Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần và các giải pháp hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quy định pháp luật về người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần
Văn bản pháp luật hiện hành có giá trị pháp lý cao nhất đối với chế định quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung là Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Luật các tổ chức tín dụng 2017 được ban hành là một bước tiến dài trong việc cập nhật những quy định của pháp luật về quản trị, điều hành trong ngân hàng thương mại cổ phần. So với Luật các tổ chức tín dụng 1997 chỉ có 6 điều quy định về tổ chức, quản trị, điều hành tổ chức tín dụng thì Luật các tổ chức tín dụng hiện hành với 59 điều quy định về tổ chức, quản trị, điều hành tổ chức tín dụng, trong đó có 35 điều là những quy định liên quan đến quản trị, điều hành tổ chức tín dụng dưới hình thức công ty cổ phần. Đây là một sự sửa đổi và bổ sung căn bản về nội dung này.
Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung Luật các tổ chức tín dụng 2017 đã có những quy định chặt chẽ hơn, bổ sung thêm nhiều quy định đặc thù về quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Tại Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật về xử lý tổ chức tín dụng yếu kém năm 2017 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam có nêu: “hệ thống các tổ chức tín dụng ở thời điểm cuối năm 2011 hết sức khó khăn, thanh khoản căng thẳng, một bộ phận không nhỏ các tổ chức tín dụng trong trạng thái mất khả năng chi trả, tiềm ẩn rủi ro rất cao, có nguy cơ đổ vỡ gây mất an toàn hệ thống, thị trường tiền tệ bất ổn, cạnh tranh huy động vốn giữa các tổ chức tín dụng gay gắt, thiếu lành mạnh”. Đồng thời, thời điểm năm 2010 đến năm 2017 xảy ra rất nhiều vụ án hình sự liên quan đến người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, là nguyên nhân dẫn đến nhiều Ngân hàng rơi vào tình trạng tê liệt, mất khả năng thanh toán, chi phối tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế như các vụ án: Phạm Công D và đồng phạm – giai đoạn 2 (46 bị cáo) xảy ra tại Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam gây thiệt hại 13.164.719.283.722 đồng cho Ngân hàng Xây dựng Việt Nam; vụ án Trần Phương B và đồng phạm –giai đoạn 1 (26 bị cáo), xảy ra tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (DAB), đã gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho DAB tổng số 3.608.715.937.396 đồng; Vụ án Hoàng Văn T và đồng phạm (06 bị cáo) gây thiệt hại cho Ngân hàng Đại Tín (sau này là Ngân hàng VNCB) tổng số tiền là 471.181.360.000 đồng; Vụ án Trầm B và đồng phạm gây thiệt hại hơn 500 tỷ đồng xảy ra tại Ngân hàng TMCP Phương Nam (nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín – Sacombank); vụ án Lê Thành C và đồng phạm gây thiệt hại hơn 1.100 tỷ đồng xảy ra tại Ngân hàng Agribank Việt Nam (chi nhánh 6) và nhiều vụ án khác liên quan đến các Ngân hàng Vietinbank; Sacombank; BIDV…
Từ thực tiễn đó, năm 2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Chính Phủ giao chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan, cùng tham gia soạn thảo sửa đổi luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Lần này chúng ta đã tiến hành sửa đổi, bổ sung gần 25 điểm liên quan đến các Điều luật quy định về người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, cụ thể về cơ cấu tổ chức quản lý tổ chức tín dụng, những trường hợp không đảm nhiệm chức vụ, đương nhiên mất tư cách, miễn nhiệm, bãi nhiệm, nhiệm vụ quyền hạn của người quản lý, người điều hành, tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, người điều hành… quy định từ Điều 32 đến Điều 65 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Toàn bộ hướng dẫn tại Nghị định số 59/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại đã bị bãi bỏ, do các nội dung này đã được sửa đổi, cập nhật đưa vào Luật các tổ chức tín dụng. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Gần đây nhất vào ngày 10/02/2023, Chính Phủ tiếp tục giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì soạn thảo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi để trình Quốc Hội thông qua vào kỳ họp thứ 6 của Quốc Hội. Đặc biệt, Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 06/01/2023 của Chính phủ phiên họp Chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 12 năm 2022 đối với dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) nêu rõ định hướng: “tiếp tục tổng kết, đánh giá kỹ lưỡng việc thực hiện Luật các tổ chức tín dụng hiện hành; xác định rõ, đầy đủ các bất cập, vướng mắc là do quy định của Luật hay do quá trình tổ chức thực hiện để đề xuất giải pháp sửa đổi, bổ sung phù hợp. Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, nghiên cứu, rà soát để luật hóa các vấn đề đã chín, đã rõ được thực tiễn chứng minh là đúng trong hoạt động ngân hàng; đánh giá tác động các đề xuất chính sách mới một cách khoa học, bài bản, đúng quy định để làm rõ mục tiêu, giải pháp chính sách chủ yếu của Luật, đối với vấn đề mới cần thiết thì thí điểm, có công cụ điều chỉnh để điều chỉnh, xử lý các vấn đề bất cập, tồn đọng, bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng”.
Lần sửa đổi này cũng tập trung vào một số nội dung liên quan đến tổ chức, quản trị, điều hành tổ chức tín dụng, trong đó chú trọng đến chế định người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần nhằm nâng cao chất lượng công tác quản trị, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, tiếp cận dần với những chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong hoạt động ngân hàng.
Như vậy, sau hơn 12 năm ban hành và một lần sửa đổi, Luật các tổ chức tín dụng 2017 đã tạo hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động của các tổ chức tín dụng. Luật đã quy định cụ thể phạm vi hoạt động của từng loại hình tổ chức tín dụng, trong đó lấy hoạt động của ngân hàng thương mại làm căn cứ dẫn chiếu khi quy định phạm vi hoạt động của các loại hình tổ chức tín dụng khác. Đồng thời đã tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng nâng cao chất lượng công tác quản trị, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế trong hoạt động ngân hàng.
Song, các tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền hạn, đặc biệt là trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần chưa được quy định rõ, chi tiết và phù hợp với thực tiễn hiện nay. Trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần còn được quy định lồng ghép vào nhiệm vụ và quyền hạn của người quản lý, người điều hành, chưa tách thành một điều luật riêng biệt để quy định một cách chặt chẽ về nội dung và chế tài xử lý. Từ đó, ảnh hưởng lớn đến việc quản lý và bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng. Để tăng cường chất lượng quản trị, điều hành tổ chức tín dụng, một số quy định của Luật các tổ chức tín dụng cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời như: điều chỉnh quy định về tỷ lệ nắm giữ cổ phần của 01 cổ đông, nhóm cổ đông và người có liên quan của cổ đông, tỷ lệ giới hạn cấp tín dụng, bổ sung trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ của người quản lý, điều hành tổ chức tín dụng, bổ sung một số quy định về tách bạch tài sản giữa chủ sở hữu với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, bổ sung các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, trách nhiệm của người quản lý, người điều hành để hạn chế việc thao túng trong hoạt động ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng,…
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.1. Quy định chung về Người quản lý, Ngừơi điều hành
- Đối với người quản lý: Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Nghiên cứu định người quản lý ngân hàng thương mại cổ phần, trước hết đó là các quy định về người quản lý công ty cổ phần theo quy định của LDN 2020. Theo đó, “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty”.
LDN 2020, không đưa ra định nghĩa về thuật ngữ người quản lý CTCP, nhưng có đưa ra khái niệm theo kiểu liệt kê về người quản lý CTCP bao gồm: “Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty như Trưởng ban kiểm soát, Phó tổng giám đốc hoặc giám đốc các chi nhánh…” Như vậy, LDN 2020 chưa phân định rõ ràng về người quản lý và người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, trong khi đó hai khái niệm là hoàn toàn khác nhau cả về nội dung lẫn đối tượng (ai là người quản lý, ai là người điều hành, nhiệm vụ quyền hạn của quản lý và điều hành) theo quy định.
Về mặt bản chất thì hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của LDN 2020, một văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nói chung. Song, ngành nghề kinh doanh, đối tượng kinh doanh của ngân hàng có tính đặc thù hơn so với các doanh nghiệp nói chung. Do đó, ngoài việc tuân thủ LDN 2020 thì hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần phải tuân thủ chặt chẽ theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2017.
Liên quan đến chế định người quản lý ngân hàng thương mại cổ phần, Luật các tổ chức tín dụng 2017 không đưa ra định nghĩa về người quản lý. Tuy nhiên, tại khoản 31 Điều 4 của Luật này có quy định như sau: “Người quản lý tổ chức tín dụng bao gồm Chủ tịch, thành viên Hội đồng Quản trị; Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên; Tổng Giám đốc (Giám đốc) và các chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng”.
Theo đó, đối với ngân hàng thương mại cổ phần thì người quản lý là các chủ thể sau: “Chủ tịch, thành viên Hội đồng Quản trị, trưởng ban kiểm soát, tổng giám đốc và chức danh khác theo quy định của Điều lệ công ty”. Tuy nhiên, Điều lệ công ty chỉ được quy định các chức danh tương đương là người quản lý ngân hàng thương mại cổ phần, và phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng về điều kiện, tiêu chuẩn của người quản lý NHTMCP. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Về CTHĐQT: CTHĐQT là một thành viên HĐQT được đại hội đồng cổ đông bầu ra và sẽ do HĐQT bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trong số các TVHĐQT theo hình thức biểu quyết, tỷ lệ số phiếu chấp thuận so với tổng số phiếu biểu quyết do Điều lệ ngân hàng thương mại cổ phần quy định. Vai trò tham gia quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần của CTHĐQT được thể hiện qua quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định. CTHĐQT là người giữ vai trò quan trọng, đưa ra và quyết định chủ trương chính sách hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần nhằm ổn định và phát triển ngân hàng, đảm bảo lợi ích của các cổ đông. Nhiệm vụ và quyền hạn của CTHĐQT được quy định rõ theo quy định tại Điều 64 Luật các tổ chức tín dụng 2017.
Về TVHĐQT: là người đại đại hội đồng cổ đông bầu tham gia vào Hội đồng quản trị của ngân hàng thương mại cổ phần, gồm TVHĐQT và TVHĐQT độc lập. Tham gia vào HĐQT để nhân danh ngân hàng thương mại cổ phần quyết định, thực hiện các quyền nghĩa vụ của TVHĐQT theo quy định của pháp luật. Nhiệm vụ và quyền hạn của TVHĐQT được quy định rõ tại Điều 65 Luật các tổ chức tín dụng 2017.
Về BKS và Trưởng BKS: Trưởng BKS là cá nhân điều hành Ban Kiểm sát – tổ chức thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh quản lý và điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần. Trực tiếp chỉ đạo BKS và thành viên BKS kiểm tra hoạt động tài chính của ngân hàng; giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của ngân hàng.
Xét trong mối quan hệ với các bộ phận khác trong ngân hàng thương mại cổ phần như ĐHĐCĐ, HĐQT, Ban điều hành thì BKS đóng vai trò kiểm tra, giám sát và kiềm chế, đối trọng với HĐQT và Ban điều hành để các hoạt động của công ty được hoạt động minh bạch vì lợi ích của các cổ đông. Chính vì sự quan trọng đó, Luật các tổ chức tín dụng đã quy định rất rõ vai trò nhiệm vụ của BKS và Trưởng BKS tại Điều 46.
- Đối với Người điều hành:
Tương tự, Luật các tổ chức tín dụng 2017 có quy định người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là các chủ thể sau: Tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc), Kế toán trưởng, giám đốc chi nhánh, trưởng ban Kiểm soát và các chức danh tương đương theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng.
Về TGĐ: nếu HĐQT đóng vai trò định hướng chiến lược thì Tổng giám đốc là người thực thi chiến lược. Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2017 thì Tổng giám đốc là người điều hành cao nhất của ngân hàng thương mại cổ phần, chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Vai trò quản trị điều hành của Tổng giám đốc thể hiện qua nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng giám đốc được pháp luật quy định. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng giám đốc chủ yếu được quy định trên hai phạm vi: trách nhiệm đối với HĐQT, quyền quyết định các vấn đề kinh tế và vấn đề nội bộ ngân hàng.
Ngoài ra, trong hệ thống người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần còn có các chức danh như Phó Tổng giám đốc, giám đốc chi nhánh, Kế toán trưởng là những người tham gia trực tiếp điều hành hoạt động hàng ngày của ngân hàng thương mại cổ phần, tùy vào chức năng nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Điều lệ của Ngân hàng để thực thi quyền hạn của mình nhằm đảm bảo sự hoạt động an toàn, lành mạnh và phát triển cuả chính ngân hàng đó.
Như vậy, người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần có một số điểm khác với các doanh nghiệp nói chung như sau
Thứ nhất, những người được bầu, bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của ngân hàng thương mại cổ phần phải thuộc danh sách đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Thứ hai, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần bao gồm cả Giám đốc chi nhánh, khác với quy định của LDN 2020. Thực tế một số chức danh khác như giám đốc hội sở, kế toán trưởng, thành viên ban kiểm soát, trưởng ban kiểm soát và một số chức danh khác vẫn được xem là người điều hành tổ chức tín dụng, khác với quy định của LDN 2020.
Thứ ba, về tiêu chuẩn, điều kiện bầu, bổ nhiệm chức vụ đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần được quy định khắt khe, chặt chẽ hơn và nhiều điều kiện về chuyên môn quản lý tài chính, ngân hàng so với người quản lý, người điều hành doanh nghiệp nói chung.
2.1.2. Quy định về những trường hợp không được, không cùng đảm nhiệm chức vụ Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Một trong nhiệm vụ quan trọng của việc xây dựng Luật Các tổ chức tín dụng là để tạo ra hành lang pháp lý quy định phòng ngừa rủi ro, tăng cường hơn nữa việc tự kiểm tra, kiểm soát nội bộ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng; xây dựng công cụ để quản lý các tổ chức tín dụng. Để kiểm soát chặt chẽ nhân sự quản lý, điều hành của tổ chức tín dụng; phát hiện sớm vi phạm và xử lý kịp thời trách nhiệm của các cá nhân quản trị, điều hành tổ chức tín dụng Luật các tổ chức tín dụng 2017 đã quy định rõ về những trường hợp không được, không cùng đảm nhiệm chức vụ, cụ thể:
Thứ nhất, những trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ: những người chưa thành niên, bị hạn chế năng lực, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành án,… không được là TVHĐQT, thành viên BKS, TGĐ, Phó TGĐ, Kế toán trưởng, giám đốc chi nhánh và chức danh tương đương của tổ chức tín dụng.
Thứ hai, những trường hợp không cùng (kiêm nhiệm) đảm nhiệm chức vụ:
Một là, CTHĐQT của tổ chức tín dụng không được đồng thời là người điều hành của tổ chức tín dụng đó và của tổ chức tín dụng khác, trừ trường hợp CCTHĐQT của quỹ tín dụng nhân dân đồng thời là TVHĐQT của ngân hàng hợp tác xã. TVHĐQT của tổ chức tín dụng không được đồng thời là người quản lý của tổ chức tín dụng khác, trừ trường hợp tổ chức này là công ty con của tổ chức tín dụng đó hoặc là thành viên BKS của tổ chức tín dụng đó.
Hai là, Trưởng BKS không được đồng thời là thành viên BKS, người quản lý của tổ chức tín dụng khác. Thành viên BKS không được đồng thời đảm nhiệm một trong các chức vụ sau đây: TVHĐQT, người điều hành, nhân viên của cùng một tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó hoặc nhân viên của doanh nghiệp mà TVHĐQT,TGĐ (Giám đốc) của tổ chức tín dụng là TVHĐQT, người điều hành hoặc là cổ đông lớn của doanh nghiệp đó; Thành viên Hội đồng quản trị, người điều hành của doanh nghiệp mà thành viên Ban kiểm soát của doanh nghiệp đó đang là TVHĐQT, người điều hành tại tổ chức tín dụng.
Ba là, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng không được đồng thời là TVHĐQT thành viên BKS của tổ chức tín dụng khác, trừ trường hợp tổ chức đó là công ty con của tổ chức tín dụng. Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng không được đồng thời là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) hoặc các chức danh tương đương của doanh nghiệp khác.
Bốn là, CTHĐQT, TGĐ của tổ chức tín dụng không được đồng thời là CTHĐQT, TVHĐQT, TGĐ (Giám đốc), Phó TGĐ (Phó giám đốc) hoặc các chức danh khác tương đương của doanh nghiệp khác. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Tóm lại, nhìn nhận một cách tổng thể các quy định về không đảm nhiệm chức vụ và không cùng đảm nhiệm chức vụ cho thấy các quy định hiện nay mang tính liệt kê còn chung chung. Đồng thời, một số thuật ngữ, khái niệm chưa quy định rõ ràng và có nhiều cách hiểu như: “Doanh nghiệp Nhà nước”, cần quy định rõ “doanh nghiệp Nhà nước” là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết hay doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; Hoặc cụm từ: chức danh tương đương của tổ chức tín dụng được quy định trong điều lệ của tổ chức tín dụng được hiểu như thế nào…
2.1.3. Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, người điều hành của Ngân hàng thương mại cổ phần
Hoạt động quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần điều được thực hiện thông qua Người quản lý, người điều hành ngân hàng. Do đó, tiêu chí, điều kiện để bầu bổ nhiệm đối với người quản lý, người điều hành đòi hỏi phải rất chặt chẽ, khắt khe và đảm bảo tính chuyên môn cao. Luật các tổ chức tín dụng 2017 không quy định cụ thể tiêu chí, điều kiện người quản lý, người điều hành cho ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên, nghiên cứu quy định một cách tổng thể cho các tổ chức tín dụng nói chung, có thể rút ra một số tiêu chí cụ thể như sau: “Có đạo đức nghề nghiệp; Có bằng đại học trở lên; Có kinh nghiệm là người quản lý, người điều hành của tổ chức tín dụng hoặc có ít nhất 05 năm là người quản lý, người điều hành của doanh nghiệp hoạt động trong ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán hoặc của doanh nghiệp khác có vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng mức vốn pháp định đối với loại hình tổ chức tín dụng tương ứng hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp tại bộ phận nghiệp vụ về tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán”.
Tóm lại, Người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là những người xác định các mục tiêu và đưa ra các quyết sách, định hướng, chiến lược để phát triển toàn diện ngân hàng thương mại cổ phần. Do đó, đòi hỏi các chủ thể này phải có chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, quản trị kinh doanh, phải am hiểu pháp luật và có năng lực tổ chức, quản lý, đáp ứng một cách toàn diện các điều kiện tiêu chuẩn theo quy định. Những điều kiện, tiêu chuẩn này phải được chuẩn hóa bằng các văn bằng, chứng chỉ, kinh nghiệm làm việc thực tế và kết quả của những công việc trước đây. Những tiêu chuẩn về bằng cấp, kinh nghiệm làm việc cụ thể cho các chức danh quản lý, điều hành (có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật; có một thời gian nhất định làm việc trực tiếp trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính… tùy theo từng chức danh) nhằm đảm bảo năng lực chuyên môn quản trị, điều hành loại doanh nghiệp đặc biệt là ngân hàng thương mại cổ phần. Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp cũng phải được cụ thể hóa theo những điều kiện cụ thể, định tính, không thể mang tính chung chung định lượng. Việc xây dựng và đưa ra các tiêu chuẩn, điều kiện khắt khe, chuẩn mực càng cao cũng là một trong những giải pháp căn cơ nhằm nâng cao trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần trong tình hình mới.
2.1.4. Quy định về miễn nhiệm, bãi nhiệm, đương nhiên mất tư cách, đình chỉ, tạm đình chỉ của đối với người quản lý, người điều hành của Ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Như đã phân tích, hoạt động quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần không đơn thuần chỉ là việc quản lý, thực hiện các quyết định và tổ chức nội bộ của các ngân hàng mà còn là việc quản lý, điều hành khả năng thanh toán và quy mô của ngân hàng, quản trị tài sản có (tích sản), quản trị tài khoản nợ (tiêu sản), quản trị vốn, quản trị tín dụng với nội dung cơ bản là phân tích tín dụng nhằm đảm bảo sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng, hạn chế thấp nhất các rủi ro xảy ra. Do đó, các quy định về đương nhiên mất tư cách, bãi nhiệm, miễn nhiệm, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ chức vụ cũng được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng và có điều kiện, trình tự, thủ tục khác so với các chức danh quản lý của doanh nghiệp bình thường.
2.1.4.1. Đương nhiên mất tư cách
Theo đó, Luật các tổ chức tín dụng 2017 quy định các trường hợp sau đây đương nhiên mất tư cách thành viên HĐQT, thành viên BKS, TGĐ (Giám đốc) gồm: Mất năng lực hành vi dân sự, chết; vi phạm quy định về những trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ; là người đại diện phần vốn góp của một tổ chức là cổ đông hoặc thành viên góp vốn của tổ chức tín dụng khi tổ chức đó bị chấm dứt tư cách pháp nhân; không còn là người đại diện phần vốn góp theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức; bị trục xuất khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; khi tổ chức tín dụng bị thu hồi Giấy phép; khi hợp đồng thuê TGĐ (Giám đốc) hết hiệu lực.
Quy định này nhằm đảm bảo các thành viên HĐQT, BKS, TGĐ phải nghiêm túc chấp hành các quy định về việc tham gia góp vốn tại các tổ chức khác, đảm bảo tính khách quan của người quản lý, người điều hành NHTCMP khi tham gia quản lý, điều hành tại ngân hàng.
2.1.4.2. Miễn nhiệm, bãi nhiệm
Chủ tịch, thành viên HĐQT, Trưởng ban, thành viên BKS; TGĐ (Giám đốc) của ngân hàng thương mại cổ phần bị miễn nhiệm, bãi nhiệm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; có đơn xin từ chức gửi HĐQT, BKS; không tham gia hoạt động của HĐQT, BKS trong 06 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng; không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện quy định về người quản lý, ngươi điều hành ngân hàng thương mại cổ phần; thành viên độc lập của HĐQT không bảo đảm yêu cầu về tính độc lập; các trường hợp khác do Điều lệ của tổ chức tín dụng quy định.
2.1.4.3. Đình chỉ, tạm đình chỉ
Nguyên tắc thứ 7 của Uỷ ban Basel trong hoạt động quản trị ngân hàng thể hiện: “Các rủi ro cần được xác định và giám sát liên tục trong phạm vi toàn ngân hàng và tại từng bộ phận, và cơ sở vật chất của bộ phận quản lý rủi ro và kiếm soát nội bộ của ngân hàng phải bắt kịp với những thay đổi trong mức độ và loại hình rủi ro mà ngân hàng đương đầu (bao gồm cả rủi ro do tăng trưởng) và với các yếu tố rủi ro của môi trường bên ngoài”. Do đó, Luật các tổ chức tín dụng 2017 quy định việc giám sát của Ngân hàng nhà nước và Ban Kiểm soát đặc biệt đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần rất nghiêm ngặt, trong đó, việc đình chỉ, tạm đình chỉ chức vụ sẽ được áp dụng khi phát hiện hoặc nhận ra các rủi ro, vi phạm do người quản lý, người điều hành mang lại.
Theo đó, Điều 37 của Luật các tổ chức tín dụng 2017 quy định về thẩm quyền đình chỉ, tạm đình chỉnh của Ngân hàng nhà nước CTHĐQT, TVHĐQT, Trưởng BKS và một số cá nhân khác và Ban KS có quyền đình chỉ, tạm đình chỉ đối với CTHĐQT, TVHĐQT nếu xét thấy cần thiết.
2.2. Quy định pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Nghiên cứu quy định của LDN 2020 cho thấy, văn bản quy phạm pháp luật này có từng điều luật riêng biệt quy định về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành trong các loại hình công ty, tuy nhiên khái quát chung các điều luật đó thì có thể tóm tắt trách nhiệm của người quản lý, người điều hành doanh nghiệp cụ thể như sau:
Một là, thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao theo quy định pháp luật và Điều lệ công ty, nghị quyết Đại hội đồng cổ đông;
Hai là, thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty;
Ba là, trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
Bốn là, thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về các lợi ích liên quan
Như vậy, ngân hàng thương mại cổ phần cũng là một loại hình doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần, nên dùng đặc thù như thế thì về mặc cơ bản vẫn phải tuân theo các quy định này trong hoạt động quản trị ngân hàng. Đây là các trách nhiệm cơ bản để kiểm soát quyền lực của Người quản lý, người điều hành ngân hàng, và cũng là cơ chế để đảm bảo người quản lý, người điều hành của ngân hàng thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn được giao theo quy định của pháp luật và Điều lệ của tổ chức. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Tiếp thu nội dung này, để đảm bảo thống nhất trong việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Luật các tổ chức tín dụng 2017 mặc dù không quy định cụ thể trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định về quyền và nghĩa vụ của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng cho thấy, nội hàm của nội dung này được quy định lồng ghép vào nhiệm vụ quyền hạn của người quản lý, người điều hành. Đây cũng là một điểm hạn chế dẫn đến việc trong thời gian vừa qua, hoạt động quản trị ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém và nhiều rũi ro.
Theo Luật các tổ chức tín dụng 2017 trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng được hiểu như sau:
Một là, thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, Điều lệ của tổ chức tín dụng, nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của tổ chức tín dụng.
Hai là, thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích của tổ chức tín dụng, cổ đông, thành viên góp vốn và chủ sở hữu tổ chức tín dụng.
Ba là, trung thành với tổ chức tín dụng; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của tổ chức tín dụng, lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của tổ chức tín dụng để thu lợi cá nhân hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác làm tổn hại tới lợi ích của tổ chức tín dụng, cổ đông, thành viên góp vốn và chủ sở hữu tổ chức tín dụng.
Bốn là, không được tạo điều kiện để bản thân hoặc người có liên quan của mình vay vốn, sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác của tổ chức tín dụng với những điều kiện ưu đãi, thuận lợi hơn so với quy định chung của tổ chức tín dụng và trách nhiệm công khai các lợi ích liên quan.
Như vậy, Luật các tổ chức tín dụng 2017 tiếp cận trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng với 04 nội dung cơ bản đó là:
- Trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích của ngân hàng, cổ đông và chủ sở hữu tổ chức tín dụng.
- Trách nhiệm trung thành với ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của ngân hàng.
- Trách nhiệm công khai các lợi ích liên quan.
- Trách nhiệm không lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của tổ chức tín dụng để thu lợi cá nhân gây thiệt hại cho tổ chức tín dụng; không được tạo điều kiện để bản thân hoặc người có liên quan của mình vay vốn, sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác của tổ chức tín dụng với những điều kiện ưu đãi, thuận lợi hơn so với quy định chung của tổ chức tín dụng gây thiệt hại cho tổ chức tín dụng. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Đây là các trách nhiệm cơ bản đảm bảo người quản lý tổ chức tín dụng không lạm quyền, không tư lợi, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của tổ chức tín dụng.
2.2.1. Trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích của ngân hàng, cổ đông và chủ sở hữu ngân hàng
Trách nhiệm trung thực cẩn trọng, vì lợi ích của ngân hàng, cổ đông và chủ sở hữu tổ chức tín dụng được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng có nghĩa là: người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần phải thực hiện nhiệm vụ của mình một cách cẩn trọng, đảm bảo an toàn cho tổ chức tín dụng, mọi quyết sách chiến lược phát triển ngân hàng đều vì lợi ích của ngân hàng, cổ đông và chủ sở hữu tổ chức tín dụng, không vì tư lợi cá nhân hoặc mục đích khác làm tổn hại đến ngân hàng.
Nội dung quy định này được quy định lồng ghép vào Quyền và nghĩa vụ của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, cụ thể tại khoản 2 Điều 38 Luật các tổ chức tín dụng 2017 có quy định: “Thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích của tổ chức tín dụng, cổ đông, thành viên góp vốn và chủ sở hữu tổ chức tín dụng”. Các cụm từ đáng chú trong quy định này đó là “Trung thực”, “Cẩn trọng” và “vì lợi ích của…”, đó là các nội hàm buộc người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần phải thực hiện nhằm đảm bảo ổn định hoạt động ngân hàng. Điều này cũng thể hiện được chúng ta đang dần tiêu chuẩn hóa các chuẩn mực, nguyên tắc của quốc tế vào văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Quy định này đòi hỏi người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần luôn đặt lợi ích của ngân hàng lên trên hết, trước hết, đảm bảo an toàn tuyệt đối trong hoạt động quản lý ngân hàng.
Nhiệm vụ chúng ta hiện nay là phải nhìn nhận, đánh giá lại các quy định liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích của ngân hàng, cổ đông và chủ sở hữu tổ chức tín dụng trong chính Luật các tổ chức tín dụng. Việc đánh giá đó phải dựa vào các tiêu chí cụ thể, trong đó phải đánh giá lại cách xây dựng quy định, nội dung của quy định, cách áp dụng trong thực tế, và chuẩn hóa chi tiết vào Điều lệ các ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
2.2.2. Trách nhiệm trung thành với ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của ngân hàng
Trách nhiệm trung thành nội hàm vốn như cái tên của nó, khi đứng trước lợi ích của Ngân hàng và cá nhân thì đòi hỏi người quản lý, người điều hành phải đặt lợi ích của Ngân hàng lên trên hết, tuyệt đối trung thành với lợi ích của ngân hàng, chủ sở hữu. Trách nhiệm trung thành buộc người quản lý trung thành tuyệt đối với lợi ích của ngân hàng, còn buộc người quản lý, người điều hành phải bảo vệ bí mật kinh doanh, không được sử dụng bất kỳ thông tin nào để tư lợi cá nhân, và phải báo cáo cho HĐQT, ĐHĐCĐ hoặc chủ sở hữu bất kỳ xung đột lợi ích nào xảy ra. Nội dung này được chuẩn hóa từ nguyên tắc đầu tiên của Bản hướng dẫn các nguyên tắc quản trị công ty tại các ngân hàng thương mại cổ phần đã được Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành năm 1999, sửa đổi năm 2006 và được đưa vào Luật các tổ chức tín dụng 2017 thông qua quy định lồng ghép tại Điều 38 và Điều 39.
Quy định này nhằm đảm bảo người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần có trách nhiệm trung thành với ngân hàng, mọi quyết sách đều hướng tới bảo vệ quyền lợi của Ngân hàng và cổ đông. Bảo vệ quyền lợi của Ngân hàng là duy trì sự ổn định của ngân hàng trong hệ thống tổ chức tín dụng, là bảo vệ tài sản, con người, các lợi ích của ngân hàng trước mọi biến động của kinh tế thị trường. Vi phạm nguyên tắc này dẫn đến một khả năng rất cao là người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần sẽ đưa chính ngân hàng đó bị đào thải ra khỏi hệ thống bằng các quyết sách bất lợi, nguy hại, thậm chí là phản bội lại toàn bộ chủ trương, đường lối của chính ngân hàng đó.
Quy định của pháp luật hiện hành cho thấy, nội hàm trách nhiệm này được quy định lồng ghép vào Điều 38 và Điều 39 của Luật các tổ chức tín dụng 2017. Có thể thấy rằng, việc quy định trách nhiệm trung thành với ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của ngân hàng của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần trong Luật các tổ chức tín dụng 2017 là vô cùng quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là phải quy định một cách chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, phải đảm bảo tính thực thi, chấp hành nghiêm túc, có tính răn đe và bắt buộc áp dụng rất cao trong quá trình diễn ra hoạt động quản lý, điều hành NHTMCP.
2.2.3. Trách nhiệm không lạm dụng địa vị, chức vụ sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác gây thiệt hại cho ngân hàng và các cá nhân khác Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Trong các trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần thì trách nhiệm này là quan trọng nhất. Địa vụ, thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh cũng như việc quản lý tài sản của một ngân hàng đều nằm trong tay của Người quản lý, người điều hành ngân hàng. Do đó, một khi các chủ thể này (Chủ tịch HĐQT, TGĐ hoặc TVHĐQT) lạm dụng, sử dụng địa vị để tạo ra quyền lực chi phối, vun vén, sử dụng tài sản bất hợp pháp của ngân hàng để tư lợi riêng thì hậu quả vô cùng nặng nề. Tại khoản 2 Điều 38 Luật các tổ chức tín dụng 2017 có quy định về trách nhiệm này. Mặc dù tên của Điều luật này là “Quyền, nghĩa vụ của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng, nhưng nội hàm quy định trách nhiệm của người quản lý, người điều hành theo quy định tại Điều 165 của LDN2020. Điều này cho thấy Luật các tổ chức tín dụng 2017 hiện nay có quy định khác so với LDN 2020 về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần (một loại hình công ty cổ phần). Hay nói cách khác Luật các tổ chức tín dụng 2017 không quy định cụ thể Điều luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần như cách quy định của LDN2020.
Khi quyền lực được tập trung vào người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần nhưng không được kiểm tra, kiểm soát và không định trách nhiệm họ phải làm gì thì rất dễ dẫn đến việc lạm quyền. Điều này, cho thấy tầm quan trọng của trách nhiệm không lạm dụng địa vị, chức vụ sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác gây thiệt hại cho ngân hàng và các cá nhân khác. Quy định này để đảm bảo không có sự lạm dụng quyền lực để sử dụng tài sản, thông tin, cơ hội kinh doanh của ngân hàng nhằm tạo điều kiện tư lợi cá nhân hoặc chuyển dịch tài sản bất hợp pháp từ Ngân hàng sang các ngân hàng khác, hoặc sang các cá nhân khác. Điều này được hiểu là trong bất cứ hoàn cảnh nào thì người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần không được sử dụng địa vị và toàn bộ các thông tin về bí mật kinh doanh của Ngân hàng để tư lợi và gây thiệt hại cho Ngân hàng. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Như vậy, vấn đề đặt ra là cách quy định trách nhiệm này hiện nay của LCTCTD đang có vấn đề gì hay không, cơ chế giám sát hiện nay được thực hiện như thế nào.
2.2.4. Trách nhiệm công khai các lợi lích liên quan
Trong những năm vừa qua, một trong những nguyên nhân dẫn đến tổ chức tín dụng yếu kém đó là sự chi phối của các doanh nghiêp “sân sau” đến hoạt động của tổ chức tín dụng. Có nghĩa rằng, những người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần đã lợi dụng địa vị để đưa lợi ích từ ngân hàng sang các doanh nghiệp sân sau có liên quan đến mình như doanh nghiệp đó do mình góp vốn, hoặc do người có quan hệ thân thích với mình đứng chủ sở hữu.
Để đảm bảo hoạt động an toàn của ngân hàng thương mại cổ phần, Luật các tổ chức tín dụng có quy định:
TVHĐQT, TVBKS, TGĐ, Phó TGĐ và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng phải công khai các thông tin về lợi ích liên quan như: tên, địa chỉ trụ sở chính, ngành, nghề kinh doanh, số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nơi đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mà mình và người có liên quan đứng tên sở hữu phần vốn góp, cổ phần hoặc ủy quyền, ủy thác cho cá nhân, tổ chức khác đứng tên từ 5% vốn điều lệ trở lên…
Mặc dù chúng ta đã có quy định trách nhiệm về công khai lợi ích liên quan của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần nhưng rõ ràng tình trạng đẩy vốn từ Ngân hàng sang các Công ty con để kinh doanh một ngành nghề kinh tế khác vẫn đang hiện hữu, có nguy cơ đe dọa hệ thống tài chính ở tầm vĩ mô. Có lẽ, đến thời điểm này, chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận các quy định hiện nay liên quan đến việc kiểm soát các lợi ích liên quan, sở hữu chéo, sân sau của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần trong Luật các tổ chức tín dụng 2017.
2.2.5. Hệ quả pháp lý nếu người quản lý, người điều hành vi phạm quy đinh về trách nhiệm đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần
Hệ quả pháp lý hay nói cách khác là hậu quả bất lợi mà người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần phải gánh chịu theo quy định của pháp luật, của Điều lệ ngân hàng khi họ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến nội dung này có thể chia hệ quả pháp lý ra 04 nội dung, tùy theo tính chất mức độ và hậu quả sai phạm do người quản lý, người điều hành gây ra, gồm: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật nội bộ.
Trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể theo các tội danh liên quan đến tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, hoặc các tội phạm về tham nhũng, chức vụ, kinh tế trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Trách nhiệm dân sự được quy định tại Điều 166 LDN 2020 và trách nhiệm hành chính hiện nay được quy định tại Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, trách nhiệm kỷ luật nội bộ hiện được quy định trong chính các Điều lệ, Quy chế hoạt động của Ngân hàng. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Trách nhiệm hình sự liên quan đến người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần vi phạm các trách nhiệm trong quá trình quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là loại trách nhiệm cao nhất. Trong khoa học pháp lý hình sự gọi là tội phạm, khi người quản lý và người điều hành không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của mình dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị xử lý hình sự. Hậu quả phải gánh chịu là bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị Tòa án tuyên có tội và phải chấp hành một loại hình phạt cụ thể theo quy định của Bộ luật Hình sự. Các tội danh chủ yếu trong hoạt động quản lý, điều hành như các nhóm tội phạm về tham nhũng, về chức vụ hoặc các nhóm tội trong lĩnh vực ngân hàng.
Trách nhiệm dân sự hiện không được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng 2017 mà được quy định tại Điều 166 LDN 2020, đó là quy định về quyền khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc. Nội dung quy định này được rất nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đưa vào Điều lệ hoạt động của Ngân hàng, ví dụng như tại Điều 76 của Điều lệ ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam có quy định về nội dung trách nhiệm về thiệt hại và bồi thường, theo đó: “Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc, các phó Tổng giám đốc và người quản lý khác của Ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, với sự cẩn trọng, mẫn cán và năng lực chuyên môn sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại của ngân hàng do hành vi vi phạm của mình gây ra”. Như vậy, nếu thực hiện không đúng trách nhiệm hoặc không thực hiện, người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần phải bồi thường thiệt hại đã gây ra. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật nội bộ, đối với loại trách nhiệm này, chủ thể ra quyết định xử phạt hoặc xử lý kỷ luật là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, cụ thể là NHNNVN. Nội dung này được quy định cụ thể tại Điều 6 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, mức phạt tiền thấp nhất là 20.000.000 đồng và cao nhất là 250.000.000 đồng, ngoài ra còn các biện pháp khác như cách chức, điều chuyển, miễn nhiệm, bãi nhiệm, hạ bậc lượng,…
2.3. Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần và gợi mở những vấn đề cần khắc phục hoàn thiện
Trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần đóng vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của bản thân ngân hàng nói riêng và hệ thống tổ chức tín dụng ngân hàng nói chung. Do vậy, nếu những quy định về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành có những bất cập, hạn chế thì sẽ làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả của công tác quản trị và gây thiệt cho ngân hàng, mà cụ thể như sai phạm xảy ra tại ngân hàng thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam (nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín – Sacombank), ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín và ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng, đặc biệt để lại hệ lụy đặc biệt nghiêm trọng đối với toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, việc đánh giá thực trạng các quy định về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng, xác định hạn chế, bất cập và xây dựng các giải pháp góp phần tác động tích cực vào hoạt động của tổ chức tín dụng, để nó thực sự là kênh trung gian tài chính tốt, đáp ứng được nhu cầu về vốn của nền kinh tế.
Thực tiễn điều hành hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần và thông qua các vụ án trong lĩnh vực ngân hàng cho thấy rằng hàng loạt các quy định xoay quanh trách nhiệm của người quản lý, người điều hành đang có vấn đề; nhiều quy định không đi kịp với sự biến động của thực tiễn, chưa chặt chẽ, hoặc không có cơ chế kiểm soát việc thực hiện các quy định đó, cụ thể như: vấn đề tách bạch giữa chủ sở hữu với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần; cơ chế, chế tài kiểm soát việc thực hiện trách nhiệm của người quản lý, người điều hành; thẩm quyền của các cơ quan quản trị, điều hành khác đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại; điều kiện tiêu chuẩn bổ nhiệm của người quản lý, người điều hành; Mức độ luật hóa các trách nhiệm người quản lý, người điều hành trong Luật các tổ chức tín dụng, văn bản hướng dẫn và Quy chế nội bộ của ngân hàng thương mại. Và cuối cùng là vai trò của NHNN đối với việc thực hiện trách nhiệm người quản lý, người điều hành tại các ngân hàng thương mại cổ phần
2.3.1. Vấn đề tách bạch giữa chủ sở hữu với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng một số lãnh đạo của các ngân hàng thương mại cổ phần bị truy cứu trách nhiệm hình sự đó là sự vi phạm nguyên tắc tách bạch giữa chủ sở hữu ngân hàng với người người quản lý, người điều hành. “Chủ sở hữu”, “người quản lý, điều hành” là hai chủ thể khác nhau nhưng có sự tác động qua lại, biện chứng lẫn nhau. Trong đó, chủ sở hữu hoàn toàn có thể có những tác động theo ý muốn chủ quan của mình để can thiệp vào hoạt động quản lý, điều hành của người quản lý, người điều hành ngân hàng nhằm gây ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông khác, hoặc lợi ích của chính ngân hàng. Muốn ngăn chặn vấn đề này, có 02 yếu tố chúng ta phải tách bạch và phân rõ giữa chủ sở hữu và người quản lý, người điều hành ngân hàng: một là, tài sản của chủ sở hữu; hai là, quyền lực, chức vụ của chủ sở hữu và người quản lý, người điều hành phải tách biệt, không có mối quan hệ trên dưới hoặc chỉ đạo lẫn nhau.
LCTCTD 2017 đã luật hóa cơ bản hai nội dung này thông qua hàng loạt các quy định như các chế định “những trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ”; “những trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ”; hoặc “đương nhiên mất tư cách”, “trách nhiệm công khai các lợi ích liên quan” và “tỷ lệ sở hữu cổ phần”. Các quy định này giải quyết căn cơ tình trạng chủ sở hữu ngân hàng tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành ngân hàng từ đó lạm dụng chức vụ quyền hạn để xây dựng chiến lược phát triển ngân hàng phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Hoặc sẽ hạn chế được các sở hữu chéo, tài sản giữa chủ sở hữu với các công ty liên quan, người liên quan đến ngân hàng, liên quan đến người quản lý, người điều hành chính ngân hàng đó.
Trong vụ án Hoàng Văn T và đồng phạm, xảy ra tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Tín (đến ngày 17/6/2013, được đổi tên thành Ngân hàng TMCP xây dựng Việt Nam). Ngân hàng này đã duyệt cấp tín dụng chỉ định theo yêu cầu của Phạm Công D (Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP xây dựng Việt Nam và Chủ tịch HĐTV kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Thiên Thanh) cho 05 công ty con của Tập đoàn Thiên Thanh do Phạm Công D làm chủ sở hữu. Ông Phạm Công D vừa là chủ sở hữu của Ngân hàng TMCP xây dựng Việt Nam và là chủ sở hữu của Tập đoàn Thiên Thanh Việt Nam và cũng chính là người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam. Đây là mối quan hệ thể hiện sự sở hữu chéo, doanh nghiệp sân sau của chủ sở hữu ngân hàng với người quản lý, người điều hành. Các doanh nghiệp sân sau này theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2017 là “lợi ích liên quan” đến người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Vụ án này Hội đồng tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín đã cấp tín dụng theo chỉ định của Phạm Công D (chủ sở hữu), cụ thể duyệt cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại Dịch vụ Xây dựng Thịnh Quốc vay 370 tỷ đồng và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thương mại Dịch vụ Đại Hoàng Phương vay 280 tỷ đồng có nhiều vi phạm quy định về cho vay như nâng khống giá trị tài sản đảm bảo, năng lực tài chính của khách hàng không có, thực tế 02 công ty trên không hoạt động kinh doanh, là công ty con của Tập đoàn Thiên Thanh do Phạm Công D lập ra để hợp thức hóa các hợp đồng kinh tế. Thực tế đã gây thiệt hại cho ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín số tiền: 471.181.360.000 đồng.
Một thực tế nữa cũng không thể phủ nhận là việc các cổ đông lớn nắm cổ phần chi phối và thao túng hoạt động của ngân hàng vẫn còn đâu đó tại một số ngân hàng và khi nhắc đến tên ngân hàng đó chúng ta sẽ nghĩ ngay đến các công ty con trong cùng một hệ sinh thái (bất động sản, y tế, thực phẩm, giáo dục…) kèm theo đó là một ông chủ thực sự của chính ngân hàng đó. Vụ việc xảy ra tại thời điểm tháng 10/2022, khi Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Bộ Công an bắt chủ tịch HĐQT Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, ngay lập tức người dân đổ xô đến rút tiền tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB), tiếp theo đó NHNNVN đưa ngân hàng này vào diện Kiểm soát đặc biệt. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Thực trạng này cho thấy các quy định hiện nay chưa giải quyết triệt để tình trạng can thiệp của chủ sở hữu hoặc cổ đông lớn vào hoạt động quản trị ngân hàng.
Sự tác động đó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng cơ bản đã thay đổi chủ trương, chính sách của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại. Đồng thời, làm mất đi tính độc lập của người quản lý, người điều hành trong quá trình thực hiện trách nhiệm của mình đối với cổ đông và lợi ích của Ngân hàng.
Ngoài ra, tình trạng cổ đông, nhóm cổ đông lớn, sở hữu vốn điều lệ cao trên thực tế vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro do tình trạng chi phối, thao túng hoạt động ngân hàng chưa được xử lý triệt để, trong đó vẫn còn trường hợp cố tình sở hữu hộ hoặc sở hữu che giấu gián tiếp qua nhiều chủ thể và tồn tại các vi phạm về giới hạn sở hữu cổ phần, sở hữu chéo mặc dù đã dần được xử lý nhưng một số ngân hàng vẫn đang có sở hữu cổ phần lẫn nhau hoặc sở hữu qua lại với doanh nghiệp. Đặc biệt là sự can thiệp của cổ đông lớn, sở hữu tỉ lệ cổ phần cao vào hoạt động quản lý, điều hành của lãnh đạo các ngân hàng để thu lợi cá nhân, hoặc gây thiệt hại cho ngân hàng. Do đó, việc nghiên cứu, rà soát, bổ sung quy định cũng như chế tài xử lý nhằm khắc phục được tình trạng can thiệp vào hoạt động quản lý, điều hành hoặc sở hữu chéo; tăng cường minh bạch hóa cơ cấu cổ đông,tài sản của chủ sở hữu.
2.3.2. Cơ chế, chế tài kiểm soát việc thực hiện trách nhiệm của người quản lý, người điều hành Ngân hàng thương mại cổ phần.
Trong Báo cáo Tiếp thu, giải trình ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến của Thường trực Ủy ban Kinh tế về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về nội dung nên đưa cơ chế, chế tài xử lý vi phạm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại vào trong Luật các tổ chức tín dụng 2017.
Thực tiễn từ việc xét xử các vụ án hình sự cho thấy các sai phạm của người quản lý người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần diễn ra trong một thời gian dài, liên tục và nhiều lần nhưng khi phát hiện ra thì hậu quả đã vô cùng nặng nề. Chế tài xử lý cao nhất là truy cứu trách nhiệm hình sự luôn được áp dụng trong trường hợp này. Điển hình là vụ án Lê Nguyễn H, Hồ Ngọc T và đồng phạm xảy ra tại Ngân hàng Eximbank Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra – Bộ Công an xác định Lê Nguyễn H là người điều hành của ngân hàng, trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2017, Lê Nguyễn H dùng thủ đoạn gian dối lập tài khoản giả mạo; lập giấy ủy quyền giả mạo để rút tiền trong các tài khoản tiết kiệm của khách hàng tại Eximbank Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, Lê Nguyễn H gian dối để tạo sự tin tưởng cho lãnh đạo cấp trên và nhân viên cấp dưới để chiếm đoạt của Eximbank chi nhánh TP. Hồ Chí Minh tổng cộng là 264.033.537.533 đồng. Hành vi này là trái với Quy định của ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Eximbank được quy định tại Quyết định Ban hành Quy chế tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam số 356/2014/EIB/QĐ-HĐQT ngày 08/09/2014 của Hội đồng quản trị Eximbank. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Một trong những quyết sách lớn của các hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đó là luôn đảm bảo lợi ích của khách hàng, của cổ đông. Duy trì và bảo vệ thương hiệu của Ngân hàng là trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng đó. Trong vụ án này các bị cáo với vai trò là người quản lý, điều hành Ngân hàng Eximbank-Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đã phản bội lại chính sách của ngân hàng, đi ngược lại chủ trương, lợi ích của ngân hàng, trực tiếp chiếm đoạt tiền của ngân hàng, gây mất uy tín của Eximbank -chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án này, đã để lại nhiều hệ quả đặc biệt nghiêm trọng cho ngân hàng Eximbank, mất uy tín đối với khách hàng, giá trị thương hiệu bị giảm sút, nhiều khách hàng kéo đến rút tiền tiết kiệm tại Eximbank, gây mất trật tự an ninh tài chính, đặc biệt Eximbank phải bỏ ra hơn 200 tỷ đồng để bồi thường cho các khách hàng có sổ tiết kiệm bị chiếm đoạt.
Vụ án này cho thấy, sai phạm của người quản lý, người điều hành diễn ra trong một thời gian dài nhưng các công cụ kiểm tra, giám sát và xử lý sai phạm chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn, các cơ quan kiểm tra chưa kịp thời phát hiện hoặc các chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe để ngăn chặn hành vi vi phạm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Các quy định về chế xử tài xử lý như rách nhiệm hình sự được quy định cụ thể theo các tội danh liên quan đến tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, hoặc các tội phạm về tham nhũng, chức vụ, kinh tế trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Trách nhiệm dân sự được quy định tại Điều 166 LDN 2020 và trách nhiệm hành chính hiện nay được quy định tại Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, trách nhiệm kỷ luật nội bộ hiện được quy định trong chính các Điều lệ, Quy chế hoạt động của Ngân hàng.
2.3.3. Thẩm quyền của các cơ quan quản trị, điều hành khác đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
Thực tiễn cho thấy, vụ án xảy ra tại ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam (nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín – Sacombank) để lại hậu quả vô cùng nặng nề, nợ xấu liên tục qua nhiều năm và đến 2015 thì sáp nhập vào ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương tín. Thời điểm này, ông Trầm B đang là Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Phương Nam, đã lạm dụng quyền lực, chỉ đạo cho 02 công ty vay vốn trái quy định, gồm: Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Bình Phát và Công ty TNHH sản xuất, xây dựng và thương mại Thanh Phát đều do Dương Thanh C (bạn của Trầm B) lập ra và điều hành. Theo đó, Dương Thanh C biết rõ tài sản thế chấp là 23 quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng khác nhưng Cường đã dùng bản photocopy của 23 quyền sử dụng đất đến gặp ông Trầm B – Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Phương Nam (nay là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Saccombank) thế chấp xin vay tiền của Ngân hàng Phương Nam để chi trả cho hoạt động kinh doanh và sử dụng cá nhân. Thời điểm này Ngân hàng Phương Nam vẫn có các cơ quan kiểm soát khác như Ban Kiểm soát, các Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm toán nội bộ nhưng với vai trò là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Phương Nam, ông Trầm B vẫn chỉ đạo cho các công ty của Dương Thanh C vay tiền và gây thiệt hại cho Ngân hàng Phương Nam số tiền: 505.225.530.275 đồng.
Từ thực tiễn vụ án này, để chúng ta thấy rằng, khi quyền lực được tập trung vào người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần nhưng không được kiểm tra, kiểm soát hoặc thẩm quyền kiểm tra, giám sát của các cơ quan khác trong nội bộ ngân hàng bị lu mờ, chi phối, thao túng thì rất dễ dẫn đến việc lạm quyền.
Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2017 và LDN 2020 thì ĐHĐCĐ là cơ quan quyền lực cao nhất, quyết định mọi vấn đề của ngân hàng thương mại cổ phần, trong đó có việc giám sát người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên, các quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2017 tại Điều 59 điều kiện tiến hành họp và thông qua Nghị quyết của ĐHĐCD còn nhiều hạn chế, trong đó phụ thuộc rất lớn vào vai trò quyết định của Hội đồng quản trị. Điều này, dễ dẫn đến việc người quản lý là thành viên Hội đồng quản trị hoặc cả Hội đồng quản trị sẽ chi phối không cho tiến hành họp ĐHĐCĐ khi họ có những hành vi sai phạm, gây thiệt hại cho Ngân hàng như vụ án nêu trên. Luật các tổ chức tín dụng 2017 cũng có quy định quyền triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ của NHNN, tuy nhiên thực tế cho thấy khi tổ chức tín dụng yếu kém đến mức NHNN phải triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ thì hậu quả đã vô cùng nghiêm trọng.
Một cơ quan quản trị điều hành khác ảnh hưởng nhất đến người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là Ban kiểm soát nội bộ. Tại Điều 45 Luật các tổ chức tín dụng 2017 quy định cho BKS rất nhiều thẩm quyền kiểm soát HĐQT, TVHĐQT và Ban điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên, trên thực tế cách quy định về cơ cấu tổ chức nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần như hiện hành, khó có thể để BKS sẽ phát huy hết nhiệm vụ, quyền hạn của mình để kiểm soát toàn diện hành vi của Người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Nhất là quy định BKS phải chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu ngân hàng về thực hiện nhiệm vụ của mình, quy định này đã vô hình dung trói buộc quyền lực của BKS khi họ phải tuân thủ các định hướng của chủ sở hữu. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
2.3.4. Điều kiện tiêu chuẩn bổ nhiệm của người quản lý, người điều hành Ngân hàng thương mại cổ phần
Trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật về ngân hàng cần đảm bảo đầy đủ và đúng theo các nguyên tắc của Ủy ban Basel và OECD. Trong đó, điều kiện tiêu chuẩn bổ nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần cũng là một nội dung quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành Luật các tổ chức tín dụng 2017.
Luật Các tổ chức tín dụng qua nhiều lần sửa đổi, đã quy định một cách cơ bản về điều kiện tiêu chuẩn bổ nhiệm đối với người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng. Tuy nhiên, trong các điều kiện tiêu chuẩn bổ nhiệm người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay, vẫn còn nhiều quy định mang tính “định tính”. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng, đào tạo nhân sự đối với các chức danh lãnh đạo ngân hàng thương mại cổ phần. Hầu hết các tiêu chuẩn, điều kiện của TVHĐQT, CTHĐQT, TGĐ, Trưởng BKS đều có tiêu chuẩn “có đạo đức nghề nghiệp”. Nhưng rõ ràng như thế nào là có đạo đức nghề nghiệp thì rất khó xác định, tiêu chuẩn này rất khó kiểm chứng, minh định trong thực tiễn. Hoặc là các quy định về bằng cấp, thời gian, kinh nghiệm quản lý hiện nay vẫn mang tính chủ quan của cơ quan soạn thảo, chưa có căn cứ khoa học cụ thể. Các quy định về tiêu chuẩn người liên quan, sở hữu vốn hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên khó kiểm soát.
Thực tiễn từ vụ án Phạm Công D và đồng phạm (giai đoạn 2) xảy ra tại Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam (VNCB): với vai trò là người quản lý, người điều hành Ngân hàng Xây dựng Việt Nam, Phạm Công D đã bàn bạc, chỉ đạo các đồng phạm là nhân viên dưới quyền thực hiện hàng loạt các hành vi sai phạm cố ý làm sai quy định, vi phạm nghiêm trọng trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích của ngân hàng, cổ đông và chủ sở hữu tổ chức tín dụng cụ thể: Phạm Công D, Phan Thành M đã sử dụng 29 lượt pháp nhân do chính Phạm Công D thành lập hoặc mượn pháp nhân, lập khống hồ sơ vay vốn tại các Ngân hàng BIDV, Sacombank và Tpbank đồng thời dùng tiền gửi của VNCB tại các ngân hàng này bảo lãnh cho các khoản vay trên, gây thiệt hại 6.126.839.273.721 đồng; rút 5.190 tỷ đồng tại Ngân hàng Xây dựng nhưng chứng từ không có chữ ký của chủ tài khoản; rút số tiền 300 tỷ đồng tại Ngân hàng Xây dựng bằng hình thức vay cầm cố sổ tiết kiệm nhưng không có hồ sơ vay, chứng từ chuyển tiền.
Về tiêu chuẩn điều kiện, kinh nghiệm, bằng cấp chuyên môn và yếu tố đạo đức nghề nghiệp được quy định rất rõ trong văn bản quy phạm pháp luật, nhưng sai phạm như vụ án nêu trên vẫn xảy ra. Qua thực tiễn vụ án cho thấy ông Phạm Công D thực tế không có bằng chấp chuyên môn kinh nghiệm về quản lý ngân hàng, và nhân thân vào năm 1992, ông D còn bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 06 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa” nhưng vẫn được bổ nhiệm, chấp thuận là người quản lý, người điều hành của VNCB.
Thực tế vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro do tình trạng chi phối, thao túng hoạt động ngân hàng chưa được xử lý triệt để, trong đó vẫn còn trường hợp cố tình sở hữu hộ hoặc sở hữu che giấu gián tiếp qua nhiều chủ thể và tồn tại các vi phạm về giới hạn sở hữu cổ phần, sở hữu chéo mặc dù đã dần được xử lý nhưng một số ngân hàng vẫn đang có sở hữu cổ phần lẫn nhau hoặc sở hữu qua lại với doanh nghiệp nhưng vẫn được bổ nhiệm làm người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Cũng từ thực tiễn này, đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá lại các quy định hiện nay liên quan đến quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Việc đánh giá đó phải dựa vào các tiêu chí cụ thể, trong đó phải đánh giá lại cách xây dựng quy định, nội dung của quy định, cách áp dụng trong thực tế, và chuẩn hóa chi tiết vào Điều lệ các ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
2.3.5. Mức độ luật hóa các trách nhiệm người quản lý, người điều hành trong Luật các tổ chức tín dụng
Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành chưa có điều luật cụ thể nào về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần mà quy định lồng ghép vào quy định Quyền và nghĩa vụ của Người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng.
D và đồng phạm (giai đoạn 2) về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”; Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh”
Cách xây dựng pháp luật này, vô hình dung bỏ qua tầm quan trọng của quy định “trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng”.
Thực tiễn vụ án Hoàng Văn T và đồng phạm, xảy ra tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Tín. Vụ án này Hội đồng tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín đã cấp tín dụng theo chỉ định của Phạm Công D, cụ thể duyệt cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại Dịch vụ Xây dựng Thịnh Quốc vay 370 tỷ đồng và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thương mại Dịch vụ Đại Hoàng Phương vay 280 tỷ đồng có nhiều vi phạm quy định về cho vay như nâng khống giá trị tài sản đảm bảo, năng lực tài chính của khách hàng không có, thực tế 02 công ty trên không hoạt động kinh doanh, là công ty con của Tập đoàn Thiên Thanh do Phạm Công D lập ra để hợp thức hóa các hợp đồng kinh tế. Thực tế đã gây thiệt hại cho ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín số tiền: 471.181.360.000 đồng. Vụ án này cho thấy người quản lý, người điều hành NHTCMP Đại Tín vi phạm nghiêm trọng trách nhiệm của người quản lý, người điều hành đó là không trung thành, không cẩn trọng, vì tư lợi cá nhận, gây ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông, gây thiệt hại cho Ngân hàng.
Hoặc vụ án xảy ra tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Nam, ông Trầm B đang là Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Phương Nam, đã lạm dụng quyền lực, sử dụng các thông tin, bí mật kinh doanh, tạo điều kiện cho 02 công ty vay vốn trái quy định, gây thiệt hại cho Ngân hàng Phương Nam số tiền: : 505.225.530.275 đồng (số tiền rất lớn tại thời điểm năm 2008). Hành vi này của ông Trầm B đã vi phạm trách nhiệm không được lạm dụng địa vị, sử dụng các thông tin, bí mật kinh doanh để trục lợi, gây ảnh hưởng đến lợi ích của Ngân hàng.
Một số nhận định của tác giả: Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
- Thứ nhất, thực tiễn trên cho thấy các chủ thể lãnh đạo ngân hàng thương hay nhầm lẫn giữa quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm, 03 thuật ngữ này mang nội hàm khác nhau, cách thức thực hiện cũng khác nhau. Đây là một trong những nguyên nhân trong thời gian vừa qua, nhiều vụ án mà lãnh đạo chủ chốt của ngân hàng thương mại cổ phần bị xử lý hình sự khi không hiểu rõ hết trách nhiệm của mình theo quy định. Việc không hiểu rõ trách nhiệm của bản thân là người quản lý, người điều hành sẽ dẫn đến việc lạm quyền, hoặc cố ý sai phạm gây thiệt hại cho ngân hàng.
- Thứ hai, quy định về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần không rõ ràng, đồng thời không quy định chế tài xử lý về việc vi phạm trách nhiệm của Người quản lý, người điều hành trong Luật các tổ chức tín dụng 2017 là chưa đủ sức răn đe, giáo dục và định hướng hành vi đúng đắn của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.
2.3.6. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước đối với việc thực hiện trách nhiệm người quản lý, người điều hành tại các Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNNVN là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng, đồng thời là Ngân hàng Trung ương đảm nhận chức năng độc quyền phát hành tiền, cung ứng các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho các tổ chức tín dụng và cung cấp dịch vụ tài chính, tiền tệ cho Chính phủ.
Với nhiệm vụ và quyền hạn đó, thiết nghĩ trong cơ chế kiểm soát trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần cần phải nâng cao vai trò của NHNN. Luật các tổ chức tín dụng hiện hành có 02 nội dung liên quan đến việc kiểm soát của NHNNVN về hoạt đông quản trị ngân hàng. Một là, NHNNVN thực hiện vai trò chấp nhận hoặc không chấp nhận danh sách người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng do chính tổ chức tín dụng đó đề xuất. Hai là, NHNNVN có quyền triệu tập ĐHĐCĐ để xem xét hành vi vi phạm của người quản lý, người điều hành. Tuy nhiên, với 02 chế định nêu trên là chưa đủ để thể hiện vai trò của một Ngân hàng Trung ương. Điều này, cũng tạo điều kiện để người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần lạm dụng quyền lực, gây thiệt hại cho Ngân hàng. Do đó, cần quy định cụ thể hơn về trình tự thủ tục, thời gian báo cáo cho NHNNVN, tính chất, mức độ can thiệp của NHNNVN phải đầy đủ và thường xuyên hơn. Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
