Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng về tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Sự hình thành của cơ quan quản lý cạnh tranh tại Việt Nam.

Trong thời đại nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh phát triển, quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế không chỉ là sự cạnh tranh đơn thuần mà còn xuất hiện các mối quan hệ phức tạp, làm nảy sinh những tác động tiêu cực đến thị trường, nền kinh tế. Nhà nước với quyền lực quản lý kinh tế, xã đã tạo ra cơ quan quản lý cạnh tranh là một thiết chế kinh tế đặc biệt, được xây dựng để thực thi pháp luật cạnh tranh của mỗi quốc gia nhằm bảo đảm trật tự của nền kinh tế.

“Vào giữa thập niên thứ hai của quá trình đổi mới, các nhà làm luật Việt Nam đã đặt ra nhiệm vụ trọng yếu là phải xây dựng một đạo luật cạnh tranh mang tầm vóc của một đạo luật căn bản trong cấu trúc của pháp luật thương mại. Do đó, trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng Luật Cạnh tranh ở các nước, Luật Cạnh tranh Việt Nam đã được ban hành năm 2004. Gắn liền với quá trình hình thành pháp luật cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam cũng được ra đời trên tinh thần xây dựng và bảo vệ các thiết chế kinh tế, thúc đẩy, giám sát các hoạt động kinh tế để tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng.”[17] Cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam ra đời trong quá trình xây dựng Luật cạnh tranh với tư cách là một đơn vị trực thuộc Bộ Thương mại vào năm 2003 dưới tên gọi là Ban Quản lý cạnh tranh; với nhiệm vụ chính là tham gia soạn thảo Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài kiện các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Ngày 26/02/2004, để triển khai Nghị định số 29/2004/NĐ-CP ngày 16/01/2004 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thương mại, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ban hành Quyết định số 0235/2004/QĐ-BTM thành lập Cục quản lý cạnh tranh trên cơ sở Ban Quản lý cạnh tranh được ra đời trước đó 1 năm. Theo Quyết định số 1808/2004/QĐ-BTM ngày 06/12/2004 của Bộ trưởng Bộ Thương mại thì Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan thuộc Bộ Thương mại có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngày 03/12/2004 tại kỳ họp thứ XI Quốc hội thông qua Luật Cạnh tranh. Trên cơ sở Luật cạnh tranh chính thức có hiệu lực vào ngày 01/07/2005, tại Điều 49 và Điều 53 của Luật này Cơ quản lý cạnh tranh sẽ do Chính phủ thành lập và quy định tổ chức, bộ máy. Và ngày 09/01/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh. Ngày 05/02/2013, Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành Quyết định số 848/QĐ-BCT quy định về cơ cấu tổ chức của Cực quản lý cạnh tranh. Riêng đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh , Cục quản lý cạnh tranh chỉ đảm nhận vai trò điều tra, thu thập, tìm kiếm các chứng cứ có liên quan đến vụ việc. Việc xử lý, giải quyết vụ việc cạnh tranh, giải quyết khiếu nại liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh do Hội đồng cạnh tranh đảm nhận. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Hội đồng cạnh tranh là cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh độc lập do Chính phủ thành lập gồm từ 11 đến 15 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương. [9] Ngày 09/01/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh. Ngày 12/06/2006, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 843/QĐ-TTg bổ nhiệm 11 thành viên Hội đồng cạnh tranh. Đến thời điểm hiện nay (năm 2018), Hội đồng cạnh tranh có tổng cộng 14 thành viên.[23] Hiện nay, theo Nghị định số 07/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/01/2015 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh thì Hội đồng cạnh tranh có cơ quan thường trực tham mưu, giúp việc là Văn phòng Hội đồng cạnh tranh.[5] Ngày 30/06/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 24/2015/QĐ-TTg ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng cạnh tranh.

2.2.Hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh năm 2004.

Hiện nay, hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh của nước ta được thành lập và hoạt động gồm hai cơ quan riêng biệt là Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh.

2.2.1. Cục quản lý cạnh tranh.

Năm 2003, Ban quản lý cạnh tranh được thành lập trực thuộc Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) là tiền thân của Cục quản lý cạnh tranh. Sau đó, năm 2004 Cục quản lý cạnh tranh được thành lập trực thuộc Bộ Công thương trên nền tảng của Ban quản lý cạnh tranh, là cơ quan do Chính phủ thành lập trong hệ thống tổ chức của Bộ Công thương, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và tài khoản riêng, có trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội. Ngày 03/12/2004 Luật Cạnh tranh được thông qua và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/7/2005. Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2006/NĐ-CP về các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục cạnh tranh. Năm 2013 Bộ Công thương ban hành Quyết định số 848/QĐ-BCT quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục cạnh tranh. Hiện nay, Cục quản lý cạnh tranh có trụ sở tại Hà Nội thành lập năm 2004, tại thành phố Hồ Chí Minh thành lập năm 2007, tại Đà Nẵng thành lập năm 2009.

2.2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh.[20]

Cục Quản lý cạnh tranh có tên giao dịch viết bằng tiếng Anh:

Vietnam Competition Authority, viết tắt là VCA, trụ sở chính tại Hà Nội. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Cục Quản lý cạnh tranh là tổ chức thuộc Bộ Công Thương có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ theo quy định của pháp luật.

Cụ thể, Cục quản lý cạnh tranh có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện các nhiệm vụ:

  • Quản lý nhà nước về cạnh tranh (thực thi Luật Cạnh tranh);
  • Quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (thực thi pháp lệnh về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ);
  • Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (thực thi Luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng);
  • Phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ;

Nhiệm vụ và quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh được quy định tại Điều 49 Luật Cạnh tranh năm 2004 bao gồm:

  1. Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế theo Luật định.
  2. Thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, đề xuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
  3. Điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh.
  4. Xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
  5. Một số nhiệm vụ khác theo Luật định.

Năm 2006,  Chính  phủ ban hành  Nghị định  số  06/NĐ-CP/2006 trong đó quy định rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh trên nền tảng Luật Cạnh tranh năm 2004. Đến năm 2013, Bộ công thương ra Quyết định 848/QĐ-BCT trong đó quy định chi tiết hơn về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh. Theo đó, Cục Quản lý cạnh tranh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây: Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

  1. Xây dựng và trình Bộ trưởng ban hành hoặc để Bộ trưởng trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
  2. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, ban hành. Phát hiện và kiến nghị cơ quan có liên quan giải quyết theo thẩm quyền về những văn bản đã ban hành có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
  3. Ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật.

Về cạnh tranh

  1. Thụ lý, tổ chức điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh để Hội đồng cạnh tranh xử lý theo quy định của pháp luật;
  2. Tổ chức điều tra, xử lý hoặc đề xuất biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh theo quy định của pháp luật;
  1. Thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ theo các quy định của pháp luật để trình Bộ trưởng quyết định;
  2. d) Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế;
  3. đ) Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin về các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, các doanh nghiệp độc quyền, về quy tắc cạnh tranh trong hiệp hội, về các trường hợp miễn trừ;
  4. Về xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
  5. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam;
  6. Thụ lý, tổ chức điều tra việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt nam để đề xuất áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ theo quy định của pháp luật;
  7. Kiến nghị Bộ trưởng Bộ Công Thương ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp tạm thời và quyết định áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời theo quy định của pháp luật;
  8. Báo cáo kết quả điều tra lên Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ xem xét, trình Bộ trưởng Bộ Công Thương ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
  9. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện, rà soát việc chấp hành các quyết định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.
  10. Cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá; chủ trì hoặc phối hợp với các doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
  11. Đầu mối, phối hợp với các Bộ, ngành đối thoại về quy chế kinh tế thị trường với các quốc gia, vùng lãnh thổ; chủ trì hoặc tham gia đàm phán vấn đề cạnh tranh và phòng vệ thương mại trong các điều ước quốc tế về thương mại theo phân công của Bộ trưởng.

Về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

  1. a) Tiếp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong trường hợp hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung áp dụng trên phạm vi cả nước hoặc áp dụng trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
  2. Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền; xử lý hoặc đề xuất biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
  3. Công khai danh sách tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của Cục Quản lý cạnh tranh.
  4. Hợp tác quốc tế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
  5. Yêu cầu các tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ được giao; được sử dụng tư vấn trong và ngoài nước trong trường hợp cần thiết theo yêu cầu của công việc theo quy định của pháp luật.
  6. Áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.
  7. Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật và các chính sách có liên quan đến các lĩnh vực cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
  8. Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ và bảo vệ người tiêu dùng.
  9. Hướng dẫn và kiểm tra hoạt động của các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ và bảo vệ người tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
  10. Tổ chức, xây dựng cơ sở dữ liệu, quản lý và cung cấp thông tin cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân có yêu cầu theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
  11. Kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ và bảo vệ người tiêu dùng; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ.
  12. Xây dựng và thực hiện chương trình cải cách hành chính của Cục theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính của Bộ.
  13. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, thực hiện chế độ tiền lương và các chính sách, chế độ đãi ngộ về thi đua, khen thưởng, kỷ luật, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức thuộc Cục theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ.
  14. Quản lý tài chính, tài sản được giao, tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ theo quy định của pháp luật.
  15. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.

Có thể thấy, Cục quản lý cạnh tranh cùng lúc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật trong cả 03 lĩnh vực, gồm (i) cạnh tranh; (ii) bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; và (iii) phòng vệ thương mại.

2.2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh.

Cục quản lý cạnh tranh do Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổ chức, bộ máy của cơ quan này. Đứng đầu cục quản lý cạnh tranh là Cục trưởng cục quản lý cạnh tranh và 3 Cục phó, bên dưới là cùng bộ máy giúp việc bao gồm: Ban Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh, Ban Giám sát và quản lý cạnh tranh, Ban Điều tra và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Ban Bảo vệ người tiêu dùng, Ban Xử lý chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, Ban hợp tác quốc tế, Văn phòng. Các ban phụ trách các lĩnh vực chuyên biệt khác nhau nhưng vẫn có sự phối hợp giữa các ban. Bên cạnh đó còn có các đơn vị sự nghiệp thuộc Cục: Trung tâm đào tạo điều tra viên và Trung tâm thông tin cạnh tranh.

Sơ đồ tổ chức Cục quản lý cạnh tranh[20]

Cục quản lý cạnh tranh (Cục trưởng) Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Bộ máy giúp việc cục trưởng Các tổ chức sự nghiệp
Văn phòng cục Trung tâm Đào tạo điều tra viên
Phòng Kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung Trung tâm Thông tin cạnh tranh
Phòng Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh
Phòng xử lý các vụ kiện phòng vệ của nước ngoài
Phòng Điều tra và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Phòng Bảo vệ người tiêu dùng
Phòng Điều tra vụ kiện phòng vệ thương mại của doanh nghiệp trong nước.
Phòng Hợp tác quốc tế
Phòng Giám sát và quản lý cạnh tranh
Văn phòng đại diện tại tp Hồ Chí Minh

Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại. Các điều tra viên, các nhân viên của Cục cạnh tranh cũng được bổ nhiệm, tuyển trọn bằng các tiêu chí theo Luật định.

2.2.2. Hội đồng cạnh tranh. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Theo Luật Cạnh tranh đối với hành vi hạn chế cạnh tranh, Cục quản lý cạnh tranh chỉ đảm nhận vai trò điều tra, tìm kiếm, thu thập thông tin chứng cứ có liên quan đến vụ việc; còn việc xét xử, xử lý, đưa ra quyết định, giải quyết khiếu lại vụ việc có liên quan thì do Hội đồng cạnh tranh đảm nhận. Như vậy, Hội đồng Cạnh tranh là cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh độc lập do Chính phủ thành lập, có chức năng tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh.Hội đồng Cạnh tranh có tên giao dịch viết bằng tiếng Anh: Viet Nam Competition Council, viết tắt là VCC.Hội đồng Cạnh tranh có tư cách pháp nhân, có trụ sở làm việc tại Hà Nội, có con dấu hình Quốc huy và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước. Và kinh phí hoạt động của Hội đồng Cạnh tranh do ngân sách nhà nước đảm bảo và được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công Thương.[9]

2.2.2.1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Cạnh tranh.

Hội đồng Cạnh tranh là cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh độc lập do Chính phủ thành lập, có chức năng tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế canh tranh. Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết, rõ ràng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Cạnh tranh.

Thứ nhất, về tổ chức xử lý, giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, Hội đồng Cạnh tranh có nhiệm vụ và quyền hạn:

  1. Tổ chức tiếp nhận Báo cáo điều tra và Hồ sơ vụ việc canh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định tại Điều 93 Luật Cạnh tranh năm 2004; Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
  2. Xử phạt, xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh theo quy định tại Điều 119 Luật Cạnh tranh năm 2004
  3. Yêu cầu các tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Thứ hai, về giải quyết khiếu nại, tố cáo Hội đồng Cạnh tranh có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại đối với các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh của Hội đồng Xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật cạnh tranh; giải quyết khiếu nại đối với các quyết định khác của Hội đồng Cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh, Hội đồng Xử lý vụ việc cạnh tranh, Chủ tọa Phiên điều trần theo trình tự, thủ tục của pháp luật khiếu nại.Hội đồng Cạnh tranh tham gia tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật tố tụng hành chính.

Thứ ba, Hội đồng Cạnh tranh còn thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác, như: Theo dõi việc thi hành các Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; tham gia ý kiến đối với các vãn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch ngành, lĩnh vực, văn bản hành chính có liên quan; tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh trong phạm vi thẩm quyền; tổ chức nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ sở dữ liệu, tài liệu liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyên hạn của Hội đông Cạnh tranh; hợp tác quốc tế về cạnh tranh trong phạm vi thẩm quyền…Hội đồng Cạnh tranh tổ chức và hoạt động theo Quy chế do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

2.2.2.2. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh.

Hội đồng Cạnh tranh tổ chức và hoạt động theo quy chế của Thủ tướng Chính phủ ban hành. Hội đồng Cạnh tranh có từ 11 đến 15 thành viên, bao gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên do Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng Cạnh tranh là 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại. Hội đồng Cạnh tranh có cơ quan thường trực tham mưu, giúp việc là Văn phòng Hội đồng Cạnh tranh.

Văn phòng Hội đồng Cạnh tranh có Chánh Văn phòng và không quá 03 (ba) Phó Chánh Văn phòng. Chánh Văn phòng Hội đồng Cạnh tranh là thành viên của Hội đồng Cạnh tranh.Văn phòng Hội đồng Cạnh tranh có con dấu riêng để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ Công Thương giao, được tổ chức các phòng trực thuộc.Chánh Văn phòng Hội đồng Cạnh tranh thực hiện nhiệm vụ Chủ tài khoản của Hội đồng Cạnh tranh theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công Thương. Văn phòng Hội đồng Cạnh tranh có chức năng tham mưu, giúp việc Hội đồng Cạnh tranh trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Cạnh tranh.

Để giúp việc cho Hội đồng cạnh tranh, ngày 28/8/2016 Bộ Trưởng Bộ Thương Mại ( nay là Bộ Công thương) đã ban hành quyết định số 1378/QĐ-BTM thành lập Ban thư ký Hội đồng cạnh tranh gồm từ 7-9 người hoạt động chuyên trách.

2.3. Những hạn chế trong mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh theo pháp luật hiện hành. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy pháp luật cạnh tranh có được thực thi một cách hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh (cơ quan thực thi Luật cạnh tranh). Bản chất pháp lý của Luật cạnh tranh là luật công vì vậy mà cơ quan công quyền đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính thực thi của pháp luật.

Để hoạt động hiệu quả, cơ quan quản lý cạnh tranh cần đảm bảo các yếu tố sau:

  • Phải đảm bảo hoạt động độc lập và được trao đầy đủ quyền hạn theo quy định của pháp luật;
  • Đảm bảo tính minh bạch khi thực hiện nhiệm vụ được giao;
  • Phải nhận được sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp và người tiêu dùng.

2.3.1. Bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh chưa rõ ràng.

Hiện nay cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam về cơ bản mang tính chất “hành chính”, tính “tài phán” tuy cũng đã xuất hiện trong các quy định của pháp luật nhưng vẫn còn mờ nhạt, chưa rõ ràng. Theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004, Việt Nam hiện nay duy trì mô hình hai cơ quan cạnh tranh, bao gồm: Cơ quan quản lý cạnh tranh (trực thuộc Bộ Công Thương) và Hội đồng cạnh tranh (giúp việc cho Hội đồng cạnh tranh có Văn phòng Hội đồng cạnh tranh). Bản chất pháp lý của mọi cơ quan cạnh tranh trên thế giới luôn là một cơ quan “lưỡng tính”, tức là vừa là cơ quan hành chính, đồng thời, cũng hoạt động như một cơ quan tư pháp (thông qua hoạt động điều trần, xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh). Thực tế, bản chất pháp lý của cơ quan cạnh tranh của Việt Nam hiện nay cũng là một cơ quan “lưỡng tính” tuy nhiên bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh chưa thực sự được quy định rõ ràng trong quy định của pháp luật. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Thứ nhất,Cục quản lý cạnh tranh mang đặc trưng của một cơ quan hành chính Nhà nước, nhân danh Nhà nước đảm bảo thực thi pháp luật và sử dụng pháp luật để thiết chế các quan hệ trong lĩnh vực cạnh tranh. Bằng quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh ta có thể nhìn nhận rõ ràng tính “hành chính của cơ quan này: kiểm soát quá trình tập trung kinh tế; thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đề xuất lên trình Bộ trưởng Bộ Công thương hoặc Chính Phủ; Điều tra các vụ việc cạnh tranh, xử lý hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh.

Thứ hai,Hội đồng Cạnh tranh thì thực thi hoạt động xét xử theo kiểu hành chính. Hội đồng cạnh tranh là cơ quan có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết các khiếu lại đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh. Hội đồng cạnh tranh tổ chức xử lý và quyết định xử phạt hành vi vi phạm pháp Luật Cạnh tranh. Cơ quan này tổ chức xử lý và ra quyết định theo trình tự thủ tục nhát định, có chức năng xét xử gần giống như Tòa án. Tuy nhiên quyết định của Hội đồng cạnh tranh có thể bị khiếu lại tổ cáo và đưa ra Tòa án Nhân dân huyện, thành phố và khi đó Hội đồng cạnh tranh đóng vai trò là cơ quan tham gia Tố tụng hành chính theo Luật Tố tụng hành chính ở nước ta. Nếu dựa vào quy trình tố tụng cạnh tranh mà Hội đồng Cạnh tranh thực hiện trong việc xử lý vụ việc cạnh tranh, có thể thấy tính chất tài phán của nó thông qua các biểu hiện sau:

  • Thủ tục tố tụng mang tính tranh tụng thông qua phiên điều trần để các bên liên quan có cơ hội được trình bày quan điểm và trao đổi trực tiếp với các bên tham gia tố tụng khác và cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Việc tiến hành xử lý vụ việc được thực hiện theo một trình tự tố tụng chặt chẽ, rõ ràng và mang tính tài phán chứ không chỉ là xử lý hành chính thông thường theo pháp luật xử lý vi phạm hành chính.
  • Khi quyết định xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh trong các vụ việc về cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh làm việc theo chế độ tập thể.
  • Quyết định của Hội đồng cạnh tranh không thể bị khiếu nại trong hệ thống cơ quan hành chính mà phải khởi kiện ra tòa án…

Tuy nhiên việc quy định quyết định của Hội đồng Cạnh tranh có thể bị khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại và đem ra xét xử của Tòa án đã làm cho cơ quan này vẫn chứa có đủ thẩm quyền để thực hiện quyền tài phán, tính “tư pháp” một cách toàn vẹn. Như vậy có thể thấy, mô hình quản lý cạnh tranh của Việt Nam cũng mang tính “lưỡng tính” như các mô hình quản lý cạnh tranh trên thế giới, tuy nhiên theo Luật Cạnh tranh cũng như các Nghị định có liên quan đến nhiệm vụ, chức năng quyền hạn của cơ quan quản lý cạnh tranh thì mô hình hai cơ quan cạnh tranh ở Việt Nam vẫn chưa quy định rõ ràng vào chi tiết tính “lưỡng tính” của cơ quan này. Tuy có thể nhận thấy tính lướng tính xuất hiện như bản chất vốn có của cơ quan cạnh tranh.

2.3.2. Tính độc lập của cơ quan quản lý cạnh tranh còn hạn chế. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Điều 2 Nghị định số 05/2006/NĐ-CP đã quy định Hội đồng Cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước độc lập có chức năng xử lý vụ việc cạnh tranh. Theo nghiên cứu hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam, có thể nhận thấy không có cơ quan Nhà nước nào được quy định là cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước độc lập mà chỉ có một số cơ quan có chức năng thực thi pháp luật độc lập (có Tòa án nhân dân, Kiểm toán Nhà nước) hoặc thực thi nhiệm vụ độc lập (Ủy ban giám sát tài chính quốc gia). Tương tự như vậy, quy định của Nghị định số 05/2006/NĐ-CP nên được hiểu theo nghĩa là Hội đồng Cạnh tranh tiến hành xử lý các vụ việc cạnh tranh một cách độc lập – chỉ tuân theo pháp luật, không chịu ảnh hưởng của bất cứ tổ chức, cá nhân nào (như Tòa án nhân dân) nhưng không phải là độc lập hoàn toàn – theo nghĩa không có mối quan hệ nào với các cơ quan Nhà nước khác.

Tuy nhiên theo Luật hiện hành quy định về nhiệm vụ, chức năng quyền hạn của Cục quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh còn có nhiều bất cập và hạn chế về tính độc lập.

Thứ nhất, khi xử lý một vụ việc cạnh tranh thì Cục quản lý Cạnh tranh là cơ quan có nhiệm vụ thụ lý và điều tra vụ việc cạnh tranh đó, sau khi hoàn thành quá trình điều tra sẽ chuyển sang cho Hội đồng cạnh tranh xét xử và đưa ra quyết định xử phạt theo phương thức đa số phiều bầu được quy định tại Mục IV, mục V Luật cạnh tranh năm 2004. Nếu trong quá trình thành lập hội đồng xét xử và xét xử nhận thấy có vướng mắc trong việc điều tra và thu thập chứng cứ Hội đồng cạnh tranh sẽ chuyển lại vụ việc cho Cục quản lý cạnh tranh tiếp tục điều tra. Với quy trình như trên làm cho việc xét xử của Hội đồng Cạnh tranh phải phụ thuộc rất lớp vào thời gian điều tra và kết quả điều tra. Như vậy, quyết định mà Hội đồng cạnh tranh đưa ra cũng phần nào bị ảnh hưởng, tính độc lập cũng bị hạn chế. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Thứ hai, dựa vào nội dung của Nghị định số 05/2006/NĐ-CP khó có thể khẳng định được sự độc lập của Hội đồng cạnh tranh. Việc Bộ trưởng Bộ Công thương có khả năng: đề nghị Thủ tướng bổ nhiệm, miễn nhiệm thành viên và chủ tịch Hội đồng cạnh tranh; quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban thư ký Hội đồng cạnh tranh – bộ phận giúp việc cho Hội đồng; phê duyệt quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng cạnh tranh sẽ dẫn đến khả năng chi phối đối với việc tổ chức và hoạt động của cơ quan này. Ngoài ra, kinh phí hoạt động của Hội đồng Cạnh tranh được bố trí theo dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công thương . Với những ràng buộc này, việc Hội đồng cạnh tranh hoạt động độc lập là rất khó. Trong điều kiện hiện nay, Bộ này vẫn còn đóng vai trò chủ quản của một số công ty Nhà nước quan trọng vì vậy không thể đảm bảo tính khách quan trong hoạt động của các cơ quan quản lý cạnh tranh khi điều tra các doanh nghiệp Nhà nước.

Thứ ba, việc quy định khi có khiếu nại về quyết định xử phạt của Hội đồng cạnh tranh sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại thì người nhận quyết định có thể khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại thì Tòa án sẽ là cơ quan thụ lý và Hội đồng cạnh tranh lại đóng vai trò là một chủ thể tham ra vào quá trình Tố tụng hành chính; [11] Như vậy quyết định xử lý vi phạm của Hội đồng cạnh tranh không phải là quyết định tối cao, quyết định đó có thể bị ảnh hưởng từ các tác nhân, cơ quan khác và thay đổi; tính độc lập cũng bị hạn chế.

Theo kinh nghiệm có được từ việc nghiên cứu mô hình cạnh tranh các nước trên thế giới, các luận thuyết nền tảng của pháp luật cạnh tranh đã khẳng định rằng tính độc lập và tự quyết tạo nền tảng vững chắc cho các cơ quan quản lý cạnh tranh hoạt động độc lập và có hiệu quả. Tuy nhiên, nhìn vào pháp luật cạnh tranh hiện hành của nước ta, tính độc lập của cơ quan cạnh tranh còn nhiều hạn chế và bất cập cần phải xem xét và sửa đổi; để tăng cường hiệu quả hoạt động của cơ quan cạnh tranh nói riêng và tăng cường hiệu quả thực thi của Luật cạnh tranh.

2.3.3. Tính chuyên môn của cơ quan quản lý cạnh tranh chưa cao.

So với nhiều quốc gia trên thế giới, cơ quan quản lý cạnh tranh của nước ta thành lập chưa lâu và còn non trẻ; hầu hết các cán bộ của Cục cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh còn non trẻ về tuổi đời và tuổi nghề nên còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn. Trong khi đó, yêu cầu đối với cán bộ quản lý cạnh tranh phải có sự am hiểu tổng quát nhiều lĩnh vực hoặc có kiến thức toàn diện về kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực còn hạn chế, tính chuyên môn chưa cao là một thách thức khiến việc thực thi pháp luật cạnh tranh chưa được hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Mặt khác, có thể nhận thấy, mô hình hai cơ quan thực thi với sự phân tán nguồn lực khiến cho việc giải quyết vụ việc cạnh tranh chưa được tập trung, kết quả giải quyết vụ việc luôn đi sau và không đáp ứng được yêu cầu của thị trường.

Hơn nữa, về phía Cục Quản lý cạnh tranh, việc cùng lúc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật trong cả 03 lĩnh vực, gồm (i) cạnh tranh; (ii) bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; và (iii) phòng vệ thương mại đã khiến cho nguồn lực bị phân tán. Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay đang cùng một lúc đảm nhiệm quá nhiều chức năng, từ điều tra xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, điều tra các hành vi hạn chế cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng đến quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế. Có một thực tế là không một cơ quan quản lý cạnh tranh nào trên thế giới được quy định nhiều chức năng, đặc biệt là bao gồm cả các chức năng thực thi pháp luật về các biện pháp đảm bảo công bằng trong thương mại quốc tế như Việt Nam. Điều này đã dẫn đến tình trạng quá tải cho hoạt động của Cục quản lý cạnh tranh trong thời gian qua. Hơn nữa, trong hoạt động điều tra vụ việc cạnh tranh luôn có tính chất phức tạp, do đó, việc điều tra vụ việc cạnh tranh mang tính kỹ thuật, đòi hỏi cán bộ thực thi phải tập trung và có chuyên môn cao. Sự hạn chế và phân tán về nguồn lực như hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho quá trình điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh chưa hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

Còn về phía Hội đồng cạnh tranh, cơ chế kiêm nhiệm trong hoạt động của các thành viên Hội đồng cạnh tranh đã dẫn đến sự thiếu tập trung trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh. Hầu hết thành viên Hội đồng cạnh tranh đều là các lãnh đạo, cán bộ đương nhiệm của các Bộ, ngành khác nhau, được bổ nhiệm kiêm giữ các chức danh pháp lý tại Hội đồng cạnh tranh. Do vậy, trong quá trình công tác, các thành viên Hội đồng cạnh tranh buộc phải cân đối, đảm bảo hiệu quả công tác ở cả cơ quan đương nhiệm và ở cả Hội đồng cạnh tranh. Với tính chất phức tạp của vụ việc cạnh tranh, cơ chế hoạt động kiêm nhiệm của Hội đồng cạnh tranh là chưa hợp lý, dẫn đến thiếu tập trung, thiếu kịp thời trong giải quyết vụ việc cạnh tranh.

Trên thực tế, hoạt động của Hội đồng cạnh tranh trong thời gian qua khá mờ nhạt, dường như luôn phụ thuộc vào Cục Quản lý cạnh tranh. Số lượng vụ việc hạn chế cạnh tranh đã xử lý dừng ở mức khiêm tốn, phụ thuộc vào số lượng hồ sơ vụ việc mà Cục Quản lý cạnh tranh chuyển sang và Hội đồng chỉ có chức năng xử lý chứ không có chức năng điều tra.

Sau 14 năm thành lập thì hiện nay số lượng nhân viên trong cơ quan quản lý cạnh tranh cũng đã tương đối ổn định, đủ để thực hiện nhiệm vụ hiện tại. Tuy nhiên các quan hệ cạnh tranh trong môi trường thị trường kinh doanh tự do ngày càng phức tạp. Để có thể nhìn nhận và giải quyết vấn đề của các mối quan hệ đó cần những con người có kiến thức chuyên môn cao nhưng số lượng chuyên gia trong lĩnh vực cạnh tranh còn khá ít. Vì vậy vấn đề cải chất lượng nhân lực cũng là vấn đề cần lưu tâm. Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464