Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động trên địa bàn thành phố Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tổng quan về thành phố Hải Phòng

2.1.1. Điều kiện tự nhiên thành phố Hải Phòng

  • Vị trí địa lý:

Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình. Với vị trí địa lý thuận lợi này làm cho Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vùng châu thổ sông Hồng, Hải Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh); là Trung tâm kinh tế – khoa học – kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước (Quyết định 1448 /QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ).

  • Điều kiện tự nhiên: Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km; có lợi thế về cảng biển, Hải Phòng giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng Bắc Bộ, tiếp nhận nhanh các thành tựu khoa học – công nghệ từ nước ngoài để rồi lan toả chúng trên phạm vi rộng lớn từ bắc khu Bốn cũ trở ra. Cảng biển Hải Phòng cùng với sự xuất hiện của cảng Cái Lân (Quảng Ninh) với công suất vài chục triệu tấn tạo thành cụm cảng có quy mô ngày càng lớn góp phần đưa hàng hoá của Bắc bộ đến các vùng của cả nước, cũng như tham gia dịch vụ vận tải hàng hoá quá cảnh cho khu vực Tây Nam Trung Quốc.

Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có đảo Cát Bà, xa nhất là đảo Bạch Long Vĩ. Biển, bờ biển và hải đảo đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đặc sắc của thành phố duyên hải. Bên cạnh đó, Hải Phòng có điều kiện tự nhiên rất phong phú, giàu đẹp, đa dạng và có nhiều nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa. Đặc biệt, nơi đây có rừng quốc gia Cát Bà – Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới – là khu rừng nhiệt đới nguyên sinh nổi tiếng, đặc biệt phong phú về số lượng loài động thực vật, trong đó có nhiều loài được xếp vào loài quý hiếm của thế giới. Đồng thời, Hải Phòng còn có cả một vùng đồng bằng thuộc vùng đồng bằng tam giác châu thổ sông Hồng, tạo nên một cảnh quan nông nghiệp trồng lúa nước là nét đặc trưng của vùng du lịch ven biển Bắc Bộ và cả một vùng biển rộng với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, nhiều hải sản quý hiếm và bãi biển đẹp. Chính vì vậy, Hải Phòng có tiềm năng to lớn để phát triển ngành du lịch-dịch vụ.

2.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội của thành phố Hải Phòng

2.1.2.1. Điều kiện kinh tế của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển lớn nhất phía Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là thành phố lớn thứ 3 Việt Nam, là thành phố lớn thứ 2 miền Bắc sau Hà Nội và là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Đà Nẵng và Cần Thơ.

  • Tăng trưởng và cơ cấu các ngành kinh tế

Kinh tế Hải Phòng duy trì tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và thương mại – dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Ngành công nghiệp – xây dựng và thương mại dịch vụ vẫn thể hiện được thế mạnh của mình khi chiếm gần 90% giá trị nền kinh tế của thành phố.

Đối với ngành công nghiệp, thành phố có 7 khu công nghiệp và 10 cụm công nghiệp, tiêu biểu như: Đình Vũ, Nomura, Tràng Duệ,… Ngành du lịch-dịch vụ đang trên đà phát triển mạnh mẽ cả về du lịch sinh thái và du lịch văn hóa; là hướng phát triển kinh tế mới của thành phố trong những năm gần đây. Ngành nông nghiệp tập trung thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; bước đầu hình thành một số khu nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất tập trung (thành phố đã triển khai dự án sản xuất rau sạch tại huyện Vĩnh Bảo do Tập đoàn Vingroup đầu tư, với tổng diện tích 200 ha, ứng dụng công nghệ cao, hiện đại của Ixraen). Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế thành phố Hải Phòng năm 2024-2025

  • Về thu hút đầu tư

Hải Phòng với những tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế; cùng với đó, chính quyền thành phố luôn tích cực rà soát, cải tiến các thủ tục đầu tư; thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư, đổi mới phương pháp xúc tiến đầu tư. Môi trường đầu tư kinh doanh của thành phố được cải thiện. Chính vì thế, Hải Phòng luôn là thành phố đi đầu trong cả nước về việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước.

Tổng số vốn đầu tư FDI năm 2024 đạt 2 tỷ 900 triệu USD, tăng 228,5% so với cùng kỳ trong khi cả nước thu hút 19,6 tỷ USD, bằng 78% so với cùng kỳ, giảm 22%. Tính đến 31-12-2024, Hải Phòng thu hút 15, 89 tỷ USD tiền đầu tư. Đến năm 2025 vừa qua, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 67.853 tỷ đồng, tăng 20, 34%.

Đặc biệt, Hải Phòng cũng là thành phố thu hút các doanh nghiệp trong nước có tiềm lực, kinh nghiệm lớn nhất của đất nước đều đã đầu tư như: Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Sun Group, Tập đoàn Him Lam với tổng mức đầu tư lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, triển khai nhiều dự án có giá trị kinh tế cao. Chỉ tính riêng năm 2025, tập đoàn Sungroup khởi công quần thể du lịch sinh thái và thông minh đầu tiên ở Việt Nam. Tập đoàn Vingroup triển khai dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Vineco tại huyện Vĩnh Bảo, đã đưa 201 ha vào sản xuất; tổ hợp sản xuất, chế tạo ô tô Vinfast tại Cát Bà với tổng số trên 35.000 tỷ đồng. Tập đoàn Aeon triển khai dự án trung tâm mua săm Aeon Mall tại quận Lê Chân với tổng số vốn trên 3000 tỷ đồng. tính đến ngày 30/10/2025 đã thực hiện thủ tục đầu tư cho 35 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đầu tư là 69.259 tỷ đồng; đầu tư trực tiếp nước ngoài với 47 dự án cấp mới và 34 dự án điều chỉnh tăng vốn, tổng số vốn đạt 758,03 triệu USD. Trong năm 2025, tổng số vốn đầu tư công đạt trên 11.000 tỷ đồng. Tiếp tục đầu tư các khu, cụm công nghiệp góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng thuận lợi và thu hút các nhà đầu tư. Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng với các chính sách mở cửa, hội nhập của chính quyền thành phố, Hải Phòng đã và đang thu hút các nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế mạnh mẽ, tạo việc làm cho nhiều NLĐ cả trong và ngoài thành phố.

2.1.2.2. Điều kiện dân cư xã hội

Tính đến tháng 12/2024 dân số: 1,963 triệu người, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương – là đô thị loại 1 cấp quốc gia gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo).

Về GDP bình quân đầu người thống kê năm 2024: Hải Phòng xếp thứ 6/7 tỉnh/thành phố, chỉ trên Đà Nẵng (bằng 1,06 lần), sau TP. Hồ Chí Minh (bằng 55%), sau Bình Dương (63,9%), sau Cần Thơ (81,3%), sau Hà Nội (81,8%) và sau Đồng Nai (97,8%). So với cả nước, Hải Phòng bằng 1,4 lần.

2.1.3. Lao động và việc làm trên địa bàn thành phố Hải Phòng Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Hải Phòng với nhiều khu công nghiệp, trung tâm thương mại lớn, đồng thời cũng là trung tâm du lịch, giáo dục, y tế và thủy sản của vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam. Hải Phòng luôn là thành phố thu hút nhiều lao động trong và ngoài thành phố đến làm việc tại địa phương. Cùng với đà phát triển của thành phố trên mọi lĩnh vực từ nông nghiệp đến công nghiệp, dịch vụ thì số NLĐ trên địa bàn Hải Phòng tăng liên tục qua các năm (thể hiện cụ thể trong bảng 2+3).

Bảng 2: Bảng thống kê số người lao động và cơ cấu lao động trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2024-2025

Năm 2024 Năm 2025
Lực lượng lao động 1.131.600 người 1.141.100 người
Phân theo giới tính
Nam 567.000 người 569.400 người
Nữ 564.600 người 571.700 người
Phân theo thành thị, nông thôn
Thành thị 483.700 người 488.100 người
Nông thôn 647.900 người 653000 người

Bảng 3: Bảng thống kê về số người lao động trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2023-2026

Năm Số NLĐ
Năm 2023 1.090.400 người
Năm 2024 1.108.000 người
Năm 2025 1.112.000 người
Ước tính năm 2026 1.114.800 người

Tại Hải Phòng, đa số người trong đổ tuổi lao động đều có việc làm và cơ cấu NLĐ phân theo giới tính và theo vùng tương đối cân bằng. Bên cạnh những số liệu thống kê về số lao động trong địa bàn thành phố như nêu trên thì cơ hội việc làm hay nhu cầu về lao động trong các khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp vẫn còn khá lớn, đơn vị tuyển ít cũng vài chục lao động, nhiều lên đến vài trăm lao động. Trong đó, các doanh nghiệp rất muốn tìm kiếm nguồn lao động chất lượng, đã qua đào tạo và trình độ ngoại ngữ (phổ biến nhất là tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Trung) bởi các doanh nghiệp có vốn đầu từ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong hầu hết các khu công nghiệp tại Hải Phòng.

2.2. Thực trạng về sa thải người lao động trái pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Phòng Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Tính đến nay chưa có con số thống kê cụ thể từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền về số vụ NLĐ bị sa thải nói chung cũng như số vụ việc NLĐ bị sa thải trái pháp luật nói riêng trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Chỉ trong trường hợp mà NLĐ kiến nghị lên các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi cho họ thì các cơ quan, tổ chức này mới vào cuộc tiến hành thanh tra, kiểm tra đột xuất các cơ sở kinh doanh để phát hiện vi phạm của NSDLĐ trong quá trình xử lý sa thải NLĐ.

Cụ thể theo số liệu của Sở lao động, thương binh và xã hội thành phố Hải Phòng, từ năm 2023 đến 2025 trên địa bàn thành phố có 5 vụ việc NLĐ kiến nghị lên Sở cho rằng NSDLĐ đã sa thải NLĐ trái pháp luật. Sau đó, theo chỉ thị của Giám đốc Sở thì phòng thanh tra đã tiến hành thanh tra đột xuất tại 5 đơn vị kinh doanh tương ứng. Kết luận thanh tra đối với cả 5 vụ việc này là NSDLĐ đều có hành vi sa thải NLĐ trái pháp luật.

Trong đó, các vi phạm chủ yếu mà NSDLĐ mắc phải đó là không tuân thủ theo quy định về trình tự, thủ tục tiến hành sa thải như mở phiên họp xem xét sa thải NLĐ mà đã ra quyết định sa thải NLĐ. Các đơn vị kinh doanh đều có lập nội quy lao động, đã tiến hành đăng ký nội quy lao động theo quy định của pháp luật nhưng trong quá trình sa thải NLĐ lại vi phạm nội quy và các quy định của pháp luật để sa thải NLĐ trái pháp luật.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều vụ việc mà phía các doanh nghiệp lại không xây dựng nội quy lao động theo quy định của pháp luật hoặc đã có xây dựng nhưng nội quy chưa được đăng ký tại Sở lao động- thương binh và xã hội. Bởi vậy, mặc dù khi tiến hành xử lý sa thải NLĐ, NSDLĐ có tuân thủ quy trình, thủ tục tiến hành sa thải như tổ chức phiên họp kỷ luật, đầy đủ biên bản phiên họp và quyết định sa thải NLĐ nhưng do nội quy lao động của doanh nghiệp không có hiệu lực pháp luật nên việc áp dụng quy định trong nội quy đó để sa thải NLĐ là trái pháp luật. Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Đối với các trường hợp phát hiện ra các hành vi vi phạm này, phía cơ quan thanh tra lao động đều yêu cầu các chủ doanh nghiệp nhận NLĐ quay trở lại làm việc và có mức bồi thường về lương chính đáng đối với những ngày họ bị nghỉ việc trái pháp luật căn cứ theo quy định của Nghị định 95/2021 về xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi sa thải NLĐ trái pháp luật. Như vậy có thể nói về phía thanh tra lao động đã giải quyết tốt các khiếu nại của NLĐ với hành vi sa thải NLĐ trái pháp luật và có những biện pháp khắc phục vi phạm phù hợp với các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi chính đáng của NLĐ.

Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận tồn tại trong công tác thanh tra chuyên ngành về lao động. Bởi theo quy định tại điều 237 của BLLĐ năm 2020, khoản 1 quy định thanh tra Sở lao động- thương binh và xã hội có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về lao động. Nhưng thực tế, thanh tra Sở lao động- thương binh và xã hội Hải Phòng lại chưa tiến hành cuộc thanh tra nào tại các doanh nghiệp liên quan đến việc chấp hành các quy định về sa thải lao động mà mới chỉ thực hiện công tác giải quyết khiếu nại của NLĐ về vấn đề này.

Ngoài việc chọn lựa chọn phương thức khiếu nại đến Sở lao động- thương binh và xã hội để đòi quyền lợi cho mình thì một số NLĐ lại khiếu nại đến tổ chức đại diện NLĐ đó là công đoàn địa phương để thông qua đó Công đoàn lên tiếng nói bảo vệ NLĐ yếu thế trong doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật, Công đoàn là tổ chức bảo vệ quyền lợi ích chính đáng cho NLĐ và là thành phần bắt buộc tham gia phiên họp kỷ luật sa thải. Tuy nhiên, hiện nay Liên đoàn lao động Hải Phòng lại chưa có số liệu thống kê các vụ việc sa thải NLĐ trong đơn vị doanh nghiệp mà chỉ thống kê trong trường hợp NLĐ có đưa đơn kiến nghị, sau đó phía Liên đoàn mới vào cuộc xem xét và giải quyết, đối thoại với NSDLĐ. Với vai trò nhiệm vụ là tổ chức bảo vệ quyền lợi NLĐ trực tiếp và sát sườn cho NLĐ nhưng hoạt động của Công đoàn chưa phát huy hiệu quả tiếng nói của mình trước NSDLĐ để bênh vực NLĐ yếu thế tại các doanh nghiệp. Pháp luật cần có quy định để Công đoàn- tổ chức đại diện cho NLĐ độc lập về quyền và lợi ích đối với chủ doanh nghiệp vì chỉ khi độc lập và không bị ràng buộc về lợi ích thì Công đoàn mới thực sự phát huy vai trò, trách nhiệm của mình để bảo vệ NLĐ.

Bên cạnh những vụ việc NLĐ đã kiến nghị, khiếu nại để các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết thì cũng cần nhận thấy thực tế tồn tại rất nhiều vụ việc NLĐ tuy bị sa thải trái pháp luật nhưng NLĐ chưa lên tiếng hoặc chưa nhận thức được quyền lợi họ bị xâm phạm để lên tiếng bảo vệ quyền lợi của mình. Mặc dù con số này chưa được thống kê một cách cụ thể nhưng tình trạng sa thải NLĐ trái pháp luật đã và đang có chiều hướng xảy ra phổ biến trong tương lai trước sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, cách mạng khoa học công nghệ đòi hỏi từ các quy định pháp luật thực định đến bộ máy thực thi phải hoàn thiện để bảo vẹ quyền lợi NLĐ tốt hơn.

2.3. Nguyên nhân của tình trạng sa thải người lao động trái pháp luật Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Từ những con số thống kê trên địa bàn thành phố Hải Phòng và những nghiên cứu vụ việc từ các bản án, có thể thấy thực trạng sa thải NLĐ trái pháp luật vì một số nguyên nhân chính yếu. Những phân tích dưới đây sẽ chỉ ra các nguyên nhân của tình trạng này nhằm đưa đến các kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như cơ chế thực thi pháp luật lao động một cách hiệu quả hơn.

2.3.1. Các doanh nghiệp đạt được lợi ích kinh tế cao do không phải chi trả trợ cấp nghỉ việc cho người lao động

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt và quyết liệt nhằm giành được thị phần lớn nhất trong thị trường. Kết quả cuối cùng mà mọi doanh nghiệp đều hướng tới là lợi nhuận tối đa. Sự cạnh tranh đó đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình bắt kịp với nhu cầu thị trường trong đó nhân sự được coi là sự thay đổi căn bản nhất để tạo động lực sự phát triển. Các doanh nghiệp phải thay thế nhân sự bằng nguồn nhân lực mới hoạt động hiệu quả hơn hoặc thay đổi dây chuyền sản xuất hiện đại và tự động hóa để tăng sức cạnh tranh của mình. Điều này đồng nghĩa các doanh nghiệp phải cho nghỉ việc những NLĐ làm việc không hiệu quả và những NLĐ dư thừa.

Để cho NLĐ nghỉ việc, các doanh nghiệp phải tuân theo các quy định liên quan của pháp luật lao động. Trường hợp nếu NSDLĐ muốn chủ động chấm dứt hợp đồng lao động với NLĐ mà không phải do lỗi của NLĐ thì sẽ có những trường hợp sau (theo quy định tại điều 36, BLLĐ năm 2020): Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Trường hợp thứ nhất là thỏa thuận chấm dứt hợp theo quy định tại khoản 3, điều 36, BLLĐ năm 2020. Sự thỏa thuận ở đây được hiểu là sự tự nguyện, tự do không bị ép buộc từ cả hai phía là NLĐ và doanh nghiệp để các bên cùng nhau chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, NLĐ sẽ thường mong muốn được làm việc với công hiện tại vì đã ổn định nên việc đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn là điều NLĐ chắc chắn không muốn.

Trường hợp thứ hai là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo nếu có một trong các căn cứ tại khoản 1, điều 38. NSDLĐ cần tuân thủ các điều kiện về thời hạn báo trước cho NLĐ tại khoản 2, điều này thì NSDLĐ có quyền cho NLĐ nghỉ việc.

Trường hợp thứ ba là NSDLĐ cho NLĐ thôi việc vì thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại khoản 10, điều 36, BLLĐ năm 2020. Có thể nói trong tương lai, NLĐ bị mất việc làm trong trường hợp này sẽ là xu hướng khá phổ biến do sự phát triển của khoa học- công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Máy móc với dây chuyền sản xuất tự động hóa sẽ thay thế sức lao động của con người, NLĐ có nguy cơ mất việc làm ngày càng cao.

Như vậy, khi NSDLĐ muốn cho NLĐ nghỉ việc cần đảm bảo tuân thủ đầy đủ theo các căn cứ như luật định và đảm bảo thời hạn báo trước cùng các quy trình thủ tục khác nếu có. Đồng thời, với các trường hợp trên NSDLĐ bên cạnh việc thực hiện các nghĩa vụ như đối với trường hợp NLĐ bị sa thải (như đã trình bày trong chương 1, phần 1.3: Quyền của NLĐ sau khi bị sa thải) thì họ phải trả thêm các loại trợ cấp cho NLĐ gồm trợ cấp thôi việc (điều 48) và trợ cấp mất việc làm (điều 49).

Những lợi ích kinh tế từ việc chi trả các loại trợ cấp cho NLĐ sẽ tác động đến việc ra quyết định của NSDLĐ lựa chọn nên cho NLĐ nghỉ việc theo đúng quy định pháp luật hay cố tình vi phạm pháp luật hay không? Nếu tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật, NSDLĐ muốn cho NLĐ nghỉ việc cần áp dụng theo các căn cứ như trường hợp từ 1 đến 3 như phân tích nêu trên; đồng thời NSDLĐ sẽ phải hoàn trả đầy đủ tiền lương còn thiếu và thanh toán các loại trợ cấp cho NLĐ. Ngược lại, nếu NSDLĐ ưu tiên giành các lợi ích kinh tế cho bản thân mình hơn thì sẽ lựa chọn cách thức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hoặc áp dụng hình thức sa thải NLĐ trái pháp luật /lạm dụng lỗ hổng pháp luật để sa thải NLĐ và chỉ cần thanh toán tiền lương chưa trả cho NLĐ, không phải chi trả bất cứ trợ cấp nào cho NLĐ.

Qua quá trình nghiên cứu một số bản án về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phía NSDLĐ và tranh chấp yêu cầu đòi tiền trợ cấp sau khi nghỉ việc thì có thể nhận thấy rất nhiều các doanh nghiệp không chi trả đầy đủ tiền trợ cấp thôi việc cho NLĐ dù rằng họ có chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật. Chỉ khi NLĐ khởi kiện ra tòa đòi lại quyền lợi chính đáng của mình thì NSDLĐ mới chi trả. Cũng có rất nhiều vụ án NSDLĐ vừa đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, vừa không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ chi trả trợ cấp sau khi cho NLĐ nghỉ việc. Từ đó, có thể thấy việc chi trả tiền trợ cấp thường bị NSDLĐ vi phạm. Tuy nhiên, đối với hành vi sa thải NLĐ thì theo quy định của pháp luật, NSDLĐ không cần chi trả bất cứ loại trợ cấp nào. Điều này dẫn đến, NSDLĐ thay vì đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật thì sẽ có hành vi sa thải trái pháp luật đối với NLĐ vì sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn.

2.3.2. Ý thức tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động còn chưa cao và hiểu biết pháp luật của người lao động còn thấp Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

NSDLĐ chưa có ý thức tuân thủ pháp luật, thường có xu hướng muốn đem lại cho bản thân doanh nghiệp nhiều lợi ích kinh tế nhất mà bất chấp vi phạm pháp luật xâm phạm đến lợi ích chính đáng của NLĐ. Hiện nay, một số sai phạm chủ yếu trong lĩnh vực lao động của các doanh nghiệp đối với quyền lợi NLĐ như: không trả đủ lương thử việc trong thời gian thử việc; giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của NLĐ gây khó khăn NLĐ khi tìm kiếm một công việc mới; trả lương thấp hơn lương tối thiểu vùng; trả lương không đầy đủ, không đúng hạn; bắt buộc NLĐ làm thêm quá giờ; không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp,… Trong khi, các quy định pháp luật lao động liên quan tới vấn đề này có quy định cụ thể nhưng các doanh nghiệp lại cố tình vi phạm chỉ khi có thanh tra lao động và các ban ngành liên quan vào cuộc thanh tra, kiểm tra hoặc NLĐ lên tiếng thì NSDLĐ mới có hành vi khắc phục để tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Thậm chí, một số doanh nghiệp bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện vi phạm và yêu cầu khắc phục hoàn trả lợi ích chính đáng cho NLĐ nhưng đơn vị vẫn không khắc phục. Các doanh nghiệp biện minh rằng, do hoạt động sản xuất kinh doanh khó khăn, việc làm thiếu ổn định, lao động thường xuyên biến động nên khó khăn trong việc chi trả đúng nghĩa vụ tiền lương, bảo hiểm cho NLĐ như pháp luật quy định.

Như vậy, ngay cả đối với những quy định rất cụ thể và chặt chẽ của pháp luật cũng đều có thể bị NSDLĐ cố tình vi phạm do đó với những quy định về sa thải lao động còn nhiều lỗ hổng tạo cơ hội cho NSDLĐ lạm dụng thì họ sẽ càng dễ dàng hơn khi sa thải trái pháp luật NLĐ. Các quy định pháp luật hiện hành về sa thải lao động còn khá nhiều bất cập, thiếu sót nên chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm. Đặc biệt, hành vi sa thải NLĐ trái pháp luật chưa có quy định nào về trách nhiệm dân sự của NSDLĐ đối với NLĐ. Sự thiếu đó dẫn đến NSDLĐ dễ dàng xâm phạm quyền lợi của NLĐ cũng như NLĐ sẽ khó khăn hơn để bảo vệ lợi ích của mình trong trường hợp bị xâm phạm. Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Mặt khác, trình độ hiểu biết pháp luật của đại đa số NLĐ, đặc biệt NLĐ trình độ thấp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động hiện nay. Theo số liệu được đưa ra trong báo cáo “Xu hướng lao động và xã hội Việt Nam giai đoạn 2020-2025” của Viện khoa học lao động và xã hội, cho thấy tỷ trọng lao động giản đơn đã giảm nhanh sau năm 2021 từ 40,8% giảm còn 37,5% vào quý II-2025. Dù vậy, chất lượng lực lượng lao động còn thấp với trên 23% có bằng cấp, chứng chỉ. Và trong số lực lượng lao động có bằng cấp, chứng chỉ thì hơn 50% là có bằng cấp từ cao đẳng và đại học trở lên, trong khi số có chứng chỉ nghề trình độ trung cấp chỉ chiếm 5,42% và chứng chỉ nghề ngắn hạn chỉ chiếm 5,6% tổng lực lượng lao động. Cơ cấu lao động theo các cấp trình độ đào tạo còn bất hợp lý, không thực sự phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội. Xuất phát từ nguyên do NLĐ Việt Nam có trình độ thấp và thiếu hiểu biết pháp luật về những quyền lợi chính đáng của mình được hưởng nên nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng mà sa thải NLĐ một cách bừa bãi.

Chính vì thế, pháp luật cần có những cơ chế để các bên trong quan hệ nắm rõ kiến thức pháp luật và có thái độ tuân thủ các quy định mà pháp luật đã quy định.

2.3.3. Quy định pháp luật còn nhiều bất cập và việc áp dụng pháp luật trong thực tế đạt hiệu quả chưa cao

Như trình bày và phân tích tại chương 1, có thể nhận thấy pháp luật về sa thải lao động theo quy định BLLĐ năm 2020 hiện hành còn khá nhiều bất cập và những thiếu sót đặc biệt đối với chế tài xử lý hành vi sa thải NLĐ trái pháp luật.

Bên cạnh đó, cơ chế áp dụng pháp luật thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng tồn tại nhiều những hạn chế. Việc xử lý tranh chấp lao động về sa thải tại Tòa án còn giải quyết kéo dài về thời gian ảnh hưởng quyền lợi của tất cả các bên. Phương thức giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải viên tuy có nhiều ưu điểm, lợi ích hơn một số phương thức khác nhưng lại chưa có quy định pháp luật nhằm thúc đẩy việc áp dụng phổ biến và bắt buộc để các bên sử dụng khi giải quyết tranh chấp lao động.

Về phía thanh tra chuyên ngành về lao động, tuy rằng hoạt động giải quyết khiếu nại của NLĐ đã xử lý và bảo vệ quyền lợi cho NLĐ nhưng hoạt động tiến hành các cuộc thanh tra một cách chủ động tại các doanh nghiệp về việc chấp hành các quy định pháp luật sa thải còn chưa chủ động, tích cực để phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm về sa thải NLĐ. Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Nhìn chung, trong chương 2 tác giả đã đi sâu nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành qua thực tiễn trên địa bàn thành phố Hải Phòng- một địa phương có nhiều khu công nghiệp thu hút số lượng lớn lao động cả trong và ngoài thành phố.

Việc nghiên cứu thực tế một địa bàn cho thấy tình trạng NLĐ bị sa thải pháp luật đã và đang diễn ra nhiều hơn. Tuy nhiên, sự can thiệp hỗ trợ của cơ quan quản lý lao động vẫn rất hạn chế, chỉ trong một số trường hợp khi NLĐ lên tiếng nói để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Có thể thấy rằng, thực tế vai trò Thanh tra lao động trong vấn đề này mới chỉ dừng trong việc giải quyết khiếu nại của NLĐ, chưa chủ động thanh tra phát hiện vi phạm của doanh nghiệp. Về phía Công đoàn chưa phát huy tiếng nói và tích cực tham gia giải quyết quyền lợi của NLĐ. Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động.

Dù rằng, thực tiễn từ một thành phố có thể chưa khái quát tổng thể các vấn đề phát sinh của nhiều địa phương khác trên cả nước nhưng cũng đã phần nào chỉ ra những hạn chế trong công tác thực hiện pháp luật. Đây sẽ là cơ sở giúp các nhà hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật có thể hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về sa thải lao động một cách hiệu quả hơn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Khóa luận: Pháp luật về sa thải người lao động trái pháp luật

3 thoughts on “Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động

  1. Pingback: Khóa luận: Quy định về sa thải người lao động trái pháp luật

  2. Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động says:

    Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động

  3. Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động says:

    Khóa luận: Thực tiễn thực thi pháp luật về sa thải người lao động

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464