- Thực trạng nữ cán bộ, công chức tỉnh Phú Thọ
- Đội ngũ cán bộ, công chức Ủy Ban nhân dân tỉnh
Trên cơ sở thực hiện Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ của Chính phủ quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo sắp xếp lại tổ chức các cơ quan chuyên môn của mình gồm 19 sở và 2 cơ quan tương đương sở. Như vậy tổng số các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ là 21 cơ quan.
Theo thống kê của Sở Nội vụ tỉnh Phú Thọ (phụ lục 02) đến ngày 31/3/2015 tổng số nữ cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ là 404/1.315 người, chiếm 30,7%, tăng 40 nữ cán bộ, công chức so với năm 2010, trong đó:
- Số nữ tuổi 40 trở xuống: 256 người.
- Là đảng viên: 171 người chiếm 66,8%
- Là lãnh đạo Trưởng, phó phòng trở lên: 50 người chiếm 19,5%
- Trình độ chuyên môn:
- Trên Đại học: 35 người chiếm 13,7%
- Đại học: 205 người chiếm 80,1%
- Trung cấp: 15 người chiếm 5,9% (Phụ lục 2)
- Đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan Đảng, Ủy Ban Mặt trận tổ quốc và đoàn thể tỉnh Phú Thọ
Trên cơ sở thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương về sắp xếp lại tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Tỉnh ủy, các cơ quan thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mang tính chất sự nghiệp của Tỉnh ủy và cơ quan Ủy ban Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể cấp tỉnh. Hiện nay Phú Thọ có 8 cơ quan Đảng cấp tỉnh và 6 cơ quan thuộc các đoàn thể cấp tỉnh.
Theo thống kê của Ban Tổ chức Tỉnh ủy Phú Thọ (phụ lục 01), đến ngày 31/3/2015 tổng số nữ cán bộ, công chức của các cơ quan Đảng tỉnh Phú Thọ là 146/321 người, chiếm 45,5%, tăng 2,4% so với năm 2010 (năm 2010: 124 nữ/288).
Theo trình độ đào tạo: Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Trên Đại học: 23 người chiếm 15,8%
- Đại học: 72 người chiếm 49,3%
Theo trình độ lý luận chính trị:
- Cao cấp và cử nhân: 46 người chiếm 31,5%
- Trung cấp: 23 người chiếm 15,8% (Phụ lục 1)
Đến ngày 31/3/2015, tổng số nữ cán bộ, công chức cơ quan Ủy Ban Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể của tỉnh Phú Thọ là 145/251 người, chiếm 57,8%, tặng 6,2% so với năm 2010 (năm 2010: 124 nữ/288), trong đó:
Theo trình độ đào tạo:
- Trên Đại học: 10 người chiếm 6,9%
- Đại học: 111 người chiếm 76,6%
Theo trình độ lý luận chính trị:
- Cao cấp và cử nhân: 42 người chiếm 29%
- Trung cấp: 48 người chiếm 33,1% (Phụ lục 1)
Qua khảo sát cho thấy, đội ngũ cán bộ, công chức nữ của tỉnh Phú Thọ đã có sự phát triển đồng bộ cả về số lượng và chất lượng, nhất là trình độ chuyên môn, lý luận chính trị được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của công việc đặt ra. Trình độ cán bộ, công chức tương đối đồng đều, tỷ lệ cán bộ, công chức nữ độ tuổi 40 trở xuống có trình độ cao đẳng, đại học trở lên thuộc khối Ủy Ban nhân dân chiếm 93,8%; trình độ cán bộ, công chức nữ thuộc khối Đảng có trình độ chuyên môn Đại học trở lên chiếm 65,1%, cao cấp, cử nhân lý luận chính trị chiếm 31,5%; nữ cán bộ công chức khối Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể có trình độ chuyên môn đại học trở lên chiếm 83,4%, cao cấp, cử nhân lý luận chính trị chiếm 29%, do vậy việc xử lý thông tin nhanh, bảo đảm tiến độ và đạt hiệu quả công việc cao. Đa số đội ngũ cán bộ, công chức nữ của tỉnh đều được rèn luyện, thử thách để trưởng thành qua thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng; có tinh thần trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; nhiều cán bộ, công chức nữ có tư duy đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và quyết đoán trong công việc được phân công, đây cũng là một minh chứng khẳng định, tỉnh Phú Thọ đã có những chính sách quan tâm đầu tư trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, có chính sách thu hút cán bộ, công chức trong tỉnh và ngoài tỉnh có trình độ về công tác tại tỉnh. Đội ngũ cán bộ, công chức nữ của tỉnh Phú Thọ đang từng bước khẳng định khả năng, vai trò của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, đơn vị, địa phương, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, cơ bản đáp ứng được với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Thực trạng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Trong những năm gần đây, các cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh Phú Thọ đã quan tâm chỉ đạo, thực hiện công tác cán bộ nữ dẫn đến việc đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ tham gia các cơ quan trong hệ thống chính trị cũng như cán bộ nữ tham gia làm lãnh đạo, quản lý có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Cùng với đó là sự nỗ lực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ nữ khẳng định vai trò khả năng của phụ nữ trong tham gia chính trị, lãnh đạo quản lý. Đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý của tỉnh đều có trình độ năng lực chuyên môn, trưởng thành qua thực tiễn, có kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công việc của cấp ủy, chính quyền, có kinh nghiệm chỉ đạo công tác vận động quần chúng nhân dân, sáng tạo trong vận dụng, cụ thể hóa chủ trương, đường lối, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương.
Theo số liệu tổng hợp của Đảng đoàn Hội LHPN tỉnh Phú Thọ năm 2015, tổng số cán bộ nữ làm lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh là 36/223 chiếm 16,14% (bao gồm các sở, ban, ngành, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, các trường Cao đẳng, Đại học, khối công an, Quân đội, ngân hàng trên địa bàn tỉnh) trong đó nữ Đại biểu Quốc hội khóa XIII là 2/7 đại biểu (28,57%), 01 nữ Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, vượt 4,17% so bình quân chung của cả nước (bình quân nữ đại biểu Quốc hội của cả nước 24,4%). Cán bộ nữ cấp Trưởng các sở, ngành, đoàn thể và tương đương là 7/64 người (10,94%); cán bộ nữ cấp phó các sở, ngành, đoàn thể và tương đương là 29/159 người (18,24%) (phụ lục 4). Số liệu trên cho thấy còn có sự chệnh lệch khá lớn về cả số lượng và tỷ lệ cán bộ lãnh đạo giữa nữ và nam ở tỉnh. Tỷ lệ nữ làm cán bộ lãnh đạo chốt ở các sở, ngành, đoàn thể của tỉnh còn rất khiêm tốn, mới chỉ dạo động ở mức dưới 20%. Điều này minh chứng cho thấy cần phải có biện pháp và giải pháp đào tạo bồi dưỡng, quy hoạch, cân nhắc bổ sung nguồn cán bộ lãnh đạo nữ của tỉnh.
Số phụ nữ tham gia Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2010-2015 là 7/55 người chiếm 12,73%, trong đó phụ nữ tham gia Ban thường vụ Đảng bộ tỉnh là 1/15 người chiếm 6,67% (phụ lục 4). Tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng bộ tỉnh quá thấp so với tỷ lệ nam giới, chỉ chiếm trên dưới 12%. Phải phấn đấu hơn 15% mới đạt chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2011-2020). Kết quả trên cho thấy càng ở vị trí cao thì càng vắng bóng cán bộ nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý.
- Bảng 2.1. Số phụ nữ Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2010-2015
Tính theo mặt bằng chung của toàn quốc, tỷ lệ nữ tham gia Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2010-2015 đạt 11,3%, nhìn chung so với mặt bằng chung của cả nước và so với mặt bằng chung của 15 tỉnh trung du miền núi phía Bắc tại bảng 2.2. Phú Thọ có đội ngũ cán bộ nữ tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tương đối cao. So sánh về tỷ lệ giữa cán bộ nữ với tổng số cả nam và nữ tham gia Ban Chấp hành cấp tỉnh có số cán bộ nữ cao thứ 7/15 tỉnh. Điều đó khẳng định công tác cán bộ nữ tỉnh Phú Thọ đã được quan tâm chỉ đạo, thực hiện, tuy nhiên, số nữ Ban Chấp hành Đảng bộ cấp tỉnh chưa đạt chỉ tiêu 15% so với Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn (2011-2020). Như vậy, trong thời gian tới, tỉnh Phú Thọ cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh, cần thiết có chủ trương, chính sách tạo nguồn cán bộ nữ hợp lý, nhằm phát huy vai trò và khả năng của phụ nữ tham gia trong lĩnh vực chính trị, lãnh đạo, quản lý.
- Bảng 2.2. Số lượng, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ cấp tỉnh các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nhiệm kỳ 2010-2015 Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Tại bảng 2.3, nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 đạt 29,87%, mặc dù so với bình quân chung của cả nước vượt 4,7% (tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bình quân chung cả nước đạt 25,17%), nhưng tỷ lệ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh của Phú Thọ vẫn thấp, dưới 30%, chưa đạt so với chỉ tiêu 01, Quyết định số 2351/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2011-2020): Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 – 2020 trên 35%, cũng từ bảng 2.3 cho thấy ở những vị trí lãnh đạo chủ chốt của Hội đồng nhân dân không có cán bộ nữ đảm nhiệm. Nhiệm kỳ 2011-2016 tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chưa đạt chỉ tiêu đề ra, đây là bài toán khó cho các nhà lãnh đạo tỉnh Phú Thọ trong việc thực hiện công tác cán bộ nữ trong nhiệm kỳ 2016-2020.
Bảng 2.3. Số nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016
- Theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị
Trình độ chuyên môn đào tạo của cán bộ nữ là trưởng các sở , ngành, đoàn thể cấp tỉnh đều đạt 100% trình độ đại học, trong đó có 14,28% trên đại học; lý luận chính trị đạt 100% trình độ cử nhân, cao cấp. Trình độ chuyên môn đào tạo của cán bộ nữ là phó các sở, ngành, đoàn thể cấp tỉnh đạt 100% trình độ đại học, trong đó 51,72% trên đại học; trình độ lý luận chính trị đạt 96,55% cao cấp, cử nhân, 3,45% trung cấp (Phụ lục 3). Kết quả trên có thể khẳng định tỉnh Phú Thọ đã quan tâm làm tốt công tác dào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, do đó chất lượng đội ngũ cán bộ nữ ngày càng được nâng cao và chuẩn hóa, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Theo độ tuổi cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
Độ tuổi của cán bộ lãnh đạo nói chung , cán bộ nữ nói riêng có mối tương quan trực tiếp đối với công tác lãnh đạo, quản lý của cán bộ . Thông thường cán bộ trẻ có sức khỏe, tác phong hoạt bát, nhanh nhẹn, dễ tiếp cận công nghệ thông tin song lại có những điểm hạn chế về kinh nghiệm công tác cũng như kinh nghiệm thực tiễn ,… ngược lại đối với cán bộ cao tuổi có kinh nghiệm công tác,… nhưng lại có những hạn chế về sức khỏe , sức ỳ, tâm lý không muốn thay đổi và hầu hết không dễ tiếp cận công nghệ thông tin, không sử dụng được vi tính trong thực hiện nhiệm vụ. Những điểm mạnh và hạn chế về tuổi của lãnh đạo quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc, đến khả năng điều hành, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Về độ tuổi cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Phú Thọ tại Biểu đồ 2.1 cho thấy độ tuổi cán bộ nữ lãnh đạo cấp tỉnh chỉ từ 31-40 tuổi chiếm 11,11%, nhóm tuổi từ 41-50 tuổi chiếm 52,78%, tuổi trên 50 chiếm 36,11%, không có lãnh đạo nữ thuộc nhóm tuổi từ 30 tuổi trở xuống. Như vậy, nhóm tuổi từ 41 – 50 chiếm tỷ lệ cao nhất. Thực trạng này cho thấy tỉnh Phú Thọ cần phải có chính sách trong công tác tạo nguồn và bổ nhiệm cán bộ nữ trẻ vào các vị trí lãnh đạo , nhất là đối với nhóm tuổi từ 40 trở xuống, nhằm bảo đảm cho cán bộ nữ của tỉnh trong thời gian tới đủ về số lượng , cũng như đạt chuẩn về chất lượng , hướng tới mục tiêu bảo đảm bình đẳng giới trong lãnh đạo điều hành của các cơ quan, đơn vị.
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu độ tuổi của nữ lãnh đạo, quản lý tỉnh Phú Thọ
- Theo vị trí của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong các khối cơ quan
Nhìn vào biểu đồ 2.2 dưới đây, ta thấy tỷ lệ cán bộ nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý so với nam giới của tỉnh ở hầu hết các khối đều thiếu cân bằng. Lãnh đạo nam chiếm tỷ lệ cao thuộc khối Ủy Ban nhân dân 100%, và không có nữ lãnh đạo Ủy Ban nhân dân tỉnh; khối các Sở, ngành lãnh đạo nam chiếm 88,6%, lãnh đạo nữ chỉ chiếm 11,4%; khối Đảng lãnh đạo nam chiếm 80,6%, lãnh đạo nữ chiếm 19,4%; khối Hội đồng nhân dân lãnh đạo nam chiếm 70%, lãnh đạo nữ chỉ chiếm 30%. Riêng khối đoàn thể tỷ lệ lãnh đạo nữ cân bằng với lãnh đạo nam và có 3 nữ lãnh đạo giữ cương vị cấp Trưởng ngành.
Biểu đồ 2.2. So sánh tỷ lệ giới lãnh đạo, quản lý trong các khối cơ quan
- Thực trạng thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ
Trong những năm gần đây, các cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh Phú Thọ đã quan tâm thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong công tác cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ nói riêng. Chú trọng chỉ đạo thực hiện việc lồng ghép giới, thúc đẩy bình đẳng giới từ khâu tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, đến khâu bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ vào các cương vị lãnh đạo chốt, kết quả từng bước chuyển biến tích cực, đã góp phần tích cực vào thực thi có hiệu quả chiến lược bình đẳng giới.
2.2.1. Công tác tuyển dụng Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Công tác tuyển dụng cán bộ là một nội dung hết sức quan trọng quyết định yếu tố chất lượng đầu vào của nguồn nhân lực trong mỗi cơ quan, đơn vị; chính vì vậy, trong những năm qua, tỉnh Phú Thọ luôn quan tâm thực hiện tốt công tác tuyển dụng cán bộ theo quy định.
Công tác tuyển dụng công chức, viên chức của tỉnh được thực hiện: Căn cứ vào Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính Phủ Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.
Quy định việc tuyển dụng công chức, viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công chức, viên chức và được thực hiện thông qua hình thức thi tuyển, một số ít cán bộ được tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển (áp dụng đối với các trường hợp thu hút cán bộ có trình độ cao về công tác tại tỉnh, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi trở lên). Căn cứ kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các Sở, ngành quyết định tuyển dụng công chức, viên chức theo đúng các quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và giao cho các cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ công chức, viên chức tiếp nhận cán bộ. Với chủ trương tuyển những người có đủ tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu ngạch cán bộ, công chức cần tuyển, phù hợp với yêu cầu của mỗi cơ quan, đơn vị. Hàng năm, tỉnh Phú Thọ đã tuyển dụng được hàng trăm người có trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu công tác tại các cơ quan, đơn vị ở các cấp; tỷ lệ nam và nữ được tuyển dụng hằng năm cũng có chiều hướng gia tăng, năm 2011 nam chiếm 61,9%, nữ chiếm 38,1%, đến năm 2014 nam chiếm 60%, nữ chiếm 40%; tỷ lệ cán bộ nữ có xu hướng tăng lên qua các năm, đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh không ngừng được củng cố về mặt số lượng và chất lượng. Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Qua thực tế chứng minh, tỉnh Phú Thọ đã quan tâm thực hiện tốt công tác tuyển dụng cán bộ theo quy định của pháp luật, các đơn vị, địa phương đã thực hiện và chỉ đạo triển khai các bước theo đúng quy định về việc tuyển dụng: Xin chủ trương tuyển dụng; xây dựng kế hoạch; thông báo tuyển dụng; thành lập Hội đồng, thành lập các bộ phận giúp việc hội đồng tuyển dụng; tổ chức thi tuyển, xét tuyển; thông báo kết quả thi tuyển, xét tuyển; thông báo kết quả trúng tuyển theo quy định, bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc của Luật Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, không có hình thức phân biệt đối xử giữa nam giới và phụ nữ trong khâu tuyển dụng và các quy trình trong tuyển dụng cán bộ, đã thể hiện quan điểm tiến bộ trong nhận thức và hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong tỉnh. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy lực lượng nữ ở độ tuổi lao động của tỉnh chiếm trên 50% dân số, vẫn còn là con số trăn trở đối với kết quả tuyển dụng cán bộ qua các năm, tỷ lệ cán bộ công chức nữ vẫn đạt tỷ lệ thấp, chênh lệch đối với tỷ lệ công chức nam, điều đó nói lên việc, để xây dựng nguồn nhân lực mạnh cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt để đảm bảo thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, trong thời gian tới các nhà chức trách tỉnh Phú Thọ cần quan tâm hơn nữa trong việc thúc đẩy bình đẳng giới đối với lĩnh vực này, cụ thể: cần có quy định tỉ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động để từng bước rút gắn khoảng cách giữa tỷ lệ lao động nam và lao động nữ.
2.2.2. Công tác quy hoạch cán bộ, công chức
Công tác quy hoạch cán bộ nói chung và quy hoạch cán bộ nữ nói riêng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong việc tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý kế cận. Trong những năm qua, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như Kế hoạch số 04-KH/TU ngày 03/4/1998 triển khai hướng dẫn số 11-HD/TCTW ngày 5/11/1997 của Ban Tổ chức Trung ương về quy hoạch cán bộ; Kế hoạch số 34-KH/TU ngày 10/8/2003 hướng dẫn triển khai xây dựng quy hoạch cán bộ giai đoạn 2005-2010 và 4 chức danh chủ chốt giai đoạn 2010-2015 ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã; Chỉ thị số 31-CT/TU ngày 8/3/2005 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị và hướng dẫn số 47-HD/TCTW của Ban Tổ chức Trung ương; Quyết định số 2386/2006/QĐ-UBND ngày 29/8/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh về quy hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006-2010, Kế hoạch số 23-KH/TU ngày 27/10/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ về rà soát, bổ sung xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2015- 2020 và chức danh chủ chốt giai đoạn 2020-2025; chỉ đạo các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị trong tỉnh xây dựng quy hoạch cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình xây dựng quy hoạch cán bộ, đảm bảo chặt chẽ và đúng quy định trên cơ sở nguồn cán bộ hiện có của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Cán bộ đưa vào diện quy hoạch được đánh giá theo các tiêu chuẩn cơ bản của chức danh cán bộ. Gắn đánh giá cán bộ với xây dựng quy hoạch cán bộ, gắn quy hoạch cán bộ với đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, có cơ chế phát hiện và đào tạo có định hướng đối với những cán bộ trẻ, cán bộ nữ có triển vọng. Hằng năm đều có sự rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ đảm bảo theo đúng quy định ở các cơ quan, đơn vị, các cấp, các ngành nhằm phục vụ công tác cán bộ, công tác nhân sự đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp và nhân sự đại hội đảng bộ các cấp. Theo đó, nguồn cán bộ nữ được đưa vào quy hoạch những năm gần đây có chiều hướng gia tăng, chất lượng cán bộ nữ đưa vào xây dựng nguồn có sự chuyển biến khá so với hiện tại cả về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và độ tuổi, cụ thể:
Quy hoạch cấp ủy tỉnh theo phương án A3: Số cán bộ nữ được quy hoạch vào Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 là 19/106 đồng chí, chiếm 17,92% tăng 1,2% so với nhiệm kỳ 2010-2015 (16,7%); Số cán bộ nữ được quy hoạch Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020 là 3/28 đồng chí, chiếm 10,71% tăng 1,3% so với nhiệm kỳ 2010-2015 (9,4%).
Theo phương án quy hoạch các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh tổng số cán bộ nữ được quy hoạch chức danh cấp Trưởng 33/179 đồng chí chiếm 18,54% trên tổng số cán bộ được quy hoạch; quy hoạch cấp phó 85/374 đồng chí chiếm 22,72% trên tổng số cán bộ được quy hoạch; quy hoạch cấp Trưởng phòng và tương đương có 281/939 đồng chí chiếm 29,9%; quy hoạch chức danh phó phòng và tương đương có 468/1.092 đồng chí chiếm 42,9% [3, Tr2,3].
100% cán bộ nữ dự nguồn đều có trình độ chuyên môn đại học (chính quy) trở lên, lý luận chính trị từ trung cấp trở lên. Tuổi bình quân số cán bộ dự nguồn khóa sau trẻ hơn khóa trước 1-2 tuổi.
Công tác quy hoạch cán bộ nữ của tỉnh được chú trọng và thực hiện tích cực, có nề nếp, chất lượng quy hoạch cán bộ nữ của các cơ quan, đơn vị trong tỉnh ngày càng được nâng cao, có những bước tiến quan trọng. Có thể nhận định, trong những năm qua tỉnh Phú Thọ đã luôn quan tâm đẩy mạnh việc thực hiện công tác tạo nguồn cán bộ nữ, đặc biệt để thúc đẩy bình đẳng giới trong khâu quy hoạch cán bộ Tỉnh ủy đã có chủ trương đưa tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ vào quy hoạch cao hơn cơ cấu quy định của tỉnh, trong đó cơ cấu nữ trong quy hoạch cán bộ phải đạt 20%, tuổi trẻ cấp tỉnh (dưới 40 tuổi) 15%, quy định trong trường hợp có khó khăn, không đảm bảo cơ cấu theo định hướng, Ban Thường vụ cấp ủy có thể tổ chức phiên họp riêng để thảo luận kỹ thêm nhằm tìm nguồn bổ sung vào quy hoạch cán bộ nữ, cán bộ trẻ,…đảm bảo cơ cấu theo định hướng quy định. [24,Tr4].
2.2.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, Tỉnh ủy đã có các Nghị quyết chuyên đề về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ từng giai đoạn như Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 23/11/2006 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong giai đoạn 2006-2010; Đề án xây dựng nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ giai đoạn 2003-2015; Nghị quyết số 103/2007/NQ-HĐND ngày 31/5/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh về chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2006-2010, định hướng đến 2015; Đề án Đào tạo đội ngũ cán bộ công chức có trình độ cao tỉnh Phú Thọ đến năm 2020… trong đó có đào tạo để xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới và dự nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Những năm gần đây, các cấp, các ngành, các cơ quan trong tỉnh đã quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ. Từ năm 2007 đến nay, toàn tỉnh đã cử 481 cán bộ nữ đi học chuyên môn (trong đó trên đại học 91 đồng chí, đại học 206 đồng chí, trung cấp 184 đồng chí); cử 253 cán bộ nữ đi đào tạo cao cấp, cử nhân lý luận chính trị, cử 1.172 cán bộ nữ đi đào tạo về trung cấp lý luận chính trị, cử 1.779 lượt cán bộ nữ tham gia các lớp bồi dưỡng về quản lý nhà nước (chương trình chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính và chuyên viên) nghiệp vụ công tác đảng, đoàn thể, giáo dục quốc phòng, chọn cử 14 lượt đồng chí tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu tại nước ngoài. Các lớp bồi dưỡng do các cấp, các ngành mở đều có tỷ lệ cán bộ nữ tương xứng theo học, trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của cán bộ nữ được nâng lên rõ rệt. [25, Tr6]
Bên cạnh đó Tỉnh Phú Thọ đã quan tâm hoàn thiện các chính sách nhằm tăng cường công tác cán bộ nữ trong tổng thể chiến lược cán bộ, công chức của tỉnh trong thời kỳ mới, có tính đến yếu tố giới, trên cơ sở vai trò và thiên chức làm mẹ của người phụ nữ. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành quyết định số 2641/QĐ – UB ngày 10/9/2009 về việc Quy định mức hỗ trợ cho cán bộ, công chức, viên chức đi học. Trong đó quy định: cán bộ nữ đi học ngoài các chế độ chung, còn được hưởng thêm các khoản sau:
- Tiền trợ cấp:
- Đi học ngắn hạn: 200.000 đ/tháng.
- Đi học dài hạn: 100.000 đ/tháng.
- Tiền tàu, xe lượt đi và về cho cán bộ nữ có gia đình riêng: Các lớp ngắn hạn: 1 tháng/1 lần
- Tiền gửi trẻ cho cán bộ nữ đi học có con nhỏ dưới 24 tháng tuổi:
- 300.000 đ/tháng đối với các trường trong tỉnh.
- 500.000 đ/tháng đối với các trường ngoài tỉnh [28].
2.2.4. Công tác điều động, luân chuyển cán bộ
Công tác luân chuyển cán bộ theo Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị là một chủ trương lớn nhằm đào tạo, bồi dưỡng toàn diện và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ, từ đó tạo điều kiện cho cán bộ trẻ có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch nói chung và cán bộ nữ nói riêng được rèn luyện thực tiễn. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 20/8/2002 về điều động cán bộ, công chức… Thông thi số 26-TTr/TU ngày 10/12/2009 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, lãnh đạo cơ quan, đơn vị đối với công tác cán bộ nữ, các Nghị quyết về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức gắn với các quy định về chế độ đối với cán bộ đi học, cán bộ luân chuyển, chế độ thu hút nhân tài và sinh viên tốt nghiệp loại giỏi về tỉnh công tác, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện công tác điều động, luân chuyển cán bộ, công chức. Trong quá trình lãnh chỉ đạo, thực hiện công tác điều động, luân chuyển cán bộ, công chức, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng chính sách đối với cán bộ đi học và cán bộ luân chuyển, trong đó có quy định ưu tiên đối với cán bộ nữ. Theo quy định, căn cứ vào yêu cầu công tác, trình độ năng lực, tư cách đạo đức, cán bộ lãnh đạo từ cấp phó phòng trở lên đều có thể được các cơ quan có thẩm quyền xem xét để bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển đến các vị trí phù hợp, điều này không những có tác động đối với việc bồi dưỡng năng lực, trình độ cho cán bộ, công chức chuẩn bị bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn mà còn làm tạo cơ chế mở cho công tác cán bộ, cán bộ, công chức phải nỗ lực phấn đấu công tác, học tập và rèn luyện hơn. Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Trong 5 năm qua, toàn tỉnh đã có 541 lượt cán bộ nữ được luân chuyển, điều động, trong đó cán bộ nữ diện Ban thường vụ Tỉnh ủy quản lý có 14 đồng chí. Phần lớn cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ khi được luân chuyển, điều động đã tiếp cận nhanh với điều kiện, môi trường công tác mới, đa số đều có quan điểm, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sâu sắc, được cấp ủy, cán bộ, đảng viên và nhân dân tín nhiệm, đồng tình ủng hộ. Điều này đã khẳng định quan điểm quan tâm toàn diện của các nhà lãnh đạo tỉnh Phú Thọ trong công tác cán bộ nói chung và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nữ nói riêng, đã tạo điều kiện, cơ hội cho cán bộ nữ được tiếp cận với công việc mới, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, kiểm tra khả năng thích nghi, thích ứng trong công tác, đảm bảo phù hợp với năng lực, sở trường, trình độ chuyên môn được đào tạo và đảm bảo rèn luyện qua thực tiễn.
2.2.5. Công tác sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ
Công tác bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ nữ trên địa bàn tỉnh được thực hiện khá đồng bộ và hiệu quả, việc bố trí, sử dụng, đánh giá cán bộ nữ ở các cấp, các ngành trong tỉnh thực hiện theo đúng quy trình, công khai, dân chủ, khách quan trên cơ sở đánh giá đúng năng lực khả năng cán bộ, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị đồng thời phát huy được vai trò, trí tuệ của tập thể trong tác cán bộ. Tỉnh ủy đã ra Quyết định số 510-QĐ/TU ngày 20/01/2012 về việc ban hành Quy chế đánh giá, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu úng cử, tái cử, thôi giữ chức, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, theo đó việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ được thực hiện đúng tiêu chuẩn, đúng thời điểm, được thực hiện theo quy hoạch cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 42- NQ/TW của Bộ Chính trị, bên cạnh đó đã quan tâm ưu tiên chọn lựa cán bộ nữ để giao nhiệm vụ, đã tạo điều kiện, khuyến khích, động viên cán bộ nữ phát huy khả năng của bản thân. Từ năm 2007 đến 2011, đã có 2.036 lượt cán bộ được đề bạt, bổ nhiệm và giới thiệu ứng cử vào các chức danh từ phó phòng và tương đương trở lên, có 684 cán bộ nữ được giới thiệu ứng cử vào Ban Chấp hành trở lên chiếm 32,6% số cán bộ được giới thiệu bổ nhiệm, có 41 cán bộ nữ được bổ nhiệm vào chức danh diện Ban thường vụ Tỉnh ủy quản lý, 508 cán bộ nữ được đề bạt chức danh trưởng, phó phòng và tương đương (cấp trưởng 177 người, cấp phó 331 người) [25, Tr7]. Thực hiện đề bạt, bổ nhiệm cán bộ theo quy hoạch, 78,6% cán bộ được bổ nhiệm đúng quy hoạch. Hơn 90% lượt cán bộ, công chức thuộc các sở, ban, ngành được đề bạt vào chức danh Trưởng, Phó phòng, ban, Giám đốc, Phó Giám đốc sở đúng quy hoạch và định hướng của tỉnh. Trong đó nữ cán bộ được đề bạt vào các chức danh trên chiếm trên 30%.
Nhìn chung, công tác bố trí, sử dụng và đề bạt bổ nhiệm cán bộ của tỉnh đã cơ bản được quan tâm và từng bước tiến tới bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, có sự tạo điều kiện cho cán bộ nữ phát huy năng lực, sở trường, chuyên môn được đào tạo, từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ, kết hợp tốt ở ba độ tuổi, đảm bảo tính kế thừa và phát triển.
2.2.6. Chế độ, chính sách ưu đãi khác Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Để từng bước đạt được mục tiêu bình đẳng giới trong công tác cán bộ, cùng với việc thực hiện kịp thời, đầy đủ các chính sách chung của Đảng và Nhà nước đối với công tác này, Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đã vận dụng ban hành một số chính sách riêng của tỉnh để thúc đẩy bình đẳng giới, nhằm thu hút, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ nữ như: Quy định 151-QĐ/TU ngày 25/4/2001 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thực hiện một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức; Quyết định 164-QĐ/TU về nâng lương trước thời hạn; Nghị quyết số 187/2009/NQ-HĐND ngày 24/7/2009 và các Quyết định số 2640/2009/QĐ-UBND, Quyết định số 2641/2009/QĐ-UBND ngày 10/9/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định mức hỗ trợ cho cán bộ, công chức, viên chức đi học và mức ưu đãi thu hút người có trình độ cao về tỉnh công tác, theo đó tỉnh đã có những chính sách quy định trợ cấp và chế độ ưu đãi đối với cán bộ nữ đi học như: được hưởng nguyên lương đối với cán bộ, công chức nhà nước; được cấp tiền mua giáo trình, tiền học phí, tiền lệ phí thi, tiền đi thực tập, thuê nhà ở; trợ cấp một phần tiền ăn ở xa trường; tiền tàu xe đi về; trợ cấp tiền làm luận án tốt nghiệp.
Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị thường xuyên quan tâm bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi cho cán bộ nữ; vận dụng thực hiện chính sách tiền lương, chuyển ngạch, nâng ngạch, nâng lương trước thời hạn đối với cá nhân cán bộ có thành tích xuất sắc; các chế độ về bảo hiểm xã hội, chế dộ thai sản, chế độ nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, chế độ dưỡng sức sau khi nghỉ sinh con đối với lao động nữ được thực hiện đảm bảo đúng quy định, trên cơ sở giới, nhằm tạo điều kiện cho cán bộ nữ yên tâm thực hiện thiên chức của mình, đã tạo động lực tốt cho đội ngũ cán bộ, công chức nữ. Ngoài ra, theo phân cấp quản lý, trên địa bàn tỉnh đã thực hiện các chính sách ưu đãi về chăm sóc sức khoẻ, tổ chức tham quan học hỏi kinh nghiệm tại địa phương khác, thăm hỏi, thăm viếng, tổ chức tang lễ khi cán bộ hoặc người thân từ trần… Đặc biệt công tác điều dưỡng đối với cán bộ diện chính sách bao gồm cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý nghỉ hưu, đại diện gia đình có công với nước, cán bộ được tặng thưởng Huy hiệu 30 năm tuổi đảng trở lên…
3.2. Đánh giá chung về thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
3.2.1. Ưu điểm
Trong những năm qua, việc thực hiện pháp luật Bình dẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các cơ quan, đơn vị trong tỉnh quan tâm chỉ đạo triển khai kịp thời, đảm bảo các quy định của Luật Bình đẳng giới và theo tinh thần Chiến lược Quốc gia bình đẳng giới; Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá X) về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đã có sự chuyển biến cơ bản trong nhận thức, trong tư duy về vấn đề cán bộ nữ và về công tác cán bộ nữ. [Nam, 53 tuổi, Phó Ban Tổ chức Tỉnh ủy Phú Thọ]
Trong quá trình thực hiện pháp luật Bình đẳng giới, các Nghị quyết về chiến lược cán bộ nữ, tỉnh Phú Thọ đã coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện toàn diện các khâu trong công tác cán bộ; từ tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, điều động, luân chuyển cán bộ đến khâu sử dụng, bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt, chú trọng đến trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ nữ.
Thực hiện đúng các nguyên tắc bình đẳng giới trong khâu tuyển dụng cán bộ, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, tuyển dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu ngạch cán bộ, công chức cần tuyển, phù hợp với yêu cầu của mỗi cơ quan, đơn vị, không có sự phân biệt đối xử trong tuyển dụng giữa nam giới và phụ nữ.Trong quy hoạch cán bộ đảm bảo các nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong đánh giá cán bộ và phát hiện nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch, phát huy vai trò của người đúng đầu cơ quan, đơn vị trong chỉ đạo công tác quy hoạch cán bộ, thường xuyên tổ chức việc kiểm tra, kịp thời bổ sung, điều chỉnh quy hoạch, với chủ trương thực hiện thúc đẩy bình giới, trong khâu quy hoạch cán bộ, tỉnh đã quan tâm đưa tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ vào quy hoạch cao hơn cơ cấu quy định của tỉnh (15%), trong đó cơ cấu nữ trong quy hoạch cán bộ phải đạt 20%; trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có cơ chế cho cán bộ nữ đi học được hưởng các chính sách ưu tiên hơn cán bộ nam; trong luân chuyển, điều động cán bộ có chính sách quan tâm ưu tiên đối với cán bộ nữ luân chuyển được hưởng trợ cấp luân chuyển một lần là 3,5 triệu đồng, đến tỉnh, thị xã, phường, thị trấn được trợ cấp có thời hạn tối đa 36 tháng, 250.000 đ/tháng, cao hơn quy định đối với nam giới. Điều này đã minh chứng cho việc trong quan điểm của các nhà lãnh đạo tỉnh Phú Thọ đã dần dần từng bước thực hiện mô hình bình đẳng thực chất đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, chủ chương vừa quan tâm xây dựng cơ chế, chính sách đối xử, vừa quan tâm đến kết quả bình dẳng mà thực tế nam, nữ được thụ hưởng, cụ thể, trên trên cơ sở vai trò giới, công nhận sự khác biệt về giới tính và giới giữa nam và nữ, đã chú trọng đến việc xác lập các chủ trương, chính sách cụ thể khắc phục những bất lợi của nam, nữ do khác biệt đó gây ra, nhằm đảm bảo cho cả nam giới và nữ giới bình đẳng về cơ hội, tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả, lợi ích trên thực tế. nhờ các chủ trương chính sách, cũng như việc chỉ đạo, lãnh đạo và thực hiện trên thực tế dẫn đến việc, trong những năm gần đây số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh tham gia các cơ quan trong hệ thống chính trị , cũng như cán bộ nữ tham gia làm lãnh đạo , quản lý có chiều hướng gia tăng, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII của tỉnh đạt 28,57%, có nữ là Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, vượt 4,17% so bình quân chung của cả nước (24,4%); tỷ lệ đại biểu nữ Hội đồng nhân dân tỉnh đạt 29,87% vượt 4,7% so với bình quân chung của cả nước (25,17%); tỷ lệ nữ tham gia Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2010-2015 đạt 11,3%, đứng thứ 7/15 tỉnh trung du miền núi phía Bắc nhiệm kỳ 2010-2015, đang dần từng bước đạt được mục tiêu Chiến lược Quốc gia bình đẳng giới. Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
So với giai đoạn trước, đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng của tỉnh Phú Thọ đã có sự đồng bộ cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng, nhất là trình độ chuyên môn, lý luận chính trị được nâng cao. Đa số cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý được rèn luyện, thủ thách để trưởng thành qua thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định, tuyệt đối tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước do Đảng và Nhà nước khởi xướng và lãnh đạo, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật, có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, giản dị, có năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; nhiều cán bộ có tư duy đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và quyết đoán trong công việc được phân công; đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý có kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công việc của cấp ủy, chính quyền, có uy tín với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, có kinh nghiệm chỉ đạo công tác vận động quần chúng nhân dân, sáng tạo trong vận dụng, cụ thể hóa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương, cơ quan, đơn vị, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, cơ bản đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế, quốc tế. [Nữ, 52 tuổi, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Phú Thọ]
Hội LHPN tỉnh Phú Thọ đã tích cực tham mưu với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân trong công tác cán bộ nữ, tổ chức thực hiện có hiệu quả dự án “Tăng cường tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo”; tổ chức khảo sát “Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ nữ tham gia các cơ quan dân cử và Ủy ban nhân dân các cấp”;tổ chức 03 lớp tập huấn về giới và lồng ghép giới cho 75 cán bộ làm công tác tổ chức từ tỉnh đến cơ sở, tập huấn cho 179 nữ ứng cử viên Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016 mới tham gia lần đầu. Thông qua đó đã nâng cao kiến thức, kỹ năng về giới trong công tác tổ chức cho đội ngũ cán bộ tham mưu về công tác tổ chức cán bộ, tác động nâng cao trách nhiệm giới trong công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền về công tác cán bộ nữ; giúp cho cán bộ nữ có phương pháp, kỹ năng xây dựng chương trình hành động, tự tin trong hoạt động tiếp xúc cử tri, tuyên truyền vận động bầu cử theo luật định, đồng thời sau khi trúng cử có thêm kiến thức, kỹ năng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của người Đại biểu. [Nữ, 54 tuổi, Trưởng Ban Tổ chức-Kiểm tra Hội LHPN tỉnh Phú Thọ]
Qua đó đã chứng tỏ năng lực của cán bộ nữ ngày càng được nâng cao, nhìn lại chặng đường đã qua, phụ nữ Phú Thọ đã không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên; mặt khác, sự quan tâm, tạo điều kiện của cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, ngành, đơn vị trong tỉnh đã tạo môi trường thuận lợi để chị em có cơ hội phát triển toàn diện và tham gia trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những đóng góp tích cực và cụ thể của phụ nữ vào thành quả của sự nghiệp đổi mới của tỉnh đã dần làm thay đổi những định kiến về vai trò của phụ nữ trong xã hội, khiến xã hội phải thừa nhận phụ nữ có khả năng tham gia lĩnh vực chính trị không thua kém nam giới và nhìn nhận, đánh giá đúng hơn về vai trò, vị trí của phụ nữ trong các hoạt động kinh tế – chính trị – xã hội của tỉnh.
3.2.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Nhìn chung, cho đến nay, tỉnh Phú Thọ đã đạt được những thành tựu đáng kể về thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong công tác cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ nói riêng, nhận thức về công tác cán bộ nữ và vai trò của phụ nữ ngày càng được nâng lên, từng bước rút ngắn khoảng cách giới trong công tác này. Tuy nhiên, cùng với sự nghiệp đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, thực tiễn áp dụng pháp luật bình đẳng giới trong công tác xây dựng đội ngũ nữ lãnh đạo, quản lý tỉnh Phú Thọ thời gian qua còn bộc lộ những thiếu sót, hạn chế đó là:
Thứ nhất, nhận thức về bình đẳng giới tuy đã có chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn chậm. Còn tư tưởng phân biệt giới, quan điểm trọng nam hơn nữ trong công tác cán bộ, thiếu tin tưởng vào khả năng của cán bộ nữ, ngại tuyển dụng phụ nữ, đánh giá cán bộ nữ thiếu khách quan, chưa công bằng và còn khắt khe, dẫn đến một thực trạng việc cơ cấu nam nữ trong đội ngũ cán bộ cũng như trong đội ngũ công chức của tỉnh thiếu cân bằng. Cán bộ công chức nữ chỉ chiếm 36,83%, trong khi đó cán bộ công chức nam chiếm 63,17%. Trong 64 sở, ngành, đoàn thể và tương đương chỉ có 7 đơn vị có người đứng đầu là nữ, chiếm 10,9%, trong đó 38 cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, các Ban Đảng, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể cấp tỉnh chỉ có 04 cơ quan Ủy ban nhân dân tỉnh, 03 cơ quan đảng, đoàn thể có người đứng đầu là nữ, chiếm 20%. Công chức nữ cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh chiếm tỷ lệ 30,7%, trong khi đó công chức nam chiếm 69,3%. Một số cơ quan quá chênh lệch tỷ lệ nam nữ, tỷ lệ nữ chưa đạt 30% như: Sở Giao thông vận tải chỉ có 6 công chức nữ trên 57 công chức (10,5%), Sở Xây dựng có 9 công chức nữ trên 45 công chức (20%), Sở Tài nguyên và môi trường có 9 công chức nữ trên 34 công chức (26,5%), Ban Quản lý khu công nghiệp có 7 công chức nữ trên 25 công chức (28%) và Sở Y tế có 8 công chức nữ trên 28 công chức (28,8%). Không có nữ lãnh đạo Ủy ban nhân dân, nữ lãnh đạo các sở, ngành chỉ chiếm 11,4%. Các cơ quan Đảng, đoàn thể tỷ lệ nam, nữ cân bằng hơn, nữ khối các Ban Đảng chiếm 45,5%, khối Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chiếm 57,8% (trong đó nữ lãnh đạo, quản lý chiếm 50%), tuy nhiên cán bộ nữ lãnh đạo quản lý các Ban đảng cũng chỉ chiếm 19,4%. (Phụ lục 1,2,4). Nhìn chung công chức nữ và lãnh đạo, quản lý nữ ở các cơ quan quản lý Nhà nước cấp tỉnh thường ít hơn so với các cơ quan đảng, đoàn thể và ít hơn so với các cơ quan cấp huyện, thành, thị. Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- [Nam, 53 tuổi, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Phú Thọ]
- [Nữ, 44 tuổi, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Phú Thọ]
Thứ hai, việc triển khai lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về công tác cán bộ như: Trong thi tuyển, xét tuyển công chức, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, đánh giá, sử dụng, bố trí, đề bạt cán bộ, các chương trình hành động, kế hoạch,… của các cơ quan, đơn vị còn nhiều khiếm khuyết, thiếu sót, chưa quan tâm lồng ghép giới, thúc đẩy bình đẳng giới, dẫn tới còn thiếu hành lang pháp lý và chính sách nhằm khuyến khích, ủng hộ phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị, do đó tỷ lệ cán bộ nữ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý vẫn chưa đạt mục tiêu, chỉ tiêu của Nghị quyết số 11 và Chương trình chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới đề ra. Thứ ba, việc thực hiện chính sách về cán bộ nữ chưa thực sự sát với tình hình cán bộ nữ; quá trình thực hiện các khâu trong công tác cán bộ còn nhiều thiếu sót cụ thể.
Công tác quy hoạch cán bộ, công chức bước đầu đã đi vào nền nếp, song ở một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự toàn diện, ít tính đột phá. Tỷ lệ cán bộ nữ đưa vào quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt các sở, ngành, đơn vị của tỉnh trong thời gian 05 năm tới còn quá thấp. Ở cấp tỉnh, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy chưa đạt 15% theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị. Một số cơ quan quản lý Nhà nước có tầm quan trọng hoạch định và xây dựng chính sách như: Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; Sở Kế hoạch – Đầu tư; Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch; Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài chính, Sở Công thương …chưa có cán bộ nữ giữ chức vụ lãnh đạo. Đa số cán bộ nữ lãnh đạo quản lý được bố trí ở cấp phó. Trong quá trình thực hiện quy hoạch cán bộ lãnh đạo, một số đơn vị còn nhầm lẫn công tác quy hoạch cán bộ với công tác nhân sự; chưa thực hiện tốt yêu cầu “mở” và “động”, vẫn còn tình trạng bị động, khép kín, chưa coi trọng phát hiện, tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, mới chỉ chú ý đến quy hoạch lãnh đạo, quản lý, chưa chú ý quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng công chức chuyên môn, chuyên gia đầu ngành. Một số nơi việc nhận xét, đánh giá cán bộ nữ để đưa vào quy hoạch chưa thực chất, còn mang tính hình thức, định kiến; Việc quy hoạch ở một số địa phương thực chất chỉ là các kế hoạch nhân sự, “quy hoạch treo”, chưa đánh giá đúng thực chất của đối tượng quy hoạch để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức chưa mang tính đồng bộ, chưa thực sự gắn với công tác quy hoạch, còn mang tính hình thức, chưa sát đòi hỏi thực tiễn gây nhiều lánh phí sau đào tạo, yêu cầu về tiêu chuẩn đối với cán bộ nữ trong việc chọn cử đi đào tạo, bồi dưỡng còn khắt khen hơn đối với nam giới. Chưa chú trọng đúng mức đến đào tạo nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ, tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý có trình độ trên đại học còn thấp.
Công tác điều động, luân chuyển cán bộ nữ của tỉnh mới chỉ thực hiện ở mức độ hẹp, việc luân chuyển cán bộ nữ từ tỉnh xuống cấp huyện chưa nhiều. Ranh giới phân định cán bộ luân chuyển theo quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng nguồn kế cận với cán bộ được điều động, bố trí, sắp xếp theo yêu cầu nhiệm vụ có lúc, có nơi chưa thực sự rõ ràng.
Việc đánh giá cán bộ, công chức ở một số cơ quan, đơn vị vẫn chưa thường xuyên, chưa nề nếp, còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va chạm; bố trí cán bộ còn chưa quan tâm đến chất lượng, nặng nề về cơ cấu, chưa coi trọng khả năng quản lý, chỉ đạo, điều hành của cán bộ, công chức, nhất là cán bộ nữ. Một số ít hiện tượng thành kiến với cán bộ nữ, không tạo điều kiện để cán bộ nữ được thể hiện khả năng trong công tác lãnh đạo, quản lý của mình.
Các chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần, thu hút người tài, hỗ trợ cán bộ nữ học tập nâng cao trình độ tuy đã có song chế độ còn thấp, chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn. Cơ sở vật chất, trụ sở làm việc ở một số đơn vị còn nghèo nàn, lạc hậu, chưa đảm bảo nhu cầu thiết yếu, dẫn đến chưa động viên khuyến khích được cán bộ phấn đấu phát huy hết khả năng trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao. Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Thứ tư, một bộ phận phụ nữ vẫn còn biểu hiện tự ti, an phận, chưa có ý chí phấn đấu vươn lên. Còn có biểu hiện tâm lý e ngại khi được luân chuyển công tác xa gia đình, cá biệt còn hiện tượng phụ nữ không ủng hộ nhau. Mặt khác, do thiên chức phụ nữ phải gánh thêm vai trò làm mẹ, cộng với quan niệm “việc nhà là của phụ nữ”, vì vậy, một bộ phận không nhỏ ít nhận được sự chia sẻ của nam giới cũng như sự ủng hộ của gia đình và người chồng khi tham gia công tác, nhiều phụ nữ còn an phận, chấp nhận hoàn cảnh và không sẵn sàng nhận vị trí công tác khi được phân công. Bên cạnh đó một bộ phận cán bộ nữ còn hạn chế về năng lực, chưa mạnh dạn trong công tác tham mưu, đề xuất các nhiệm vụ được giao.
2.4. Nguyên nhân những hạn chế của việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ
2.4.1. Các bất cập trong qui định pháp luật
Hiện nay, những cản chở về cơ chế, chính sách đối với sự thăng tiến của phụ nữ là một điều đáng quan tâm đối với Việt Nam nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng. Trường hợp của tỉnh Phú Thọ, một số chính sách đối với cán bộ nữ hiện nay đã không còn phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh về bình đẳng giới, vẫn chậm được nghiên cứu sửa đổi làm ảnh hưởng tới sự phát triển và hạn chế đóng góp của đội ngũ cán bộ nữ trong tỉnh.
Cơ chế, chính sách tạo nguồn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ chưa có tính chiến lược lâu dài và thiếu tính đột phá nên chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn. Trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ chưa thể hiện quan điểm giới, chưa được cụ thể hóa, chưa đồng bộ, thống nhất với yêu cầu của Nghị quyết số 11 và quy định của Luật Bình đẳng giới. Nghị quyết số 11 yêu cầu “Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm”; Luật Bình đẳng giới quy định bình đẳng về độ tuổi khi đi học, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, nhưng thực tế còn có những quy định phân biệt độ tuổi giữa nam và nữ trong lĩnh vực quy hoạch cán bộ, cụ thể: quy định tuổi quy hoạch đối với cán bộ đang giữ các chức vụ chủ chốt (Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân) ở 3 cấp; trưởng, phó các cơ quan, đơn vị của tỉnh,…tính đến thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ mới còn đủ tuổi công tác ít nhất 1 nhiệm kỳ (5 năm)…được xem xét đưa vào quy hoạch [24,Tr4], điều này đã làm cho cán bộ nữ hoàn toàn hết cơ hội ở tuổi trên 50, trong khi nam ở tuổi 55 vẫn có cơ hội, quy định này xuất phát từ sự khác biệt trong quy định về độ tuổi nghỉ hưu của nam và nữ, nhưng chưa phù hợp với quy định bình đẳng về độ tuổi trong Luật Bình đẳng giới; hoặc quy định về tiêu chuẩn phân loại, đánh giá cán bộ trên thực tế đối với cán bộ nữ khi nghỉ chế độ thai sản theo quy định hầu hết không được đánh giá xếp loại hoặc chỉ được đánh giá xếp loại ở mức hoàn thành chức trách nhiệm vụ, dẫn đến tình trạng nhiều chị em mất cơ hội đưa vào quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm khi đang nghỉ chế độ thai sản theo quy định.
2.4.2. Thiếu những hướng dẫn về tổ chức thực hiện pháp luật Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Nhìn chung, hoạt động hướng dẫn về tổ chức thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót, biểu hiện rõ nét trong các văn bản quy phạm pháp luật về chế độ, chính sách đối với công tác cán bộ trong tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn quy định chung chung, hầu hết chưa có hướng dẫn cụ thể cho việc áp dụng bình đẳng giới trong các khâu này. Trong quá trình thực hiện chưa quan tâm thông qua thực thi công vụ kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm giúp cho đối tượng được áp dụng pháp luật hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của các quy định pháp luật được áp dụng hoặc các quy định có liên quan, hiểu và ý thức được về quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, từ đó tự nguyện chấp hành nghiêm túc các quyết định áp dụng pháp luật nói riêng và chấp hành pháp luật nói chung, hình thành niềm tin pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật. Chưa tổ chưa được các lớp tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn cho lãnh đạo, cán bộ làm công tác cán bộ cán bộ trong các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh về công tác giới, bình đẳng giới, lồng ghép giới và thúc đẩy bình đẳng giới trong công tác xây dựng chế độ, chính sách, và thực thi chế độ chính sách đối với công tác cán bộ nói chung, công tác cán bộ nữ nói riêng.
2.4.3. Đội ngũ cán bộ tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới còn nhiều hạn chế
Một trong những nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ tổ chức thực hiện pháp luật bình đẳng giới (cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ) trong các cơ quan, đơn vị trước hết là trình độ và năng lực tổ chức thực hiện công tác tổ chức cán bộ và thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong công tác tổ chức cán bộ. Hơn ai hết trước tiên cán bộ tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong công tác cán bộ phải có trình độ chuyên môn đào tạo về Luật và có khả năng tổ chức thực hiện pháp luật. Tuy nhiên một thực trạng hiện nay của tỉnh Phú Thọ đối với vấn đề này đang còn đặt ra nhiều trăn trở.
- Về bộ máy đối với cán bộ làm công tác tham mưu về công tác cán bộ của tỉnh bao gồm:
Tiểu Ban Công tác cán bộ nữ của tỉnh được thành lập theo Quyết định số 529-QĐ/TU ngày 28/8/2002 của Tỉnh ủy Phú Thọ và được kiện toàn theo các Quyết định số 925-QĐ/TU ngày 06/2/2009; quyết định số 1248-QĐ/TU ngày 17/11/2009; Quyết định số 25-QĐ/TU ngày 03/12/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ. Tiểu Ban công tác cán bộ nữ tỉnh Phú thọ là một tổ chức chính trị kiêm chức của Ban Thường vụ Tỉnh ủy có chức năng tham mưu với Ban Thường vụ Tỉnh ủy về các vấn đề liên quan đến công tác cán bộ nữ, về công tác cán bộ nữ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và công tác cán bộ nữ thuộc các cơ quan đơn vị trong hệ thống chính trị cấp tỉnh. Với số lượng 09 thành viên, là các đồng chí lãnh đạo Trưởng, phó các Ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, trong đó 01 đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy làm Trưởng tiểu Ban, 01 đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Phó Trưởng tiểu Ban, 01 đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh làm Phó Trưởng tiểu ban Thường trực [4,Tr1,2]. Về trình độ chuyên môn: 100% thành viên của tiểu ban có trình độ chuyên môn Đại học trở lên, trong đó có 3/9 chiếm 33,3% có trình độ Cử nhân Luật.
Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh Phú Thọ được thành lập theo Quyết định số 1025/QĐ-UBND ngày 09/5/2007 và được kiện toàn theo các quyết định số 1863/QĐ- Ủy ban nhân dân, Quyết định số 1864/QĐ-UBND tỉnh ngày 23/6/2010; quyết định số 3414/QĐ-UBND ngày 31/10/2011; quyết định số 1179/QĐ-UBND ngày 16/5/2013. Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện chương trình quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và kế hoạch hành động Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Phú Thọ. Với 12 thành viên, là các đồng chí Trưởng, phó các Ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, trong đó 01 đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân làm Trưởng Ban, 01 đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và xã hội làm Phó Trưởng ban Thường trực, 01 đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh làm Phó ban. [27,tr1] Về trình độ chuyên môn 100% thành viên Ban có trình độ chuyên môn Đại học trở lên, trong đó có 3/12 chiếm 25% có trình độ Cử nhân Luật. Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Trong 35 cơ quan, đơn vị thuộc khối Ủy ban nhân dân, khối Đảng, đoàn thể cấp tỉnh, trung bình mỗi cơ quan, đơn vị có từ 3 đến 5 cán bộ làm công tác tham mưu công tác tổ chức cán bộ của các cơ quan, đơn vị, 100% cán bộ đều có trình độ chuyên mộ từ Đại học trở lên, trong đó có từ 20-30% cán bộ có trình độ cử nhân Luật, cá biệt còn có cơ quan, đơn vị cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ không có chuyên môn về Luật.
- [Nữ, 40 tuổi, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ Ban Tổ chức Tỉnh ủy Phú Thọ]
- [Nam, 56 tuổi, Trưởng phòng Công chức, viên chức Sở Nội vụ tỉnh Phú Thọ]
Từ những số liệu trên có thể thấy, đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ lãnh đạo quản lý làm công tác tham mưu về công tác cán bộ nữ, về công tác cán bộ nữ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và công tác cán bộ nữ thuộc các cơ quan đơn vị trong hệ thống chính trị cấp tỉnh của tỉnh Phú Thọ chủ yếu là hoạt động kiêm nhiệm, tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn vê Luật thấp, chỉ đạt từ 20% đến 25%. Điều này dẫn đến việc hạn chế trong việc tham mưu thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong công tác tổ chức cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ nói riêng của tỉnh. [Nữ, 38 tuổi, Trưởng phòng Công tác thanh niên Sở Nội vụ tỉnh Phú Thọ]
2.4.4. Nguồn lực tài chính dành cho công tác tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới chưa được bảo đảm Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Qua khảo sát tại địa bàn nghiên cứu đối với nguồn tài chính dành cho công tác tổ chức thực hiện pháp luật Bình đẳng giới tại tỉnh Phú Thọ theo ngân sách nhà nước cấp mới chỉ có kinh phí hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh,. Hàng năm, Sở Lao động -Thương binh và xã hội tỉnh (cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới, cơ quan thường trực Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh) được Ủy ban nhân dân tỉnh cấp kinh phí nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới và thực hiện các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh, với mức kinh phí 300 triệu đồng/năm. [6, Tr2]. Còn lại đối với tiểu Ban công tác cán bộ nữ, và các phòng, ban tổ chức cán bộ trong các cơ quan, đơn vị, không có kinh phí hoạt động riêng cho công tác tổ chức cán bộ, mà chủ yếu từ nguồn kinh phí hoạt động chung của các cơ quan đơn vị. Điều này dẫn đến một thực trạng nguồn kinh phí của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh được cấp hàng năm chỉ đáp ứng công việc ở một mức độ nhất định, vẫn chủ yếu cho hoạt động công tác tuyên truyền, chưa có nguồn kinh phí cho hoạt động tổ chức thực hiện trong việc thực hiện bình đẳng giới ở các khâu công tác cán bộ, cũng như chưa có nguồn kinh phí hỗ trợ phụ cấp cho cán bộ làm công tác tham mưu thực hiện, do đó còn ảnh hưởng tiêu cực, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật bình đẳng giới đối với công tác cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Đội ngũ cán bộ nữ cấp tỉnh của Phú Thọ tham gia các cơ quan trong hệ thống chính trị cũng như cán bộ nữ tham gia làm lãnh đạo, quản lý có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng, đã có những đóng góp tích cực trong nâng cao năng lực lãnh dạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, năng lực vận động quần chúng nhân dân của Ủy Ban Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội cấp tỉnh và hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước, góp phần to lớn vào nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, những số liệu minh chứng trên cũng khẳng định cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác cán bộ nữ, quan tâm thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh, chủ động thực hiện lồng ghép giới, thúc đẩy bình đẳng giới từ khâu tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động luân chuyển cán bộ cho đến khâu đánh giá, sử dụng, bố trí đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý, từng bước phấn đấu đạt mục tiêu bình đẳng giới đối với công tác cán bộ nữ. Tuy nhiên vẫn còn hạn chế về số lượng cán bộ nữ giữ các chức vụ chủ chốt cấp tỉnh, đặc biệt đối với cương vị lãnh đạo chủ chốt là trưởng các sở, ngành, cơ quan, đơn vị; cơ cấu độ tuổi bình quân của cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý chưa hợp lý, còn tập trung ở nhóm tuổi từ 41 trở lên, dẫn đến việc không trẻ hóa cán bộ nữ; việc thực hiện và áp dụng chính sách, pháp luật đối với cán bộ nữ trong các khâu tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, sử dụng, đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm còn hạn chế, chưa thực sự thúc đẩy bình đẳng giới nhằm tạo điều kiện cho cán bộ nữ phát huy hết khả năng của mình, chưa sát với số lượng thực tiễn cán bộ công chức nữ của tỉnh dẫn đến việc chưa đạt được tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy, tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân theo mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020. Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Thực trạng trên là kết quả của nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân trực tiếp là quan điểm, nhận thức, tư tưởng về công tác cán bộ nữ của cấp ủy đảng, chính quyền, ở người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh chưa đầy đủ, còn có tư tưởng thành kiến với cán bộ nữ, chưa đánh giá đúng năng lực, khả năng và vai trò của cán bộ nữ, chưa thực sự quan tâm thực hiện pháp luật bình đằng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh.
Do đó việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh là rất cần thiết. Cần phải căn cứ vào những quan điểm định hướng của Đảng, quy định của Luật Bình đẳng giới, các quy định của Nhà nước, căn cứ vào tình hình thực tiễn của tỉnh Phú Thọ, xác định những nguyên nhân chính ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh để từ đó đưa ra giải pháp toàn điện và đồng bộ, vừa đáp ứng yêu cầu về mặt lý luận, vừa đáp ứng được yêu cầu về mặt thực tiễn ở địa phương, trên cơ sở phát huy những kết quả đạt được, đồng thời khắc phục những hạn chế còn đang tồn tại và dự liệu những vấn đề trước mắt đang đặt ra, để hướng tới việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới thực chất, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
