Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam qua thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đô thị hóa, các thành phố luôn là tâm điểm vì nó tập trung nhiều điều kiện thuận lợi như cơ sở hạ tầng, công trình kiến trúc, và nguồn lực con người ổn định nhất. Đô thị có thể hiểu là tập hợp của những ngôi nhà và con đường, đồng thời cũng là nơi tập hợp của những con người tương tác với nhau trong một môi trường đông đúc và chật hẹp. Nó phản ánh một cách tổng hợp quá trình và trình độ phát triển của xã hội, là nơi tích lũy của cải, tạo dựng văn hóa và nuôi dưỡng những ý tưởng mới, nhằm thay đổi cuộc sống của cả nhân loại. Song song với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại, dịch vụ,…) cùng với bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa như hiện nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới đều đang phải đối mặt với một bài toán khó, đó là làm sao để công cuộc quy hoạch đô thị được hiệu quả nhằm hướng đến một cuộc sống văn minh, phát triển bền vững trong sự liên kết, gắn bó chặt chẽ giữa con người và môi trường.
Với những giá trị mà đô thị hóa đem lại, để trả lời cho câu hỏi quy hoạch đô thị làm sao cho hiệu quả, trước hết cần đảm bảo sự can thiệp tầm vĩ mô từ Nhà nước mà điển hình là những chính sách, văn bản quy phạm pháp luật cần minh bạch, nhất quán, quy định trách nhiệm cho các cơ quan, tổ chức cá nhân một cách rõ ràng, dự án quy hoạch phải khả thi. Trên tinh thần đó, Luật quy hoạch đô thị năm 2017 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đã được ban hành nhằm mục đích giải quyết những khó khăn trong việc lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt. Như vậy, văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề quy hoạch tại các đô thị là Luật. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Quy hoạch đô thị năm 2017, cho đến nay là năm 2026, sau hơn 8 năm thi hành thì luật này đã phát sinh nhiều hạn chế, bất cập cần phải được sửa đổi, bổ sung đề phù hợp với tình hình giai đoạn hiện tại. Hiện nay, vấn đề quy hoạch ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ những thất bại cần khắc phục ngay mà tiêu biểu là một loạt những “quy hoạch treo”, hay có những chuyên gia gọi đây là việc “vỡ trận quy hoạch” Nếu chúng ta không có giải pháp thì việc “vỡ trận” sẽ càng ngày càng trầm trọng hơn. Về quy hoạch của Hà Nội, một số chuyên gia cho rằng, việc xây dựng và phê duyệt quy hoạch rất chặt chẽ nhưng việc điều chỉnh và quản lý sau quy hoạch lại chưa tốt.
Xuất phát từ thực trạng đã nêu trên, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam qua thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội” cho khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân. Qua nghiên cứu các vấn đề về quy hoạch đô thị trên khía cạnh pháp lý và thực tiễn thực thi pháp luật quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, khóa luận làm rõ các điểm thuận lợi cũng như những hạn chế còn tồn tại trong chính sách pháp luật quy hoạch đô thị , từ đó đề xuất những kiến nghị phù hợp với Việt Nam từ kinh nghiệm của một số các quốc gia trên thế giới về những vấn đề như thẩm định, quản lý và giám sát quy hoạch đô thị.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đất đai là một tài nguyên vô cùng có giá trị vì nó đem lại cho con người vô vàn những giá trị về mọi mặt đời sống, kinh tế và xã hội. Nhiều lợi ích như vậy, khai thác đơn thuần thì đơn giản nhưng khai thác sao cho có hiệu quả nhất mới là vấn đề cần tập trung chú trọng của mọi chính quyền. Muốn khai thác đất đai hiệu quả, cần phải có những dự án quy hoạch thật sự khả thi. Tuy nhiên thực tế hiện nay, rất nhiều dự án quy hoạch liên tiếp thất bại hoặc kéo dài thời gian thực hiện do vướng mắc giải tỏa hoặc các vướng mắc phổ biến khác đã khiến dư luận đặt câu hỏi về tính khả thi, hợp lý, hợp pháp trong quá trình thực hiện một loạt các dự án quy hoạch đất đai. Trong công cuộc quy hoạch đất đai nói chung, quy hoạch đô thị nói riêng là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu luật học, kiến trúc học quan tâm nhiều nhất. Và sau đây là một số tác phẩm, bài viết về quy hoạch đô thị của một số học giả tiêu biểu:
Cuốn “Giáo trình Quản lý đô thị năm 2012” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do GS.TS Nguyễn Đình Hương chủ biên. Cuốn sách đề cập chủ yếu đến những nội dung cơ bản về quản lý đô thị như lý giải khái niệm quản lý đô thị, sự cần thiết của việc quản lý đô thị, đặc điểm của quản lý đô thị, mục đích, ý nghĩa và các nguyên tắc quản lý đô thị, nội dung quản lý đô thị .Trong đó, có nội dung đề cập về quy hoạch đô thị. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Cuốn “Giáo trình Quản lý nhà nước về đô thị”, xuất bản năm 2015 của Học Viện Hành chính – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh do PGS.TS Phạm Kim Giao làm chủ biên. Cuốn sách đi sâu tìm hiểu những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đô thị nói chung và quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị nói riêng.
Cuốn “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị”, xuất bản năm 2016 của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội do GS.TS Nguyễn Thế Bá chủ biên. Nội dung của cuốn sách chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy hoacḥ xây dựng nhằm phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được các giá trị văn hoá truyền thống.
Tác phẩm “Pháp luật về quy hoạch không gian xây dựng đô thị” của TS Doãn Hồng Nhung (chủ biên), NXB Xây dựng năm 2020.
Bài viết “Quản lý đô thị ở Việt Nam hiện nay” của TS. Doãn Hồng Nhung; Tạp chí Kiến Trúc – Hội Kiến trúc Việt Nam số 167 năm 2017. Bài viết tìm hiểu về thực trạng quản lý đô thị ở Việt Nam hiện nay; trong đó, có nội dung đề cập đến vấn đề quy hoạch đô thị.
Bài viết “Bài học nào cho phát triển đô thị ở Việt Nam” của KTS. Nguyễn Hữu Thái; Tạp chí Kiến Trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam số 167 năm 2017. Bài viết đề cập đến thực trạng phát triển đô thị nói chung và quy hoạch đô thị nói riêng; đồng thời, đề xuất một số giải pháp cho việc phát triển đô thị ở Việt Nam.
Bài viết “Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối với đô thị ở Việt Nam hiện nay” của TS. Doãn Hồng Nhung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7 năm 2018.
Nội dung chủ yếu của bài viết đề cập đến một số vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đô thị ở Việt Nam.
Ngoài các tác phẩm và bài viết như kể trên, còn có rất nhiều sinh viên bậc cử nhân, cao học lựa chọn các đề tài có liên quan đến pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc đánh giá về mặt lý luận và thực tiễn hiệu quả của pháp luật quy hoạch đô thị thông qua thực tiễn thi hành tại một thành phố cụ thể có tốc độ đô thị hóa cao nhất nhì cả nước,đồng thời đưa ra giải pháp về mặt pháp luật cụ thể đối với bản thân thành phố đó, mà cụ thể là thành phố Hà Nội, thì chưa có một luận văn hay khóa luận nào thực sự đề cập một cách sâu sắc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là thông qua phân tích, đánh giá thực trạng việc thực thi pháp luật quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, thông qua đó phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật đô thị Việt Nam và đề xuất một số giải pháp có thể tác động tích cực và giúp thúc đẩy công cuộc quy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội được hiệu quả.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về đô thị và quy hoạch đô thị, làm nối bật lên vai trò của công tác quy hoạch đô thị.
- Quy định của pháp luật Việt Nam có ảnh hưởng đến quá trình quy hoạch đô thị
- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội, làm nổi bật lên các điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội của thành phố Hà Nội và nguyên nhân dẫn đến việc quy hoạch đô thị không hiệu quả ở thành phố Hà Nội.
- Thông qua việc đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội, phân tích , đánh giá một số quy định còn chưa hợp lý của pháp luật quy hoạch đô thị tại Việt Nam
- Khảo sát, phân tích, đánh giá cách mà một số các quốc gia trên thế giới quy hoạch đô thị tại các thành phố lớn của họ; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm phù hợp cho quy hoạch đô thị nói chung ở Việt Nam và quy hoạch đô thị nói riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Khóa luận nghiên cứu về những quy định pháp luật về quy hoạch đô thị. Đồng thời nghiên cứu các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc lập, thẩm định, tư vấn, quản lý và giám sát quy hoạch đất đô thị dẫn tới việc quy hoạch đô thị không được hiệu quả.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Có rất nhiều vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận chỉ chủ yếu nghiên cứu các quy định về quá trình lập, thẩm định, tư vấn, quản lý và giám sát quy hoạch đô thị một cách tổng quát nhất trong pháp luật Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Khóa luận chủ yếu sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp duy vật biện chứng: xem xét vấn đề pháp luật về quy hoạch đô thị một cách toàn diện trong mối quan hệ mật thiết với các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam
Phương pháp phân tích- tổng hợp: phân chia các vấn đề lớn, phức tạp thành những vấn đề nhỏ, chi tiết, cụ thể hơn. Sau khi phân tích thì tổng hợp lại và đánh giá khái quát hướng tới sự nhận thức tổng thể về vấn đề quy hoạch đô thị ở Việt Nam
Phương pháp thống kê: Đề tài tập hợp các văn bản pháp luật của Việt Nam liên quan đến vấn đề lập, thẩm định, tư vấn, quản lý, giám sát quy hoạch đô thị trong thực tiễn làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu làm rõ mục đích nghiên cứu của đề tài
Phương pháp so sánh: Phân tích điểm giống và khác của pháp luật các quốc gia về quy hoạch đô thị so với pháp luật Việt Nam, từ đó tiếp nhận, lan tỏa, khuếch tán pháp luật nước ngoài hoặc cấy ghép pháp luật một cách hợp lý vào pháp luật Việt Nam.
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Đưa ý kiến của những chuyên gia trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, những nhà luật học hoặc những luật sư có kinh nghiệm, hiểu biết rộng về vấn đề quy hoạch đô thị, sự đánh giá của chuyên gia về thực trạng pháp luật quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
6. Tính mới của nghiên cứu: Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Thực tế cho thấy vấn đề quy hoạch đô thị ở Việt Nam không phải là một vấn đề mới, điều này thể hiện ở việc có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu khá là toàn diện về cả mặt lý luận và thực tiễn thực thi pháp luật quy hoạch đô thị tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc đánh giá về mặt lý luận và thực tiễn hiệu quả của pháp luật quy hoạch đô thị thông qua thực tiễn thi hành tại một thành phố cụ thể có tốc độ đô thị hóa cao nhất nhì cả nước, đồng thời đưa ra giải pháp về mặt pháp luật cụ thể đối với bản thân thành phố đó, mà cụ thể là thành phố Hà Nội, thì chưa có một luận văn hay khóa luận nào thực sự đề cập một cách sâu sắc hay nghiên cứu một cách tổng thể mà chỉ dưới hình thức những bài viết đơn lẻ.
7. Bố cục của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quy hoạch đô thị
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội
- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam qua thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
1.1. Những khái niệm cơ bản về đô thị
1.1.1. Khái niệm đô thị, đô thị thông minh và đô thị bền vững
Đô thị xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử từ thời con người ra khỏi hang động và bắt đầu cuộc sống quần cư với hình thức “làng sơ khai” . Đây được coi là “không gian sống” đảm bảo điều kiện cho các cá thể trong quần cư: có chỗ nương tựa, chống chọi lại điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên, sự xâm chiếm của các thế lực khác. Xuất hiện sớm là vậy, nhưng để thực sự phát triển và được định nghĩa một cách rõ ràng thì phải là những thập kỷ gần đây. Ngày nay, đô thị đã trở thành một hình thức cư trú phổ biến và mọi tâm điểm của cuộc sống nhân loại đều diễn ra tại các thành phố. Câu hỏi đặt ra là “Đô thị là gì và tại sao chúng tồn tại?” – Đó là câu hỏi cơ bản nhất mà những nhà nghiên cứu, quản lý và quy hoạch đô thị phải trả lời. Cụ thể, dựa vào khảo cổ, đô thị đầu tiên trên thế giới là làng Uruk ở vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay) cách đây gần 5000 năm. Sự ra đời của đô thị với những cư dân phi nông nghiệp đầu tiên gắn liền với thặng dư trong sản xuất nông nghiệp cho phép một nhóm người làm nông có thể tạo ra lượng nông sản không chỉ đủ nuôi sống chính họ mà còn cung cấp cho những người khác không làm nông nghiệp. Tại Việt Nam, xu hướng đô thị hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh và trên phạm vi rộng lớn. Theo số liệu của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 19,6% năm 2017 lên 36,6% năm 2024 và đến năm 2028 dự kiến sẽ là 45%.
Theo pháp luật Việt Nam hiện tại, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, sự phát triển của đô thị luôn gắn liền với nền kinh tế phi nông nghiệp, nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa càng diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, khác với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, thực trạng đô thị hóa của nước ta có đặc điểm là quá trình đô thị hóa nông thôn thành thành thị, biến đổi các làng, xã nông nghiệp thành các quận, phường của đô thị. Làn sóng chuyển cư tới các đô thị ngày càng gia tăng sớm hơn tốc độ phát triển của nền công nghiệp, dịch vụ.
Tại Việt Nam việc bùng nổ của quá trình đô thị hóa vừa đem lại lợi nhuận khổng lồ cho giới kinh doanh bất động sản vừa tạo ra nhiều thách thức như việc tìm kiếm việc làm, vấn đề về giao thông, cơ sở hạ tầng, vấn đề quá tải và chất lượng sống ở các đô thị. Trước những thách thức đó, nhất là với các đô thị lớn và cực lớn, vấn đề “Phát triển đô thị bền vững” đang được đặt ra và đã được các nhà khoa học bàn luận khá sôi nổi trên các diễn đàn trong nước và quốc tế.
Cụ thể, theo Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa : Phát triển bền vững chính là sự duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người về mặt xã hội, kinh tế, môi trường trong giới hạn khả năng chịu tải của các hệ sinh thái dịch vụ và cơ sở tài nguyên của môi trường, nghĩa là vẫn đảm bảo tính bền vững của môi trường”.
Còn phát triển bền vững theo pháp luật Việt Nam là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
Có thể thấy, về bản chất, phát triển bền vững là một quá trình biến đổi mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm tạo ra sự tối ưu nhất trong tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người mà không làm tổn hại đến hệ các sinh thái và môi trường trong hiện tại cũng như trong tương lai. Tổng quát hơn, phát triển bền vững chính là một quá trình liên tục cân bằng và hoà nhập các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Nó đảm bảo sự trường tồn của nhân loại. Vì thế, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược cho toàn cầu, cho từng quốc gia, từng khu vực cũng như cho từng đô thị. Trên cơ sở nguyên lý phát triển bền vững như trên, với đặc thù của một đô thị, khái niệm phát triển đô thị bền vững có thể được hiểu là “mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa: Kinh tế đô thị; Văn hóa xã hội đô thị; Môi trường – Sinh thái đô thị; Cơ sở hạ tầng đô thị và Quản lý đô thị”. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Tuy nhiên với thời đại của nền công nghiệp công nghệ thông tin như hiện tại cũng như dự báo về sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực này trong tương lai, cần hiểu rằng phát triển đô thị bền vững thôi là chưa đủ và chưa phải là biện pháp tối ưu nhất bởi đô thị trong bất cứ thời đại nào đều hướng đến mục tiêu đáp ứng tốt nhất nhu cầu phát triển của con người, cũng như thiết chế quản lý xã hội của đô thị, và “đô thị thông minh” là đô thị làm tốt nhất mục tiêu đó. Chúng ta có thể hiểu “đô thị thông minh” là khái niệm được “nhân cách hóa” để đô thị thật sự có thể hiểu rõ – nhờ khả năng quan sát, tạo lập các không gian sống tương hỗ – nhờ khả năng ghi nhớ và óc sáng tạo, và những đáp ứng phục vụ con người không chỉ ở một vài lĩnh vực – nhờ vào năng lực tổng hợp của nhiều loại năng lực để hẳn nhiên đô thị phải được thiết kế, xây dựng và quản lý với mục tiêu cao nhất là phục vụ con người; bao gồm việc tạo điều kiện tốt nhất để phát huy năng lực sáng tạo, óc tưởng tượng của cư dân sống trong đô thị đó. Từ đó, chính những cư dân của đô thị bầu ra những chính quyền quản lý hiệu quả để xây dựng những chính sách, chiến lực phát triển đô thị có khả năng thích ứng và vận dụng hiệu quả trong điều kiện thực tế của kinh tế – xã hội – văn hóa và môi trường; tạo nên một “kết cấu hữu hiệu” nhằm xây dựng không gian sống bền vững.
Hay theo một quan điểm khác, đô thị thông minh là đô thị hoặc khu vực dân cư ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông một cách nhuần nhuyễn, kết nối với mọi thành phần của hệ thống có khả năng cung cấp theo thời gian thực, tự động hóa và có tương tác, nhằm huy động tốt nhất các nguồn lực con người, trang thiết bị và các yếu tố tự nhiên khi hệ thống vận hành. Với các hệ thống liên quan đến người dân thì họ phải được đặt ở vị trí trung tâm, phải là mục tiêu phục vụ.
Tóm lại, khái niệm về “đô thị thông minh” cần được hiểu theo cả nghĩa rộng, tức là bên cạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ thì đô thị thông minh còn cần được hiểu là việc ứng dụng các giải pháp mang tính toàn diện và sáng tạo ,tổng hợp các năng lực vốn có trong đô thị nhằm xây dựng các giải pháp quản lý và ứng xử khoa học đối với môi trường sống của chính mình, chung tay xây dựng một môi trường đô thị phát triển bền vững, phục vụ tối đa lợi ích của các cá thể sống trong đô thị.
1.1.2. Phân loại đô thị Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Đô thị tại Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng. Do đó, các đô thị Việt Nam được chia thành 6 loại, dùng số La Mã để phân ra các đô thị đặc biệt, loại I và loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận.
Hiện ở Việt Nam có hai thành phố được chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt là thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Đây cũng là hai đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt và trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước.
Việc phân loại đô thị thuộc loại nào phải dựa vào những tiêu chí nhất định và trình tự, thủ tục phân loại cụ thể .Việc phân loại đô thị được thực hiện bằng phương pháp tính điểm. Điểm phân loại đô thị là tổng số điểm đạt được của các tiêu chí. Trong đó, cần lưu ý một số cách phân loại đô thị áp dụng cho một số loại đô thị có tính chất đặc thù như sau:
Thứ nhất là, đối với đô thị là trung tâm du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo thì tiêu chí quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 70% mức quy định; các tiêu chí khác phải bảo đảm mức quy định của loại đô thị tương ứng.
Thứ hai là, đối với đô thị loại III, loại IV và loại V ở miền núi, vùng cao, có đường biên giới quốc gia thì tiêu chí quy mô dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí khác tối thiểu đạt 70% mức quy định của loại đô thị tương ứng.
Thứ ba là, đô thị ở hải đảo thì tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc cảnh quan đô thị tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí về quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và tiêu chuẩn về kinh tế – xã hội tối thiểu đạt 30% mức quy định của loại đô thị tương ứng. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
1.1.3. Đặc điểm của các loại đô thị
Như đã đề cập ở phần trên, đô thị ở Việt Nam được phân thành 6 loại gồm loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V. Thành phố trực thuộc Trung ương phải là đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I; thành phố thuộc đơn vị hành chính cấp tỉnh phải là đô thị loại I, loại II hoặc loại III; thị xã thuộc đơn vị hành chính cấp tỉnh phải là đô thị loại III hoặc loại IV; thị trấn thuộc huyện phải là đô thị loại IV hoặc loại V.
Theo đó, đô thị loại đặc biệt có đặc điểm là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước;
Đô thị loại I có đặc điểm là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng hoặc cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước;
Đô thị loại II có đặc điểm là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng, cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh hoặc một vùng liên tỉnh;
Đô thị loại III có đặc điểm là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, vùng liên tỉnh;
Đô thị loại IV có đặc điểm là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh, cấp huyện về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp huyện, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, huyện hoặc vùng liên huyện;
Đô thị loại V có đặc điểm là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng hợp cấp huyện hoặc trung tâm chuyên ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện hoặc cụm liên xã;
Bên cạnh những đặc điểm về vị trí, vai trò và chức năng của từng loại đô thị, ứng với mỗi loại hình đô thị sẽ có những đặc điểm về cơ cấu- trình độ phát triển kinh tế- xã hội đạt tiêu chuẩn, quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn đặc thù.
1.2. Tổng quan về quy hoạch đô thị Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
1.2.1. Khái niệm quy hoạch đô thị, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch đô thị
Trong số nhiều lĩnh vực nghiên cứu đô thị, quy hoạch đô thị là một ngành có tính thực hành và công cụ mạnh mẽ, nhằm định hướng phát triển các thành phố và đề ra giải pháp cho các vấn nạn đô thị. Là một lĩnh vực mà định nghĩa và trách nhiệm nghề nghiệp quá lớn nhưng lại mập mờ và không thể định nghĩa cụ thể, cách hiểu về quy hoạch và sản phẩm quy hoạch có sự khác biệt ít nhiều giữa các quốc gia, nhất là giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới.
Ở giai đoạn đầu và giữa thế kỷ 20, quy hoạch đô thị được quan niệm như là thiết kế một đô thị, tổ chức, bố trí hình dạng vật thể của nó. Vai trò chính thực hiện quy hoạch được trao cho kiến trúc sư quy hoạch và kỹ sư xây dựng, những người được đào tạo và có chuyên môn về việc thiết kế nên những sản phẩm vật chất dành cho con người cư trú. Sản phẩm của quan niệm quy hoạch đô thị này là những bản quy hoạch tổng thể đã vẽ nên trạng thái đô thị ở trạng thái cuối cùng theo ý tưởng của các kiến trúc sư.
Tiếp thu các lý luận phê bình và để thay thế cho quan niệm thiết kế hình dạng vật thể của đô thị, những năm 1960 xuất hiện hai quan niệm thay thế. Quan điểm thứ nhất là sửa chữa quan điểm trước kia, tức là người làm quy hoạch trước hết phải tìm hiểu thật kỹ về cuộc sống đô thị trước khi tiến hành thực hiện quy hoạch. Đô thị xem như một hệ thống các chức năng của các hoạt động và người dân ràng buộc nối kết với nhau. Và nhà quy hoạch phải hiểu đô thị như một hệ thống đang hoạt động sau đó mới can thiệp để tối ưu hóa hoạt động của hệ thống đó.
Quan điểm thay thế thứ hai là coi quy hoạch đô thị như một tiến trình tác động liên tục, can thiệp nhiều lần chứ không phải thiết kế và xây dựng một lần là đạt được trạng thái cuối cùng. Cách tiếp cận này là cách áp dụng lý thuyết và ra quyết định trong lĩnh vực khoa học về quản trị sang đối với quy hoạch đô thị. Theo đó thì sau khi xác định các vấn đề đô thị và các mục tiêu của quy hoạch, nhà quy hoạch sẽ cân nhắc các chính sách hoặc các quy hoạch thay thế sau đó thực hiện, khi thực hiện thì giám sát liên tục về hiệu quả thực hiện và tiến trình này sẽ luôn vận hành cho đến lúc đã cải tạo được trạng thái quy hoạch cũ hoặc xuất hiện vấn đề mới. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Những năm 60, khi các phong trào dân chủ, nhân quyền, nữ quyền diễn ra mạnh mẽ ở các nước phương tây thì quy hoạch đô thị cũng không là ngoại lệ. Người ta đặt các vấn đề quy hoạch phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương, và ý kiến của những người dân phải có tầm quan trọng ngang với những nhà quy hoạch và quản lý. Vấn đề của quy hoạch là xây dựng một môi trường đô thị tốt để cho cộng đồng sinh hoạt, hướng tới cái phải đạt được chứ không phải hướng tới cái có thể đạt được. Một dự án quy hoạch đô thị ảnh hưởng khác nhau tới những nhóm xã hội trong cộng đồng, nên sẽ dẫn đến một sự đồng thuận chung, công khai để đạt được các giá trị chung, cân bằng giữa các nhu cầu của các nhóm. Như vậy quyết định quy hoạch không còn dựa trên ý chí của nhà quy hoạch hay cơ sở khoa học nữa, mà là một lựa chọn chính trị và giá trị đạt được. Tức là theo quan điểm này quy hoạch đô thị đã trở thành hoạt động chính trị. Và cho đến ngày nay, quan điểm quy hoạch đô thị là một hoạt động chính trị vẫn còn nguyên giá trị, theo đó quan điểm của nhà quy hoạch không được trái với lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội. Ở Việt Nam, quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.
Về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị, căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế – xã hội và phát triển của đô thị, quy hoạch đô thị sẽ định ra tính chất, quy mô, phương châm xây dựng đô thị, các bộ phận hợp thành của đô thị, sắp xếp một cách hợp lý toàn diện, bảo đảm cho sự phát triển đô thị được hài hòa và có trật tự, tạo ra những điều kiện có lợi cho cuộc sống và sản xuất. Tuy nhiên, trong quy hoạch đô thị cùng với việc bố trí cụ thể khoảnh đất dùng cho các dự án, sẽ giải quyết cả vấn đề tổ chức và sắp xếp các nội dung xây dựng. Quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm xác định chiến lược dài hạn về vị trí, quy mô và cơ cấu sử dụng toàn bộ đất đai cũng như bố cục không gian trong khu vực quy hoạch đô thị. Quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất công nghiệp có mối quan hệ diện và điểm, cục bộ và toàn bộ. Sự bố cục, quy mô sử dụng đất, các chỉ tiêu chiếm đất xây dựng… trong quy hoạch đô thị sẽ được điều hòa với quy hoạch sử dụng đất đai. Quy hoạch sử dụng đất đai sẽ tạo những điều kiện tốt cho xây dựng và phát triển đô thị.
1.2.2. Khái niệm pháp luật về quy hoạch đô thị
Pháp luật về quy hoạch đô thị là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí ,đường lối của Đảng và Nhà nước về những vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động quy hoạch đô thị gồm lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; quyền và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong việc tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt .
1.3. Vai trò và ý nghĩa của quy hoạch đô thị Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
1.3.1. Mối quan hệ giữa Luật quy hoạch đô thị với các ngành luật khác
Thứ nhất là, mối quan hệ giữa Luật quy hoạch đô thị với Luật Quy hoạch Dự thảo mới nhất của Luật Quy hoạch năm 2025 gồm 6 Chương với 69 Điều và hai Phụ lục. Nội dung Dự thảo quy định hệ thống quy hoạch quốc gia, các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch, nhiệm vụ, quyền hạn các cấp chính quyền trong lĩnh vực quy hoạch, trình tự lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch, thực hiện và giám sát việc thực hiện quy hoạch, các hành vi bị cấm trong hoạt động quy hoạch và nguyên tắc chế tài các vi phạm. Quy định tại Luật Quy hoạch năm 2025 đã có nhiều điểm mới, trong đó nổi lên 4 nội dung chính: (1) Hoàn thiện hệ thống thông tin dữ liệu phục vụ quy hoạch; (2) Hoàn thiện quy trình giám sát hoạt động quy hoạch; (3) Đánh giá hoạt động quy hoạch;
Phân định rõ vai trò của Chính phủ, Bộ Kế hoạch Đầu tư và Bộ Xây dựng và các Bộ ngành khác trong hoạt động quy hoạch.
Như vậy, có thể thấy Luật Quy hoạch và Luật Quy hoạch đô thị có tương đối nhiều điều quy định giống nhau, giống nhau về cấu trúc nhưng nội dung khác nhau do phạm vi và đối tượng điều chỉnh khác nhau. Theo đó, Luật Quy hoạch năm 2025 chủ yếu tập trung vào vấn đề quy hoạch không gian tổng thể trên toàn bộ lãnh thổ và vấn đề quản lý nhà nước về quy hoạch nói chung. Luật Quy hoạch một khi có hiệu lực (ngày 01/01/2027) sẽ đóng vai trò như “luật xương sống” với chức năng quy định các nghĩa vụ và nguyên tắc quản lý xuyên suốt các hoạt động quy hoạch của các cấp chính quyền, tạo khuôn khổ cho việc đưa ra các quy định về quy hoạch trong các văn bản pháp luật thực định và các văn bản dưới luật có liên quan của chính quyền. Cũng theo pháp luật Việt Nam, quy hoạch đô thị được coi là một trong 5 ngành trong hệ thống quy hoạch quốc gia bởi quy hoạch đô thị bản thân nó có tính ràng buộc cao về thực thi và sẽ là cơ sở vững chắc để định vị và xác lập khuôn khổ cho tổ chức không gian lãnh thổ ở cấp độ cao hơn. Tuy nhiên, quy mô vùng đô thị thực tế rất đa dạng và không nên coi là một cấp độ dưới tỉnh. Bản chất Quy hoạch tỉnh là quy hoạch nghiên cứu về vùng nhưng ranh giới tỉnh chỉ là yếu tố chủ quan và việc nghiên cứu giải quyết vấn đề ở cấp độ vùng (vùng địa lý, định cư, hoặc kinh tế) cần thoát khỏi rào cản của ranh giới hành chính.
Việc Quy hoạch đô thị phải tuân theo những quy định về quản lý Nhà nước về quy hoạch và nguyên tắc chung trong quy hoạch lãnh thổ quốc gia trong Luật Quy hoạch năm 2025.Luật Quy hoạch đô thị đóng vai trò như luật chuyên ngành, cụ thể hóa và đi sâu vào mảng xây dựng đô thị. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Thứ hai là, mối quan hệ giữa Luật Quy hoạch đô thị và Luật Đầu tư công Luật Quy hoạch đô thị quy định về hoạt động quy hoạch đô thị gồm lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt còn Luật Đầu tư công quy định việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; quản lý nhà nước về đầu tư công; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công. Như vậy, quy hoạch đô thị được thực hiện trên cơ sở sự tham gia chủ đạo của công tác quản lý của cơ quan Nhà nước và bất kỳ việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư, gọi tắt là vốn đầu tư công, vào chính sách quy hoạch xây dựng đô thị thì đều phải tuân theo sự điều chỉnh của Luật Đầu tư công. Hoạt động lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý đô thị có sử dụng vốn đầu tư công trong Luật Quy hoạch đô thị phải tuân thủ mọi nguyên tắc và quy định có liên quan trong Luật Đầu tư công năm 2022.
Thứ ba là, mối quan hệ giữa Luật Quy hoạch đô thị và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Hệ thống quy hoạch của Châu Âu hoặc các nước phát triển được hình thành khi đã có nền tảng quy hoạch đô thị tích hợp, ra quyết định chiến lược, tham gia và việc tích hợp cấp độ cao hơn không gặp nhiều trở ngại bởi họ xây từ dưới. Tổ chức chính quyền tự chủ đòi hỏi cơ sở phải xây dựng năng lực quản lý quy hoạch gắn với nguồn lực, xây nhà khi đã có móng. Trong khi đó ở Việt Nam hiện tập trung năng lực từ “trên” xuống. Chính quyền đô thị chưa hình thành, quy hoạch đô thị chủ yếu do trên phê duyệt, năng lực tư vấn từ bên ngoài, và nguồn lực ‘trên’ cấp phát.
Có thể thấy, chính quyền địa phương ở mỗi đơn vị hành chính có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng nền móng và đảm bảo nguồn lực hợp lý nhất đối với chính sách quy hoạch đô thị , đồng thời cũng là nơi có tác động và ảnh hưởng to lớn nhất đến việc thực thi những quy định trong Luật Quy hoạch đô thị.Vì thế, Luật tổ chức chính quyền địa phương với phạm vi quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính có vai trò quan trọng và mối quan hệ mật thiết đối với các quy định trong Luật Quy hoạch đô thị. Chủ thể quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương cũng là một trong những chủ thể có trách nhiệm chi phối chủ yếu trong việc thực thi Luật quy hoạch đô thị và là chủ thể có nhiệm vụ giám sát hoạt động quy hoạch đô thị tại các địa phương.
- Thứ tư là, mối quan hệ giữa Luật Quy hoạch đô thị và Luật Thủ đô
Đối với việc nghiên cứu quy hoạch đô thị tại một trong hai đô thị đặc biệt của Việt Nam, cụ thể là tại thành phố Hà Nội, thì Luật Thủ đô là một văn bản pháp luật không thể thiếu trong việc tìm hiểu vị trí, vai trò của Thủ đô; cũng như chính sách, trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô. Quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội không được trái với nguyên tắc chung và giá trị truyền thống của thành phố được quy định tại Luật Thủ đô.
1.3.2. Những yêu cầu đối với quy hoạch đô thị Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Một quy hoạch đô thị được phê duyệt về nguyên tắc phải đảm bảo đủ 7 tiêu chí như sau:
Thứ nhất là, cụ thể hoá định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia và các quy hoạch vùng liên quan; phù hợp với mục tiêu của chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; bảo đảm tính thống nhất với quy hoạch phát triển các ngành trong phạm vi đô thị; bảo đảm công khai, minh bạch và kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân.
Thứ hai là, dự báo khoa học, đáp ứng được yêu cầu thực tế và phù hợp với xu thế phát triển của đô thị; tuân thủ quy chuẩn về quy hoạch đô thị và quy chuẩn khác có liên quan.
Thứ ba là, bảo vệ môi trường, phòng ngừa hiểm hoạ ảnh hưởng đến cộng đồng, cải thiện cảnh quan, bảo tồn các di tích văn hoá, lịch sử và nét đặc trưng địa phương thông qua việc đánh giá môi trường chiến lược trong quá trình lập quy hoạch đô thị.
Thứ tư là, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả đất đô thị nhằm tạo ra nguồn lực phát triển đô thị, tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.
Thứ năm là, bảo đảm tính đồng bộ về không gian kiến trúc, hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị và không gian ngầm; phát triển hài hoà giữa các khu vực trong đô thị.
Thứ sáu là, đáp ứng nhu cầu sử dụng nhà ở, công trình y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, thương mại, công viên, cây xanh, mặt nước và công trình hạ tầng xã hội khác.
Thứ bảy là, đáp ứng nhu cầu sử dụng hạ tầng kỹ thuật gồm hệ thống giao thông, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc và các công trình hạ tầng kỹ thuật khác; bảo đảm sự kết nối, thống nhất giữa các hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong đô thị và sự liên thông với các công trình hạ tầng kỹ thuật cấp vùng, quốc gia và quốc tế. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Theo đó, yêu cầu về vấn đề đảm bảo bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn được giá trị truyền thống song song với việc đảm bảo tính đồng bộ, hài hòa trong không gian đô thị và nhu cầu sử dụng hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống giao thông, xử lý chất thải, cung cấp điện , nước trong quy hoạch đô thị ngày càng được coi trọng và là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quy hoạch.
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch đô thị
Để tiến hành quy hoạch đô thị, cần xác định những yếu tố cấu thành và ảnh hưởng quyết định đến mọi hoạt động kinh tế, kĩ thuật và xã hội sẽ xẩy ra trên khu đô thị. Nghiên cứu những yếu tố trên nhằm tạo cơ sở để xác định các phương án, giải pháp kĩ thuật đúng đắn, hiệu quả của đồ án quy hoạch đô thị chi tiết.
Những yếu tố tổng hợp có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành các hoạt động quy hoạch đô thị bao gồm:
Thứ nhất là, yếu tố khách quan thể hiện ở mối quan hệ giữa đất khu đô thị với môi trường xung quanh: Với tư cách là một bộ phận hữu cơ của không gian đô thị hay của vùng, nhũng ảnh hưởng qua lại, mối quan hệ không gian, chức năng giữa khu đất đô thị với môi trường xung quanh là một trong những yếu tố quyết định đến mọi hoạt động trên khu đô thị dự kiến quy hoạch.
Thứ hai là, những điều kiện, tiềm năng của khu đô thị: Những yếu tố như điều kiện tự nhiên của khu vực như khí hậu, địa hình, địa chất, thủy văn, những đặc trưng của cảnh quan khu vực và các điều kiện hiện trạng về sử dụng đất, dân cư, các công trình kiến trúc, hạ tầng kĩ thuật tại khu vực cũng có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quy hoạch đô thị đó.
Thứ ba là, những hoạt động kinh tế, kĩ thuật và xã hội đã hình thành trên khu đất đô thị như nhà ở, sản xuất, giao thông, hoạt động văn hóa, dịch vụ, giáo dục, giải trí,…sẽ ảnh hưởng đến xây dựng đồ án quy hoạch đô thị và công tác thực thi, quản lý quy hoạch đô thị sau này.
Thứ tư là, yếu tố chủ quan về con người, mà cụ thể là tầm nhìn, kinh nghiệm của các nhà quy hoạch, sự hợp tác của các ban , ngành, cơ quan tổ chức có liên quan và sự hiểu biết của người dân về tầm quan trọng của quy hoạch đô thị.
1.5. Pháp luật điều chỉnh quy hoạch đô thị và ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với quy hoạch đô thị Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Quy hoạch là quá trình (i) nhận dạng các mục tiêu cần đạt tới, (ii) xác định chiến lược để đạt mục tiêu, (iii) xây dựng các biện pháp, chỉ ra các nguồn lực cần huy động để thực hiện, (iv) tổ chức, chỉ đạo và giám sát tất cả mọi giai đoạn thực hiện, và thường thì còn tiến hành các điều chỉnh cần thiết để quy hoạch phù hợp với thực tiễn trong từng giai đoạn. Quy hoạch là một hoạt động bao gồm nhiều loại hình và nhiều thứ bậc, hình thành hệ thống quy hoạch quốc gia. Việc quản lý nhà nước đối với một hệ thống quy hoạch rộng lớn và đa dạng như vậy khó có thể điều tiết bằng luật thông thường để quy định quyền và trách nhiệm của các thành viên trong xã hội đối với hành vi của họ. Khi đó, Nhà nước ban hành “luật khung” có chức năng quy định các nghĩa vụ và nguyên tắc quản lý các hoạt động quy hoạch của các cấp chính quyền, tạo khuôn khổ cho việc đưa ra các quy định về quy hoạch trong các luật thực chất và các văn bản pháp quy dưới luật có liên quan của chính quyền.Đó là cơ sở dẫn đến việc Luật Quy hoạch năm 2025 ra đời, nhưng là chưa đủ để có thể xóa bỏ vai trò của Luật Quy hoạch đô thị bởi các quy hoạch trên cấp độ đô thị đều có gốc rễ là đô thị và vùng đô thị. Cụ thể, việc lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện, điều chỉnh quy hoạch đô thị thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị, pháp luật về xây dựng và chỉ có hiệu lực khi được tích hợp vào quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh được quy định trong Luật Quy hoạch.Việc công bố, công khai quy hoạch đô thị thực hiện theo quy định của Luật Quy hoạch, pháp luật về quy hoạch đô thị và pháp luật về xây dựng.
Quy hoạch vùng, quốc gia, và nông thôn được hình thành và phát triển sau và phụ thuộc vào chính các đô thị hiện hữu. Quy hoạch vùng hình thành khi đô thị mở rộng, khi hệ thống hạ tầng vùng cần phát triển, tài nguyên vùng cần khai thác gắn với các trung tâm sản xuất và tiêu thụ là các đô thị. Quy hoạch nông thôn gắn với quá tình nâng cấp tiện ích ở khu vực nông thôn sử dụng cách tiếp cận định cư đô thị. Nhu cầu làm quy hoạch nông thôn cũng tập trung ở các vùng ven đô để phục vụ quá trình đô thị hóa và củng cố mối liên kết đô thị – nông thôn trong cơ cấu phát triển mới. Nói cách khác, hệ thống đô thị và sự vận động nhanh của bộ khung này là trung tâm trong việc định hình tổ chức không gian lãnh thổ.
Vì có vai trò quan trọng và đặc thù như vậy, nên vẫn cần thiết phải có một văn bản pháp luật riêng quy định cụ thể về vấn đề quy hoạch đô thị. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
1.6. Kinh nghiệm quy hoạch đô thị tại một số Thành phố của Trung Quốc
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng có sự gần gũi về mặt thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa. Trung Quốc quá độ sang kinh tế thị trường cũng chỉ trước Việt Nam không lâu, vì vậy thực tiễn đô thị hóa Trung Quốc để lại cho nước ta rất nhiều bài học quý giá, có thể giúp nước ta học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý giá trong công cuộc quy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch đô thị bền vững trong một thành phố cụ thể nói riêng. Cho đến hiện tại, đô thị hóa của Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu phi thường, góp phần đưa kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng.Thế nhưng quá trình đó cũng đặt ra nhiều vấn đề về suy thoái môi trường, giảm đất canh tác, tạo áp lực lớn đối với tài nguyên thiên nhiên (năng lượng, nước, đất), thiếu nhà ở thích hợp, thay đổi phương thức tiêu dùng (chẳng hạn từ ăn nhiều ngũ cốc sang ăn nhiều thịt, tiêu thụ nhiều năng lượng). Sự lan tỏa đô thị tự phát và tình trạng “xa lánh xã hội” (social alienation) khiến Trung Quốc phải đối diện với nhiều thách thức to lớn. Nhìn chung các thách thức đối với đô thị hóa Trung Quốc có thể quy về 3 chủ đề lớn là đất đai, con người và môi trường. Ngoài ra, năng lực quản lý đô thị cũng là thách thức quan trọng.
Đặc biệt, tại Trung Quốc, quá trình quy hoạch mỗi thành phố, đã quan tâm đến sự phát triển cân bằng, hài hòa giữa các khu vực; giữa thành thị và nông thôn, nhằm đảm bảo sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm đất đai, tiết kiệm sử dụng đất nông nghiệp, phát huy vai trò và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Mục tiêu quy hoạch đô thị để thúc đẩy quá trình đô thị hóa bền vững, góp phần phát triển kinh tế xã hội chung, hỗ trợ nông thôn cùng phát triển, nâng cao đời sống nhân dân, hội nhập kinh tế quốc tế.
Một trong những thành công trong việc quy hoạch đô thị của Trung Quốc phải kể đến Thành phố Thâm Quyến – Kể từ khi thành lập hồi tháng 5/1980, đặc khu kinh tế Thâm Quyến được trao sứ mệnh là “cửa sổ mở và khu thí điểm” của cải cách mở cửa.
So sánh với Hồng Kông, mới đây, tổng sản phẩm quốc nội của Hồng Kông đã tăng 3,8% lên 2,66 tỷ đô la Hồng Kông (340 tỷ USD). Mặc dù đạt mức tăng trưởng nhanh nhất kể từ năm 2019, GDP của thành phố/đặc khu kinh tế này vẫn giảm xuống thấp hơn GDP của Thâm Quyến, khi nền kinh tế của thành phố này tăng trưởng 8,8% lên 2,24 tỷ Nhân dân tệ (355 tỷ USD) vào năm 2025. Sự thay đổi trong bảng xếp hạng làm nổi bật sự tích tụ của sự giàu có chưa từng có
Thẩm Quyến trong suốt bốn thập kỷ qua. Là đặc khu kinh tế đầu tiên do cố Chủ tịch Trung Quốc Đặng Tiểu Bình thành lập, Thâm Quyến đã vươn mình từ một làng chài nhỏ thành một trung tâm sáng tạo toàn cầu, được gọi là thung lũng Silicon của Trung Quốc. Đây cũng là nơi có các gã khổng lồ công nghệ như Tencent Holdings, nhà sản xuất điện thoại thông minh Huawei Technologies và Da-Jiang Innovations. Đặc biệt, trong khi giá nhà ở tại các thị trường trọng điểm trên toàn thế giới tăng 4,4% trong năm 2023, dẫn đầu bởi các thành phố thuộc Thâm Quyến, Trung Quốc. Tại Thâm Quyến giá bất động sản tăng 47,5% và cao hơn 22% so với thành phố đứng thứ hai là Auckland ở New Zealand nơi có mức giá tăng 25,4% cũng vào năm 2023.
Được thúc đẩy bởi bối cảnh đổi mới sôi động, Thâm Quyến hiện nay đã trở thành trung tâm kinh tế lớn thứ ba ở Trung Quốc, sau Bắc Kinh và Thượng Hải. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Ban đầu, Thâm Quyến được chọn làm đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc do lợi thế nằm giáp Hồng Kông (lúc đó còn thuộc Vương quốc Anh). Tính đến cuối năm 2023, từ một thị trấn ven biển nhỏ với chỉ hơn 30 nghìn dân, Thâm Quyến đã phát triển thành một siêu đô thị hiện đại, diện tích gần 2.000 km2, với hơn 18 triệu dân (trong đó hơn 11 triệu cư dân thường trú).
Việc hình thành và phát triển thiết kế đô thị tại Thâm Quyến cũng chưa được định hình rõ ràng khi hình thành đặc khu kinh tế vì tại thời điểm này các nhà quy hoạch của Trung Quốc vẫn chưa biết nhiều về thiết kế đô thị. Tới tận năm 1986 theo chủ trương của chính quyền trung ương, Trung Quốc đã cử một đoàn các nhà quy hoạch sang Mỹ học về thiết kế đô thị thiết kế thành phố, một trong những người này có giáo sư Kim Quảng Quân, mà phần lớn các nhà quy hoạch tại Việt Nam đều biết với quyển sách “Thiết kế đô thị có minh hoạ” do giáo sư Đặng Thái Hoàng dịch.
Khi những nhà quy hoạch này trở về đã đóng góp một phần không nhỏ trong công tác thiết kế đô thị tại Trung Quốc nói chung và tại Thâm Quyến nói riêng. Nhưng tại thời điểm này các công việc lớn về thiết kế đô thị tại Thâm Quyến vẫn thuộc các công ty nước ngoài đảm nhiệm và một trong các dự án lớn đó là việc thiết kế khu vực trung tâm Phúc Điền của Thâm Quyến. Việc thiết kế này được thực hiện liên tục gồm nhiều giai đoạn, hàng năm Thâm Quyến mời các công ty tham gia từng hạng mục của dự án, nhưng việc thiết kế vẫn phải đảm bảo quy hoạch chung đã được duyệt. Việc đưa phong thuỷ vào trong thiết kế đô thị tại Trung Quốc cũng đã được quan tâm, như việc chính quyền Thâm Quyến cho đắp một ngọn núi phía sau toà nhà chính phủ và trên có đặt bức tượng Đặng Tiểu Bình.
Năm 1996, Thâm Quyến tổ chức một cuộc thi thiết kế khu trung tâm hành chính trên phạm vi quốc tế bao gồm các công ty của Mỹ, Nhật, Hồng Kông và Singapore, cuối cùng Công ty của Mỹ đã thắng trong cuộc thi này. Năm 1997, người ta tổ chức thi quy hoạch và thiết kế không gian công cộng của toàn bộ khu trung tâm Phúc Điền, cuối cùng một công ty của Nhật đã thắng thầu và thành công lớn nhất của dự án là việc mở rộng không gian kiến trúc này và việc nối kết với khu vực núi Liên Hoa- nơi đặt bức tượng Đặng Tiểu Bình. Ngoài ra, nhiều dự án khác đã được thực hiện bởi các công ty nước ngoài cho tới cuối năm 2000. Từ năm 2001 đến nay, việc thiết kế đô thị tại Thâm Quyến không còn do các công ty nước ngoài đảm trách mà do các công ty của Trung Quốc thực hiện. Năm 2010, các nhà quy hoạch tại Thâm Quyến đã đưa ra được một loạt các bản vẽ quy định cho việc thiết kế đô thị và việc xây dựng chúng như thế nào. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Thiết kế đô thị tại Thâm Quyến từ 1994-2012: đưa ra phương án thiết kế thông qua các khái niệm, mô hình và bản vẽ mang tính khái quát, tiêu chuẩn mang tính vĩ mô, chưa cụ thể hoá để mang tính pháp lý.
Từ năm 2012 đến nay: đã đưa ra được thành quả mang tính khống chế như chính sách không gian kết cấu. Chính sách không gian tổng thể, bảo vệ môi trường công cộng, gồm có chính sách thiết kế và thiết kế chấp hành các tiêu chuẩn thưởng phạt vì hiện tại tiêu chuẩn thưởng phạt tại Thâm Quyến chỉ mang tính khuyến khích chứ không mang tính bắt buộc pháp lý Ví dụ Thâm Quyến đã đưa ra được các quy định về hệ thống biển quảng cáo mang tính pháp lý cao như khoảng cách từ điểm cuối cùng của bức tường này tới mặt ngoài của các kiến trúc cụ thể phải cao hơn 3m, hay của các bức tường liền kề, hình thái của các tấm biển quảng cáo với khung của toà nhà phải như thế nào, biển quảng cáo thuộc về ai và ai được phép quảng cáo tại đây…các quy định này rất cụ thể và nó được in thành sách hướng dẫn cho mọi tầng lớp nhân dân. Tại Thâm Quyến việc thiết kế đô thị cho các không gian công cộng phải luôn đảm bảo cho tất cả mọi người được sử dụng và phải mở cửa miễn phí. Các không gian công cộng nên gần các hệ thống giao thông, ngoài ra trong không gian công cộng còn có quy định biên giới của không gian công cộng này phải nên có cửa và ít nhất có 2 cửa phụ với không gian công cộng khác.Việc khống chế không gian công cộng tại Thâm Quyến dẫn đến quyền sử dụng đất công cộng bao gồm đất độc lập là đất đã có quy hoạch trước như tại các khu đô thị mới, quyền sử dụng đất thuộc về chính phủ việc thiết kế trọng điểm dễ dàng hơn, các quy định cho việc thiết kế đô thị tại đây mang tính pháp quy cao, còn đất phi độc lập là đất đã có chức năng sử dụng như là các khu phố cũ hay thành cổ, đất này thuộc quyền sử dụng của người dân từ trước, khó có thể trở thành quyền sử dụng của nhà nước khuyến kích thiết kế trọng điểm các quy định các quy định tại đây mang tính khuyến khích thực tế vẫn là cưỡng ép. Ví dụ nếu mà chính quyền xây khu công cộng thì khu vực này phải nhường ra một diện tích đất cho không gian công cộng tại Thâm Quyến người ta quy định là từ 400-8000m2 tuỳ theo hạng mục công cộng mà thành phố cần. Còn tại đất độc lập thì người ta khống chế theo chỉ tiêu đầu người ít nhất là 8,3m2/1 người. Tại các không gian công cộng, cây xanh chiếm từ 5-85% tuỳ theo từng hạng mục công trình, ngoài ra tại các không gian công cộng còn có quy định về số lượng ghế chính nhìn là thấy ghế và ghế phụ nhìn không thấy là ghế nhưng vẫn ngồi được.
Hay như Thượng Hải, thành phố lớn và hiện đại bậc nhất của đất nước Trung Quốc, xưa kia vốn chỉ là một làng chài ven biển thuộc miền trung Trung Quốc. Vào khoảng thế kỷ 11, đời nhà Tống (960–1279), làng chài nhỏ bé này được xây dựng và phát triển thành một hải cảng nhằm phục vụ nhu cầu giao thương buôn bán của vùng. Với vai trò quan trọng của một cảng biển lớn, từ thế kỷ 19 Thượng Hải đã bị các đế quốc phương Tây và Nhật Bản nhòm ngó và xâm chiếm, lập ra các khu “Tô giới” dưới hình thức nhượng địa, là nơi mà người phương Tây được hưởng mọi đặc quyền đặc lợi, được bảo hộ bằng pháp luật của bản quốc, và họ sống cuộc sống đầy đủ như ở chính quốc. Một thành phố Thượng Hải xa hoa, bất ổn với những băng nhóm xã hội đen, bị Tây hóa vào những năm đầu thế kỷ 20, lúc đó nằm hoàn toàn bên bờ Tây của con sông Hoàng Phố, đối lập với cảnh bần hàn, khổ hạnh của người dân lao động bên phía bờ Đông. Câu chuyện về sự chênh lệch và khác biệt của cuộc sống ở phố Đông – phố Tây cho đến ngày nay vẫn được người Thượng Hải nói đến. Tuy nhiên, bộ mặt khu phố Đông cho đến hiện tại đã hoàn toàn thay đổi sau những nỗ lực ,chính sách quy hoạch đô thị khả thi của chính quyền Thượng Hải, Trung Quốc. Trước khi hình thành các khu đô thị mới, Phố Đông có diện tích tới 522.75km2 và dân số hơn 2 triệu người. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
Tuy nhiên, chính quyền thành phố Thượng Hải đã quy hoạch đầy đủ khu thương mại tài chính, khu chế xuất… để tạo nên một thế mạnh tổng hợp cho Phố Đông. Sau khi có chủ trương phát triển mỗi khu, chính quyền tập trung xây dựng quy hoạch rất chi tiết với 3 tiêu chí: quy hoạch hạ tầng phải chú trọng môi trường; quy hoạch kinh tế phải đa năng, hài hòa; quy hoạch phát triển xã hội chú ý dân cư sinh sống và làm việc. Đặc biệt, quy hoạch không phủ kín hoàn toàn mà còn để lại 1 quỹ đất dành cho phát triển theo nhu cầu, tạo sự linh hoạt cho sự phát triển. Tại Phố Đông, chính quyền thành phố Thượng Hải đã giao quyền sử dụng đất của các khu đô thị trong tương lai cho các công ty 100% vốn Nhà nước. Các công ty sẽ thế chấp quyền sử dụng đất để tạo nguồn vốn và đầu tư hạ tầng, sau đó được đấu giá cho các nhà đầu tư để thu hồi vốn. Để có nguồn vốn đầu tư hạ tầng cơ sở như xây dựng hệ thống cầu, hầm nối hai bờ Hoàng Phố, chính quyền Thượng Hải đã vay tiền từ Ngân hàng Thế giới (WB), sau khi các công trình này đi vào hoạt động WB tổ chức thu phí để hoàn vốn. Tuy nhiên, sau một thời gian vận hành phương thức thu phí gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế do lưu lượng xe qua lại khoảng 1 triệu xe/ngày nên Thượng Hải đã bỏ tiền mua lại quyền khai thác từ Ngân hàng thế giới. Chính quyền không thu phí trực tiếp để tiết kiệm thời gian, nhân lực mà tổ chức thu hồi vốn bằng cách thu một khoản phí khi người dân mua ô tô. Ngoài việc vay vốn của ngân hàng, Thượng Hải đã kêu gọi các Bộ ngành, các địa phương khác đầu tư vào Phố Đông với nhiều chính sách ưu đãi. Những chính sách huy động vốn linh hoạt trên đã giúp cho tổng vốn đầu tư hạ tầng của Phố Đông hơn 300 tỷ Nhân dân tệ nhưng vốn ngân sách chỉ chiếm khoảng 10%. Với những kinh nghiệm của Trung Quốc, quốc gia có địa lý gần với Việt Nam, cũng có nền văn hóa gần như tương đồng với Việt Nam,thì những bài học từ công tác quy hoạch đô thị của họ sẽ là những gợi mở quý giá cho Việt Nam học tập trong hoạt động quản lý đô thị Việt Nam hiện đại trong tương lai.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đô thị phản ánh một cách tổng hợp quá trình và trình độ phát triển của xã hội , là nơi tích lũy của cải, tạo dựng văn hóa và nuôi dưỡng những ý tưởng mới, nhằm thay đổi cuộc sống của cả nhân loại. Hiểu đúng những khái niệm cơ bản về các xu hướng đô thị hóa trên thế giới : đô thị thông minh, đô thị bền vững cùng những khái niệm nền tảng về quy hoạch đô thị trong hệ thống pháp luật bước đầu giúp các nhà quy hoạch có cái nhìn đúng đắn về quy hoạch đô thị, từ đó xây dựng đồ án quy hoạch đô thị. Tìm hiểu kinh nghiệm quy hoạch đô thị tại một số thành phố lớn của Trung Quốc như Thâm Quyến, Thượng Hải để thấy được những thành tựu họ đạt được, bổ sung cái nhìn tổng quan về đô thị và quy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch đô thị tại các thành phố nói riêng. Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam