Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá; là tư liệu sản xuất đặc biệt gắn liền với cuộc sống của con người. Có thể nói con người không thể tồn tại nếu không có đất đai bởi mọi hoạt động đi lại, sống và làm việc đều gắn với đất. Hơn nữa, đất đai còn giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội; là địa điểm phân bổ các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, trong đó Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thay mặt toàn thể nhân dân quản lý bằng những quy tắc xử sự chung nhằm quản lý đất đai hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm và bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội hiện nay cùng với sự bùng nổ về dân số đã tạo áp lực rất lớn cho vấn đề sử dụng và bảo vệ đất.

Việt Nam đang trên đà đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đạt được mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, việc thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng là một quá trình tất yếu. Trên cả nước, hàng nghìn dự án đã và đang được triển khai với kế hoạch dự kiến thu hồi hàng vạn héc ta đất, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng triệu cá nhân, hộ gia đình. Để bù đắp những thiệt thòi của người bị thu hồi đất , Nhà nước ta đã ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống và sản xuất.

Thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vẫn luôn là vấn đề hết sức nhạy cảm, thu hút sự quan tâm, chú ý của người dân. Bởi việc Nhà nước thu hồi đất trực tiếp phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng trong việc giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người bị thu hồi đất. Thực tế cho thấy đây là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài và dễ trở thành những điểm nóng gây mất ổn định về chính trị – xã hội. Nhận thức được sâu sắc những khó khăn, thách thức trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật nhằm thực thi có hiệu quả công tác về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo hướng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước.

Trong những năm qua chính sách pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã không ngừng được hoàn thiện và đổi mới nhằm giải quyết những vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng. Đặc biệt với sự ra đời của Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 1/7/2014 pháp luật đất đai đã có những quy định mới tích cực khắc phục, giải quyết được phần nào những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003. Tuy nhiên sau nhiều năm triển khai, Luật đất đai năm 2013 vẫn còn bộc lộ những vướng mắc, thiếu sót cần được nghiên cứu để chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan; đồng thời đề xuất những giải pháp tối ưu nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Với những lý do trên, em lựa chọn đề tài “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013” làm khóa luận tốt nghiệp đại học.

2. Tình hình nghiên cứu

Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai. Trong thời gian vừa qua đã có một số công trình, sách báo nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật này dưới khía cạnh lí luận và thực tiễn; tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả: PGS.TS Doãn Hồng Nhung: Pháp luật về định giá đất trong bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam, sách chuyên khảo năm 2013; PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến: Vấn đề thu hồi đất và bồi thường khi thu hồi đất trong dự thảo luật đất đai sửa đổi, bổ sung, Tạp chí luật học, 2008; Nguyễn Kim Thoa: Lời giải hữu hiệu cho bài toán thu hồi đất nông nghiệp, Tạp chí Tài chính, 2010; TS Trần Quang Huy: Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí luật học, 2010; TS Hoàng Thị Nga: Pháp luật về thu hồi đất , bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2011; TS Phạm Thu Thủy: Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam, Luận văn Tiến sĩ Luật học, 2014; Nguyễn Thị Lan Hương: Bảo vệ quyền lợi người nông dân khi thu hồi đất, Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế, 2014… Các công trình nghiên cứu khoa học trên chủ yếu khai thác, phân tích các quy định của Luật đất đai năm 2003 và nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta từ năm 2003 trở về trước. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư tưởng khoa học và một số vấn đề mang tính lý thuyết của các công trình nghiên cứu đi trước, khóa luận đi sâu vào tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện về pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên các phương diện cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành theo Luật đất đai năm 2013. Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt được mục đích và nhiệm vụ cơ bản sau đây:

  • Nghiên cứu đặc điểm, nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận của các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013.
  • Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật trong vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Chỉ ra mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
  • Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đây là một đề tài nghiên cứu khá rộng và phức tạp. Tuy nhiên trong phạm vi của khóa luận tốt nghiệp đại học, khóa luận giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:

Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành dựa trên cơ sở so sánh với Luật đất đai 2003.

Nghiên cứu thực trạng việc thực hiện các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số tỉnh, thành phố.

5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê Nin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong nền kinh tế thị trường.

  • Bên cạnh đó khóa luận còn sử dụng những phương pháp cụ thể sau:

Phương pháp luận giải, phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm v.v…được sử dụng tại Chương I khi nghiên cứu về một sô vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013 để giúp cho nội dung khóa luận cụ thể, mang một sắc thái riêng biệt.

Phương pháp đánh giá, phương pháp tra cứu tài liệu, phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu các quy phạm pháp luật v.v… được sử dụng tại Chương II khi nghiên cứu về thực trạng các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013.

Phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp v.v… được sử dụng tại Chương III khi nghiên cứu về phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

6. Ý nghĩa khoa học của khóa luận

Khóa luận đã thành công trong việc nghiên cứu những đặc điểm và nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; đồng thời hệ thống hóa cơ sở lý luận của các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo luật đất đai năm 2013

Qua kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo luật đất đai năm 2013, khóa luận đã nêu rõ mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất hiện nay.

Từ đó, tác giả định hướng, kiến nghị tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định sao cho hợp lý, tránh gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân bị thu hồi đất. Các đề xuất, định hướng trong công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư trong đề tài này là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân, đảm bảo cho mục tiêu phát triển bền vững trên cả nước.

7. Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận được kết cấu như sau:

  • Chương I : Một sô vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013.
  • Chương II: Thực trạng các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013. Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.
  • Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.

Mặc dù hết sức cố gắng nhưng do hạn chế của bản thân, thời gian và nguồn tài liệu tham khảo nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, nhược điểm. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Giảng viên hướng dẫn cũng như những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn giúp khoá luận ngày càng hoàn thiện hơn!

Chương I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

1.1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 

1.1.1. Khái niệm về thu hồi đất

Trước hết, để nghiên cứu về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất chúng ta cần phải làm rõ khái niệm về thu hồi đất. Hiểu một cách thuần túy thì thu hồi đất là việc Nhà nước sẽ tước đi quyền sử dụng của các chủ sử dụng đất; qua đó thiết lập một quan hệ sử dụng đất mới phù hợp với lợi ích Nhà nước và xã hội.

Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này.”. Cách định nghĩa này dễ dẫn đến nhầm lẫn rằng người sử dụng đất được thu hồi chỉ là tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn; trong khi đó còn có chủ thể khác là hộ gia đình, cá nhân lại không được đề cập đến.

Điều 11 khoản 3, Luật đất đai năm 2013 đã bù đắp thiếu sót so với Luật Đất đai năm 2003 như sau: ”Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Hay nói cách khác, thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.

  • Từ khái niệm trên có thể rút ra một vài đặc điểm của thu hồi đất:

Thứ nhất, thu hồi đất là một hành vi pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đây là sự thực thi một trong những nội dung của quyền lực của Nhà nước về đất đai

Thứ hai, thu hồi đất được thực hiện bởi một quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, mang tính mệnh lệnh, bắt buộc giữa một bên là người sử dụng đất với một bên là Nhà nước ; hai chủ thể này không bình đẳng về mặt pháp lý

Thứ ba, việc thu hồi đất phải xuất phát từ nhu cầu Nhà nước và Xã hội hoặc là các chế tài để xử lý vi phạm pháp luật đất đai, cụ thể: Việc thu hồi đất được chia thành 04 nhóm: Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

  • Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh.
  • Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, cộng đồng.
  • Thu hồi đất do vi phạm pháp luật
  • Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người

Tuy nhiên, khóa luận sẽ chỉ tập trung vào nghiên cứu về thu hồi đất do nhu cầu của Nhà nước vào mục đích quốc phòng, an ninh, pháp triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; ngoài ra còn có trường hợp đặc biệt thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

1.1.2. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 

  • Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Trong đời sống thường ngày, “bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra. Theo từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường”“Đền bù những tổn hại đã gây ra”[31]

Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội.

Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra từ rất sớm. Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ quy định Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, tại Chương II đã đề cập việc “Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”. Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu niên, các hoa mầu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố cũng đề cập vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.  Đặc biệt, sau khi Luật đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, thuật ngữ “bồi thường” được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù”. Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng trong Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và các Nghị định hướng dẫn thi hành như: Nghị định của Chính phủ số 90CP ngày 17/8/1994 và nghị định Chính phủ số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 đều ban hành quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng,….Tuy nhiên, khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại và tiếp tục xuất hiện trong Luật đất đai năm 2003 và gần nhất là Luật đất đai năm 2013. [12] Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Theo Khoản 12 Điều 3 Luật đất đai năm 2013: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất.”. Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất những giá trị, thiệt hại về đất và tài sản trên đất theo quy định của pháp luật đất đai. Từ đó, ta có thể hiểu một cách cơ bản về khái niệm “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” như sau: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật đất đai. [14]

  • Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có một số đặc trưng cơ bản sau đây:

Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra.

Bồi thường là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất gây ra; chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành chính về thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Căn cứ để xác định bồi thường là diện tích đất thực tế bị thu hồi; thiệt hại thực tế về tài sản, cây cối, hoa màu trên đất và căn cứ vào khung giá do Nhà nước quy định tại thời điểm thu hồi đất.

  • Khái niệm về Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng: “Hỗ trợ: giúp thêm, góp thêm vào” [31]. Hoạt động này gồm hai hình thức: hỗ trợ về vật chất (tiền và hiện vật) và hỗ trợ về tình thần (động viên, an ủi)

Thuật ngữ này cũng được sử dụng trong pháp luật nói chúng và pháp luật đất đai nói riêng. Theo khoản 14 Điều 3 Luật đất đai năm 2013: “ Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.”. Hỗ trợ được xem như là một chính sách trợ cấp ngoài bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Tùy từng trường hợp, điều kiện và cơ chế chính sách của từng địa phương mà có những chính sách hỗ trợ khác nhau đối với người dân có đất bị thu hồi. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013 có quy định các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất :

Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;

  1. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;
  2. Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở; Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.
  3. Hỗ trợ khác.”

Khái niệm về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì tái định cư được hiểu là đến một nơi nhất định để sinh sống lần thứ hai (lại một lần nữa) [31].

Theo thuật ngữ pháp lý, tái định cư là trường hợp các cá nhân, hộ gia đình đang cư trú, làm ăn sinh sống ở một nơi, lại chuyển đến cư trú, làm ăn sinh sống nơi khác.

Trong pháp luật đất đai, thuật ngữ tái định cư đã được đề cập đến nhưng lại chưa có quy định nào giải thích cụ thể nội hàm của khái niệm này. Khoản 3 Điều 42 Luật đất đai năm 2003 chỉ quy định: “Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”.

Từ quy định trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở như sau: TĐC là việc hộ gia đình, những người dân đang cư trú, làm ăn sinh sống trên đất ở thuộc quyền sử dụng của mình phải chuyển đến cư trú, làm ăn sinh sống nơi khác do Nhà nước thu hồi đất ở để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế.

Việc cá nhân, hộ gia đình phải rời nơi ở cũ của mình chuyển đến nơi ở mới không phải do ý muốn của họ mà do Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất ở của họ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Do vậy, việc giải quyết tái định cư cho các cá nhân, hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất là trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm giúp người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định đời sống, duy trì và phát triển sản xuất. Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng đất ở, nhà ở hoặc bằng tiền để tự lo chỗ ở mới và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước.

1.2. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

1.2.1. Khái niệm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Pháp luật là một phương thức hiệu quả để thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước. Bất cứ một lĩnh vực, một quan hệ xã hội nào phát sinh trong đời sống xã hội cũng cần đến sự điều chỉnh của pháp luật để hướng đến một trật tự chung, hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước và các bên tham gia quan hệ. Trong lĩnh vực đất đai, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định vô cùng quan trọng. Điều đó thể hiện ở chỗ Nhà nước đã ban hành hàng loạt các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong quá trình thu hồi đất. Chúng ta có thể hiểu khái niệm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như sau:“Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của chủ đầu tư và của người bị thu hồi đất”

1.2.2. Đặc điểm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất xuất phát từ hình thức sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai nên có quyền phân bổ và điều chỉnh đất đai vì mục đích pháp triển kinh tế, xã hội. Vì vậy, Nhà nước có quyền thu hồi đất của người này để chuyển giao cho người khác. Hơn nữa, để tránh lạm dụng, tùy tiện trong việc thu hồi và bồi thường nên pháp luật phải quy định rõ ràng, chặt chẽ về căn cứ thu hồi đất, nguyên tắc, điều kiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trình tự thủ tục, chế tài xử lý hành vi vi pham.v.v..

Thứ hai, cơ sở để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất không chỉ dựa trên những thiệt hại vật chất thực tế mà người bị thu hồi đất phải gánh chịu mà còn tình đến tổn hại phi thực tế ở thời điểm thu hồi và trong tương lai mà họ phải đối mặt, đặc biệt là với người nông dân mất đất vì đất chính là tư liệu sản xuất của họ.

Thứ ba, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa lợi ích “công” của Nhà nước và lợi ích “tư” của người sử dụng đất. Nhà nước cần chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất do quyền sử dụng đất cũng là một loại quyền về tài sản được pháp luật bảo hộ và tôn trọng [14]

Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất mà phù hợp với thực tiễn, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì sẽ được người dân ủng hộ, nhờ đó việc thu hồi đất nhanh chóng. Ngược lại nếu pháp luật không thực tế, có nhiều khiếm khuyết, hạn chế sẽ không được người dân đồng thuận dẫn đến khiếu kiện, khiếu nại kéo dài gây mất ổn định chính trị – xã hội.

1.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Như đã phân tích ở trên, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Những quy phạm phát luật đó bao gồm các nội dung cơ bản như sau:

1.3.1. Các nguyên tắc về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 

Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt toàn bộ những quy phạm pháp luật liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; tạo cơ sở, nền tảng cho việc thực hiện và áp dụng các quy định đó vào thực tiễn cuộc sống. Việc quy định các nguyên tắc về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của người sử dụng đất, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của Nhà nước. Nhìn chung, việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất dựa trên một số nguyên tắc cơ bản như: người bị thu hồi đất có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì được bồi thường, hỗ trợ; việc bồi thường phải đảm bảo đầy đủ các thiệt hại thực tế; việc bồi thường phải theo giá thị trường; việc bồi thường, hỗ trợ phải phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật. Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

1.3.2. Các căn cứ để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Căn cứ để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là các yếu tố mà người sử dụng đất cần phải có để có thể được nhận bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật. Việc quy định về các điều kiện được hưởng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm thu hẹp phạm vi đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đảm bảo cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện công bằng, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Pháp luật cần quy định rõ những trường hợp nào được hưởng bồi thường, những trường hợp nào không được hưởng bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; cũng như cần phải xem xét về tình trạng pháp lý của đất bị thu hồi, loại đất và mục đích sử dụng của mảnh đất đó. Qua đó vừa thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các chủ thể trong quá trình thu hồi đất. Quy định về điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi là không thể thiếu khi xem xét, tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

1.3.3. Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất là nhóm chủ thể bao gồm những người sử dụng đất hợp pháp có đủ các điều kiện để được hưởng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật. Việc quy định về đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất giúp cho việc thực thi pháp luật được cụ thể, chính xác; các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng chính sách đúng đối tượng. Thông qua quy định về đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, người bị thu hồi đất có thể biết mình có thuộc trường hợp được hưởng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hay không; từ đó họ có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân trong quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng.

1.3.4. Hình thức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Về hình thức bồi thường, có hai hình thức bồi thường: bồi thường về đất và bồi thường về tài sản gắn liền trên đất. Thứ nhất, trong trường hợp được bồi thường về đất, người bị thu hồi có thể được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi hoặc yêu cầu được bồi thường bằng tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi. Trong trường hợp thu hồi đất ở, người bị thu hồi đất còn có thể nhận bồi thường bằng nhà ở. Ngoài ra, trong trường hợp người bị thu hồi đất không thuộc đối tượng được bồi thường về đất thì tùy từng trường hợp có thể được xem xét bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất. Thứ hai, người bị thu hồi đất còn được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền trên đất với phương thức bồi thường chính là bồi thường bằng tiền. Về hình thức hỗ trợ, bao gồm: hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cho người bị thu hồi đất trong độ tuổi lao động. Về hình thức tái định cư, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng đất ở, nhà ở hoặc bằng tiền để tự lo chỗ ở mới. Những quy định về hình thức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là cơ sở pháp lý quan trọng giúp các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng pháp luật một cách nhanh chóng, hiệu quả cũng như giúp người dân nắm rõ các quyền lợi mà mình được hưởng trong quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng. Qua đó, chúng ta có thể giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể trong quan hệ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

1.3.5. Giá đất để tính bồi thường Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Giá đất để tính bồi thường là căn cứ quan trọng để thực hiện bồi thường cho người sử dụng đất nhằm giải quyết mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất. Giá đất để tính bồi thường được tính theo khung giá đất do Nhà nước quy định tương ứng với loại đất bị thu hồi và được xác định ở thời điểm thu hồi đất. Một điểm quan trọng hơn hết là giá đất để tính bồi thường phải tương đương với giá đất trên thị trường nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất. Tuy nhiên hiện nay việc giá đất bồi thường quá thấp so với giá đất trên thị trường vẫn tồn tại và gây ra nhiều tranh chấp trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Thêm vào đó, sự chênh lệch giữa giá đất được Nhà nước bồi thường và giá đất sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng khá lớn, pháp luật cần phải có cơ chế phù hợp nhằm bù đắp phần nào sự chênh lệch đó, giúp giải quyết hòa lợi ích kinh tế của các chủ thể trong quan hệ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Quy định về giá đất hợp lý sẽ giảm thiểu rất nhiều những khiếu nại, khiếu kiện trong việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.

1.3.6. Trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 

Việc tuân thủ một cách chặt chẽ trình tự thủ tục về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo tính công khai, công bằng và dân chủ của pháp luật. Từng bước lập, thẩm định, thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; cũng như trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần phải được quy định rõ ràng trong Luật đất đai và những văn bản hướng dẫn thi hành. Nguyên nhân là do những vi phạm pháp luật đất đai cũng như những khiếu nại, khiếu kiện của người dân tập trung khá nhiều trong lĩnh vực này. Việc quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất giúp hạn chế việc lạm dụng quyền lực từ phía các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; tránh những vấn đề tiêu cực như tham nhũng, trục lợi trong quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

1.3.7. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Người bị thu hồi đất có quyền khiếu nại, tố cáo đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nếu không đồng ý với quyết định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Khiếu nại, tố cáo của người dân thường liên quan đến giá đất bồi thường, xác định loại đất bồi thường hay sai phạm về trình tự, thủ tục trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.v.v… Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm phát hiện và khắc phục hậu quả của những hành vi vi phạm pháp luật trong việc bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng; xây dựng niềm tin của người dân vào Nhà nước và phát huy tối đa vai trò của pháp luật. Pháp luật cũng cần quy định những chế tài xử lý các sai phạm trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất một cách rõ ràng và mang tính răn đe. Các chế tài trong lĩnh vực này không chỉ trong phạm vi của Luật đất đai mà còn liên quan đến một số luật thuộc lĩnh vực khác như Luật Hình sự, Luật cán bộ công chức.v.v…

1.4. Mục đích, ý nghĩa của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 

Thu hồi đất, giải phóng mặt bằng là quá trình đa dạng và phức tạp. Thu hồi đất ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội. Việc thu hồi đất nếu thực hiện không tốt có thể gây ra nhiều hậu quả xấu đáng kể đến như: người nông dân mất đất canh tác gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, không có việc làm, đời sống bấp bênh; gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng dân cư trên địa bàn do việc quy hoạch khu công nghiệp không hợp lý; hay cả những vụ khiếu nại, khiếu kiện kéo dài của người dân đến cơ quan có thẩm quyền.v.v…Do vậy, việc giải quyết tốt vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất mang lại ý nghĩa rất to lớn:

1.4.1. Đối với người có đất bị thu hồi 

Thứ nhất, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phần nào bù đắp lại khoản lợi ích vật chất mà người có đất bị thu hồi bị mất; nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Thứ hai, việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo cho người có đất bị thu hồi có đất để sinh sống, giúp họ ổn định sản xuất

Thứ ba, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ , tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc thu hồi đất được nhà nước bảo vệ khi quyền lợi của họ có thể bị xâm phạm một cách trái pháp luật của các chủ thể khác trong xã hội. Hiện nay hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề thu hồi đất bao gồm: Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn là: Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/4/2014; Nghị định 44/2014/NĐ-CP ngày 15/4/2014; Nghị định 47/2014/NĐCP ngày 15/4/2014 của Chính phủ; thông tư 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và môi trường. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để người sử dụng đất có thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ khi bị xâm phạm.

1.4.2. Đối với phương diện kinh tế – xã hội Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Thực tiễn cho thấy công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng không nhận được sự đồng thuận từ phía người dân dẫn đến hàng loạt các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án đầu tư trong và ngoài nước nhiều khi bị đình trệ không thực hiện được đúng tiến độ đề ra . Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ đầu tư, Doanh nghiệp bị thiệt hại do máy móc, nguyên vật liệu bị “đắp chiếu”, trả lương cho người lao động hay lãi suất vay vốn Ngân hàng… Vì vậy, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đạt hiệu quả tốt sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể thực hiện dự án một cách nhanh chóng, góp phần vào việc tăng trưởng nền kinh tế và nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta. Tốc độ tăng trưởng bền vững, kinh tế phát triển ổn định là nền tảng thực hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, phúc lợi tăng cao, cải thiện đời sống cho người dân.

1.4.3. Đối với phương diện chính trị

Việt Nam là một nước nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của người dân nên các chính sách về đất đai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về mặt chính trị. Một trong các chính sách về đất đai được Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm là chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nếu chính sách không thỏa đáng, người dân sẽ phản đối gay gắt, quyết liệt thông qua con đường khiếu nại, khiếu kiện; khiếu kiện vượt cấp, kéo dài dẫn đến nguy cơ gây mất ổn định về mặt chính trị; đồng thời làm mất trật tự an ninh xã hội do người dân tập trung thành đám đông cùng  khiếu nại với chính quyền địa phương hay khiếu kiện tới cơ quan Tòa án. Điều này rất dễ phát sinh thành những “điểm nóng” trong lòng xã hội. Vì vậy, việc giải quyết tốt vấn đề về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cũng chính là thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội để phát triển đất nước, củng cố vững chắc sự ổn định về mặt chính trị trên phạm vi cả nước.

Tóm lại, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có mục đích, ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó không chỉ bù đắp tổn thất mà người sử dụng đất phải gánh chịu mà còn giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội là hậu quả của việc Nhà nước thu hồi đất gây ra. Hơn nữa, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện tốt đồng nghĩa với việc ổn định được tình hình chính trị, giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

1.5. Kinh nghiệm Quốc tế về thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

1.5.1. Kinh nghiệm của Singapore

Singapore là một quốc đảo nhỏ bé và khá thành công trong công tác quản lý đất đai. Singapore có chế độ sở hữu đất đai đa dạng, trong đó chấp nhận sở hữu tư nhân về đất đai, tuy nhiên đất đai do Nhà nước sở hữu vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Dù là hình thức sở hữu nào thì việc quản lý và sử dụng đất cũng đều phải tuân thủ theo quy định về quy hoạch đất đai do Nhà nước ban hành.

Một điểm đặc thù trong pháp luật đất đai của Singapore đó là không có trường hợp người dân tự chuyển nhượng đất cho nhà đầu tư như ở Việt Nam do Nhà nước không cho phép cũng như thời gian sử dụng đất khác nhau. Nhà nước đóng vai trò trung gian giữa người sử dụng đất và nhà đầu tư, tránh hiện tượng tiêu cực trong việc thu hồi đất và bồi thường. Nói cách khác mọi việc chuyển nhượng làm thay đổi mục đích sử dụng đều phải thông qua cơ quan Nhà nước.

  • Nguyên tắc thu hồi đất

Theo Luật về thu hồi đất – Land Acquisition Act, Nhà nước toàn quyền quyết định trọng vấn đề thu hồi đất, người dân có nghĩa vụ phải tuân theo. Luật pháp Singapore cũng quy định việc thu hồi đất được thực hiện phải dựa trên quy hoạch đất đai được Nhà nước phê duyệt và tuân thủ các nguyên tắc chủ yếu sau đây:

  • Thu hồi đất bắt buộc để sử dụng đất vào mục đích công cộng;
  • Hạn chế việc thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân (chỉ thu hồi trong các trường hợp cần thiết);
  • Việc thu hồi đất phải được sự đồng ý của Chính phủ, sau khi đã thảo luận và tham khảo ý kiến của cộng đồng;
  • Việc thu hồi đất được thực hiện theo quy trình chặt chẽ do pháp luật quy định.
  • Các trường hợp thu hồi đất

Singapore mặc dù có nhiều hình thức sở hữu khác nhau về đất đai (sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân) song việc thu hồi đất chỉ được thực hiện để sử dụng vào mục đích công cộng như: phát triển cơ sở hạ tầng; xây dựng công trình phúc lợi xã hội; chỉnh trang đô thị… Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

  • Cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất

Nhà nước đứng ra thu hồi đất rồi giao hoặc cho các công ty, nhà đầu tư thuê đất. Ở Singapore không có hiện tượng các chủ đầu tư tự thương lượng với người sử dụng đất để mua lại đất thực hiện dự án đầu tư. Điều này tạo sự công bằng trong việc thu hồi đất, bên cạnh đó, chủ đầu tư không phải mất nhiều thời gian công sức , dự án cũng được triển khai đúng tiến độ dễ dàng hơn.

Công tác thu hồi đất phải được sự cho phép bởi Chính phủ và các thành viên trong Nội các Chính phủ, sau khi đã thảo luận và tham khảo ý kiến cộng đồng để bảo vệ quyền lợi cho người dân.

Nhà nước có trách nhiệm thông báo cho người bị thu hồi đất biết trước từ 2 đến 3 năm trước khi ra quyết định thu hồi đất. Trường hợp người bị thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi đất sẽ bị nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc bị phạt theo Luật xâm chiếm đất công (State Lands Encroachment Act).

  • Bồi thường khi thu hồi đất

Ở Singapore, mức bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất được xác định căn cứ vào giá trị thực tế của bất động sản của chủ sở hữu; các chi phí tháo dỡ. di chuyển chỗ ở hợp lý; chi phí mua nguyên vật liệu xây dựng nhà ở mới… Trường hợp người bị thu hồi đất không tán thành với phương án bồi thường thiệt hại do Nhà nước xác định, họ có quyền thuê một tổ chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi phí thiệt hại. Nhà nước trả tiền cho công tác định lại giá này.

Ngoài ra, Việc xác định giá bồi thường được Singapore thực hiện căn cứ vào giá trị bất động sản do người bị thu hồi đất đầu tư chứ không căn cứ vào giá trị thực tế của bất động sản. Phần giá trị tăng thêm do sự đầu tư cơ sở hạ tầng của Nhà nước được bóc tách khỏi giá trị bồi thường của bất động sản. Điều này có nghĩa là Nhà nước không bồi thường theo giá bất động sản hiện tại mà bồi thường theo giá thấp hơn do trừ đi phần giá trị bất động sản tăng thêm từ sự đầu tư cơ sở hạ tầng của Nhà nước.

Phương thức thanh toán khi Nhà nước chi trả tiền bồi thường thu hồi đất : đợt thứ nhất, nhà nước trả trước 20% tổng giá trị bồi thường khi chủ nhà thực hiện việc tháo dỡ nhà ở. Đợt thứ 2, phần còn lại sẽ được thanh toán khi người bị thu hồi đất ở hoàn tất việc di chuyển chỗ ở. Nếu hộ gia đình có nhu cầu cấp bách về nhà ở, Nhà nước sẽ thu xếp cho thuê với giá phù hợp.

Bên cạnh đó, nhà nước cũng xem xét bồi thường cho người bị thu hồi đất các thiệt hại sau đây:

  • Trường hợp công trình công cộng đi ngang qua bất động sản gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích của người sử dụng đất như tiếng ồn, khói bụi, người đi đường có thể nhìn vào nhà v.v;
  • Trường hợp công trình công cộng gây chia cắt manh mún mảnh đất hiện hữu; chi phí để hoàn tất thủ tục đứng tên chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng đối với phần diện tích đất còn lại. [15]
  • Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về bồi thường khi thu hồi đất.

Để đảm bảo quyền lợi của người bị thu hồi đất, Nhà nước Singapore quy định trong trường hợp người bị thu hồi đất không đồng ý với mức giá bồi thường thì họ có quyền khiếu kiện. Hội đồng bồi thường là người đưa ra câu trả lời đối với người khiếu kiện và có thẩm quyền quyết định về giá trị bồi thường. Nếu câu trả lời của Hội đồng bồi thường vẫn không được người bị thu hồi đất đồng ý thì họ có quyền đưa vụ việc ra Tòa Thượng thẩm. Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Có thể thấy nguyên tắc công bằng, minh bạch được đề cao trong quá trình thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Singapore nên nhận được sự đồng thuận cao từ phía của người dân. Tỷ lệ cưỡng chế khi thu hồi đất thấp, không đáng kể, chỉ dưới 1% tổng số các trường hợp thu hồi đất.

  • Vấn đề tái định cư cho người bị thu hồi đất

Việc tái định cư được thực hiện hiệu quả  do được triển khai gắn với việc bố trí nhà ở do nhà nước xây dựng (nhà ở công) và cung cấp với giá rẻ đi kèm với một số điều kiện. Đây là một điểm đặc thù và rất độc đáo của thị trường bất động sản tại Singapore. Cục Phát triển Nhà (HDB) là cơ quan tập trung thực hiện việc cung cấp nhà ở công cho người dân, trong đó chủ yếu phục vụ tái định cư. Ngoài ra, Chính phủ còn có các ưu đãi, hỗ trợ cho chương trình phát triển nhà ở của HDB, nhất là các chính sách về tài chính, huy động vốn và hỗ trợ, tạo điều kiện cho người mua nhà [13]

Việc tái định cư được thực hiện dựa trên cơ sở thu thập, xác minh các thông tin một cách cẩn thận, tỉ mỉ, ví dụ như: Số lượng thành viên trong hộ gia đình; nguồn thu nhập; nghề nghiệp; nơi làm việc; tình trạng pháp lý của bất động sản…Điều đó đã tạo căn cứ vững chắc cho quá trình thực hiện tái định cư chính xác, công bằng.

1.5.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa… Vì vậy việc học hỏi những kinh nghiệm, thành tựu từ pháp luật Trung Quốc là vô cùng cần thiết đối với Việt Nam; cụ thể là trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu: chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể. Đất đai ở khu vực thành thị và đất và đất xây dựng thuộc sở hữu toàn dân. Còn đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể nông dân lao động.

Trong lĩnh vực thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, có thể nói mục tiêu bao trùm lên chính sách của Trung Quốc là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư. Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất.

  • Nguyên tắc bồi thường Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Khoản tiền bồi thường cho giải tỏa mặt bằng phải đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ. Việt Nam cũng áp dụng nguyên tắc này tuy nhiên chưa thể hiệu quả như ở Trung Quốc. Ở Bắc Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng thêm khoản tiền tiết kiệm của họ có thể mua một căn hộ mới. Đối với khu vực nông thôn, người dân có thể dùng số tiền đó để mua hai căn hộ ở cùng một nơi, tuy nhiên vẫn còn có những trường hợp cá biệt khác

  • Các trường hợp thu hồi đất

Đất đai thuộc chế độ công hữu nên lợi ích công là điều kiện tiền đề để áp dụng quyền thu hồi đất một cách hợp pháp. Việc thu hồi đất được thực hiện chặt chẽ để tránh sự lạm quyền của chính quyền địa phương. Phạm vi đất bị thu hồi phục vụ cho lợi ích công gồm: đất phục vụ cho quân sự – quốc phòng; các cơ quan nhà nước và các cơ quan nghiên cứu sự nghiệp; công trình giao thông, năng lượng; kết cấu hạ tầng công cộng; công trình công ích và phúc lợi xã hội, công trình trọng điểm quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái và phục vụ cho các lợi ích công cộng khác theo quy định của pháp luật.

  • Trình tự, thủ tục thu hồi đất

Ở Trung Quốc, quy trình thu hồi đất gồm 4 bước:

  • Khảo sát về các điều kiện thu hồi đất (dân số nông nghiệp, đất canh tác trên thu nhập đầu người, tổng sản lượng hàng năm, diện tích đất, loại đất và vấn đề sở hữu của khu vực bị ảnh hưởng)
  • Xây dựng dự thảo kế hoạch thu hồi đất;
  • Cơ quan quản lý đất đai báo cáo với chính quyền địa phương, trình kế hoạch thu hồi đất và các tài liệu khác lên cấp cao hơn để kiểm tra, phê duyệt;

Thông báo, công bố dự án sau khi dự án được phê duyệt. Việc công bố phải được thực hiện kịp thời, cụ thể về kế hoạch thu hồi và bồi thường. Chính quyền địa phương có trách nhiệm thông báo và giải thích các vấn đề có liên quan. Sau ngày thông báo, các tài sản trong khu vực dự án sẽ không được cải tạo, mở rộng.

  • Cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất

Ở Trung Quốc, chỉ có Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có thẩm quyền thu hồi đất. Công tác quản lý giải phóng mặt bằng được giao cho Cục Quản lý tài nguyên đất đai tại các địa phương thực hiện. Chủ thể được nhận khu đất sau khi được thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng khu đất đó và có trách nhiệm bồi thường cho người sử dụng đất sau khi thu hồi.

Quốc vụ viện (Chính phủ) quyết định thu hồi đất nông nghiệp từ 35ha trở lên, đối với loại đất khác là 70ha trở lên.. Dưới hạn mức đất này, chính quyền cấp tỉnh ra quyết định thu hồi đất. Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ chế độ sở hữu tập thể thành chế độ sở hữu nhà nước. Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

  • Bồi thường khi thu hồi đất

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường. Tiền bồi thường này bao gồm: lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi. Nguyên tắc bồi thường khi thu hồi đất được xác định là phải bảo đảm cho người bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ.

Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư đất không căn cứ giá thị trường, mà phụ thuộc vào mục đích sử dụng ban đầu của khu đất bị thu hồi (căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số). Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại. Cụ thể :

Đối với đất nông nghiệp, cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do nhà nước quy định. Mức bồi thường được tính bằng 6 đến 10 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của ba năm trước khi thu hồi. Trợ cấp tái định cư được tính bằng 4 đến 6 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình. Bồi thường về hoa màu và các công trình hiện có sẽ do chính quyền địa phương quyết định. Trong trường hợp mức bồi thường không đủ để duy trì mức sống ban đầu, thì có thể tăng thêm, tuy nhiên, tổng mức bồi thường không vượt quá 30 lần giá trị sản lượng trung bình của 3 năm trước khi thực hiện thu hồi nếu như các quy định trong luật không đủ duy trì mức sống hiện tại của người nông dân.

Đối với đất ở, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ. Số tiền bồi thường được xác định bao gồm: giá cả xây dựng lại nhà ở, sự chênh lệch giữa xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; giá đất tiêu chuẩn và trợ cấp về giá. Giá xây dựng nhà mới được xác định là khoảng cách chênh lệch giữa giá trị còn lại của nhà cũ và chi phí xây dựng lại nhà mới. Còn giá đất tiêu chuẩn do Nhà nước quyết định, căn cứ theo giá đất trong cùng khu vực. Việc trợ cấp về giá cũng do chính quyền xác định. Khoản tiền bồi thường này được tính theo mét vuông, cộng lại và nhân với diện tích xây dựng của nhà ở. Trường hợp Nhà nước có nhà ở tái định cư thì người được bồi thường sẽ được phân nhà với diện tích tương đương số tiền họ đã nhận được bồi thường [15]

Việc bồi thường cho người dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho người dân ở nông thôn, do sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai. Điều này thể hiện ở chỗ: đối với dân thành thị Nhà nước bồi thường bằng tiền là chính; đối với người dân ở nông thôn thì cách thức linh hoạt hơn, mỗi đối tượng có hình thức bồi thường khác nhau như tiền bồi thường về sử dụng đất đai, tiền bồi thường về hoa màu, bồi thường tài sản tập thể.

  • Chính sách giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất [16]

Để giải quyết việc làm và thu nhập cho những người bị thu hồi đất trong quá trình phát triển công nghiệp và đô thị hóa, nhà nước Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp sau đây: Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

Phát triển các doanh nghiệp địa phương để thu hút việc làm ở khu vực nông thôn. Nhà nước khuyến khích đầu tư và tham gia đầu tư cùng với tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp để thúc đẩy ra đời và phát triển các doanh nghiệp địa phương. Việc khuyến khích xây dựng các doanh nghiệp địa phương không chỉ góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm tại chỗ, mà còn góp phần giảm sức ép về việc làm ở các đô thị lớn.

Chuyển lao động dư thừa sang các ngành công nghiệp và dịch vụ ở các vùng nông thôn hoặc chuyển họ đến các thành phố. Trung Quốc đã triển khai xây dựng các đô thị qui mô vừa và nhỏ. Giải pháp này không chỉ tạo ra nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo việc làm cho lao động, giảm bớt lượng người nhập cư vào các thành phố lớn, mà còn góp phần tối đa hoá việc phân bổ các nguồn lực ở các khu vực, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Nó dễ được người nông dân tiếp nhận và hưởng ứng hơn là ngay lập tức để họ vào sống và làm việc ở các đô thị lớn.  Đến nay, Trung Quốc đã có nhiều mô hình về xây dựng đô thị nhỏ. Nhiều đô thị nhỏ đã trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ, giải trí cũng như giáo dục và thông tin.

1.5.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Qua kinh nghiệm của một số nước được phân tích ở trên, Việt Nam có thể rút ra một số kinh nghiệm nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

Một là, Nhà nước cần giao thẩm quyền phán quyết cuối cùng về bồi thường hỗ trợ cho các tổ chức không thuộc bộ máy hành chính nhằm tăng tính khách quan trong việc xác định mức bồi thường, hỗ trợ [18]. Xây dựng một cơ quan định giá đất chuyên nghiệp, mang tính độc lập là điều cần thiết để xây dựng một mô hình định giá đất phù hợp, khách quan, chính xác. Thêm vào đó, tổ chức định giá đất cần có những chuyên gia được đào tạo bài bản, có chứng chỉ chuyên môn về định giá đất, như vậy có thể giải quyết hài hòa lợi ích giữa các bên trong quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Ví dụ như ở Singapore, nếu không nhận được sự đồng thuận của người bị thu hồi đất, họ có quyền thuê một tổ chức định giá đất tư nhân để tiến hành định giá lại.

Hai là, Nguyên tắc người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường cần phải được thắt chặt để có thể gắn kết quyền lợi được hưởng với trách nhiệm phải thực hiện. Đây là điều mà nhiều nước đã áp dụng để tạo sự công bằng trong công tác thu hồi đất, đặc biệt là trong pháp luật Trung Quốc [14]. Ngoài ra, Nhà nước cần có những biện pháp nhằm thông báo rộng rãi các dự án quy hoạch trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tránh trường hợp chủ sở hữu biết nhưng vẫn bán khu đất.

Ba là, Việt Nam cần ưu tiên cơ chế thỏa thuận hơn là cưỡng chế nhằm đạt được sự thỏa thuận cao nhất từ phía người bị thu hồi đất. Điều đó sẽ giúp Nhà nước và người sử dụng đất trao đổi, đóng góp ý kiến để có thể tìm được tiếng nói chung trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Tuy nhiên, áp dụng cưỡng chế là việc cần thiết trong trường hợp không đạt được sự thỏa thuận, gây ảnh hưởng đến các dự án cần thực hiện. Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất

One thought on “Khóa luận: Pháp luật bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp bồi thường tái định cư nhà nước thu hồi đất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464