Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam qua thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

Quy hoạch là một trong những công cụ hữu hiệu để giúp các cấp, các ngành trong việc chỉ đạo, điều hành và thực hiện những nhiệm vụ chính trị, cụ thế hoá các mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ để phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh và môi trường. Quy hoạch là căn cứ chủ yếu để các cấp, các ngành định hướng mục tiêu phát triển theo ngành, lãnh thổ và là cơ sở để xây dựng các chính sách, kế hoạch, chương trình phát triển và các dự án đầu tư. Trong những năm qua, cụ thể là công tác quy hoạch đô thị ở Việt Nam ngày càng được chú trọng và nâng cao chất lượng một cách rõ rệt. Bằng chứng là quy hoạch đô thị đã thực sự góp phần tạo ra nguồn lực trong phát triển KT-XH của đất nước. Trong đó, kinh tế đô thị góp khoảng 70% GDP cả nước, các chỉ số thu ngân sách của các vùng tỉnh và các đô thị lớn cho thấy nhìn chung tăng trưởng kinh tế ở khu vực đô thị đạt trung bình từ 12 đến 15%, cao gấp 1,2 đến 1,5 lần so với mặt bằng chung trong cả nước. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đô thị trong những năm qua đã được cải thiện và nâng cấp, thể hiện qua các mặt, như: nhiều tuyến đường, cây cầu được xây dựng; chất lượng đường đô thị dần được cải thiện; các đô thị loại III trở lên hầu hết đã có các tuyến đường chính được nhựa hoá và xây dựng đồng bộ với hệ thống thoát nước, vỉa hè, chiếu sáng và cây xanh,…Những thay đổi tích cực này đã góp phần tạo nên một diện mạo hoàn toàn mới đối với khu vực đô thị ở Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, có thể thấy một sự thật là hệ thống đô thị tại Việt Nam phát triển nhanh chóng theo hướng chạy theo số lượng nhưng lại chưa đảm bảo được tiêu chí quan trọng nhất là về chất lượng đô thị với minh chứng là nhiều hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội chưa đồng bộ; trình độ và năng lực quản lý và phát triển đô thị còn thấp so với yêu cầu. Kết cấu hạ tầng đô thị yếu kém, quá tải không những không tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế- đô thị, mà còn làm nảy sinh nhiều áp lực đối với môi trường, bộ mặt kiến trúc cảnh quan đô thị còn lộn xộn, thiếu thẩm mỹ. Tài nguyên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, diện tích cây xanh và mặt nước bị thu hẹp, nhu cầu sản xuất, dịch vụ ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Hệ thống hạ tầng đô thị bị quá tải gây nên các hiện tượng tắc nghẽn giao thông, úng ngập và vệ sinh môi trường đô thị hóa lan rộng làm các khu vực này lại nằm lọt vào giữa khu dân cư đông đúc. Việc mở rộng đô thị dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp ảnh hưởng đến an toàn lương thực quốc gia. Năng lực thu gom xử lý rác thải rắn đặc biệt là các chất thải rắn nguy hại chưa được thực hiện đúng quy định. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Pháp luật hiện hành của nước ta đã có nhiều quy định về quy hoạch và quản lý phát triển đô thị. Tuy nhiên, các quy định này còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ (Ví dụ như bất cập quy hoạch sử dụng đất đô thị còn chưa thống nhất với quy hoạch sử dụng đất theo Luật Đất đai…) hiệu lực pháp lý thấp, nhiều quy định lạc hậu so với thực tế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý phát triển đô thị và hội nhập quốc tế. Đồng thời, việc tham gia của cộng đồng trong công tác Quy hoạch đô thị, quản lý xây dựng theo quy hoạch còn mang tính hình thức, hoặc mức độ tham gia còn ít, chưa thấy rõ trách nhiệm, quyền lợi của các bên liên quan trong công tác quy hoạch đô thị, quản lý phát triển đô thị. Cộng đồng thường là các đối tượng bị động, thiếu các thông tin cần thiết để thực hiện trách nhiệm, quyền lợi của mình. Đây là một kẽ hở không nhỏ mà quyền lợi cộng đồng có thể bị xâm hại.

Công tác lập quy hoạch đô thị đã tiếp cận tư duy đổi mới, nhưng triển khai còn chậm (mặc dù những yếu tố mới đã được điều chỉnh tại các bộ Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị và các nghị định, thông tư hướng dẫn kèm theo). Chất lượng đồ án quy hoạch đô thị chưa cao. Phát triển đô thị theo mô hình dự án Khu đô thị mới đã xuất hiện những điểm yếu như thiếu tính tổng thể, không đồng bộ về kết nối hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội… Lãng phí nguồn tài nguyên đất đai, có nguy cơ suy thái chất lượng môi trường, cảnh quan, những vấn đề mới như biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh chưa được lồng ghép thỏa đáng trong quá trình lập quy hoạch. Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự bất cập trong công tác quy hoạch và quản lý phát triển đô thị ở nước ta hiện nay. Luật Xây dựng hiện hành đã có 1 chương quy định về quy hoạch xây dựng, tuy nhiên một số quy định của Luật còn mang tính nguyên tắc, thiếu các quy định cụ thể về quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch cũng như các quy định về quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ đô thị. Quy trình, thủ tục về lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch còn phức tạp, tốn nhiều thời gian. Các quy định về lấy ý kiến cộng đồng khi lập quy hoạch cũng như việc công khai, cung cấp thông tin quy hoạch chưa đầy đủ và chưa phù hợp với điều kiện thực tế. Sự phân công, phân cấp trong quản lý đô thị còn chưa thật phù hợp với điều kiện thực tế ở các địa phương. Trách nhiệm của chính quyền đô thị trong quản lý các vấn đề đặc thù của đô thị nhất là quản lý kiến trúc, cảnh quan đô thị chưa được thiết lập đầy đủ, rõ ràng dẫn đến lúng túng, trùng lắp và kém hiệu quả trong thực hiện. Một số vấn đề quan trọng khác như quy hoạch và quản lý không gian ngầm, kinh phí, nhân lực cho công tác lập và triển khai quy hoạch cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch… còn thiếu quy định cụ thể, chưa tạo ra được một hệ thống cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác quy hoạch và quản lý phát triển đô thị.

Đặc biệt là, năm 2025 đánh dấu sự ra đời của Luật Quy hoạch, Luật này dự định sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2027 tới. Việc ban hành Luật quy hoạch có phạm vi điều chỉnh chung các loại quy hoạch phát triển trên phạm vi cả nước là nỗ lực của Chính phủ trong cải cách về thể chế tạo ra sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật về quy hoạch theo đúng quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2023 và phù hợp với quy định mới của Hiến pháp 2021, Luật Tổ chức Chính phủ 2023 về vai trò quản lý nhà nước về kinh tế. Những quy định mới trong Luật quy hoạch sẽ góp phần thay đổi phương thức quản lý nhà nước hiện nay theo hướng nhà nước kiến tạo và phục vụ; trong đó nhà nước chỉ quy hoạch những ngành hạ tầng thiết yếu (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hạ tầng sản xuất) để kiến tạo sự phát triển trên cơ sở tôn trọng quy luật của kinh tế thị trường; việc phân bổ nguồn lực cũng sẽ theo cơ chế thị trường để tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội và thúc đẩy việc huy động các nguồn lực của xã hội cho đầu tư phát triển nhằm giảm bớt gánh nặng đầu tư công của khu vực nhà nước, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Luật quy hoạch sẽ tạo sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành từ Trung ương đến địa phương; tăng cường liên kết vùng, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của từng vùng, từng địa phương; phát huy hiệu quả trong khai thác và sử dụng nguồn lực của đất nước để thúc đẩy phát triển bền vững, góp phần bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mặt khác, việc ban hành Luật quy hoạch sẽ là công cụ giúp quản lý phát triển một cách đồng bộ, khắc phục tình trạng quản lý chia cắt, cục bộ ngành và tính cát cứ địa phương; giải quyết các vấn đề xung đột lợi ích, xung đột mang tính liên ngành, xung đột giữa các địa phương. Luật Quy hoạch năm 2025 cũng khẳng định rõ mối quan hệ giữa quy hoạch tổng thể quốc gia và các loại quy hoạch khác, trong đó có Quy hoạch đô thị : Quy hoạch tổng thể quốc gia là cơ sở để lập quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn trên cả nước.

Chính vì những bất cập còn tồn tại trong Luật Quy hoạch đô thị năm 2017, cùng với việc ban hành mới Luật Quy hoạch năm 2025 với tinh thần đổi mới hiện đại, việc sửa đổi, hoàn thiện Luật quy hoạch là cần thiết và cấp bách hiện nay để khắc phục những hạn chế, yếu kém của công tác quy hoạch đô thị như đã nêu trên; đồng thời, vì Luật quy hoạch năm 2025 hướng tới sự cải cách toàn diện về công tác quy hoạch để quy hoạch thực sự là công cụ quan trọng, hữu hiệu giúp Nhà nước kiến tạo sự phát triển nên Luật quy hoạch đô thị cũng sẽ là giải pháp quan trọng để đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với việc thúc đẩy phát triển kinh tế đô thị bền vững , từ đó đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia.

3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Theo Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam (Quyết định 445/QĐ-TTg ngày 07/04/2017), Chương trình nâng cấp đô thị quốc gia giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2028 (Quyết định số 758/QĐ-TTg ngày 08/06/2017), Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2020-2028 (Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 07/11/2020) do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dễ thấy định hướng chương trình đã cân nhắc kỹ và các chiến lược phát triển liên quan quốc gia như vùng ảnh hưởng của lưu vực sông Mê kông, các trục hành lang giao thông xuyên Á, khai thác vùng thềm lục địa và đại dương, các vùng biên giới với các nước láng giềng… và các vùng lãnh thổ về phát triển kinh tế – xã hội và đô thị hóa. Đây là cơ sở để hình thành các vùng đô thị hóa gắn với các vùng phát triển kinh tế xã hội lớn của đất nước.

Một trong những công cụ hữu hiệu giúp hiện thực hóa những định hướng, chính sách phát triển quy hoạch đô thị của Chính phủ là pháp luật về Quy hoạch đô thị mà cụ thể là việc hoàn thiện Luật Quy hoạch đô thị năm 2017 theo hướng là tiếp tục rà soát, sửa đổi bổ sung hoặc đề xuất các cấp có thẩm quyền sửa đổi bổ sung để hoàn thiện các cơ chế chính sách nhằm thu hút đầu tư vào đô thị. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm tối đa chi phí về thủ tục hành chính cho nhà đầu tư. Đổi mới chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch theo chiều sâu. Đồng thời, tiếp tục sử dụng các nguồn vốn từ Trung ương. Tuy nhiên nếu chỉ đơn thuần sử dụng vốn ngân sách thì thành phố sẽ khó đạt được mục tiêu, do đó, đô thị sẽ tăng cường mời gọi đầu tư, tăng hợp tác phát triển trong và ngoài nước theo mô hình PPP, BTO…nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng và mục tiêu phát triển của các nhà đầu tư. Trong quá trình phát triển, việc xây dựng chính quyền đô thị là điều cần thiết để đảm bảo công tác quản lý đô thị hiệu quả. Đô thị cần có sự chuẩn bị chu đáo, đồng bộ về pháp lý và nguồn nhân lực, bộ máy đủ sức đảm đương nhiệm vụ, tận dụng các nguồn lực để phát triển đô thị có trọng điểm, hài hòa về lợi ích. Để kiểm soát quá trình đô thị hóa công tác quy hoạch xây dựng đô thị phải có giá trị thực tiễn cao, công tác lập quy hoạch đô thị phải đảm bảo phương pháp lập theo hướng tiếp cận đa ngành, đảm bảo được sự tích hợp các đồ án quy hoạch ngành vào đồ án quy hoạch đô thị bằng việc xây dựng bộ công cụ chuyển hóa nội dung của quy hoạch ngành vào quy hoạch đô thị và sản phẩm của quy hoạch đô thị cần rút gọn, đơn giản hóa hồ sơ bản vẽ,hướng tới trở thành những bản đồ hoặc sơ đồ định hướng (có tích hợp đa ngành) và những kèm theo đó là những thuyết minh thay vì đưa ra những bản vẽ thiết kế cụ thể chi tiết nhưng không có tính thực tiễn cao; quy chế và thể chế luật lệ phải thích hợp với tình hình phát triển kinh tế -xã hội ứng với từng địa phương. Quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị và quản lý đô thị phát triển là nội dung cần được ưu tiên và nâng tầm nhìn dài hạn. Các định hướng phát triển không gian lãnh thổ, mà còn là diễn đàn để các thành phần trong toàn xã hội tham gia đóng góp trí tuệ, vật chất, và tự giác thực hiện các nội dung phát triển ở phạm vi, địa bàn của từng đô thị.Quy hoạch cũng cần được đặt trong hệ thống phối hợp toàn diện với nhiều ngành liên quan và địa phương chủ quản, để đảm bảo tính khả thi của quy hoạch. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý đô thị, bảo vệ phòng chống suy thoái ô nhiễm môi trường. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nâng cao nhận thức của cộng đồng về phát triển đô thị bền vững. Tóm lại, hoàn thiện Luật Quy hoạch đô thị phải đi theo những định hướng chính như sau : Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Thứ nhất là, Luật Quy hoạch đô thị phải thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước về quản lý và phát triển đô thị. Quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng: “Phát triển mạng lưới đô thị phân bố hợp lý trên các vùng. Hiện đại hoá dần các thành phố lớn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn. Không tập trung quá nhiều cơ sở công nghiệp và dân cư vào các đô thị lớn… Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị, nâng cao thẩm mỹ kiến trúc… Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, điện lực, thông tin, thuỷ lợi, cấp thoát nước…”.

Thứ hai là, hoàn thiện Luật Quy hoạch đô thị theo hướng đảm bảo điều chỉnh thống nhất và đồng bộ với các ngành luật có liên quan về các vấn đề liên quan đến những hoạt động lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch đô thị; tổ chức thực hiện quy hoạch và quản lý phát triển đô thị; xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân liên quan tới các hoạt động quy hoạch đô thị.

Thứ ba là,hoàn thiện Luật Quy hoạch đô thị chú trọng đến việc kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại và là bước pháp điển hoá hệ thống pháp luật về quy hoạch xây dựng phát triển đô thị hiện hành; đồng thời bổ sung các quy định để điều chỉnh kịp thời các mối quan hệ mới phát sinh, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong hiện tại và xu thế phát triển trong tương lai.

Thứ tư là, hoàn thiện Luật Quy hoạch đô thị theo hướng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị, của tổ chức và cá nhân tham gia các hoạt động quy hoạch đô thị; phân định quản lý nhà nước và quản lý của nhà đầu tư; góp phần thúc đẩy cải cách hành chính trong quản lý quy hoạch đô thị phù hợp với tiến trình cải cách hành chính của Nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Trước hết, để thúc đẩy thực hiện các định hướng, chương trình, đề án phát triển công cuộc quy hoạch đô thị thì các cấp các ngành và địa phương trước hết cần đổi mới mạnh mẽ về tư duy, tăng cường năng lực lãnh đạo của chính quyền, chính sách quốc gia về phát triển đô thị. Đưa ra các chính sách và giải pháp phân bổ và quản lý đất đai, định giá trị bất động sản, tính tóan nguồn đất đai dự trữ phát triển, hoạch định các chương trình đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất các khu công nghiệp và thu hút lao động. Xây dựng chương trình kế hoạch đầu tư và phát triển, hiện đại hóa các hệ thống đô thị, hạ tầng kỹ thuật, cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt của nhân dân và thúc đẩy quá trình đô thị hóa đồng bộ tại đô thị và nông thôn. Để phát triển đô thị bền vững ứng phó được với các thách thức rủi ro từ biến đổi khí hậu Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt Đề án phát triển đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2028 (Quyết định số 2623/QĐ-TTg ngày 31/12/2021), các Bộ ngành, địa phương cần tăng phối hợp Bộ Xây dựng từng bước triển khai thực hiện. Để tạo sức mạnh, tốc độ phát triển cho đô thị cần quan tâm đổi mới quy trình, công nghệ kỹ thuật, tiếp cận dần từng bước cân nhắc trình độ phát triển hạ tầng công nghệ thông tin nhanh, nghiên cứu triển khai (R&D) và mức độ hợp tác giữa theo ngành và thiết định mạng lưới.

Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới (như Anh, Pháp, Mỹ, Phần Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc…) cho thấy các nước đều coi quy hoạch đô thị là công cụ quan trọng để quản lý và phát triển đô thị. Nhiều nước có đạo luật riêng về quy hoạch đô thị. Cụ thể, ở Mỹ, sự tăng trưởng đô thị với tốc độ cao của nước Mỹ sau chiến tranh đã sản sinh ra hiện tượng hai cực là tạo nên khu đô thị có nhân khẩu tập trung cao và khu ngoại hoá. Chính phủ, các địa phương phát triển một bộ phận sách lược quản lý tăng trưởng đa mục tiêu. Về cơ bản, những sách lược này là để đạt các mục tiêu quản lý tăng trưởng sau đây: (1) cung cấp đầy đủ thiết bị công cộng để hỗ trợ nhu cầu của tăng trưởng kinh tế và nhân khẩu; (2) Bảo vệ tài nguyên lịch sử, văn hoá và môi trường, tránh bị phá hoại do khai thác không thoả đáng hoặc phát triển nhảy cóc; (3) Bảo vệ và duy trì đời sống kinh tế mang tính địa phương, tính khu vực và cơ hội làm việc; (4) Duy trì sự cân bằng về nhà ở có tính địa phương và tính khu vực và sự ổn định về giá cả nhà; (5) Nâng cao hiệu quả sử dụng đất và bố trí thiết bị công cộng, cải thiện cảnh quan đô thị và chất lượng cuộc sống. Hay như Trung Quốc đặc biệt coi trọng công tác Quy hoạch đô thị (năm 1990 đã ban hành Luật Quy hoạch đô thị). Quy hoạch đô thị được duyệt đã trở thành văn bản pháp luật để quản lý quá trình quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị; Quy hoạch được duyệt được đặt trong bảo tàng riêng tại trung tâm của thành phố, công bố công khai để nhân dân tiện theo dõi quản lý, giám sát. Trong định hướng phát triển chung, Trung Quốc định hướng tập trung phát triển các vùng có lợi thế trước (miền Đông, miền duyên hải), sau đó mới quay trở lại đầu tư phát triển cho các vùng hạn chế (miền Trung, miền Tây, miền Bắc). Luật Quy hoạch đô thị của Trung Quốc được ban hành từ năm 1989 và được sửa đổi, bổ sung năm 2016 có nhiều quy định phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay. Có thể thấy hầu hết luật các nước đều xác định nguyên tắc quản lý quy hoạch đô thị phải đi từ tổng quát đến cụ thể, thông qua quy trình từ quy hoạch chung, quy hoạch phân khu đến quy hoạch chi tiết. Trong quy hoạch của từng đô thị, phải định rõ các khu chức năng, trong đó Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc quản lý và thực hiện quy hoạch các khu chính trị – hành chính; đối với các khu chức năng khác, Nhà nước định hướng, tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp được tham gia lập quy hoạch và đầu tư phát triển các dự án theo quy hoạch.Quy hoạch phải bảo đảm cho việc đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ đô thị đồng bộ và phải đi trước, tạo tiền đề cho việc xây dựng và thực hiện các dự án. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Từ những bất cập đã và đang hiện hữu, cũng như việc đòi hỏi phải sửa đổi hoàn thiện Luật Quy hoạch đô thị năm 2017 theo định hướng, chủ trương chính sách mới của Đảng và Chính phủ, qua việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển và đang phát triển, dưới đây là một số giải pháp hoàn thiện đối với một số vấn đề còn tồn tại trong pháp luật Việt Nam như sau:

Thứ nhất là, về nguyên tắc cần đảm bảo trong công tác quy hoạch và thực thi quy hoạch đô thị : Đồ án quy hoạch đô thị được phê duyệt phải bảo đảm sự thống nhất và khớp nối với các quy hoạch ngành trong khu vực đô thị. Sự thống nhất và kết nối này phải được Luật quy định rõ ràng gồm những tiêu chí gì, do ai xác định và trong trường hợp không đảm bảo thống nhất đồng bộ trong quy hoạch thì những ai phải chịu trách nhiệm và cần có biện pháp xử phạt nghiêm khắc trong khi Luật Quy hoạch đô thị năm 2017 mới chỉ nhắc đến quy định nguyên tắc tuân thủ quy hoạch đô thị là tổ chức, cá nhân khi thực hiện các chương trình, kế hoạch đầu tư xây dựng phát triển đô thị, quy hoạch chuyên ngành trong phạm vi đô thị, kế hoạch sử dụng đất đô thị, quản lý thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trong đô thị, thực hiện quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị hoặc thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến quy hoạch đô thị phải tuân thủ quy hoạch đô thị đã được phê duyệt và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị.

Thứ hai là, về vấn đề quản lý nhà nước trong Quy hoạch đô thị: Luật cần sửa đổi và hoàn thiện sao cho nội dung quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là trách nhiệm của chính quyền đô thị trong hoạt động quy hoạch và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch phải rõ ràng, chế tài cụ thể, bổ sung một số hành vi bị cấm trong quy hoạch đô thị theo đó tránh trường hợp những cơ quan này lạm quyền gây khó khăn cho chủ đầu tư hoặc xâm phạm những quyền cơ bản của người dân; phân công, phân cấp quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Thứ ba là, về kinh phí cho việc lập quy hoạch, Luật cần quy định rõ kinh phí cho công tác lập và quản lý quy hoạch được bảo đảm từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn vốn huy động khác. Tuy nhiên, luật cũng cần bổ sung quy định trong trường hợp sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước thì Nhà nước có những quyền gì, cách thức phân bổ nguồn kinh phí ra sao cho hợp lý tránh lãng phí và sự lợi dụng của các chủ thể có liên quan. Luật cũng cần quy định thêm những biện pháp nhằm khuyến khích các nhà đầu tư thật sự có năng lực tham gia lập quy hoạch đối với các khu vực phát triển các dự án đô thị.

Thứ tư là, về việc tư vấn lập quy hoạch đô thị: Để bảo đảm đồ án quy hoạch có chất lượng, Luật Quy hoạch đô thị đã quy định rõ điều kiện, năng lực của các tổ chức tư vấn, cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị. Cụ thể: Đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị phải có tư cách pháp nhân; đủ điều kiện về số lượng, năng lực chuyên môn của cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị, năng lực quản lý và các điều kiện kỹ thuật phù hợp với công việc đảm nhận. Đối với cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị phải có chứng chỉ hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp và có năng lực phù hợp với công việc được đảm nhận. Đối với tổ chức tư vấn, cá nhân nước ngoài tham gia lập quy hoạch đô thị tại Việt Nam ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện quy định đối với tổ chức tư vấn, cá nhân trong nước còn phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận. Tuy nhiên thực tế cho thấy vẫn có rất nhiều cá nhân, tổ chức không đủ năng lực chuyên môn ,hoặc đầy đủ chứng chỉ bằng cấp, nhưng khi tham gia tư vấn lập quy hoạch vẫn có những sai sót đáng kể, thiếu sự linh hoạt. Như vậy, những cá nhân, tổ chức đủ điều kiện tham gia tư vấn lập quy hoạch không chỉ là những người cần nắm vững lý thuyết quy hoạch mà quan trọng nhất là, họ phải là những “bộ óc” giàu kinh nghiệm. Tuyển chọn đội ngũ tư vấn lập quy hoạch theo hướng đưa ra ý tưởng và chứng minh tính khả thi của ý tưởng quy hoạch có thể sẽ phù hợp hơn nếu đưa vào các cuộc thi tuyển nhà tư vấn lập quy hoạch đô thị đủ năng lực.

Thứ năm là, về trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị: Luật cần hoàn thiện bằng việc bổ sung thêm các quy định mới nhằm cải tiến theo hướng đơn giản hoá, cải cách thủ tục hành chính, phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm quản lý của từng cơ quan nhà nước đối với từng loại quy hoạch đô thị.Về thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, Luật cần có những quy định phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương, trao cho chính quyền quyền tự chủ nhiều hơn nhưng cũng cần giới hạn những trường hợp ngoại lệ đặc thù. Hiện nay, Luật Quy hoạch đô thị năm 2017 quy định Thủ tướng Chính phủ chỉ phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch chung các đô thị trực thuộc Trung ương, đô thị loại I và các đô thị mới có quy mô dân số dự báo tương đương với đô thị loại III trở lên; quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật của đô thị loại đặc biệt; các quy hoạch đô thị khác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, văn hoá, lịch sử, kinh tế, xã hội của quốc gia.

Thứ sáu là, về việc lấy ý kiến đối với quy hoạch đô thị, theo đó để bảo đảm đồ án quy hoạch đô thị có tính khả thi, phù hợp với thực tế và yêu cầu của người dân. Việc lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình lập quy hoạch đô thị là cần thiết. Luật đã quy định rõ hình thức, thời gian lấy ý kiến, cụ thể là: Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Việc lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được thực hiện bằng hình thức gửi hồ sơ, tài liệu hoặc tổ chức hội nghị, hội thảo. Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản.

Việc lấy ý kiến cộng đồng dân cư về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch chung được thực hiện thông qua lấy ý kiến của đại diện cộng đồng dân cư bằng hình thức phát phiếu điều tra, phỏng vấn. Đại diện cộng đồng dân cư có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Việc lấy ý kiến cộng đồng dân cư về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết được thực hiện bằng phiếu góp ý thông qua hình thức trưng bày công khai hoặc giới thiệu phương án quy hoạch trên phương tiện thông tin đại chúng.

  • Thời gian lấy ý kiến ít nhất là 15 ngày đối với cơ quan, 30 ngày đối với tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư.

Luật cũng quy định các ý kiến đóng góp phải được tổng hợp đầy đủ, có giải trình, tiếp thu và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét trước khi quyết định phê duyệt. Luật quy định là một chuyện, nhưng thực tế khi được hỏi về quy hoạch đô thị ngay tại địa bàn mình sinh sống, nhiều người dân vẫn không hay biết, đó là do thiếu chế tài đối với cơ quan lấy ý kiến trong trường hợp họ làm qua loa, cho có hình thức, do thiếu quy định cụ thể liên quan đến quyền giám sát các cơ quan quy hoạch của người dân trong Luật trong trường hợp họ biết được những sai phạm của những cơ quan này hoặc trong trường hợp chính bản thân họ có quyền lợi bị xâm phạm.

3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch đô thị ở Việt Nam Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Để bám sát thực tiễn, quy hoạch cần được xem xét điều chỉnh kế thừa các nhân tố tích cực và khắc phục các yếu tố tiêu cực. Vấn đề này cần lồng ghép tăng cường trong giai đoạn hàng năm và 5 năm. Dài hạn quy định các nội dung hạn chế. Để tăng cường chất lượng đô thị việc thiết lập lại trật tự trong quản lý đất đai, quản lý đô thị. Thực trạng nhiều dự án trong quá trình thực thi đang bị điều chỉnh, chia nhỏ làm vụn vỡ quy hoạch. Vì vậy, đòi hỏi các địa phương phải có các biện pháp mạnh để tạo chuyển biến trong vấn đề quản lý đất đai, xoá dần hình ảnh quy hoạch “treo”, dự án bỏ hoang… đưa đất vào sử dụng đúng mục đích, nhằm thiết lập trật tự trong quản lý đất đai.Chính phủ đã ban hành Nghị định 11/2021/NĐ-CP ngày 14/01/2021 về quản lý đầu tư phát triển đô thị và Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định, các địa phương cần sớm triển khai lập và phê duyệt khu vực phát triển đô thị để làm cơ sở triển khai các bước đầu tư tiếp theo; tiến hành rà soát các dự án, phân loại, điều chỉnh việc thực hiện các dự án theo kế hoạch triển khai khu vực phát triển đô thị; nghiên cứu thành lập các Ban quản lý khu vực phát triển đô thị; tăng cường kiểm soát các dự án đầu tư phát triển đô thị, từ khâu quy hoạch, chấp thuận đầu tư cho đến kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện đầu tư và quản lý đầu tư phát triển đô thị.

Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng cho rằng: Luật quy hoạch đô thị đã quy định rất rõ, nhưng công tác quy hoạch của chúng ta hiện còn thiếu minh bạch và không dân chủ. Công tác quy hoạch là một vấn đề lớn, nhưng lại không có một kênh thông tin hay một website để công khai và tìm hiểu các thông tin về quy hoạch. Ông cũng cho rằng cần có những quy định cụ thể trong Luật Quy hoạch để đảm bảo tính công khai minh bạch trong công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch. Cùng với đó là việc tăng cường công tác thanh kiểm tra từ Trung ương cho đến các địa phương. Có như vậy mới hạn chế được việc các dự án được điều chỉnh nhiều lần theo “ý” của các chủ đầu tư. Điều này cũng sẽ hạ chế được việc thất thoát, lãng phí, tham ô tham nhũng trong công tác quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch.

Cụ thể, với các vùng đô thị lớn, phải thúc đẩy hơn nữa mục tiêu tập trung phát triển các đô thị hạt nhân cốt lõi cấp vùng; Phát triển đô thị gắn với các trung tâm công nghiệp cấp quốc gia nơi có thể huy động một số lượng lớn công nhân người lao động. Các thành phố vệ tinh nằm cách trung tâm 40 km cần được quan tâm kết nối bằng hệ thống tàu điện ngầm, đường sắt nhanh và đường cao tốc để cùng phát triển, tránh hiện tượng quá tập trung vào đô thị lớn. Đô thị được xây dựng dựa trên hệ thống pháp luật chặt chẽ và năng động, quy hoạch, chương trình và kế hoạch triển khai được thực hiện bài bản. Đầu tư cải tạo đô thị và xây dựng mới song hành. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Đối với từng đô thị, để tránh được những “khiếm khuyết trong phát triển đô thị” chính quyền đô thị cần được quan tâm nhiều hơn đến cơ cấu, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, vị thế đô thị trong hệ thống đô thị quốc gia và khu vực… Phát triển đô thị bền vững, có trọng tâm, trọng điểm tạo đột phá thành công.

Mở rộng đô thị và tăng tỷ lệ đô thị hóa trên cơ sở phát triển dân số lành mạnh, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, ổn định định cư đô thị – nông thôn, đẩy mạnh các chương trình nhà ở, đặc biệt nhà ở cho người thu nhập thấp; thực hiện các dự án nâng cấp đô thị, cải tạo và làm mới đồng bộ các khu ở hiện có tại các khu vực nội và ngoại thành. Phân bổ, kết nối và hoàn thiện các trung tâm công cộng, các khu nghỉ ngơi vui chơi giải trí và hệ thống cây xanh, mặt nước trong đô thị để tạo các không gian mở, tạo cảnh quan chung và điều hoà môi trường không khí đáp ứng nhu cầu về môi trường ở, làm việc, đi lại, nghỉ ngơi giải trí cho các cá nhân và toàn xã hội.

Về phát triển nhà ở, mô hình xây dựng, đầu tư và quản lý nhà ở xã hội đã và đang được Chính phủ thực hiện. Tuy nhiên, cần có biện pháp tăng cường đầu tư vốn vào các tổ chức phát triển nhà để biến các cơ quan này thành một tổ chức phát triển nhà để biến các cơ quan này thành một tổ chức cung cấp nhà ở xã hội chính cho Việt Nam. Tăng cường huy động các nguồn quỹ tư nhân để phát triển thêm chương trình nhà ở. Chính phủ cần có thêm những cam kết về bình ổn thị trường nhà ở cho người thu nhập thấp bằng cách tăng cường nguồn cung nhà, siết chặt hoạt động đầu cơ bất động sản…Thúc đẩy việc lập và thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường, đề xuất các giải pháp, kế hoạch, lộ trình thực hiện quy hoạch xây dựng kết hợp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước. Pháp luật về môi trường ở Việt Nam đang được xây dựng hoàn thiện, tuy nhiên vẫn cần bổ sung các văn bản pháp luật về các lĩnh vực: Tăng trưởng xanh; Chất lượng nước và hệ sinh thái dưới nước; cấp thoát nước – đất – nước ngầm, không khí và biến đổi khí hậu; Chất thải và tái chế; Thiên nhiên và vườn quốc gia; Hợp tác quốc tế…Thực hiện các chính sách như: Phân loại rác thải tại nguồn, giúp tái chế rác thải, tiết kiệm tài nguyên, tạo năng lượng mới, sản phẩm có ích như phân bón, khí metal phục vụ sản xuất điện. Khuyến khích áp dụng các biện pháp giảm thiểu khí CO2: như tiết kiệm năng lượng điện, than đá, dầu mỏ hay dùng các công nghệ ít tạo ra khí thải. Hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp, cộng đồng tham gia thực hiện các chính sách, công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường.

Đối với phát triển giao thông đô thị, tăng cường đầu tư phát triển giao thông công cộng, áp dụng kỹ thuật quản lý giao thông thông minh có chức năng điện tử, viễn thông, truyền phát, điều khiển đường bộ và phương tiện giao thông; đây là cơ sở hạ tầng giao thông thông minh, xử lý các thông tin về giao thông được cập nhật trực tiếp để tối ưu hóa trang thiết bị phục vụ cho giao thông và giải toả tắc nghẽn giao thông. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Đô thị được xác định động lực phát triển kinh tế của tỉnh, vùng quốc gia, các đô thị cần nỗ lực để khẳng định vai trò chức năng được giao. Để làm được điều này, các cấp chính quyền địa phương và trung ương phải thay đổi từ nhận thức, tránh trùng lặp, dàn trải, không áp đặt độc đoán nhưng nghiêm túc tuân thủ theo quy hoạch xây dựng đô thị và có kế hoạch cụ thể. Hơn bao giờ hết phát triển đô thị Việt Nam phải phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.

3.5. Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị ở Thành phố Hà Nội

Trung Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về nền văn hóa cũng như thể chế chính trị, Từ kinh nghiệm quy hoạch đô thị tại một số thành phố lớn của Trung Quốc, Việt Nam có thể học hỏi một số bài học kinh nghiệm cho việc quy hoạch đô thị hiệu quả ở thành phố Hà Nội ở một số điểm như sau:

Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế. Với lợi thế về vị trí địa lý – chính trị và với lịch sử phát triển lâu đời, Hà Nội luôn giữ vai trò quan trọng nhất cả nước, có sức hút và tác động rộng lớn đối với quốc gia và khu vực.

Thứ nhất là, về công tác quy hoạch đô thị: định hướng quy hoạch ở Thành phố Hà Nội cần quan tâm đến sự phát triển cân bằng, hài hòa giữa các khu vực; giữa thành thị và nông thôn, nhằm đảm bảo sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm đất đai, tiết kiệm sử dụng đất nông nghiệp, phát huy vai trò và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Chính quyền thành phố Hà Nội cũng như các cơ quan quan lý Nhà nước khác có liên quan cần đề xuất áp dụng đa dạng mô hình quản lý, chế độ quản lý, có nhiều chính sách tập trung thu hút nguồn lực, tập trung giải quyết từng mục tiêu lớn, làm động lực phát triển lôi kéo các vùng chậm phát triển; trong quá trình triển khai, luôn luôn đổi mới, tìm tòi, điều chỉnh cách làm để phù hợp với từng điều kiện cụ thể.Như chính phủ Trung Quốc cho phép mỗi địa phương có cách làm riêng (Ví dụ: tại Thượng Hải ghép cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng và quản lý đất đai thành một). Việt Nam cũng có thể học hỏi Trung Quốc chú trọng đầu tư phát triển nông thôn mới, các vùng lân cận đô thị nhằm bảo vệ nông thôn, dãn dân cư nội thành Thành phố Hà Nội; quy hoạch và khai thác hiệu quả không gian ngầm đô thị;tiến hành tổ chức lại mô hình các cơ quan quản lý quy hoạch và quản lý đất đai, quản lý môi trường thành một; nhằm gắn kết chặt chẽ Quy hoạch đất đai – Quy hoạch đô thị – Quy hoạch cảnh quan môi trường (mô hình nhập các cơ quan quản lý đất đai với cơ quan quản lý quy hoạch). Trong quá trình phát triển, thường có sự đánh giá, điều chỉnh Quy hoạch đô thị theo Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm theo từng kỳ kế hoạch (trong kỳ không điều chỉnh quy hoạch). Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Thứ hai là, về công tác quy hoạch sinh thái đô thị: Thí điểm triển khai việc lập Quy hoạch sinh thái đô thị tại Thành phố Hà Nội nhằm đưa Quy hoạch sinh thái đô thị thành pháp luật, đảm bảo phát triển đô thị, hạn chế việc sử dụng tài nguyên đất đai, giới hạn việc tăng đất xây dựng, giảm khí các bô níc, cải tạo đất đai và tăng đất cây xanh theo các giai đoạn quy hoạch phát triển, đảm bảo an toàn sinh thái, bảo vệ các nguồn nước, bảo vệ các dòng chảy tự nhiên, phát triển đô thị bền vững. Quy hoạch sinh thái đô thị Hà Nội có thể lấy hành lang các sông, kênh nước, dọc các trục đường lớn, các công viên, vườn hoa lớn, các hồ nước, các vùng đất nông nghiệp làm chủ đạo; kết hợp với các vườn hoa cây xanh các khu ở tạo thành hệ thống sinh thái đô thị. Tiến tới thống nhất, nối tiếp và lồng ghép 3 quy hoạch: Quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch quản lý đất đai, quy hoạch sinh thái đô thị thành một quy hoạch thống nhất.

Thứ ba là, về vấn đề quy hoạch và đảm bảo bảo vệ các di tích văn hóa lịch sử. Cũng như một số thành phố lớn tại Trung Quốc, Thủ đô Hà Nội của Việt Nam cũng nổi tiếng với những di tích có giá trị cao về mặt văn hóa lịch sử đòi hỏi phải được giữ gìn và bảo tồn trong công cuộc quy hoạch đô thị vì đây là một nguồn tài nguyên đặc biệt, phải được bảo vệ khai thác và phát huy giá trị, tạo thành một nguồn lực thúc đẩy phát triển du lịch, thương mại, phát triển kinh tế… Đây là giá trị khác biệt cơ bản giữa các đô thị, giữa các vùng miền; góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa thủ đô Hà Nội.

Thứ tư là, về vấn đề quy hoạch xây dựng, quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Chính quyền thành phố và những nhà quy hoạch đô thị tại thành phố cần tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị (giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải – rác thải và môi trường…), coi giao thông là lĩnh vực đột phá để phát triển. Đặc biệt với địa hình Thành phố Hà Nội được cho là khá đặc biệt bởi có hệ thống sông, kênh rạch khá dày nên một số hệ thống giao thông như tàu điện ngầm, tàu đệm từ trường,… sẽ khó xây dựng được như ở Trung Quốc. Tuy nhiên, ở Thành phố Hà Nội hiện nay có thể áp dụng phương pháp dự báo về mức độ lưu thông, số lượng phương tiện cơ giới là để từ đó quyết định lưu lượng giao thông của một đô thị và cũng có tính quyết định đối với quy mô của các công trình xây dựng đường sá cần thực hiện. Nhưng đó chỉ là một cách đáp ứng “máy móc” trước nhu cầu đang tăng dần của giao thông bằng xe hơi , xe máy và cách làm này tất nhiên chỉ dẫn đến một cái vòng luẩn quẩn và một cuộc chạy đuổi vô tận ở phía trước. Trong các chính sách về giao thông đô thị, cần kiểm soát tốt hơn nữa sự bùng nổ của xe hơi, xe máy tức là kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng xe hơi, xe máy trong khu vực trung tâm thành phố. Điều quan trọng là phải phân biệt rõ ràng giữa khả năng tiếp cận và khả năng đi lại với phương châm ưu tiên cho các phương tiện giao thông công cộng hơn là xe hơi cũng như ưu tiên cho việc sử dụng những phương tiện phi cơ giới, hạn chế xây dựng các nút giao thông lập thể và cầu vượt, giữ gìn nguyên vẹn kiến trúc của các khu vực nội đô. Qua những kinh nghiệm thu được tại nhiều nơi trên thế giới cũng cho thấy trong giao thông khi cung cao hơn cầu thì việc lưu thông sẽ trở nên dễ dàng. Do đó, chúng ta đều nhận thấy sau khi xây dựng các tuyến đường lớn sẽ cải thiện được rõ rệt giao thông đô thị. Tuy nhiên, nếu chúng ta tự hài lòng về những thành công này thì tất nhiên chỉ sau một thời gian ngắn sẽ lại phải chứng kiến tình trạng tắc nghẽn và xuống cấp về giao thông. Về mặt lâu dài, không chỉ ở Hà Nội mà còn ở những thành phố khác ở Việt Nam, cần định hướng xây dựng và thúc đầy (bằng cách xây dựng tuyến xe bus tại nhiều địa điểm, hỗ trợ giá vé xe bus, sử dụng thẻ hiện đại khi di chuyển bằng xe bus,…)mạng lưới giao thông công cộng phù hợp với địa hình mỗi thành phố.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Để giúp Việt Nam có một nền kinh tế phát triển bền vững cũng như đảm bảo được một môi trường đô thị hiện đại văn minh thích nghi với quá trình hội nhập về mọi mặt như hiện nay, đồng thời cũng là xây dựng bộ mặt của một đất nước với bạn bè năm châu. Để làm được điều đó, Chính phủ, các Bộ các Ngành cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan cần xác định công tác quy hoạch đô thị là một trong những công việc hàng đầu cần chú trọng trước mắt. Quy hoạch đô thị muốn hiệu quả thì cần có công cụ hỗ trợ đắc lực, đó làm pháp luật về Quy hoạch đô thị giải quyết những vấn đề cơ bản phát sinh trong quá trình quy hoạch đô thị. Tuy nhiên, sự ra đời của Luật Quy hoạch đô thị năm 2017 vẫn chưa làm tròn trách nhiệm mà nó được hy vọng giao phó, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập lớn cần khắc phục để đảm bảo quy định của luật không bị chồng chéo với các luật có liên quan, và để gắn sát với thực tiễn là Luật Quy hoạch năm 2025 sắp sửa có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2027 với ý tưởng đổi mới về cơ bản. Như vậy, về cả lý luận và thực tiễn, việc sửa đổi, hoàn thiện pháp luật Quy hoạch đô thị năm 2017 là cần thiết. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị chú trọng vào bất cập từ những quy định của Luật Quy hoạch đô thị năm 2017 về việc lập, thẩm định, giám sát cũng như quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị. Bên cạnh việc hoàn thiện luật, cần có những biện pháp, chính sách bổ sung hỗ trợ hiệu quả pháp lý về quy hoạch đô thị ở Việt Nam dựa trên từng khu vực đặc thù.

Áp dụng đối với việc quy hoạch đô thị tại thành phố Hà Nội, thông qua tìm hiểu một số thành tựu to lớn cũng như các tồn tại trong thực tiễn đô thị hóa Trung Quốc tại các thành phố lớn như Thâm Quyến, Thượng Hải sau cải cách mở cửa có thể cung cấp cho Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý về nhiều mặt, bao gồm cả về phát triển bền vững.Việc nghiên cứu học tập, chọn lọc tiếp thu những tinh hoa, những kinh nghiệm về quy hoạch và quản lý đô thị của Trung Quốc (nhất là về công tác quy hoạch, quản lý đất đai, phát triển hệ thống hạ tầng, giải quyết nhà ở, cây xanh, môi trường đô thị thành phố…) có ý nghĩa rất lớn trong việc thay đổi diện mạo thành phố Hà Nội.

KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Bất kỳ một quốc gia nào, dù là nước đang phát triển hay chưa phát triển, nước phát triển, trong công cuộc cải cách đổi mới về mọi mặt đều coi công tác quy hoạch đô thị là một trong những vấn đề tiên quyết cần chú trọng. Lý do là bởi quá trình đô thị hóa mang lại nhiều hiệu quả tích cực: Đô thị hóa giúp kinh tế phát triển,thể hiện bằng việc đô thị hóa giúp cho công cuộc công nghiệp hóa, thương mại hóa được thuận lợi, phân bổ đồng đều nguồn lực thiên nhiên và con người, tăng năng suất lao động, đồng thời thay đổi đồng bộ hệ thống kỹ thuật, cơ sở hạ tầng theo hướng văn minh hiện đại hơn, từ đó cũng làm thay đổi bộ mặt một thành phố, một đất nước. Tuy nhiên, đô thị hóa cũng có thể gây ra một số tác động tiêu cực trong việc hài hòa giữa phát triển đô thị và vấn đề bảo vệ môi trường, di tích văn hóa , lịch sử nếu không có biện pháp quản lý và kiểm soát chặt chẽ. Để hạn chế một cách thấp nhất những hệ lụy tiêu cực của quá trình đô thị hóa, mỗi quốc gia cần dành nhiều thời gian và nguồn lực cần thiết cho hoạt động quy hoạch đô thị.Hiểu đúng những khái niệm cơ bản về các xu hướng đô thị hóa trên thế giới : đô thị thông minh, đô thị bền vững cùng những khái niệm nền tảng về quy hoạch đô thị trong hệ thống pháp luật , những chính sách của Đảng và Nhà nước trong định hướng phát triển đô thị là bước đầu giúp các nhà quy hoạch có cái nhìn đúng đắn về quy hoạch đô thị, từ đó xây dựng đồ án quy hoạch đồ thị. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

Muốn quy hoạch đô thị được hiệu quả, trước tiên phải có một bộ khung pháp luật điều chỉnh cụ thể những vấn đề phát sinh và chủ thể có quyền và trách nhiệm trong quy hoạch đô thị dẫn đến một loạt những văn bản pháp luật, và Nghị định, Thông tư đi kèm liên quan đến các vấn đề lập, thẩm định, tư vấn, quản lý và giám sát quy hoạch đô thị được ban hành mới hoặc sửa đổi. Tuy nhiên, bên cạnh những thứ đạt được, hệ thống pháp luật còn tồn tại nhiều bất cập lớn như các văn bản Luật còn thiếu tính đồng bộ và chồng chéo ,dẫn đến khó áp dụng trên thực tế. Cụ thể, khi xem xét đến thực tiễn thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị tại một trong những thành phố kinh tế- chính trị trọng điểm của cả nước-Thành phố Hà Nội, có thể thấy rằng do không kiểm soát được việc gia tăng dân số, nhất là di dân từ các khu phụ cận vào thành phố để tìm kiếm việc làm; thiếu các chiến lược và chính sách kiểm soát,giám sát, quản lý đô thị , thiếu sự phối hợp linh hoạt giữa các nhóm ngành liên quan gây lãng phí tài nguyên đất đai và nguồn lực đầu tư khiến Thành phố hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề gây bức xúc cho người dân. Một trong những công cụ đắc lực của Nhà nước Việt Nam trong quản lý công tác quy hoạch đô thị là Luật Quy hoạch đô thị năm 2017, vì nhiều lý do cả về cả mặt lý luận và thực tiễn, cần được hoàn thiện, sửa đổi trên một số phương diện để giúp nâng cao “tính hiệu quả về mặt thực tiễn” của pháp luật Quy hoạch đô thị. Song song với việc sửa đổi luật, cần tập trung thay đổi lối suy nghĩ sáo mòn thiếu linh hoạt sáng tạo trong việc quy hoạch đô thị tại các thành phố, cụ thể trước mắt là một trong những trung tâm kinh tế- chính trị của đất nước, Thành phố Hà Nội. Bên cạnh đó, nhà quy hoạch chiến lược cần phải biết tiếp thu những kinh nghiệm quý giá từ công tác quy hoạch đô thị của các quốc gia khác trên thế giới trên cơ sở tương đồng về các mặt địa lý, chính trị, văn hóa,…với nước mình để xây dựng nên những đề án quy hoạch đô thị khả thi, có tính lâu dài, hướng đến mục tiêu phát triển đô thị bền vững. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464