Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia. Với áp lực phát triển kinh tế xã hội, biến đổi khí hậu làm cho thế giới ngày càng nóng lên khiến băng ở hai cực tan ra, mực nước biển tăng cao nhấn chìm một bộ phận đất đai không nhỏ cộng thêm sự bùng nổ dân số và hiện trạng sử dụng đất như hiện nay có thể thấy nguồn tài nguyên đất đai ngày càng suy thoái, khan hiếm. Do đó, việc phân bổ, sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm hiệu quả cao; bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước luôn là vấn đề xuyên suốt trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, việc tạo lập, quản lý và phát triển quỹ đất để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội là việc làm vô cùng quan trọng. Nhịp độ phát triển ngày càng lớn thì nhu cầu quỹ đất càng cao và trở thành thách thức lớn đối với sự thành công không chỉ là trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong lĩnh vực chính trị, xã hội trên phạm vi quốc gia. Vấn đề quản lý quỹ đất trở thành điều kiện tiên quyết của sự phát triển, nó đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức từ nhiều phía: Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và mọi công dân.

Không nằm ngoài quy luật trên, Việt Nam với đặc thù là một nước đang phát triển, trong điều kiện hiện nay chúng ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu trở thành nước công nghiệp. Vì thế, nhu cầu về xây dựng các công trình phục vụ các lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng ngày càng gia tăng… Để đạt được những mục tiêu trên thì vấn đề tạo lập và quản lý quỹ đất là một bài toán đang đặt ra cho các cơ quan chức năng.

Trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều quyết sách và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều các quy định pháp luật về quản lý quỹ đất để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cho đến nay hệ thống các quy định pháp luật về quản lý quĩ đất nhằm phát triển kinh tế – xã hội ở Việt nam còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế như: Quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; tài chính về đất đai và giá đất; quy định về quản lý, khai thác quỹ đất; quy định về giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý quỹ đất làm cho việc quản lý quỹ đất trên phạm vi toàn quốc kém hiệu quả. Quản lý quỹ đất ở nhiều địa phương bị buông lỏng, thậm chí thả nổi dẫn đến đã có nhiều vụ việc tiêu cực xảy ra làm thất thoát quỹ đất, đất đai được sử dụng không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, lãng phí, kém hiệu quả làm ảnh hưởng không nhỏ đến thực hiện kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, cũng như của các địa phương.

Từ thực tế trên, việc nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam là một vấn đề cấp thiết. Do vậy, tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội” với mong muốn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý quỹ đất để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; làm rõ thực trạng các quy định pháp luật về quản lý quỹ đất cũng như thực tiễn thực hiện các quy định này, từ đó đề xuất định hướng cũng như những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý quỹ đất để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vấn đề quản lý về đất đai nói chung cũng như vấn đề quản lý quỹ đất nói riêng, có thể kể đến các công trình sau: Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Xuân Phi năm 2011 “Quản lý nhà nước đối với quỹ đất Thành phố Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Văn Xuyền năm 2012 “Thực tiễn thi hành pháp luật về Quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”, Luận án Tiến sỹ Luật học của Phạm Thu Thủy năm 2014 “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ của Vũ Thị Hường năm 2015 “Đánh giá công tác tạo quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội tại Thành Phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”…

Tuy nhiên, các tác giả trên chưa nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về pháp luật quản lý quỹ đất để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.

3. Mục đích nghiên cứu của Luận văn

Luận văn phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam; Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý quỹ đất để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam; làm rõ các vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam để từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong các quy định pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta. Từ kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, kết quả phân tích, đánh giá thực trạng, Luận văn đề xuất định hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật, nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Luận văn tập trung nghiên cứu các quan hệ pháp luật phát sinh trong hoạt động quản lý quỹ đất, các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quan hệ pháp luật, các quy định pháp luật về quản lý quĩ đất phục vụ phát triển kinh tế – hội ở Việt Nam giai đoạn sau khi luật đất đai 2003 có hiệu lực cho đến nay.

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật lịch sử và duy vật biện chứng; sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp; sử dụng nguồn số liệu từ phương pháp thu thập qua các tài liệu, sách, báo, các báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường; nghiên cứu cơ sở lý luận, nghiên cứu đánh giá thực trạng các quy định pháp luật kết hợp với nghiên cứu, phân tích thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta, từ đó đưa ra những định hướng, đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài luận văn đặt ra.

6. Những đóng góp mới của đề tài Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu có hệ thống những quy định pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam giai đoạn từ sau khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực cho đến nay.

Về mặt lý luận: Luận văn phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý quỹ đất và pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; xác định nhu cầu, nội dung điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế- xã hội ở nước ta.

Về mặt thực tiễn: Luận văn chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về quản lý quỹ đất ở Việt Nam, qua đó đưa ra định hướng, giải pháp thích hợp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế- xã hội nhằm phát huy tốt nhất tiềm năng của đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.

7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu , kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý quỹ đất và pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý qũy đất và pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

1.1. Quan niệm về quỹ đất và quản lý qũy đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

1.1.1. Quan niệm về quĩ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội

Quỹ đất là toàn bộ diện tích đất đai tự nhiên của quốc gia được Nhà nước phân bổ và sử dụng vào các mục đích khác nhau để đáp ứng nhu cầu về các mặt của xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định.

Quỹ đất của một quốc gia là một nguồn lực tự nhiên cần phải được bảo vệ và sử dụng một cách tiết kiệm, có hiệu quả, đặc biệt là đất đai tốt, có giá trị làm tăng thêm của cải cho xã hội.

Quỹ đất được xác định theo lãnh thổ (theo địa giới hành chính cả nước, tỉnh, huyện, xã); theo người sử dụng đất (bao gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất); theo loại đất (bao gồm mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Quỹ đất có thể được phân chia theo mục đích sử dụng và hình thành nên cơ cấu quỹ đất. Sự thay đổi cơ cấu quỹ đất trong tổng thể quỹ đất tự nhiên có ý nghĩa rất quan trọng, nói lên những xu thế phát triển của đất nước trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời cũng thể hiện trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào nền sản xuất xã hội của quốc gia [22].

Từ những khái niệm trên, Qũy đất phục vụ phát triển kinh tế- xã hội sẽ bao gồm quỹ đất được xác định sử dụng vào các mục đích phát triển kinh tế – xã hội theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện; đất được nhận chuyển nhượng, thu hồi từ các tổ chức, cá nhân để đáp ứng nhu cầu khi Nhà nước sử dụng thực hiện các dự án quan trọng của quốc gia, địa phương; dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu đô thị mới; xây dựng trụ sở các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội; công trình di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh được xếp hạng; các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật; các công trình sự nghiệp công… do Nhà nước hoặc giao cho các tổ chức, cá nhân tiến hành nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

1.1.2. Quan niệm về quản lý qũy đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội

Quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội: Được hiểu là hoạt động quản lý quỹ đất dự trữ đã tạo lập được trong một thời gian thích hợp, để đáp ứng khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng cho các dự án, công trình phát triển kinh tế – xã hội hoặc khi có điều kiện thị trường phù hợp thì cung ứng ra thị trường thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu các công trình gắn liền với quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo giá trị và giá trị gia tăng của đất đai. Các hoạt động quản lý và phát triển quỹ đất phải tuân thủ pháp luật và quy trình có liên quan đến sử dụng đất [22].

Ở nước ta hiện nay, hoạt động quản lý quỹ đất được giao cho Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức phát triển quỹ đất ở cấp tỉnh và cấp huyện. Trong đó, Tổ chức phát triển quỹ đất được quy định là cơ quan có vai trò quan trọng trong thực hiện quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ: “Tổ chức phát triển quỹ đất là đơn vị sự nghiệp công được thành lập theo quy định của pháp luật về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và được mở tài khoản để hoạt động theo quy định của pháp luật; có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Đối với địa phương đã có Tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh và cấp huyện thì tổ chức lại Tổ chức phát triển quỹ đất trên cơ sở hợp nhất Tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh và cấp huyện hiện có. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Tổ chức phát triển quỹ đất có chức năng tạo lập, phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất; tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất và thực hiện các dịch vụ khác”.

Theo khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch số: 16/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04 tháng 04 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường – Bộ Nội vụ – Bộ Tài Chính về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Trung tâm phát triển quỹ đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường quy định: “Trung tâm phát triển quỹ đất là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, có chức năng tạo lập, phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất; tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất và thực hiện các dịch vụ khác trong lĩnh vực đất đai”.

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến năm 2015, hiện cả nước đã có 62/63 tỉnh thành thành lập Tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh. Trong đó, có 8 đơn vụ trực thuộc UBND tỉnh và 54 đơn vị trực thuộc Sở TN&MT. Ngoài ra, có 338/708 huyện, quận, thị xã thành lập tổ chức này trực thuộc UBND huyện. Mô hình tổ chức, bộ máy thực hiện theo đúng Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Việc sắp xếp, thành lập các trung tâm phát triển quỹ đất theo khu vực được nghiên cứu thực hiện đảm bảo ổn định tương đối về tổ chức và việc thực hiện các nhiệm vụ [12].

1.2. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động quản lý qũy đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia. Trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây nhu cầu tạo lập, phát triển quỹ đất cho các mục đích mở mang phát triển đô thị, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội, cộng thêm áp lực từ biến đổi khí hậu, sự bùng nổ dân số và hiện trạng sử dụng đất có tính tự phát như hiện nay có thể thấy quỹ đất ngày càng bị thu hẹp.

Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Quy định trên của Hiến pháp cho thấy quản lý nhà nước về đất đai là một nguyên tắc hiến định. Mọi tổ chức, cá nhân, và cả các cơ quan nhà nước đều phải tuân thủ nguyên tắc ấy. Tất cả văn bản pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn như các đạo luật, luật, văn bản dưới luật đều nhằm cụ thể hóa hiến pháp và không được trái với hiến pháp.

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có Nhà nước.

Một trong những chức năng của pháp luật là chức năng điều chỉnh. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: Một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội; mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Như vậy, pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Vấn đề tạo lập, phát triển và quản lý quỹ đất để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta yêu cầu phải có sự tính toán, phân bổ hợp lý để sử dụng tối đa hiệu quả từ nguồn lực đất đai. Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật, cần phải có nguyên tắc xử sự bắt buộc, được làm gì, không được làm gì và làm như thế nào để hướng các quan hệ quản lý quĩ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội theo một trật tự nhất định, không thể để các quan hệ này phát sinh, phát triển một cách tự phát. Như vậy, rõ ràng vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các hoạt động quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta là rất quan trọng. Cụ thể, bao gồm các nội dung điều chỉnh chủ yếu sau:

  • Một là, xác định rõ chủ thể, thẩm quyền trong thực hiện quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội;
  • Hai là, quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội;
  • Ba là, quy định các nội dung cụ thể trong quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội;
  • Bốn là, quy định về trình tự, thủ tục trong thực hiện các hoạt động quản lý quĩ đất.

1.3. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

1.3.1. Khái niệm pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội

Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội là một bộ phận của pháp luật đất đai và pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai, bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của cả nước cũng như của từng địa phương nhằm mục đích sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, đạt hiệu quả kinh tế cao; thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

1.3.2. Đặc điểm của pháp luật về quản lý quĩ đất phục vụ phát triển kinh tế- xã hội

Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội là một bộ phận của pháp luật đất đai cũng như là một bộ phận của pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai. Theo đó, pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội có những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật: Căn cứ Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật đất đai, Chính phủ ban hành các Nghị định, các Bộ, ngành ban hành các Thông tư, văn bản hướng dẫn thi hành, Ủy ban nhân dân các cấp (Tỉnh, huyện) ban hành các Quyết định, quy định về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Thứ hai, Chủ thể của pháp luật quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội gồm Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai như Sở Tài nguyên – Môi trường ở cấp tỉnh, Phòng tài nguyên – Môi trường ở cấp huyện; Tổ chức phát triển quỹ đất ở cấp tỉnh, cấp huyện; Công chức địa chính ở cấp xã.

Thứ ba, đối tượng và phạm vi điều chỉnh: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực tạo lập quỹ đất; phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất: xác định quỹ đất dành cho phát triển kinh tế – xã hội thông qua hoạt động xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; thu hồi đất, giải phóng mặt bằng; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; giao đất, cho thuê đất  và những quan hệ pháp luật khác liên quan đến việc quản lý quỹ đất phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Thứ tư, điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội là hoạt động mang tính mệnh lệnh hành chính, như lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định mục đích sử dụng đất; quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất….

1.4. Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Pháp luật quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Một là, quy định về chủ thể, thẩm quyền trong thực hiện quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, cụ thể: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức phát triển quỹ đất ở cấp tỉnh và cấp huyện. Trong đó, các tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh và cấp huyện là cơ quan có vai trò quan trọng trong thực hiện quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội;

Hai là, quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; giao đất, cho thuê đất;…

Ba là, Quy định các nội dung cụ thể trong quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, cụ thể: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Tài chính về đất đai, giá đất; Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; Giám sát, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

Bốn là, quy định về trình tự, thủ tục trong thực hiện các hoạt động quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội như: Trình tự, thủ tục trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; trình tự, thủ tục trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất…

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý quĩ đất phục vụ phát triển kinh tế- xã hội ở Việt nam

1.5.1. Đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 Khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với các quan điểm chỉ đạo:

Một là, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn theo quy định của pháp luật. Không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai.

Hai là, đất đai là hàng hóa đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn, rất quý giá của đất nước, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc.

Ba là, khai thác, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực quý giá về đất đai, đầu tư phát triển đất đai. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Bốn là, đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai phải phù hợp với đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.

Năm là, kiên quyết lập lại trật tự về đất đai phù hợp với đường lối chính trị của Đảng. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và toàn dân trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai [41].

Trên cơ sở kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ VII, Đại hội Đảng lần thứ IX, để phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của nước ta trong giai đoạn mới, ngày 31/10/2012, tại Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 19 – NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, qua đó đưa ra các quan điểm chỉ đạo đối với công tác quản lý về đất đai như sau:

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu, được xác định cụ thể phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất. Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cho phép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra; trao quyền sử dụng đất và thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế, xã hội theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn và có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tuỳ theo từng loại đất và nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Người sử dụng đất có nghĩa vụ phải đăng ký quyền sử dụng đất, sử dụng đất đúng mục đích, tuân thủ quy hoạch, trả lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, chấp hành pháp luật về đất đai.

Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật về đất đai. Không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân, nhưng Nhà nước có chính sách phù hợp để đất nông nghiệp được người trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng với hiệu quả cao nhất.

Đất đai được phân bổ hợp lý, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả cao; bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Chính sách, pháp luật về đất đai phải góp phần ổn định chính trị – xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế; huy động tốt nhất nguồn lực từ đất để phát triển đất nước; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, của người sử dụng đất và của nhà đầu tư; bảo đảm cho thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, phát triển lành mạnh, ngăn chặn tình trạng đầu cơ. Sử dụng có hiệu quả các công cụ về giá, thuế trong quản lý đất đai nhằm khắc phục tình trạng lãng phí, tham nhũng, khiếu kiện.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch trong quản lý đất đai. Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ về đất đai. Xây dựng hệ thống quản lý đất đai tiên tiến, ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin đất đai hiện đại.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và toàn dân trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai. Bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước cấp Trung ương về đất đai, đồng thời phân cấp phù hợp cho địa phương, có chế tài xử lý nghiêm các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai. Kiên quyết lập lại trật tự trong quản lý, sử dụng đất đai [42].

Như vậy, việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai nói chung, pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nói riêng phải phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng trong công cuộc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm quản lý, sử dụng quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội một cách hiệu quả, tránh lãng phí tham nhũng, khiếu kiện. Đảm bảo có sự thống nhất trong quản lý quỹ đất của nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

1.5.2. Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

  • Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của nước ta giai đoạn hiện nay

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 đã được Đại hội lần thứ XI của Đảng thông qua với các quan điểm:

Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược. Trong đó, phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phát huy lợi thế dân số và con người Việt Nam, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài, chăm lo lợi ích chính đáng và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi người dân, thực hiện công bằng xã hội.

Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Phát triển đồng bộ, hoàn chỉnh và ngày càng hiện đại các loại thị trường. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và phân phối, bảo đảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

  • Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nước ta qua các giai đoạn 2016 – 2020

Ngày 12/4/2016, Quốc hội đã họp phiên toàn thể biểu quyết thông qua Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 – 2020. Theo đó các mục tiêu tổng quát gồm: Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển văn hoá, thực hiện dân chủ, tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế. Giữ gìn hòa bình, ổn định, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.[43]

Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội phải phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội mà Đảng, Quốc hội và Chính phủ đưa ra. Có nghĩa là pháp luật về quản lý quỹ đất phải giúp tạo ra quỹ đất đồng bộ để phát triển về kinh tế, xã hội,… và đặc biệt, pháp luật quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội phải được xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

1.5.3. Qúa trình cải cách nền hành chính quốc gia Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Ngày 17 tháng 09 năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg về Phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010, trong đó có các nội dung quan trọng có ảnh hưởng lớn đến pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội như:

  • Về cải cách thể chế có các nội dung quan trọng sau

Một là, đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Rà soát và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật theo từng lĩnh vực, loại bỏ những quy định pháp luật không còn hiệu lực hoặc chồng chéo, trùng lắp. Ban hành các quy định bảo đảm sự tham gia có hiệu quả của nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật, tổ chức tốt việc lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân, của những người là đối tượng điều chỉnh của văn bản trước khi ban hành.

Hai là, bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức. Trong đó, đặc biệt phải phát huy hiệu lực của các thiết chế thanh tra, kiểm sát và tài phán để bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước, giữ gìn kỷ cương xã hội. Xử lý nghiêm người có hành vi sách nhiễu, hách dịch, vô trách nhiệm; khen thưởng những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Ba là, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính. Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân; Mở rộng thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết công việc của cá nhân và tổ chức ở các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

  • Về Cải cách tổ chức bộ máy hành chính

Một là, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới.

Hai là, mục tiêu, đến năm 2005, về cơ bản ban hành xong và áp dụng các quy định mới về phân cấp trung ương – địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa phương.

Ba là, cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp, loại bỏ những việc làm hình thức, không có hiệu quả thiết thực, giảm hội họp, giảm giấy tờ hành chính. Tăng cường trách nhiệm và năng lực của cơ quan hành chính trong giải quyết công việc của cá nhân và tổ chức. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

  • Về thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính

Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính nhà nước; áp dụng các công cụ, phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại trong các cơ quan hành chính nhà nước. Tăng cường đầu tư để đến năm 2010, các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại, cơ quan hành chính cấp xã trong cả nước có trụ sở và phương tiện làm việc bảo đảm nhiệm vụ quản lý; mạng tin học diện rộng của Chính phủ được thiết lập tới cấp xã.

Về đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với quá trình phát triển kinh tế – xã hội và cải cách hành chính: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức để từng bước chuyển sang quản lý cán bộ, công chức bằng hệ thống tin học ở các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và ở địa phương; Xác định cơ cấu cán bộ, công chức hợp lý gắn với chức năng, nhiệm vụ trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và ở địa phương, làm cơ sở cho việc định biên và xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức. Hoàn thiện chế độ tuyển dụng cán bộ, công chức, thực hiện quy chế mới về đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức để nâng cao chất lượng hoạt động công vụ [44].

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tháng 11-2011, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, với các mục tiêu cơ bản sau đây:

  • Về cải cách thể chế

Một là, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung; Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, cụ thể và khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật; Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thành quả của đổi mới, của phát triển kinh tế – xã hội;

Ba là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước;

Bốn là, xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân.

  • Về cải cách thủ tục hành chính

Trong giai đoạn 2011 – 2015, thực hiện cải cách thủ tục hành chính để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững. Một số lĩnh vực trọng tâm cần tập trung là: Đầu tư; đất đai; xây dựng; sở hữu nhà ở; thuế; hải quan; xuất khẩu, nhập khẩu; y tế; giáo dục; lao động; bảo hiểm; khoa học, công nghệ; Công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính bằng các hình thức thiết thực và thích hợp.

  • Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước

Tiến hành tổng rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn;

Hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm quản lý thống nhất về tài nguyên, khoáng sản quốc gia; quy hoạch và có định hướng phát triển; tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra; đồng thời, đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực của từng cấp, từng ngành;

Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020;

  • Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước;

  • Về hiện đại hóa hành chính Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước để đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; Công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet. Xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức và cá nhân, đáp ứng yêu cầu đơn giản và cải cách thủ tục hành chính.

Trên cơ sở cải cách nền hành chính quốc gia nói chung, pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế phải phải có những quy định nhằm cải cách các thủ tục về trình tự, quá trình thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; quy định về giao đất, cho thuê đất; quy định về đấu giá quyền sử dụng đất…; Cải cách bộ máy cơ quan có chức năng tạo lập, quản lý và phát triển quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, chức hoạt động trong các cơ quan quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội có năng lực, trình độ và đạo đức.

1.5.4. Qúa trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam với khu vực và thế giới

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc và một cục diện, trật tự thế giới mới đang hình thành, trong đó các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác với nhau. Đảng đã nhận thức rõ rằng bối cảnh đó là điều kiện để chúng ta phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở.

Sau khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 01-2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 05-02-2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO. Trên tinh thần đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP, ngày 27-2-2007, Chương trình hành động của Chính phủ về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO”; giao các bộ, ngành, địa phương triển khai các nhiệm vụ cụ thể nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới.

Tháng 01-2011, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế. Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu lại nền kinh tế. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Hiện nay, Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của ASEAN, APEC, ASEM và WTO cũng như nhiều định chế tài chính như WB, ADB, IMF… Việc gia nhập WTO vào năm 2007 đã mở ra quan hệ thương mại bình đẳng giữa Việt Nam với 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là một thành tựu quan trọng của việc thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới, đưa Việt Nam trở thành quốc gia bình đẳng trong thương mại với các nước trên thế giới.

Với việc mở rộng thị trường và quan hệ hợp tác như vậy, ta đã ngày càng tham gia sâu rộng vào các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế, ngày càng có tiếng nói quan trọng với ý thức trách nhiệm cao trong các diễn đàn khu vực và thế giới, do đó đã góp phần mở rộng thị trường, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, tạo điều kiện cho mô hình kinh tế hướng về xuất khẩu của ta, mở rộng thị trường hàng nhập khẩu, góp phần phục vụ chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời từng bước khẳng định được hình ảnh và vị thế của một quốc gia thành công trong quá trình đổi mới [45].

Với quá trình hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, đòi hỏi hệ thống luật pháp trong nước nói chung, pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội phải không ngừng được sửa đổi theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch hơn, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.

1.6. Thực tiễn pháp lý và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế- xã hội và những gợi mở cho Việt Nam Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

1.6.1. Thực tiễn pháp lý và kinh nghiệm quản lý quỹ đất từ Australia

Australia bao gồm 6 Bang và 2 vùng lãnh thổ hưởng quy chế tự quản (tương đương Bang) là nước công nghiệp phát triển, có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao. Các Bang ở Australia quản lý việc sử dụng và phát triển đất đai của mình thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Mỗi Bang đều có Luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất riêng, với nội dung khác nhau.

Luật Đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân. Luật Đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai. Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích lũy đất đai. Luật cũng quy định Nhà nước có quyền trưng thu đất tư nhân để sử dụng vào mục đích công cộng, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và việc trưng thu đó gắn liền với việc Nhà nước thực hiện bồi thường.

Theo luật Accquisition Act 1989 của Australia có hai loại thu hồi đất, đó là thu hồi đất bắt buộc và thu hồi đất tự nguyện. Thu hồi đất tự nguyện được tiến hành khi chủ đất cần được thu hồi đất. Trong thu hồi đất tự nguyện không có quy định đặc biệt nào được áp dụng mà việc thỏa thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất. Chủ có đất cần được thu hồi và người thu hồi đất sẽ thỏa thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận và căn cứ vào thị trường. Không có bên nào có quyền hơn bên nào trong thỏa thuận và cũng không bên nào được áp đặt đối với bên kia. Thu hồi đất bắt buộc được Nhà nước Australia tiến hành khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích công cộng và các mục đích khác, thông thường Nhà nước có được đất đai thông qua đàm phán.

Trình tự thu hồi đất bắt buộc được thực hiện như sau: Nhà nước gửi cho các chủ đất một văn bản trong đó nêu rõ mục tiêu thu hồi đất vì các mục đích công cộng. Văn bản này gồm các nội dung chính như cơ quan muốn thu hồi đất, miêu tả chi tiết mảnh đất, mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi và các giải thích vì sao mảnh đất đó phù hợp với mục tiêu công cộng đó. Chủ sở hữu mảnh đất có thể yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tài chính và Quản lý xem xét lại vấn đề thu hồi đất. Nếu chủ sở hữu vẫn chưa hài lòng thì có thể tiếp tục yêu cầu Trọng tài phúc thẩm hành chính phán xử. Trọng tài phúc thẩm hành chính không thể xem xét tính đúng đắn về quyết định của Chính phủ nhưng có thể xem xét các vấn đề liên quan khác. Nhà nước thông báo rộng rãi quyết định thu hồi đất và chủ sở hữu đất phải thông báo cho bất kỳ ai muốn mua mảnh đất đó về quyết định thu hồi đất của Chính phủ. Sau đó, Nhà nước sẽ ban hành quyết định thu hồi đất và thông báo trên báo chí. Chủ sở hữu đất nhận được thông báo tiến hành các thủ tục yêu cầu bồi thường. Chủ sở hữu đất thông thường có quyền tiếp tục ở trên đất ít nhất là 6 tháng sau khi đã có quyết định thu hồi đất. Ngay sau khi có quyết định thu hồi đất, chủ đất có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nguyên tắc của bồi thường là công bằng và theo giá thị trường. Thông thường, các yếu tố sẽ được tính toán trong quá trình bồi thường đó là giá thị trường, giá trị đặc biệt đối với chủ sở hữu, các chi phí liên quan như chi phí di chuyển, chi phí tái định cư.

1.6.2. Thực tiễn pháp lý và kinh nghiệm quản lý quỹ đất ở Hàn Quốc Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

  • Mô hình của Tổ chức tạo lập quỹ đất của Hàn Quốc

Có 03 hình thức sở hữu gồm: Sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân; trong đó diện tích đất thuộc sở hữu tư nhân chiếm khoảng 70% diện tích đất của Hàn Quốc, Chủ sở hữu đất có toàn quyền định đoạt đối với đất thuộc quyền sở hữu.

Nhà nước có quyền thu hồi đất trong các trường hợp sử dụng đất để thực hiện các dự án: về quốc phòng, an ninh, các dự án giao thông, xây dựng trụ sở các cơ quan Nhà nước, các dự án văn hóa, giáo dục, các dự án do Nhà nước thực hiện và một số dự án công tư kết hợp. Việc thu hồi đất và bồi thường đất, tài sản gắn liền với đất được thực hiện thông qua hai hình thức là nhận chuyển nhượng của Người sở hữu và thực hiện thu hồi đất để bồi thường theo Luật thu hồi và bồi thường đất phục vụ cho các mục đích công cộng.

Chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được pháp luật quy định khá đồng bộ và cụ thể từ nguyên tắc đến các định mức, tiêu chuẩn được hưởng và trình tự thủ tục tổ chức thực hiện công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được triển khai có sự tham gia của Nhà quản lý, các luật sư, các định giá viên và Chủ sở hữu tài sản và giá đất tính bồi thường theo giá thực tế thông qua thực hiện thương thảo xác định của cả người quản lý, Chủ đầu tư và cả Chủ sở hữu có đất bị thu hồi. Nên tính khách quan, công khai, minh bạch trong việc bồi thường được nâng cao, giá bồi thường đất cơ bản bảo đảm phù hợp với giá chuyển nhượng thực tế và giảm thiểu việc khiếu kiện của người bị thu hồi đất.

Với mô hình doanh nghiệp Nhà nước (Tổng công ty Đất đai và Nhà ở Hàn quốc) thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án được giao thực hiện trong toàn quốc và được sử dụng đa dạng các nguồn vốn (kể cả vay từ tổ chức tín dụng, huy động của khách hàng mua đất, nhà). Nên đã nâng cao được tính thống nhất và chuyên môn hóa trong tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng. Tăng cường được nguồn vốn để chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tạo lập nhà đất tái định cư và đầu tư hạ tầng trên đất để nâng cao giá trị đất chuyển nhượng kinh doanh, góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong bồi thường đất thu hồi, đẩy nhanh tiến độ tạo lập quỹ đất sử dụng để thực hiện dự án. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Tập đoàn Đất đai và Nhà ở Hàn Quốc được thành lập vào tháng 10 năm 2009 trên cơ sở sáp nhập giữa Tập đoàn Đất đai (thành lập năm 1960) và Tập đoàn Nhà (thành lập năm 1970) với mục tiêu ổn định đời sống, nhà ở của người dân và sử dụng hiệu quả đất đai nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia.

Nhiệm vụ: Thực hiện phát triển quỹ đất và kinh doanh bất động sản thông qua việc xây dựng các khu đô thị, mạng lưới đô thị, khu công nghiệp, phát triển hạ tầng, xây dựng hệ thống thông tin đất đai và địa lý, xây dựng, cải tạo, kinh doanh nhà ở và cơ sở hạ tầng phục vụ khu dân cư.

Nguồn nhân lực: Hiện Tổng Công ty có 6.702 lao động, trong đó 3.855 kỹ sư (gồm: 1.209 kỹ sư xây dựng, 926 kiến trúc sư, 324 kỹ sư quy hoạch đô thị, 187 kiến trúc sư cảnh quan, 439 kỹ sư điện và 770 kỹ sư khác).

Tập đoàn Đất đai và Nhà ở Hàn Quốc có trụ sở chính tại thủ đô Seoul và 15 chi nhánh tại các địa phương. Tập đoàn đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác với 18 tổ chức ở 12 quốc gia trong đó có Việt Nam. Từ năm 2006, Tập đoàn đã phối hợp với KOICA (Cơ quan hợp tác Quốc tế Hàn Quốc) thực hiện 26 chương trình đào tạo chia sẻ kinh nghiệm với 385 đại biểu đến từ các quốc gia với mục tiêu nhằm nâng cao khả năng hoạch định chính sách cho các cán bộ trong phát triển nhà và khu đô thị thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm, sự hiểu biết của Hàn Quốc về lĩnh vực này.

Để thực hiện các dự án đô thị mới Tập đoàn Đất đai và nhà ở Hàn Quốc xây dựng quy hoạch sử dụng đất, nghiên cứu tiền khả thi, giải phóng mặt bằng, thiết kế quy hoạch chi tiết, lựa chọn nhà đầu tư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, nhà ở, khu thương mại, trường học và các điều kiện cần thiết cho người dân. Do làm tốt từ khâu quy hoạch đến triển khai nên các khu đô thị do Tập đoàn thực hiện rất đồng bộ, không bị chia cắt manh mún. Ngoài việc đầu tư phát triển các đô thị mới, Tập đoàn Đất đai và Nhà ở Hàn Quốc còn thực hiện nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án công ích của Quốc gia.

  • Một số cơ chế quản lý quỹ đất có hiệu quả

Cơ chế giao cho doanh nghiệp thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cùng với thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản (đất, nhà, công trình) đầu tư trên đất bị thu hồi theo quy hoạch chi tiết của dự án được duyệt. Do vậy đã khuyến khích tăng cường được trách nhiệm tổ chức thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng, bảo đảm về nhà, đất thực hiện tái định cư cho người bị thu hồi đất; đồng thời nâng cao được hiệu quả sử dụng đất theo quy hoạch và tăng được nguồn thu cho Nhà nước từ sử dụng quỹ đất nhà nước thu hồi. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Việc Nhà nước thu hồi đất giao cho doanh nghiệp thực hiện các dự án phát triển đô thị, nhà ở. Trong đó lồng ghép việc thực hiện đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội bằng vốn của Nhà nước để chuyển giao các cơ quan, đơn vị quản lý phục vụ lợi ích chung, với đầu tư các công trình kinh tế để kinh doanh từ vốn của doanh nghiệp đã nâng cao được chất lượng công trình và hiệu quả đầu tư theo mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Chính phủ, đồng thời góp phần điều tiết thị trường bất động sản (đất, nhà ở, công trình thương mại) thông qua việc điều tiết quỹ đất, quỹ nhà cung ứng ra thị trường.

  • Các nguồn vốn được huy động để tạo lập quỹ đất

Nguồn vốn để bồi thường đất thu hồi tạo lập quỹ đất và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên đất để nâng cao giá trị của đất được sử dụng chủ yếu từ các nguồn, gồm:

  • Nguồn vốn tự có của Tổng công ty Đất đai và Nhà ở Hàn quốc;
  • Nguồn vốn của Chính phủ cấp phát;
  • Nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng;
  • Nguồn vốn hỗ trợ phát triển của các tổ chức tài chính quốc tế;
  • Nguồn vốn huy động từ khách hàng;
  • Nguồn thu từ bán sản phẩm đầu tư (đất, công trình, nhà ở).

Ngoài ra, trong một số trường hợp cần thiết có thể thực hiện phát hành trái phiếu để huy động vốn hoặc sử dụng hình thức góp vốn liên doanh, liên kết để thực hiện dự án.

1.6.3. Thực tiễn pháp lý và kinh nghiệm từ Trung Quốc Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Trung Quốc thi hành chế độ công hữu về đất đai gồm chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể của nông dân về đất đai. Luật Đất đai năm 1999 của Trung Quốc quy định đất đai trong khu vực đô thị là thuộc sở hữu Nhà nước. Đất đai khu vực nông thôn và ngoại ô đô thị thuộc sở hữu tập thể nông dân; đất tự xây dựng nhà ở, đất tự canh tác, đất đồi núi thuộc sở hữu tập thể. Hiện nay đất thuộc sở hữu toàn dân chiếm 53%; sở hữu tập thể chiếm 46%; và 1% đất chưa rõ sở hữu. Toàn bộ đất đai được chia thành 3 nhóm chính (đất nông nghiệp, đất xây dựng, đất chưa sử dụng). Việc phân phối đất đai được thực hiện theo nguyên tắc không thu tiền và có thu tiền sử dụng đất đối với cả 2 hình thức đất đai thuộc sở hữu Nhà nước hoặc sở hữu tập thể.

Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước khi có đề nghị của cơ quan hành chính quản lý về đất đai và được chính quyền nhân dân có thẩm quyền phê chuẩn thì được thu hồi đối với 5 loại đất sau:

  • Một là, cần phải sử dụng vì mục đích công cộng.
  • Hai là, cần phải điều chỉnh việc sử dụng đất để thực hiện chỉnh trang đô thị cũ theo quy hoạch đô thị.
  • Ba là, thời hạn thoả thuận sử dụng đất trong hợp đồng xuất nhượng đất đai có trả tiền đã hết mà người sử dụng đất chưa xin phép kéo dài hoặc việc xin phép kéo dài chưa được phê chuẩn.
  • Bốn là, đơn vị giải thể, chuyển đi nơi khác mà ngừng việc sử dụng đất được cấp thuộc sở hữu nhà nước.
  • Năm là, đất làm đường bộ, đường sắt, sân bay, hầm mỏ đã được phê chuẩn ngừng hoạt động.

Đất thuộc sở hữu tập thể: Tổ chức tập thể nông thôn sau khi báo cáo được chính quyền nhân dân có thẩm quyền phê duyệt, có thể thu hồi các loại đất sau:

  • Một là, do nhu cầu sử dụng đất cho cơ sở công cộng và xây dựng sự nghiệp công ích trong thôn của hương (trấn).
  • Hai là, sử dụng đất không theo mục đích đã được phê chuẩn.
  • Ba là, do giải thể, di chuyển mà ngừng việc sử dụng đất.

Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có thẩm quyền thu hồi đất. Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác. Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất. Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà nước.

Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường. Phần lớn tiền bồi thường do người sử dụng đất trả. Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi. Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Về nguyên tắc bồi thường: Các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ. Ở Bắc Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với khoản tiền tiết kiệm của họ có thể mua được căn hộ mới. Còn đối với người dân ở khu vực nông thôn có thể dùng khoản tiền bồi thường mua được hai căn hộ ở cùng một nơi.

Về tổ chức thực hiện và quản lý giải tỏa mặt bằng: Cục Quản lý tài nguyên đất đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải tỏa mặt bằng. Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng khu đất đó, thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải tỏa.

Ở Trung Quốc do có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn nên có sự phân biệt về bồi thường nhà ở giữa hai khu vực này. Đối với trường hợp bồi thường cho người dân ở thành thị, chủ yếu Nhà nước tiến hành bồi thường bằng tiền. Ngược lại, việc bồi thường cho người dân ở khu vực nông thôn lại có những đặc điểm riêng biệt. Nhà nước quan tâm tới nông dân, tạo điều kiện cho họ được hưởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hóa khi thu hồi đất. Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp hoặc là thu hồi đất ở thuộc khu vực nông thôn để sử dụng vào mục đích khác thì người nông dân được lưu ý, quan tâm về lợi ích cũng như được bồi thường một cách hợp lý.

1.6.4. Bài học rút ra từ các nước Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

Ở các nước này đều đã hình thành các Tổ chức phát triển quỹ đất dưới dạng các mô hình hoạt động khác nhau (Công ty đất đai, Tổng công ty phát triển đất…). Tổ chức phát triển quỹ đất do Nhà nước đứng ra thành lập, có mô hình Tổ chức phát triển quỹ đất kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp 100% (Trung Quốc), có Tổ chức phát triển quỹ đất hoạt động bằng nguồn vốn tự trang trải một phần hoặc tự trang trải toàn bộ (Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc).

Hoạt động của Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện các nhiệm vụ tìm kiếm quỹ đất, quản lý (dự trữ), phát triển quỹ đất và đưa đất tham gia vào thị trường bất động sản. Nhà nước ra quyết định thu hồi, giao nhiệm vụ cho Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng để tạo quỹ đất.

Tổ chức phát triển quỹ đất đều được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (trưng mua) của người dân để chuyển mục đích sử dụng theo quy hoạch của nhà nước, để cung ứng đất đai cho thị trường bất động sản.

Tổ chức phát triển quỹ đất luôn luôn có lượng đất dự trữ khá lớn để làm nhiệm vụ điều tiết thị trường bất động sản khi cần thiết.

Tổ chức phát triển quỹ đất ngoài việc thay mặt nhà nước đưa quỹ đất ra thị trường còn tham gia thị trường bất động sản với tư cách vừa mua, vừa bán; trợ giúp thị trường với vai trò trung gian giữa Nhà nước đại diện cho pháp luật với người mua, người bán trên thị trường [25].

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 Luận văn đã khái quát được những nét cơ bản về vấn đề quỹ đất, quản lý quỹ đất và pháp luật quản lý quỹ đất ở Việt Nam hiện nay. Luận văn phân tích những quan niệm, đặc điểm, các yếu tố tác động và những bài học về quản lý quỹ đất cũng như pháp luật quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế- xã hội từ các quốc gia khác. Qua đó, làm cơ sở để Luận văn nghiên cứu, phân tích ở những chương tiếp theo. Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế

One thought on “Luận văn: Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464