Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

2.1.1. Nội dung quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục lập , thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị

Về nguyên tắc, mọi tổ chức, cá nhân khi thực hiện các chương trình, kế hoạch đầu tư xây dựng phát triển đô thị, quy hoạch chuyên ngành trong phạm vi đô thị, kế hoạch sử dụng đất đô thị, quản lý thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trong đô thị, thực hiện quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị hoặc thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến quy hoạch đô thị phải tuân thủ quy hoạch đô thị đã được phê duyệt và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị.

Theo đó, việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch đô thị phải theo trình tự sau đây:

  • Thứ nhất là, lập nhiệm vụ quy hoạch đô thị;
  • Thứ hai là, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch đô thị; Thứ ba là, lập đồ án quy hoạch đô thị;
  • Thứ tư là, thẩm định và phê duyệt đồ án quy hoạch đô thị.

2.1.2. Quyền và trách nhiệm của các cơ quan ,tổ chức, cá nhân về các vấn đề quản lý, giám sát quy hoạch đô thị

Thứ nhất là, tổ chức, cá nhân trong nước có quyền tham gia ý kiến và giám sát hoạt động quy hoạch đô thị.

Thứ hai là, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia ý kiến về những vấn đề liên quan đến lĩnh vực hoạt động của mình trong hoạt động quy hoạch đô thị.

Thứ ba là, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong hoạt động quy hoạch đô thị phải tạo điều kiện cho việc tham gia ý kiến và giám sát hoạt động quy hoạch đô thị. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Thứ tư là, ý kiến của tổ chức, cá nhân về hoạt động quy hoạch đô thị phải được tổng hợp, nghiên cứu và công khai.

Pháp luật còn quy định một số cơ quan Nhà nước có trách nhiệm chủ chốt trong quản lý về quy hoạch đô thị. Theo đó, cụm từ “Quản lý phát triển đô thị” tuy mới được nhắc nhiều đến tại Việt Nam trong khoảng thời gian hơn 20 năm vừa qua, từ khi chúng ta bước vào công cuộc “Đổi mới”, khi mà các đô thị thực sự có động lực để phát triển. Kể từ thời gian đó, chúng ta đã gặp phải rất nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm, năng lực quản lý và quản lý một cách cứng nhắc – duy lý trí dẫn tới ngay cả những đô thị từ xưa đã vốn rất “hiền hòa” bỗng trở thành những “con ngựa bất kham” liên tục “nhấn chìm” chúng ta trong ngập nước, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, xuống cấp về văn hóa với muôn vàn các tệ nạn xã hội… Như vậy thì chưa nói gì tới “Phát triển bền vững” mà ngay trong hiện tại chúng ta cũng không thể “Quản lý phát triển đô thị” được.

Cụ thể, có 4 cơ quan nhà nước sau có trách nhiệm chủ đạo trong việc quản lý quy hoạch đô thị lần lượt trong các phạm vi cả nước, theo phân cấp:

Thứ nhất là, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trong phạm vi cả nước.

Thứ hai là, Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị; chủ trì phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị.

Thứ ba là, các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị.

Thứ tư là, ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

2.1.3. Vấn đề về tư vấn lập quy hoạch đô thị Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Một tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị phải đảm bảo có chứng chỉ năng lực được phân lần lượt thành các các Hạng I, Hạng II và Hạng III:

Tổ chức thuộc Hạng I: Được lập các loại đồ án quy hoạch xây dựng;

Tổ chức thuộc Hạng II: Được lập các đồ án quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện, quy hoạch chung xây dựng đô thị loại II trở xuống, quy hoạch khu chức năng đặc thù cấp tỉnh, quy hoạch chi tiết xây dựng và quy hoạch xây dựng nông thôn;

Tổ chức thuộc Hạng III: Được lập các đồ án quy hoạch xây dựng vùng huyện, quy hoạch chung xây dựng đô thị loại IV trở xuống, quy hoạch khu chức năng đặc thù cấp huyện, quy hoạch chi tiết xây dựng và quy hoạch xây dựng nông thôn.

Việc lựa chọn tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị thông qua hình thức chỉ định thầu hoặc thi tuyển ý tưởng quy hoạch. Cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị thực hiện việc chỉ định tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị theo quy định pháp luật về chỉ định thầu trong trường hợp lựa chọn dưới hình thức chỉ định thầu. Tuy nhiên, pháp luật quy định khuyến khích việc lựa chọn tư vấn thông qua hình thức thi tuyển đối với quy hoạch chung các đô thị có quy mô lớn, có ý nghĩa đặc thù; quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết các khu vực có ý nghĩa quan trọng trong đô thị.Cơ quan có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch hoặc chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thiệt hại do việc lựa chọn tổ chức tư vấn không đủ điều kiện năng lực.

2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị tại Thành phố Hà Nội Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

2.2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của thành phố Hà Nội và ảnh hưởng của những điều kiện đó đến việc thực hiện pháp luật về quy hoạch đô thị .

Hà Nội có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Hà Nội có vị trí địa lý – chính trị quan trọng, là đầu não chính trị – hành chính Quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường sông tỏa đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc tế.

Nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng sông, nhìn chung, địa hình Hà Nội khá đa dạng với núi thấp, đồi và đồng bằng. Trong đó phần lớn diện tích của Thành phố là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng. Điều này cũng ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Hà Nội có tổng diện tích đất tự nhiên 92.097 ha, trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm 47,4%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 8,6%, đất ở chiếm 19,26% (năm 2023). Xuất phát từ yêu cầu sử dụng đất của Thủ đô Hà Nội, có 2 nhóm đất có ý nghĩa lớn nhất đối với phát triển kinh tế – xã hội, đó là đất nông lâm nghiệp và đất xây dựng. Phần lớn diện tích đất đai ở nội Thành Hà Nội được đánh giá là không thuận lợi cho xây dựng do có hiện tượng tích nước ngầm, nước mặt, sụt lún, nứt đất, sạt lở, trôi trượt dọc sông, cấu tạo nền đất yếu. Do bề mặt địa hình thấp, nhất là phần phía Nam, việc tiêu thoát tự nhiên nước mặt ra các hệ thống sông là không thể (sông Hồng) hoặc rất khó khăn (sông Nhuệ-Đáy). Nhưng úng ngập có nguyên nhân quan trọng là do con người: triệt tiêu bề mặt thấm nước (do bê tông hóa bề mặt); san lấp, thu hẹp và làm nông dần các hồ điều hòa; thu hẹp và làm tắc nghẽn các hệ thống mương thoát nước,… cùng với đó là công tác quy hoạch và triển khai xây dựng quá bất cập, đã không đáp ứng được yêu cầu tiêu thoát nước của thành phố.

Đồng thời, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang làm suy giảm mạnh chất lượng môi trường nước, không khí và đất ở Thành phố Hà Nội. Cụ thể do phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đô thị chậm hơn gia tăng dân số, chậm hơn mở rộng không gian đô thị. Diện tích đô thị cùng với dân số đô thị tăng nhanh, nhưng hạ tầng kỹ thuật đô thị như hệ thống cấp nước, thoát nước, giao thông, năng lượng,… đều lạc hậu, chắp vá, được đầu tư phát triển chậm hơn, nên không đáp ứng yêu cầu dịch vụ môi trường, làm ô nhiễm môi trường đô thị Hà Nội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

2.2.2. Phát triển quy hoạch chung xây dựng đô thị tại Thủ đô Hà Nội

Trong suốt 10 thế kỷ (từ năm 1010-2018) lịch sử hình thành và phát triển của thủ đô Hà Nội gắn liền với quá trình đô thị hoá. Khu thành cổ, khu 36 phố phường, khu phố Pháp qua các thời kỳ đều được xác định là trung tâm Hà Nội cổ hay đô thị lõi lịch sử, là trung tâm văn hoá – chính trị – kinh tế, nơi tập trung các cơ quan đầu não của nhà nước Việt Nam, nơi diễn ra những hoạt động văn hoá mang tầm quốc gia, khu vực và quốc tế. Giai đoạn từ Hòa Bình lập lại đến nay, Hà Nội đã nhiều lần quy hoạch lại thành phố với những nguyên tắc là văn minh, hiện đại và môi trường trong sạch. Trong đó Quy hoạch Hà Nội năm 1998 với ý tưởng phát triển hai bờ sông Hồng và hành lang xanh dọc sông Nhuệ là thành phố trung tâm trong chùm đô thị Hà Nội. Để xây dựng các chiến lược phát triển, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Thủ đô, giải quyết các vấn đề tồn tại trong quá trình xây dựng & phát triển đô thị hướng tới phát triển bền vững đạt hiệu quả cao trên cả 3 lĩnh vực Kinh tế – văn hóa – môi trường, cần thiết lập Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội.

Về nguyên tắc chung, Chính phủ quy định xây dựng Thủ đô Hà Nội theo hướng phát triển bền vững, có hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, phát triển hài hòa giữa văn hóa, bảo tồn di sản, di tích lịch sử, với phát triển kinh tế, trong đó chú trọng kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng an ninh theo hướng liên kết vùng, quốc gia, quốc tế. Xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành thành phố “Xanh – Văn hiến – Văn minh – Hiện đại”, đô thị phát triển năng động, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao trong nước, khu vực và quốc tế; có môi trường sống, làm việc tốt, sinh hoạt giải trí chất lượng cao và có cơ hội đầu tư thuận lợi.

Trong khu vực nội đô, UBND TP Hà Nội đã có kế hoạch ưu tiên xây dựng mới và hoàn thiện các công viên, vườn hoa như công viên lịch sử Cổ Loa, công viên văn hóa giải trí Hồ Tây, vườn thú, công viên Thống Nhất, Yên Sở, Mễ Trì… Các công viên sinh thái được kết nối liên hoàn với hệ thống cây xanh tự nhiên tại các khu vực Sóc Sơn, Ba Vì, Hương Tích và hệ thống sông hồ, mặt nước khu vực Cổ Loa, đầm Vân Trì, Suối Hai, Đồng Mô… tạo thành một hành lang xanh mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam.Đồng thời việc giữ gìn và khôi phục hệ thống sông, hồ, đầm nước không những để cân bằng môi trường sinh thái mà còn tăng cường khả năng tiêu thoát nước đô thị, phát huy giao thông thủy và hoạt động du lịch, vui chơi giải trí.Việc quy hoạch không gian cảnh quan sinh thái bảo vệ môi trường dọc các tuyến sông nối kết với các không gian xanh, các trung tâm văn hóa, kinh tế, xã hội lớn của Thành phố và khu vực nội đô lịch sử là yếu tố cơ bản để tạo ra các đặc trưng, một bản sắc riêng của đô thị Hà Nội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Cụ thể, đinh hướng phát triển không gian đô thị được quy định như sau: Thủ đô Hà Nội phát triển theo mô hình chùm đô thị gồm khu vực đô thị trung tâm, 5 đô thị vệ tinh, các thị trấn được kết nối bằng hệ thống giao thông đường vành đai kết hợp các trục hướng tâm, có mối liên kết với mạng lưới giao thông vùng và quốc gia. Đô thị trung tâm được phân cách với các đô thị vệ tinh, các thị trấn bằng hành lang xanh (chiếm 70% diện tích đất tự nhiên của Thành phố). Khu vực đô thị trung tâm được phát triển mở rộng từ khu vực nội đô về phía Tây, Nam đến đường vành đai 4 và về phía Bắc với khu vực Mê Linh, Đông Anh; phía Đông đến khu vực Gia Lâm và Long Biên. Là trung tâm chính trị hành chính, kinh tế, văn hóa, lịch sử, dịch vụ, y tế, đào tạo chất lượng cao của Thành phố Hà Nội và cả nước. Dự báo dân số đến năm 2028 đạt khoảng 3,7 triệu người; diện tích đất xây dựng đô thị khoảng 45.300 ha; đất dân dụng khoảng 26.000 ha, chỉ tiêu khoảng 70m2/người và đất ngoài dân dụng khoảng 19.300 ha. Dân số đến năm 2030 đạt khoảng 4,6 triệu người; diện tích đất xây dựng đô thị khoảng 55.200 ha; đất dân dụng khoảng 34.900 ha; chỉ tiêu đất xây dựng dân dụng khu vực nội đô khoảng 60 – 65 m2/người, khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng khoảng 90 – 95 m2/người; đất ngoài dân dụng khoảng 20.300 ha.

2.2.3. Thực trạng thực hiện quy hoạch đô thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Hiện nay, Thủ đô Hà Nội đang đối mặt với nhiều vấn đề tồn tại trong quá trình đô thị hóa như: Sự phát triển quá tải về các mặt dịch vụ y tế, cơ sở giáo dục, ô nhiễm môi trường, hệ thống giao thông ùn tắc … do không kiểm soát được việc gia tăng dân số, nhất là di dân từ các khu phụ cận vào thành phố để tìm kiếm việc làm; Thiếu các chiến lược và chính sách kiểm soát, quản lý đô thị gây lãng phí tài nguyên đất đai và nguồn lực đầu tư. Công tác lập, thẩm định, quản lý và giám sát việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội tồn tại những bất cập sau:

Thứ nhất là, bất cập về hạ tầng xã hội chưa tương thích với nhà ở. Thời gian gần đây, HĐND thành phố nhận được nhiều kiến nghị của cử tri về việc quản lý quy hoạch của thành phố chưa chặt chẽ, dẫn đến một số khu đô thị phát triển, nhưng thiếu hạ tầng xã hội đồng bộ. Nguyên nhân, do các chủ đầu tư chỉ chăm lo xây dựng nhà để bán, mà thiếu quan tâm, xây dựng hạ tầng xã hội theo quy định như trường học, bệnh viện, nhà sinh hoạt cộng đồng… Ban Đô thị và Ban Văn hóa – Xã hội HĐND thành phố Hà Nội đã khảo sát vấn đề cử tri kiến nghị. Kết quả cho thấy, thực trạng công tác thẩm định, phê duyệt quy hoạch và xây dựng các công trình hạ tầng xã hội tại các khu đô thị, khu nhà ở cao tầng còn nhiều bất cập, thiếu trầm trọng trường học công, gây áp lực cho các trường học công tại khu dân cư. Trong 78 dự án khu đô thị mới có quy hoạch đất xây dựng công trình hạ tầng xã hội (nhà trẻ, trường học, nhà văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng, vườn hoa, cây xanh) thì mới có 36 dự án được đầu tư xây dựng đồng bộ đúng quy hoạch; còn lại các dự án đang xây dựng hoặc chưa xây dựng, chủ yếu trên địa bàn quận Hoàng Mai, Hà Đông, Bắc Từ Liêm, Gia Lâm…

Một ví dụ điển hình của việc quy hoạch đô thị thiếu đồng bộ là khu đô thị Đặng Xá-Gia Lâm được thiết kế khá hoàn chỉnh với tỷ lệ hạ tầng cây xanh, môi trường rất tốt. Song thực tế, vẫn còn nhiều bất cập như: thiếu quy hoạch chợ dân sinh, địa điểm xây dựng nhà văn hóa, trường học…hay như khu đô thị Linh Đàm (Hoàng Mai) có diện tích 109ha, có hơn 1,2 vạn căn hộ chung cư, song đến nay, hạ tầng xã hội vẫn chưa được xây dựng đồng bộ, trường học công lập thiếu trầm trọng. Đến nay, mới có 1/6 trường xây dựng từ ngân sách nhà nước. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Trưởng Ban Văn hóa – Xã hội HĐND thành phố Trần Thế Cương cho rằng, nguyên nhân chủ yếu do công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch cũng còn bất cập. Việc bố trí quỹ đất để xây dựng hạ tầng xã hội ở một số khu đô thị, khu nhà ở cao tầng chưa bảo đảm tính khả thi, dẫn đến khó trong công tác giải phóng mặt bằng (quy hoạch xây dựng trường ở khu vực nghĩa trang, khu vực ao hồ, khu vực đường giao thông, khu vực khó giải phóng mặt bằng, nằm trong quy hoạch hành lang xanh…). Cùng với đó, đầu tư vào các công trình hạ tầng xã hội lợi nhuận thấp, kèm theo tỷ lệ người mua nhà để đầu tư, đầu cơ cao, nhận nhà không về ở, nên các chủ đầu tư xây dựng cầm chừng.

Thứ hai là, bất cập trong tính khả thi, tổng thể đồ án quy hoạch và thiếu sự quản lý, giám sát chặt chẽ, xử lỹ nghiêm những chủ đầu tư vi phạm quy hoạch.

Theo Giám đốc Sở Quy hoạch và Kiến trúc Lê Vinh: để tăng trách nhiệm của cơ quan tham mưu, nâng cao hiệu quả công tác quản lý quy hoạch, tăng cường kỷ cương quản lý trật tự xây dựng, UBND thành phố đã giao Sở Quy hoạch và Kiến trúc rà soát tổng thể các đồ án quy hoạch; xây dựng dự thảo “quy định về lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch; cấp giấy phép quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch trên địa bàn thành phố Hà Nội” nhằm mục đích nâng cao chất lượng quy hoạch của thành phố Hà Nội bảo đảm tính hiện đại, hệ thống, tầm nhìn, bền vững…

Để chấn chỉnh kỷ cương trong công tác quản lý đô thị, vừa qua, UBND thành phố Hà Nội đã chỉ đạo cơ quan thanh tra các cấp tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, trật tự xây dựng tại các dự án. Trong đó, công khai danh sách các chủ đầu tư vi phạm quy hoạch, sử dụng đất theo quy hoạch trong triển khai thực hiện dự án trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đặc biệt, thời gian tới, thành phố chỉ xem xét giải quyết dự án tiếp theo đối với các chủ đầu tư không vi phạm quy hoạch, sử dụng đất đúng mục đích và nộp tiền sử dụng đất đúng hạn khi thực hiện dự án.

Thứ ba là, do nhu cầu xã hội cho xây dựng đô thị rất lớn, nhưng đáp ứng từ nguồn lực Nhà nước hạn chế, đặc biệt tại các khu vực đô thị lớn như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh nhu cầu ngày càng tăng, do người dân đi về đô thị để tìm kiếm cơ hội việc làm mới, sinh sống, gây áp lực lớn cho hạ tầng tại thành phố Hà Nội. Từ đó, công tác xây dựng quy hoạch quản lý giám sát thực hiện quy hoạch sao cho có hiệu quả trở nên rất khó khăn do mật độ dân số tại những khu vực này quá cao.

2.3. Những điểm thuận lợi và bất cập của pháp luật ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

2.3.1. Những thuận lợi trong việc áp dụng quy định pháp luật Việt Nam về quy hoạch đô thị

Trước năm 1992, Việt Nam gần như không có quy định pháp luật về quy hoạch đô thị. Nội dung, phương pháp lập quy hoạch chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi lý luận và thực tiễn quy hoạch đô thị của Xô Viết được thể hiện tại Quyết định số 115-CT, ngày 2/5/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về phân cấp xét duyệt đồ án thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị.Ngày 28/12/1993, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Quyết định 322/QĐ-ĐT quy định lập các đồ án quy hoạch đô thị, đánh dấu sự hình thành và phát triển thể chế công tác quy hoạch đô thị Việt Nam trong tiến trình đất nước đổi mới. Cho đến nay đã hơn 20 năm,hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch đô thị đã khá đầy đủ với Luật Quy hoạch đô thị và hoàng loạt các Nghị định, thông tư, Quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, hướng dẫn kèm theo.

Việc ban hành Luật quy hoạch đô thị năm 2017 cụ thể hóa hoạt động quy hoạch đô thị gồm lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt và Luật Quy hoạch được ban hành mới năm 2025 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2027 quy định việc lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố, thực hiện, đánh giá, điều chỉnh quy hoạch trong hệ thống quy hoạch quốc gia; trách nhiệm quản lý nhà nước về quy hoạch cùng với hệ thống văn bản dưới luật,các Nghị định, Thông tư hướng dẫn đã tạo nên một khung pháp lý khá hoàn chỉnh để các cơ quan ,tổ chức , cá nhân đối chiếu, nhận thức rõ được trách nhiệm của mình trong thực thi pháp luật quy hoạch đô thị ở Việt Nam. Việc tuân thủ theo khung pháp lý này, đã dẫn đến một số thành tựu, giúp đô thị Việt Nam trong những năm qua có sự phát triển mạnh mẽ, cả về quy mô, số lượng và chất lượng. Kinh tế đô thị đã góp phần đặc biệt quan trọng, kinh tế đô thị và khu công nghiệp chiếm xấp xỉ 80% quy mô của nền kinh tế. Các đô thị thực sự là động lực của nền kinh tế, trở thành hạt nhân của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội. Diện mạo đô thị đã nổi bật theo chiều hướng tích cực cả về hình thức kiến trúc, tính hiện đại, công nghệ xây dựng, tính hội nhập và đặc biệt tính tuân thủ quy định pháp luật nhà nước về quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn an toàn, bảo vệ môi trường. Đó là những công trình công cộng, những tuyến phố mới được hình thành ở những vị trí quan trọng, theo quy hoạch phát triển đô thị. Những khu đô thị mới, những khu công nghiệp, khu du lịch, nghỉ dưỡng trên cả nước thực hiện khá tốt về chất lượng công trình cũng như đồng bộ hoá kĩ thuật hạ tầng theo yêu cầu sử dụng đã góp phần cải thiện vẻ đẹp mới và tính hiện đại của thành phố.

2.3.2. Những bất cập của pháp luật ảnh hưởng đến việc thực thi các quy định về quy hoạch đô thị. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Bên cạnh kết quả đạt được, thì đô thị còn phát triển theo chiều rộng nhiều hơn chiều sâu, và hiệu quả phát triển đô thị còn thấp. Hệ thống hạ tầng của nhiều đô thị chưa đầy đủ và còn thiếu đồng bộ. Kiến trúc, cảnh quan độ thị ở nhiều đô thị, nhiều khu vực trong đô thị còn thiếu nét đặc trưng riêng và thiếu bản sắc. Việc đầu tư xây dựng, phát triển đô thị còn nhiều hạn chế, cả trong đầu tư xây dựng hạ tầng đường bộ và xây dựng công trình. Tình trạng vi phạm quy hoạch, xây dựng thiếu phép, sai phép còn diễn ra và chưa được khắc phục, chấn chỉnh kịp thời. Việc xây dựng nhà ở trong đô thị còn mất cân đối, đặc biệt là xây dựng nhà ở xã hội – nhu cầu rất lớn, phù hợp với đại đa số người dân, nhưng đầu tư còn chậm, thậm chí có địa phương chưa chú ý nhiều đến lĩnh vực này. Tình trạng ùn tắc giao thông tại khu vực đô thị ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là ở các đô thị lớn. Tình trạng quá tải hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện… ngày càng gia tăng. Tình trạng ngập úng tại đô thị lớn, nhất là tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị rất bức xúc, nhất là ở những đô thị lớn, cả ô nhiễm chất thải rắn, không khí và nước thải. Tình trạng cháy nổ diễn biến nghiêm trọng.

Một trong những ví dụ điển hình về vấn đề quy hoạch đô thị thiếu đồng bộ, thiếu sự gắn kết liên ngành là Khu đô thị Ngoại giao đoàn có vị trí tại phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội, được Thủ tướng chính phủ và UBND TP. Hà Nội phê duyệt và giao cho Tổng công ty Xây dựng Hà Nội (Hancorp) làm chủ đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng và cảnh quan khu đô thị Ngoại giao đoàn từ năm 2014 nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển khu Đoàn ngoại giao cho Đại sứ quán các nước tại Việt Nam, văn phòng của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, khu ở cho người nước ngoài tại Hà Nội… Tuy nhiên, khi chuyển đến đây sinh sống, người dân mới tả hỏa vì việc vào khu đô thị quá bất cập do cả khu đô thị này hầu như chỉ ra vào một con đường Đỗ Nhuận dẫn ra đường Phạm Văn Đồng để đi vào nội đô. Trong khi tuyến Phạm Văn Đồng thường xuyên ách tắc, thường xuyên xảy ra nhiều tai nạn do mật độ giao thông quá lớn.Hậu quả là người dân thường xuyên đối mặt tình trạng tắc đường hàng giờ, rất mệt mỏi, ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc, đặc biệt lúc nào cũng nơm nớp lo sợ khi con đường thường xảy ra nhiều vụ tai nạn thương tâm. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Mới đây, chủ đầu tư khu đô thị Tây Hồ Tây giáp ranh Khu đô thị Ngoại giao đoàn đã hoàn thiện một con đường dẫn ra đường Võ Chí Công. Nếu được đi qua con đường nội khu này, người dân chỉ mất 5 phút để ra đường Võ Chí Công và cũng tránh được cảnh tắc đường hàng giờ tại con đường Phạm Văn Đồng. Tuy nhiên, người dân Khu đô thị Ngoại giao đoàn đã phải mừng hụt bởi con đường này đã được hoàn thành từ tháng 7 năm 2025 nhưng họ… không cho cư dân Khu đô thị Ngoại giao đoàn sử dụng. Tuy nhiên, nỗi lo sợ và thất vọng của người dân chưa dừng lại ở đó. Từ viễn cảnh về một khu đô thị đáng sống, thoáng đãng, không khí trong lành, với mật độ xây dựng thấp 30-33%, 70% còn lại là khu công viên cây xanh, hồ điều hòa, công trình công…, thì nay một thực tế hiện hữu trái ngược hoàn toàn đó là Khu đô thị này đang đối mặt với tình trạng quá tải xây dựng, ách tắc giao thông,“nhếch nhách”giống như nhiều khu đô thị khác trên địa bàn Hà Nội hiện nay.

Có thể thấy, pháp luật về quy hoạch đô thị và những văn bản pháp luật có liên quan và công tác lập, thẩm định, quản lý giám sát quy hoạch còn tồn tại những lỗ hổng sau:

Thứ nhất là, khung pháp luật về quy hoạch về cơ bản đã đầy đủ, nhưng lại thiếu sót trong việc hướng dẫn, làm rõ một số khía cạnh cụ thể, quan trọng dẫn đến công tác triển khai thực hiện quy hoạch còn nhiều hạn chế, còn thiếu quy định về quy hoạch dẫn đến tình trạng “có quy hoạch là có đầu tư”, dẫn đến đầu tư theo phong trào, gây dư thừa bất động sản trong một thời kỳ. Công tác quản lý đầu tư, phát triển đô thị ở nhiều nơi còn buông lỏng, dẫn đến vi phạm pháp luật. Tổ chức đầu tư hạ tầng theo quy hoạch còn chậm, thiếu đồng bộ do thiếu vốn đầu tư.

Các văn bản Luật: Hệ thống Luật về quy hoạch tuy nhiều nhưng chưa đồng bộ và đầy đủ, khó tích hợp vào quy hoạch đô thị (quy hoạch được điều chỉnh tại Luật quy hoạch đô thị; Quy hoạch xây dựng vùng, các điểm dân cư nông thôn tại Luật Xây dựng; Quy hoạch sử dụng đất tại Luật Đất đai; Đánh giá môi trường chiến lược đồ án quy hoạch tại Luật Xây dựng, Luật quy hoạch đô thị và Luật Bảo vệ môi trường; Quy hoạch du lịch tại Luật Du lịch… Riêng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội lại chỉ được điều chỉnh bằng Nghị định của Chính phủ). Ngoài ra, các Luật còn chồng chéo về quy định lập quy hoạch giữa các ngành (giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng và quy hoạch xây dựng vùng;quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất về quy định loại đất, quy hoạch bảo tồn của ngành văn hóa với quy hoạch xây dựng. Có những nội dung như: Khu chức năng đặc thù nằm trong đô thị, hoặc khu đô thị nằm trong khu chức năng đặc thù thì cùng được điều chỉnh bởi Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch đô thị…). Các Bộ Luật còn thiếu các quy định về giám sát việc thực hiện quy hoạch, cơ chế xử lý quy hoạch “treo”.

Nghị đinh, Thông tư: Cũng chưa quy định đầy đủ, chặt chẽ về nội dung, tính pháp lý của Quy hoạch đô thị, vẫn còn chưa cụ thể và trùng lặp (Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 04 năm 2018 và Thông tư số 19/2018/TT-BXD ngày 22 tháng 10 năm 2018 lập Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị khó đi vào thực tiễn do nội dung chủ yếu quy định về lĩnh vực Quy hoạch, kiến trúc, trong khi đó thực tiễn đòi hỏi phải có sự quản lý kèm theo của các ngành liên quan khác trong đô thị; Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 04 năm 2018 với Quy định quản lý, Nghị định số 38 /2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 04 năm 2018 với Quy chế quản lý đều quy định về quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, vì vậy không nhất thiết phải lập cả hai loại văn bản này

Thứ hai là, bộ máy quản lý đô thị còn thiếu, nhưng chậm được hoàn thiện. Nghị định số 11/2021/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ đã quy định cần thành lập Ban quản lý công trình xây dựng, như một “nhạc trưởng” để điều hành sự đầu tư khác nhau của các nhà đầu tư, tạo sự đồng bộ cho hạ tầng đô thị. Nhưng hiện bộ máy quản lý nhiều nơi còn thiếu, mà cơ quan quản lý ở nhiều nơi không có đủ thời gian. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Thứ ba là, công tác thanh tra, kiểm tra đã được tăng cường, nhưng hiệu quả còn thấp. Thực hiện kết luận sau thanh tra còn chậm, thậm chí chưa nghiêm, mà việc xử lý sai phạm còn thiếu kiên quyết. Hiện tượng một dự án được điều chỉnh một lần, thậm chí nhiều lần trong năm, nhưng qua thanh, kiểm tra lại lại không có dự án nào được điều chỉnh đúng theo quy định pháp luật. Luật Quy hoạch số 30/2017/QH12, Luật xây dựng năm 2022 đã quy định rõ về điều kiện điều chỉnh quy hoạch cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thực hiện sai các quy định về quy hoạch xây dựng. Tuy nhiên, thực tế đang có sự lạm quyền thái quá, không có sự tuân thủ các quy định pháp luật, gây thiệt hại lớn cho nhân dân.

Ví dụ cụ thể là một số khu đô thị, khu nhà ở chưa phù hợp với định hướng quy hoạch chung nhưng vẫn được cấp phép xây dựng hoặc còn có ý kiến chưa đồng thuận về chiều cao tầng, về hệ số sử dụng đất và chỉ tiêu dân số.

Kết quả kiểm toán tại khu vực V cũng cho thấy, các địa phương không tổ chức lập, phê duyệt, công bố, ban hành, tổ chức thực hiện Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị theo quy định về quản lý không gian, kiến trúc và cảnh quan đô thị.Riêng đối với Dự án Khu đô thị mới Licogi, việc điều chỉnh quy hoạch cục bộ của dự án này còn một số sai sót như: phê duyệt điều chỉnh quy hoạch bằng công văn chấp thuận mà không ban hành quyết định phê duyệt; phê duyệt điều chỉnh lần 2 nhưng không lấy ý kiến của Sở Xây dựng theo quy định. Qua 3 lần điều chỉnh quy hoạch, diện tích cây xanh sử dụng công cộng của Dự án giảm từ 60.908 m2 theo quy hoạch ban đầu xuống còn 15.780 m2, tương đương 1,18 m2/người, trong khi theo quy chuẩn quy hoạch xây dựng ban đầu là 4,82 m2/người (còn theo quy chuẩn quy hoạch thì diện tích cây xanh sử dụng công cộng của đô thị loại II như đối với dự án này phải là 6 m2/người). Dự án này cũng điều chỉnh quy hoạch thêm 1 trường mẫu giáo, mặc dù quy hoạch ban đầu đã có 1 trường. Ngoài ra, Dự án Khu đô thị mới Licogi cũng chưa tuân thủ quy hoạch chi tiết 1/500 đã được duyệt; chủ đầu tư lập bản đồ phân lô sai so với bản đồ quy hoạch; thực hiện chuyển quyền sử dụng đất và hoán đổi quyền sử dụng đất một số lô nền trên phần đất quy hoạch đất công cộng; chuyển quyền sử dụng đất cho công ty Thương nghiệp Cà Mau đối với phần đất quy hoạch xây dựng trường tiểu học, một phần đất ở và một phần đất giao thông.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Việt Nam đang trải qua những cải cách to lớn và đang đưa ra những đổi mới rõ rệt liên quan đến hệ thống pháp luật về quy hoạch đô thị, mà cụ thể là một loạt những văn bản pháp luật, và Nghị định, Thông tư đi kèm liên quan đến các vấn đề lập, thẩm định, tư vấn, quản lý và giám sát quy hoạch đô thị được ban hành mới hoặc sửa đổi. Tuy nhiên, ngoài những thành tựu đạt được, hệ thống pháp luật còn tồn tại nhiều bất cập, lỗ hổng lớn như các văn bản Luật còn thiếu tính đồng bộ và chồng chéo ,dẫn đến khó áp dụng trên thực tế. Cụ thể, khi xem xét đến thực tiễn thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị tại một trong những thành phố kinh tế- chính trị trọng điểm của cả nước- Thành phố Hà Nội, có thể thấy rằng do không kiểm soát được việc gia tăng dân số, nhất là di dân từ các khu phụ cận vào thành phố để tìm kiếm việc làm; thiếu các chiến lược và chính sách kiểm soát,giám sát, quản lý đô thị , thiếu sự phối hợp linh hoạt giữa các nhóm ngành liên quan gây lãng phí tài nguyên đất đai và nguồn lực đầu tư khiến Thành phố hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề tồn tại như: Sự phát triển quá tải về các mặt dịch vụ y tế, cơ sở giáo dục, ô nhiễm môi trường, hệ thống giao thông ùn tắc … Thực trạng này đòi hỏi sự thay đổi ,thích nghi nhanh chóng của hệ thống pháp luật được ban hành, để làm được điều đó, những nhà làm luật phải là những nhà quy hoạch có tầm nhìn rộng, sâu sắc, linh hoạt, cần phải có sự nghiên cứu, tham khảo từ các nước phát triển khác để học hỏi, phải có sự hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan, và trách nhiệm của họ phải được quy định rõ ràng và có hình thức xử lý nghiêm khắc đối với những chủ thể có hành vi vi phạm. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464