Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Một số kiến nghị nhắm hoàn thiện hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Thường trực Ủy ban Kinh tế nhận thấy, để bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật về cạnh tranh phải xây dựng cơ quan cạnh tranh chuyên nghiệp, độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ, có đủ năng lực và thẩm quyền trong việc xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật. Cơ quan cạnh tranh vừa là cơ quan thực hiện chức năng tham mưu trong quản lý nhà nước về cạnh tranh, vừa là cơ quan thực hiện nhiệm vụ điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh và kiểm soát tập trung kinh tế”. [19]
3.1. Làm rõ bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh.
Việc xác định bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề quyết định các yếu tố khác của cơ quan này, như: tên gọi, mô hình tổ chức, vị trí, chức năng, nhiệm vụ,… Hiện nay, cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam về cơ bản mang tính “hành chính”, tính “tài phán” còn mờ nhạt (CQLCT có một phần chức năng điều tra còn HĐCT thực thi hoạt động xét xử theo kiểu hành chính). Rõ ràng, cơ quan quản lý cạnh tranh cần mang bản chất pháp lý là sự kết hợp của đặc điểm “hành chính” và “tài phán”. Việc xác định bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh như trên có ưu thế là, một mặt vừa đảm bảo vai trò điều tiết của Chính phủ đối với nền kinh tế, mặt khác sẽ tạo các điều kiện tối ưu để bảo đảm các quyền và tự do của các doanh nghiệp với tư cách là đối tượng áp dụng chủ yếu của LCT. Bản chất “lưỡng tính” (vừa là một cơ quan hành chính vừa là một cơ quan tư pháp) tỏ ra là một phương án có thể giải quyết được các bất cập của việc quy định cơ quan quản lý cạnh tranh chỉ là cơ quan hành chính hay chỉ là cơ quan tài phán.” [19]
3.2. Cơ cấu lại hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh.
Qua nghiên cứu và rút kinh nghiệm từ tổ chức mô hình cơ quan cạnh tranh của các nước trên thế giới. Cùng với sự nhận thấy những bất cập trong Cơ quan cạnh tranh của nước ta. Vậy muốn hoạt động hiệu quả pháp luật cạnh tranh cần được sửa đổi. Sau đây là một số ý kiến cơ bản về việc cơ cấu lại hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh. Dựa vào đặt điểm của nền kinh tế – chính trị – xã hội của Việt Nam hiện nay, mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh phù hợp là mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh là cơ quan ngang Bộ. Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
Một là, “với địa vị pháp lý như hiện nay, cơ quan cạnh tranh rất khó để điều tra, xử lý đối với vi phạm của các cơ quan quản lý nhà nước cấp tương đương. Thậm chí, trường hợp Thông tư do các Bộ ban hành có quy định trái với Luật Cạnh tranh, một cơ quan thuộc Bộ như Cơ quan quản lý cạnh tranh lại càng khó khăn hơn trong việc ứng xử đối với các cơ quan quản lý nhà nước có địa vị pháp lý cao hơn”. [1] Hơn nữa, cơ quan quản lý cạnh tranh muốn hoạt động hiệu quả cần đảm bảo tính độc lập trong hoạt động của cơ quan này. Độc lập không có nghĩa là phải đứng độc lập, riêng rẽ về mặt tổ chức, không trực thuộc cơ quan chủ quản nào mà là độc lập về hoạt động cũng như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và độc lập trong đưa ra quyết định;quan niệm độc lập trên thế giới là phải đứng độc lập với doanh nghiệp chứ không phải là về mặt tổ chức trong hệ thống cơ quan chính quyền. Ở nước ta, khi Bộ vẫn là cơ quan chủ quản của một số doanh nghiệp Nhà nước thì việc xây dựng cơ quan quản lý cạnh tranh ngang Bộ ở Việt Nam là điều cần thiết để thể hiện được vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt vốn có của cơ quan này, độc lập không chịu tác động từ các cơ quan trực thuộc Nhà nước. Hiện nay, hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh chủ yếu được thể hiện trong hoạt động điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh. Trong điều kiện các doanh nghiệp nhà nước đang giữ các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; do đó, đối tượng điều tra của cơ quan quản lý cạnh tranh có thể sẽ là các tổng công ty nhà nước, các tập đoàn kinh tế lớn và thậm chí là cả các cơ quan quản lý nhà nước. Nếu không có một vị thế đủ mạnh thì cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ không thể thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình. Mặt khác, cơ cấu tổ chức thuộc Chính phủ sẽ giúp đảm bảo tính độc lập, khách quan và vị thế của cơ quan cạnh tranh trong điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, đặc biệt là những vụ việc liên quan đến doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Nhà nước, hành vi bị cấm của cơ quan quản lý nhà nước, hay thậm chí là những vụ việc cạnh tranh diễn ra bên ngoài lãnh thổ nhưng có ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường Việt Nam.
Hai là, “việc thành lập một cơ quan quản lý cạnh tranh độc lập của Chính phủ cũng sẽ tạo điều kiện cho việc huy động nguồn thu ngân sách thông qua hoạt động một cách độc lập, tăng thêm tính tự chủ của cơ quan quản lý cạnh tranh”.[12] Kinh nghiệm tách bộ, ngành, tái cơ cấu được thực thi trong những năm gần đây cho thấy việc thiết lập một cơ quan ngang bộ về mặt thể chế, có cơ cấu gọn nhỏ trong giai đoạn đầu, có cơ chế huy động ngân sách hoạt động cụ thể là khả thi.
Ba là, vị trí độc lập của một cơ quan ngang bộ giúp đảm bảo và thúc đẩy việc tập trung chuyên môn, tính công khai, minh bạch và khả năng chịu trách nhiệm và giải trình của cơ quan này. Tự chủ về quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm cũng như đào tạo nhân sự, tự chủ về ngân sách hoạt động bảo đảm cho cơ quan quản lý cạnh tranh có thực quyền cao hơn đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà số vụ kiện về các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tăng lên một cách đáng kể. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển trên thế giới như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada, Úc… nơi cơ quan quản lý cạnh tranh đều có vị trí độc lập và quyền tự chủ, hoạt động rất hiệu quả. Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
Theo thống kê của Bộ Công thương, trong số 90 cơ quan quản lý cạnh tranh hiện nay trên thế giới, không còn nước nào tồn tại mô hình hai cơ quan, một chịu trách nhiệm về điều tra, một chịu trách nhiệm về xử lý như Việt Nam. Thực tế cũng cho thấy điểm yếu lớn nhất của mô hình hai cơ quan như Việt Nam (hiện nay) là do các thành viên của các cơ quan xử lý không theo sát được quá trình điều tra vụ việc làm cho quá trình điều tra, xét xử và ra quyết định không có sự liên kết chặt chẽ và tính chính xác cao. Do đó, có thể nhận thấy rằng, việc hợp nhất hai cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam hiện nay thành một cơ quan duy nhất sẽ mang lại nhiều lợi ích, khắc phục được những nhược điểm còn tồn tại, phù hợp với xu hướng chung của các nước trên thế giới. Như vậy, cơ quan quản lý cạnh tranh mới này sẽ là sự hợp nhất của Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh, mang tính chất cơ quan ngang Bộ. Trong cơ quan này phải tách riêng bộ phận điều tra và bộ phận xử lý vụ việc độc lập với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng phải kết hợp trong việc xử lý vụ việc, nhân sự hoạt động theo chế độ chuyên trách nay.
3.3. Xác định lại Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh. Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
- Về chức năng và nhiệm vụ:
Thứ nhất, cơ quan quản lý cạnh tranh mới sẽ thực hiện các hoạt động liên quan đến việc điều tra, xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng. Chức năng khác hiện nay của Cục quản lý cạnh tranh liên quan đến chống bán phá giá, chống trợ cấp, và tự vệ nên trao cho Bộ Công thương chịu trách nhiệm, vì: mặc dù pháp luật cạnh tranh và pháp luật chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ có những nguyên tắc chung nhưng đối tượng điều chỉnh của chúng là hoàn toàn khác nhau. Pháp luật cạnh tranh điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh, trình tự thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh (đối tượng áp dụng của nó là các doanh nghiệp, hiệp hội đang hoạt động tại thị trường nội địa) còn pháp luật chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ lại nhắm đến các hàng hoá của các doanh nghiệp nước ngoài được nhập khẩu vào thị trường nội địa. Trên thực tế không có bất kỳ quốc gia nào xây dựng mô hình giao cho một cơ quan thực hiện cùng lúc hai chính sách này. Cơ quan quản lý cạnh tranh của các nước thường thuộc bộ, Chính phủ hay Quốc hội còn cơ quan quản lý chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ lại thuộc Bộ Kinh tế, Thương mại hoặc Công thương.
Thứ hai, có ý kiến cho rằng nên trao chức năng xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cho Tòa án. Có thể thấy, với tình hình chuyên gia, chuyên viên về cạnh tranh hiện nay còn thiếu và yếu, tính chuyên môn chưa cao, thì chỉ riêng hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh đã thiếu và chưa có chất lượng cao, trình độ am hiểu pháp luật cạnh tranh của các thẩm phán Việt Nam còn thấp. Luật Cạnh tranh đi vào thực tế nước ta chưa lâu và số vụ việc cạnh tranh còn chưa nhiều nên trong thời gian đầu, việc giữ thẩm quyền điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh nên do cơ quan quản lý cạnh tranh xử lý. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, số lượng các vụ việc liên quan đến cạnh tranh tăng cao và trình độ chuyên môn về pháp luật cạnh tranh của các thẩm phán đã được nâng cao thì nên trao chức năng này cho Tòa án. Điều này cũng để phù hợp với bản chất của các hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh; nâng cao chất lượng thực thi các quyết định của cơ quan giải quyết vụ việc; cơ quan quản lý cạnh tranh không bị quá tải và thực hiện tốt nhiệm vụ điều tiết quy luật cạnh tranh của thị trường và có thể tập trung cho lĩnh vực hạn chế cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bên cạnh đó, mục đích của Luật Cạnh tranh là bảo đảm quyền cạnh tranh bình đẳng của doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nên có chung mục đích với pháp luật bảo vệ người tiêu dùng. Hơn nữa, người tiêu dùng có mối quan hệ với các doanh nghiệp, đặc biệt là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Do đó, cơ quan cạnh tranh mới vẫn nên giữ nguyên chức năng là cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
- Về thẩm quyền: có thể trao cho cơ quan quản lý cạnh tranh mới những thẩm quyền sau đây:
Thứ nhất, hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh; tư vấn cho Quốc hội, Chính phủ trong việc ban hành các văn bản quy phạm điều tiết cạnh tranh; tư vấn cho các hiệp hội ngành nghề, hiệp hội người tiêu dùng, các doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý cạnh tranh liên quan đến lợi ích của họ;
Thứ hai, điều tra, khảo sát lập báo cáo hàng năm về tình trạng cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế;
Thứ ba, kiến nghị thay đổi, sửa đổi, huỷ bỏ những quy định pháp luật không phù hợp, trái với nguyên tắc cạnh tranh hay gây ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh và quyền lợi người tiêu dùng;
Thứ tư, phát hiện và kiến nghị các cơ quan liên quan bãi bỏ các chính sách làm cản trở đến môi trường cạnh tranh;
Thứ năm, yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, chứng cứ trong quá trình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh.
3.4. Đổi mới nhân sự và cơ chế hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh. Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
Thứ nhất về đổi mới nhân sự, để bảo đảm tính chuyên nghiệp và có hiệu quả của cơ quan quản lý cạnh tranh, nên thay đổi cách thức, quy trình bổ nhiệm nhân sự cơ quan quản lý cạnh tranh mới như sau:
Các thành viên quản lý của cơ quan quản lý cạnh tranh mới (Chủ tịch và các Phó Chủ tịch) sẽ do Thủ tướng bổ nhiệm nhưng nguồn bổ nhiệm ngoài các bộ có thể mở rộng thêm ở các chuyên gia pháp luật cạnh tranh, thương mại, kinh tế. Điều kiện được bổ nhiệm đối với những thành viên này có sự tiếp thu những điều kiện của thành viên Hội đồng cạnh tranh theo pháp luật hiện nay, như: có kiến thức, am hiểu về pháp luật cạnh tranh, pháp luật thương mại và kinh tế; am hiểu về kỹ năng điều tra xử lý trong vụ việc cạnh tranh là một lợi thế; có tầm ảnh hưởng và uy tín nhất định trong lĩnh vực khoa học pháp lý hay kinh tế, tài chính; có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, khách quan, có tinh thần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; có trình độ cử nhân luật hoặc cử nhân kinh tế, tài chính trở lên; có thời gian công tác thực tế ít nhất là 9 năm thuộc một trong các lĩnh vực nói trên; có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các thành viên này là công chức hoặc viên chức, làm việc chuyên trách. Nhiệm kỳ của họ là 5 năm hoặc 7 năm và có thể được tái bổ nhiệm.
Đối với nhân viên các bộ phận của cơ quan quản lý cạnh tranh thì tổ chức thi tuyển như Cục quản lý cạnh tranh hiện nay là hợp lý. Người đứng đầu các bộ phận của cơ quan quản lý cạnh tranh có thể được bổ nhiệm bởi Thủ tướng trên cơ sở đề nghị của người đứng đầu cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc được tuyển dụng công khai.
Thứ hai, đổi mới về cơ chế hoạt động: Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
Một là, “dễ dàng nhận thấy một trong những nhiệm vụ và chức năng của Cục quản lý cạnh tranh là thụ lý, tổ chức điều tra các vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh để Hội đồng cạnh tranh xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, sau khi thụ lý và điều tra, Cục quản lý cạnh tranh sẽ phải chuyển vụ việc sang Hội đồng cạnh tranh để tiến hành xử lý vi phạm. Trong khi đó, Hội đồng cạnh tranh lại được thành lập và hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm, liên ngành đã dẫn đến sự thiếu tập trung trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh. Hầu hết thành viên Hội đồng cạnh tranh đều là các lãnh đạo, cán bộ đương nhiệm của các Bộ, ngành khác nhau, được bổ nhiệm kiêm giữ các chức danh pháp lý tại Hội đồng cạnh tranh. Do vậy, trong quá trình công tác, các thành viên Hội đồng cạnh tranh buộc phải cân đối, đảm bảo hiệu quả công tác ở cả cơ quan đương nhiệm và ở cả Hội đồng cạnh tranh. Với tính chất phức tạp của vụ việc cạnh tranh, cơ chế hoạt động kiêm nhiệm của Hội đồng cạnh tranh là chưa hợp lý, dẫn đến thiếu tập trung, thiếu kịp thời trong giải quyết vụ việc cạnh tranh. Đồng thời, với cơ cấu Hội đồng cạnh tranh như hiện nay, khi vụ việc cạnh tranh xảy ra trong ngành, lĩnh vực có đại diện Bộ, ngành đó là thành viên Hội đồng cạnh tranh, thì việc xử lý vụ việc cạnh tranh khó đảm bảo tính độc lập, khách quan do có sự mâu thuẫn, xung đột về lợi ích”. [2]
Hai là, Xây dựng cơ chế rà soát, giải quyết các khiếu kiện liên quan đến các quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh.Theo quy định của pháp luật hiện nay, Hội đồng Cạnh tranh sẽ xem xét lại những quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc khi có yêu cầu và nếu không đồng ý với kết quả xử lý của Hội đồng cạnh tranh thì các bên có thể khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Như đã phân tích, với điều kiện còn thiếu chuyên gia về pháp luật cạnh tranh hiện nay ở nước ta, trình độ am hiểu pháp luật cạnh tranh của cán bộ, công chức còn thấp thì việc giao cho Tòa án xem xét lại quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh là không hợp lý. Kinh nghiệm các nước trên thế giới đã cho thấy yêu cầu chuyên môn cao trong hoạt động đã buộc họ phải xây dựng một bộ phận thuộc Toà án tối cao chuyên giải quyết các khiếu kiện liên quan đến quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh và đào tạo các chuyên gia cũng như thẩm phán có trình độ cao để thực hiện những công việc này. Ở nước ta, trong cơ quan quản lý cạnh tranh nên xây dựng một bộ phận riêng hay một bộ phận nằm trong bộ phận xử lý các vụ việc cạnh tranh để rà soát, giải quyết các khiếu kiện liên quan đến quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh. Nếu các bên không đồng ý với kết quả xử lý khiếu kiện của cơ quan quản lý cạnh tranh, thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện (vụ án hành chính) liên quan đến các quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh giao cho Tòa án tối cao hoặc thành lập một Tòa riêng biệt để xử lý những vụ việc này. Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
Ba là, xây dựng cơ chế tham khảo ý kiến trước.Hiện nay, Cục quản lý cạnh tranh mới chỉ được quy định chức năng tham vấn đối với những văn bản đã ban hành tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ, nên xây dựng thêm cơ chế tham khảo ý kiến trước (đối với những văn bản pháp luật sắp ban hành) trước khi các cơ quan Chính phủ có kế hoạch ban hành hay sửa đổi các luật và quy định có ảnh hưởng đến cạnh tranh, kể cả khi các cơ quan này muốn áp dụng các biện pháp hành chính có bản chất tương tự. Trong quá trình tham khảo ý kiến, cơ quan cạnh tranh chủ yếu xem xét các khía cạnh liên quan đến các hạn chế gia nhập thị trường, duy trì giá bán… cũng như đề xuất ý kiến, giải quyết các hạn chế trong dự thảo và chính sách này. Có thể thấy, cơ chế này sẽ giúp hạn chế tình trạng các văn bản, chính sách trái, không phù hợp với pháp luật cạnh tranh cũng như tiết kiệm thời gian, tài chính để không phải khắc phục, giải quyết các hậu quả do các văn bản này gây ra sau khi được ban hành.
Bốn là, Xây dựng cơ chế hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tiết kiệm chi phí, nhân lực cho bộ phận điều tra. Có thể thấy, đội ngũ điều tra viên là yếu tố rất quan trọng cho hiệu quả của công tác điều tra của cơ quan quản lý cạnh tranh. Hoạt động của họ mang nhiều yếu tố đặc thù (thời gian điều tra một vụ việc có thể kéo dài từ 6 tháng đến 2 năm, các vụ việc mang tính đa ngành cao,…). Vì vậy, pháp luật nên quy định trước khi ra quyết định điều tra chính thức một hành vi cạnh tranh, điều tra viên phải đưa ra lập luận của mình trước các thành viên của bộ phận điều tra của cơ quan quản lý cạnh tranh và người phụ trách quản lý hành chính về lĩnh vực vụ việc cạnh tranh. Điều đó sẽ giảm thiểu được các trường hợp xin điều tra bổ sung hay kịp thời đình chỉ điều tra các trường hợp cần thiết. Quy định này sẽ tiết kiệm kinh phí, thời gian, mang lại sự hiệu quả cao cho bộ phận điều tra cũng như nâng cao vai trò của điều tra viên. Hơn nữa, nó cũng nhằm tạo ra sự gắn bó, theo sát vụ việc của bộ phận điều tra và bộ phận xử lý nhằm làm cho hiệu quả của việc xử lý được nâng cao. Để đạt được điều này, phải thay đổi pháp luật cạnh tranh một cách toàn diện, chú trọng đào tạo điều tra viên và hoàn thiện quy chế tài chính đối với hoạt động điều tra. Những phương hướng hoàn thiện mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh mới cho Việt Nam là phù hợp với những quan điểm định hướng phát triển chung hiện nay. Tuy nhiên, cơ quan quản lý cạnh tranh là một thiết chế phức tạp, mang nhiều tính đặc thù và có vị trí quan trọng nên việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cơ quan này cần có những đầu tư, tìm tòi và phát triển hơn nữa.
KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
Cơ quan quản lý cạnh tranh là cơ quan thực thi pháp Luật Cạnh tranh của nước ta hiện nay. Trong bối cảnh, các hành vi cạnh tranh xuất hiện trong xã hội ngày càng mạnh mẽ và phức tạp Pháp luật cạnh tranh nói chung và Cơ quan quản lý cạnh tranh nói riêng đang ngày càng bộc lộ nhiều bất cập. Nghiên cứu cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, khóa luận tìm hiểu sơ lược lịch sử hình thành và phát triển cơ quan quản lý cạnh tranh, mô hình cơ quan cạnh tranh trên thế giới, làm rõ những quy định của pháp luật về cơ quan quản lý cạnh tranh: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức; những vẫn đề lý luận và thức tiễn thi hành.
Từ đó, bài nghiên cứu tìm ra những thiếu sót, bất cập của mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh hiện nay. Đồng thời đưa ra một số kiến nghị điều chỉnh, sửa đổi mô hình cơ quan cạnh tranh hiện nay, góp phần đóng góp ý kiến trong Dự thảo Luật cạnh tranh sửa đổi đang trong giai đoạn trưng cầu ý kiến và soạn thảo. Khóa luận: Hoàn thiện cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam