Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, thay đổi diện mạo và từng bước khẳng định tầm vóc của ngành trong nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống cho người dân. Du lịch không chỉ mang lại nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế, tạo việc làm, phát triển các ngành dịch vụ, cơ sở vật chất hạ tầng, mà còn thúc đẩy hòa bình, giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới. Ở Việt Nam du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Với bờ biển dài 3260 km cùng hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ và hàng trăm bãi tắm cát trắng trải dài từ Bắc vào Nam, Việt Nam có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển ngành du lịch biển.
Hiện tại, hoạt động du lịch biển Việt Nam thu hút tới 80% lượng khách du lịch và khoảng 70% tổng số các điểm du lịch của toàn quốc với nhiều bãi biển như Sầm Sơn, Quảng Trị, Thiên Cầm, Đá Nhảy, Cửa Tùng, Lăng Cô, Thuận An, Non Nước, Mỹ Khê, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né…, Đó là những tiềm năng du lịch biển gắn với du lịch núi và du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng,… tạo cho ven biển Việt Nam trở thành một vùng du lịch độc đáo, hấp dẫn khách du lịch và đưa ngành du lịch đang dần trở thành một ngành “công nghiệp không khói”, có ý nghĩa với cả nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của du lịch biển trong điều kiện xây dựng và phát triển đất nước, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển ngành du lịch. Các cơ chế, chính sách liên quan đến ngành du lịch đã có nhiều thay đổi tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy ngành du lịch phát triển. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2023 về phát triển du lịch trở thành “ngành kinh tế mũi nhọn” và đặc biệt hơn việc Quốc hội ban hành Luật Du lịch 2023 với sự điều chỉnh toàn diện có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý thông thoáng, tạo động lực và môi trường thuận lợi thúc đẩy du lịch phát triển. Với những thành tựu đạt được đó đã chứng minh được đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước ta đối với du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng. Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Quảng Trị là tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển. Với chiều dài 75 km bờ biển với các bãi tắm đẹp như Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thủy, đảo Cồn Cỏ là địa điểm dưỡng lý tưởng cho du khách khi đến với Quảng Trị. Với vị trí nằm ở trung điểm của đất nước, có vai trò quan trọng trên tuyến đường huyết mạch chính của hành lang kinh tế Đông – Tây nối Lào-Thái Lan-Myanma qua 2 Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và La Lay đến các cảng biển lớn của miền Trung. Với hai cửa lạch lớn là Cửa Tùng và Cửa Việt, dọc bờ biển có nhiều vũng kín thuận lợi cho phát triển cảng, xây dựng khu sửa chữa, neo đậu tàu thuyền và nhiều bãi tắm đẹp, danh lam thắng cảnh là điều kiện thuận lợi cho địa phương phát triển du lịch sinh thái biển. Cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo về mọi mặt, chính quyền tạo thuận lợi về cơ chế, chính sách để phát triển du lịch biển là điểm sáng cơ bản trong bức tranh tổng thể của du lịch tỉnh Quảng Trị.
Trong những năm qua, du lịch biển Quảng Trị đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Lượng khách du lịch đến biển Quảng Trị ngày càng tăng, nhiều dự án đầu tư phát triển du lịch được triển khai xây dựng. Cùng với sự phát triển chung của du lịch tỉnh, du lịch biển Quảng Trị đã chuyển biến ngày một mạnh mẽ với những bước tiến quan trọng cả về lượng và chất. Tuy nhiên trong quá trình phát triển, bên cạnh những thành quả đã đạt được, du lịch biển Quảng Trị vẫn còn nhiều khiếm khuyết cần được khắc phục sớm. Đó là hệ thống văn bản, cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, cơ sở vật chất phục vụ du lịch biển còn thiếu, sản phẩm du lịch còn nghèo nàn và đơn điệu, chất lượng phục vụ du lịch chưa cao. Một số yếu tố đã xuất hiện có ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của du lịch biển Quảng Trị và qua đó tác động đến việc thực hiện quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị chưa đạt được những mục tiêu đã đề ra. Nhận thức được vấn đề đó tác giả xin chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình với mong muốn hoàn thiện quy định pháp luật và công tác quản lý Nhà nước về du lịch biển nhằm mục đích đưa du lịch biển Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng ngày càng phát triển và trở thành “ngành kinh tế mũi nhọn” của đất nước.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Quản lý nhà nước về du lịch biển là một trong những nội dung quan trọng và là chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, hội nghị chuyên đề, hội thảo liên quan được tổ chức, nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp ngành và một số công trình nghiên cứu đã được công bố trong thời gian qua. Tiêu biểu như:
Lê Long (2018), Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên. Đây là công trình nghiên cứu QLNN đối với hoạt động kinh doanh lữ hành và tăng cường công tác quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành cụ thể tại tỉnh Quảng Ninh. Luận văn đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới và nâng cao trình độ QLNN về hoạt động kinh doanh lữ hành ở tỉnh Quảng Ninh.
Nguyễn Thị Thùy (2019), Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ Du lịch, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về tài nguyên du lịch và thực tiễn hoạt động du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh để từ đó đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm phát triển hơn nữa hoạt động du lịch ở Vân Đồn.
Trần Phan Long (2019), Hoàn thiện quản lý Nhà nước về du lịch biển tại thị xã Cửa Lò, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Nha Trang. Công trình nghiên cứu đã phân tích những kết quả, những tồn tại bất cập và những thách thức đặt ra đối với du lịch biển và công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển tại Thị xã Cửa Lò. Từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nhằm phát triển hơn nữa ngành du lịch biển của thị xã và đưa biển Cửa Lò trở thành một điểm du lịch lớn của cả nước.
Lê Đình Hiếu (2024), Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học và xã hội.
Luận văn phân tích đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng, đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch biển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm thúc đẩy ngành du lịch biển của thành phố phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới hiện nay.
Các công trình nghiên cứu nêu trên từ các góc độ khác nhau đã phân tích, đánh giá tình hình quản lý nhà nước về du lịch. Mỗi công trình có sự nhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau đã góp phần hệ thống hóa lý luận, phản ánh một bức tranh thực tế về công tác quản lý nhà nước về du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng -là nguồn tư liệu quý để đề tài tham khảo và kế thừa. Tuy nhiên lại chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ toàn diện và sâu sắc đối với công tác quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Vì vậy tác giả chọn đề tài này làm công trình nghiên cứu của mình nhằm góp phần làm rõ, bổ sung vào những khuyết điểm đó. Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển ở tỉnh Quảng Trị nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ một cách hệ thống về lý luận về pháp luật công tác quản lí nhà nước trong lĩnh vực du lịch biển trong giai đoạn hiện nay.
Phân tích những kết quả, những tồn tại bất cập và những thách thức đặt ra đối với du lịch biển và công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nhằm phát triển hơn nữa ngành du lịch biển của tỉnh Quảng Trị trở thành một điểm du lịch lớn của cả nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý nhà nước về du lịch; các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về việc quản lý nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị;
Phạm vi thời gian: Các số liệu phục vụ để đánh giá thực trạng được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2024; các định hướng và giải pháp thực hiện đề xuất trong luận văn được thực hiện trong giai đoạn từ nay đến năm 2025.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về chủ quyền biển đảo. Các quy định của pháp luật hiện hành, các báo cáo tổng hợp của cơ quan chức năng về tình hình phát triển du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng của nước ta trong những năm qua.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học, gồm: Phương pháp phân tích quy phạm để đánh giá các quy định của pháp luật du lịch. Đồng thời kết hợp với phương pháp phân tích, đánh giá các thực trạng để có cái nhìn đúng đắn về tính hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật. Kiểm tra được tính hiệu lực và hiệu quả thật sự của pháp luật về quản lý nhà nước về du lịch biển trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng trị nói riêng. Bên cạnh đó, luận văn còn dùng các phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đề tài kế thừa có chọn lọc những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật quản lý nhà nước về du lịch biển cơ sở các phân tích, bình luận để thể hiện góc nhìn mới, trực diện các vấn đề từ đó để có cái nhìn tổng quan.
Phương pháp đối chiếu, so sánh: Trong quá trình nghiên cứu, để làm rõ vấn đề, tác giả sẽ tiến hành so sánh số liệu từ các năm để rút ra các đánh giá, nhận xét.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản quản lý nhà nước về du lịch biển hiện nay.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Luận văn nghiên cứu đánh giá việc quản lý nhà nước về du lịch biển của tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay, qua đó thấy được những hạn chế vướng mắc và từ đó luận văn đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch biển nhằm phát triển hơn nữa ngành du lịch biển của tỉnh trong những năm tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về du lịch biển
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị.
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về du lịch biển
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch biển
1.1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa [33, tr 170] .
Như vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản dưới luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Khái niệm về du lịch biển Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội của nhân dân các nước. Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều góc độ khác nhau:
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization)- một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền”. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư. Du lịch được xem như là một chuyến đi của con người, với nhiều mục đích cụ thể riêng biệt đến một nơi khác mà không phải để định cư và có sự trở về sau chuyến đi. [29, tr 15]
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa là “Đi một vòng”[33, tr 158 ]. Thuật ngữ này được đưa vào hệ ngữ La tinh thành Turnur và sau đó thành Tour trong tiếng Pháp với nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi.
Theo Robert Langquar (1980), từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên được sử dụng trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hoá, nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch là một từ gốc Hán – Việt, tạm hiểu là đi chơi, trải nghiệm. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế – xã hội phổ biến ở mọi quốc gia.
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2023 đã nêu khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Biển là tài nguyên tự nhiên thuộc tài nguyên du lịch. Con người có thể tận dụng những vốn quý của tự nhiên để cải thiện và nâng cao cuộc sống cho mình. Du khách đến biển sẽ được đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông qua sức mạnh sáng tạo nhân văn của con người để phục vụ con người. Du lịch biển hình thành và phát triển dựa vào tiềm năng của biển và những yếu tố khác do chính con người làm nên. Theo luật Du lịch thì Du lịch biển là một loại hình dịch vụ du lịch sinh thái của ngành du lịch, là hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người nhằm tận hưởng khí hậu mát mẻ, dễ chịu của cảnh quan biển, ngoài ra còn đáp ứng được nhu cầu giải trí, thể thao, nghỉ dưỡng và tham quan du lịch nơi con người đến hưởng thụ ở biển.. Du lịch biển là ngành dịch vụ tổng hợp, cùng với du lịch có chung mục đích là phục vụ nhu cầu của du khách, hoạt động kinh doanh với mục đích là thu lợi nhuận.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch biển Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp và phổ biến. Nó liên quan và tác động trực tiếp, gián tiếp đến những ngành, nghề khác nhau. Du lịch biển là một loại hình kinh doanh du lịch phổ biến ngày nay. Những sản phẩm du lịch mang lại hỗ trợ cho du lịch biển phát triển và ngược lại, những sản phẩm du lịch biển đóng góp to lớn cho sự phát triển toàn ngành du lịch. Vì vậy, việc tăng cường QLNN đối với du lịch là một đòi hỏi tất yếu khách quan. Hoạt động quản lý nhà nước do các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành. Trên cơ sở đó, QLNN đối với du lịch biển không chỉ là sự quản lý chung của nhà nước về du lịch mà còn là sự quản lý mang nét đặc trưng riêng của loại hình dịch vụ này.
Nói đến QLNN về du lịch là nói đến cơ chế quản lý. Trong cơ chế đó, phải đảm bảo hệ thống các công cụ quản lý phát huy được vai trò của mình trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội, đồng thời đảm bảo cho các hoạt động du lịch vừa hoạt động hiệu quả, vừa tuân thủ các quy định, yêu cầu của quy luật kinh tế. Yêu cầu đặt ra đối với công tác QLNN là phải đảm bảo môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động du lịch phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích. Thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động du lịch đảm bảo phát triển du lịch bền vững, phát triển một cách trật tự, ổn định, kỹ cương và uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật.
Từ đó có thể hiểu: Quản lý nhà nước về du lịch biển là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước đối với hoạt động của nhà kinh doanh du lịch biển, du khách và các chủ thể khác liên quan nhằm đảm bảo tài nguyên biển được bảo tồn, du lịch biển phát triển theo đúng định hướng, chiến lược, tạo nên sự phát triển bền vững và có hiệu quả trong toàn ngành du lịch và trong nền kinh tế – xã hội của đất nước
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về du lịch biển
Thứ nhất, quản lý Nhà nước về du lịch biển là hoạt động mang tính tổ chức và điều chỉnh.
Tính tổ chức và điều chỉnh được thể hiện ở việc các cơ quản quản lý nhà nước về du lịch biển ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng các đối tượng quản lý là du lịch biển phát triển và theo một thể thống nhất. Việc phát triển du lịch biển phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật để buộc hoạt động của nhà kinh doanh du lịch biển, du khách và các chủ thể khác liên quan phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội.
Thứ hai, quản lý Nhà nước về du lịch biển phải mang tính khoa học, tính kế hoạch.
Du lịch biển, đảo được xây dựng và phát triển trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên là ven biển, nước biển, cát biển,… và các hòn đảo tự nhiên trên cơ sở khai thác và phát triển cùng với du lịch nhân văn. Hoạt động du lịch biển thường gắn với các hoạt động nghỉ mát, tắm biển, an dưỡng cũng như các dịch vu giải trí, thể dục thể thao đi kèm…đòi hỏi Nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý, phải có một chương trình nhất quán, cụ thể.. Một bất lợi của du lịch biển đảo là cải tạo hạ tầng khó, và thường rất tốn kém so với các ngành du lịch khác. Ví dụ như cải tạo các bãi biển, bảo tồn và nuôi trồng các khu san hô… đòi hỏi phải có kỹ thuật cao, và chi phí rất lớn. Bên cạnh đó Du lịch biển chịu sự tác động mạnh đến sự biến động của tự nhiên và khí hậu, nên việc quản lý nhà nước về du lịch biển đòi hỏi cơ quan quản lý phải có các chính sách cụ thể theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học và có kế hoạch.
Thứ ba, quản lý Nhà nước là những tác động mang tính liên tục, và ổn định.
Du lịch biển là một ngành dễ bị chịu tác động của các yếu tố trong môi trường bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp… Du lịch biển chỉ có thể phát triển trong một môi trường có tính ổn định về mặt chính trị, quốc phòng. Sự đảm bảo vững chắc của an ninh và quốc phòng tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tham quan. Từ đây, có thể thấy, du lịch biển là một ngành chịu ảnh hưởng khá nhiều các yếu tố từ an ninh, quốc phòng đến các nhân tố xã hội.
Cùng với sự vận động biến đổi của các yếu tố đó, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn. Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Các quyết định của Nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh. Việc ổn định của các quyết định của Nhà nước giúp cho các cơ quan quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về du lịch biển
Thứ nhất, hoạt động QLNN về du lịch biển nhằm góp phần phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương, đảm bảo việc phát triển du lịch biển đi đúng hướng,; hạn chế những mặt tiêu cực trong việc phát triển du lịch biển mang lại như tình trạng ô nhiễm môi trường, phức tạp trong an ninh trật tự,…Du lịch biển đóng góp rất nhiều cho một đất nước, một địa phương như tăng thu ngân sách, tạo ra nguồn ngoại tệ lớn góp phần tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên nó cũng có những tác động tiêu cực. Bên cạnh đó, việc định hướng phát triển du lịch dài hạn góp phần đầu tư và kêu gọi đầu tư một cách bài bản, có trọng tâm, trọng điểm. Sự quản lý của nhà nước sẽ giúp cho các doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ cho phép, xóa bỏ dần các hành vi kinh doanh thiếu văn minh, cạnh tranh không lành mạnh hoặc đơn thuần chạy theo lợi nhuận phá hoại môi trường sinh thái, môi trường xã hội gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội.
Thứ hai, trong quá trình đầu tư, phát triển các loại hình dịch vụ du lịch biển, các doanh nghiệp thường sẽ gặp các khó khăn, vướng mắc về thủ tục hành chính, về đăng kí,…cơ quan quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho các doanh nghiệp được phát triển hoạt động kinh doanh của mình bên cạnh nhiệm vụ hoạch định kế hoạch phát triển, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các doanh nghiệp. Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Thứ ba, việc quản lý Nhà nước bằng các chiến lược, chương trình phát triển hợp lý vừa tạo nên những bước tiến trong lĩnh vực du lịch biển, vừa bảo vệ lợi ích chính đáng của khách du lịch trong nước và quốc tế và các nhà đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực du lịch biển. Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển là định hướng phát triển chung của toàn ngành sẽ mang đến cơ hội cạnh tranh, thu hút khách du lịch quốc tế đến với Du lịch biển Việt Nam. Với đặc điểm về sự giao lưu quốc tế rộng rãi thông qua việc thu hút, đáp ứng thị trường khách du lịch quốc tế đông đảo, phát triển du lịch đi đôi với việc mở rộng, tăng cường các hoạt động giao lưu văn hóa. Hoạt động du lịch giúp tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc, giúp khách du lịch hiểu biết rõ hơn về đất nước, con người Việt Nam. Nhiều giá trị tích cực trong hình ảnh đất nước, con người Việt Nam được khám phá thông qua các trải nghiệm du lịch. Nhiều địa danh du lịch của Việt Nam được các tổ chức, tạp chí quốc tế vinh danh, bầu chọn đã và đang góp phần thúc đẩy nhìn nhận tích cực về đất nước Việt Nam trên bình diện quốc tế.
Thứ tư, quản lý nhà nước về du lịch biển góp phần giữ gìn an ninh quốc phòng, chủ quyền quốc gia.
Để du lịch không ngừng phát triển và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động du lịch cùng với các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Sự đảm bảo vững chắc về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tới tham quan. Một thế giới bất ổn về chính trị và xung đột về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch gây nên tâm lý hoài nghi, sợ hãi cho du khách. Do vậy, công tác quản lý nhàn nước về du lịch biển của các cơ quan có thẩm quyền góp phần vào việc giữ vững an ninh quốc phòng và xác lập chủ quyền quốc gia.
1.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp quản lý nhà nước về du lịch biển Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
1.2.1. Chủ thể quản lý nhà nước về du lịch biển
Chủ thể quản lý nhà nước về du lịch biển là các cơ quan nhà nước hoặc được nhà nước trao quyền, ủy quyền để quản lý. Trong những năm gần đây, ngành Du lịch đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Đảng,
Nhà nước, sự nỗ lực vượt qua khó khăn của các cơ quan quản lý du lịch từ Trung ương đến địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch biển được tổ chức từ Trung ương đến địa phương và ngày càng được hoàn thiện để phát huy hết chức năng quản lý của mình.
Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương bao gồm: Tổng cục du lịch cùng các vụ chức năng; Các bộ ngành như: Bộ Tài chính,
Ngân hàng nhà nước, Bộ Kế hoạch đầu tư…
Từ ngày Luật Du lịch 2023 chính thức có hiệu lực thi hành, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch. Tổng cục Du lịch (tiếng Anh: Vietnam National Administration of Tourism) là một cơ quan trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, (trước năm 2007 trực thuộc Chính phủ Việt Nam) có nhiệm vụ quản lý ngành du lịch ở Việt Nam.
Tổng cục du lịch được thành lập đã góp phần vào công tác chỉ đạo, phối hợp thực hiện kế hoạch, quy hoạch phát triển du lịch.
Ở địa phương, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch biển là Uỷ ban nhân dân các cấp, trực tiếp là Sở văn hóa- Thể thao và Du lịch.
Cơ quan QLNN về du lịch ở địa phương là Sở Du lịch (Hiện nay, Sở Du lịch đã được đổi tên thành Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch). Sở Văn hóa – thể thao và Du lịch được ra đời theo Quyết định số 171/TTg ngày 17 tháng 4 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ. Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch là cơ quan giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động du lịch trên phạm vi tỉnh, thành phố; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục Du lịch.
Đối với hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển thì Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch thực hiện chức năng, nhiệm vụ sau:
- Tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt
- Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch của tỉnh theo quy chế của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
- Thực hiện các biện pháp để bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch của tỉnh.
- Tổ chức lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch địa phương, điểm du lịch địa phương, tuyến du lịch địa phương, công bố sau khi có quyết định công nhận.
- Cấp, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép thành lập văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài đặt trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật và theo phân cấp, ủy quyền của UBND cấp tỉnh.
- Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật
- Quyết định xếp hạng 1 sao, hạng 2 sao cho khách sạn, làng du lịch, hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh biệt thự, căn hộ du lịch, hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch đối với bãi cắm trại, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, cơ sở lưu trú du lịch khác.
- Thẩm định và cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch.
- Tổ chức cấp, cấp lại, đổi, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch, cấp thu hồi giấy chứng nhận thuyết minh viên theo quy định của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch.
- Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch và tổ chức thực hiện chương trình xúc tiến du lịch, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịch của địa phương sau khi được phê duyệt.
1.2.2. Đối tượng quản lý nhà nước về du lịch biển
Du lịch biển đảo là loại hình du lịch được phát triển dựa trên những tiềm năng về biển, diễn ra trong các vùng có tiềm năng về biển đảo hướng tới thỏa mãn nhu cầu của con người về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, nghiên cứu…vì vậy, đối tượng quản lý nhà nước về du lịch rất đa dạng, bao gồm: các cơ sở kinh doanh du lịch; đội ngũ lao động trong ngành du lịch; kết cấu hạ tầng kĩ thuật; tài nguyên du lịch; du khách, sản phẩm du lịch…
Cơ sở kinh doanh là các tổ chức kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận trong lĩnh vực du lịch của tổ chức, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ du lịch của khách du lịch. Kinh doanh du lịch bao gồm các ngành nghề: kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch,; kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch, kinh doanh dịch vụ du lịch khác.
Khách du lịch là đối tượng cung ứng của ngành du lịch. Khách du lịch có thể là một tổ chức, một nhóm người, một cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch với mục đích thỏa mãn nhu cầu vui chơi, tham gia, khám phá và giải trí của mình. Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế và đây là đối tượng quản lý chủ yếu của du lịch biển.
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách.
Cũng như các ngành kinh doanh dịch vụ khác, sản phẩm của du lịch là sản phẩm đặc biệt, vừa bao gồm các sản phẩm có tính chất vô hình, không định lượng được, vừa bao gồm các sản phẩm hiện vật, hữu hình như các sản phẩm thông thường khác gồm:
Thắng cảnh biển – Di sản Thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long với sự kỳ bí của hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ;
Các bãi biển phục vụ nghỉ dưỡng ven biển – dải ven biển miền Trung phục vụ nghỉ dưỡng biển kết hợp với nhiều hoạt động du lịch khác như tham quan các di sản văn hóa thế giới…;
Thể thao biển với các hoạt động thể thao quốc tế (lặn biển tại Nha Trang, lướt ván dù, ván buồm tại Mũi Né); Du lịch đảo – nghỉ dưỡng và khám phá đảo (tại Phú Quốc, Côn Đảo).
Bên cạnh đó đội ngũ lao động trong ngành du lịch; kết cấu hạ tầng kĩ thuật; tài nguyên du lịch… cũng là một trong những đối tượng du lịch biển mà các cơ quan nhà nước cần phải quản lý. Ngoài ra ở từng địa phương sẽ có từng thế mạnh du lịch biển riêng, cần khai thác và quản lý một cách có hiệu quả để du lịch biển trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia.
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch biển Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Thứ nhất, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch.
Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để định hướng hoạt động du lịch, xây dựng các chương trình, các dự án, cụ thể hóa các chiến lược, đặc biệt là các lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế. Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch giúp cho các doanh nghiệp du lịch có phương hướng hình thành các phương án chiến lược, kế hoạch kinh doanh. Nó vừa giúp tạo lập môi trường kinh doanh vừa cho phép Nhà nước có thể kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và các chủ kinh doanh trên thị trường. Bên cạnh đó cần tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch để việc đầu tư phát triển đem lại kết quả tối ưu nhất.
Thứ hai, Ban hành văn bản pháp luật quản lý về du lịch biển
Pháp luật đối với nền kinh tế của một đất nước nói chung và cụ thể trong lĩnh vực du lịch nói riêng là những quy định của Nhà nước, là ý chí của Nhà nước bắt mọi chủ thể khác phải thực hiện. Vì vậy, việc thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng là điều cần thiết. Cùng với đó để chính sách pháp luật đi vào cuộc sống các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch biển phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. Tạo môi trường pháp lý vững chắc cho hoạt động du lịch. Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về du lịch, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật…Bên cạnh đó, việc hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đối với các cấp trong hệ thống quản lý du lịch của trung ương, tỉnh, huyện cũng phải thực thi một cách có hiệu quả.
Thứ ba, tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về du lịch biển
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những chức năng trong công tác tổ chức thực hiện quản lý Nhà nước của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đây là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật, nhằm đưa các quy định của pháp luật về lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch, đến với cán bộ và nhân dân. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác này, Ban Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở các địa phương rất quan tâm chỉ đạo thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của ngành. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch trên địa bàn tỉnh. Giúp họ am hiểu và chấp hành đúng các quy định về từng ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh; góp phần hạn chế các vi phạm pháp luật. Từng bước đổi mới về nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phù hợp theo từng nhóm đối tượng (cán bộ, công chức, viên chức, cơ sở kinh doanh dịch vụ và quần chúng nhân dân).
Bên cạnh đó, chất lượng nguồn lực nhân lực hoạt động trong ngành du lịch là một trong những yếu tố tiên quyết, quyết định thành công của hoạt động du lịch. Để hoạt động du lịch phát triển, việc tổ chức, đào tạo bồi dưỡng và hỗ trợ bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần có chiến lược, định hướng nhằm nâng cao chất lượng nhân lực du lịch cũng chính là nâng cao hiệu quả phục vụ du lịch. Nhà nước kiểm tra đánh giá sức mạnh của hệ thống tổ chức quản lý du lịch cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về du lịch. Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Thứ tư, hợp tác quốc tế về du lịch biển
Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, để tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương, chính quyền cấp của quốc gia, của từng địa phương tiến hành cung cấp thông tin, cập nhật chính sách mới về du lịch, tổ chức tập huấn cho cán bộ QLNN và cán bộ quản trị doanh nghiệp để giúp họ hiểu rõ về các cam kết, nghĩa vụ của nhà nước và trách nhiệm của doanh nghiệp theo luật pháp quốc tế. Trong lĩnh vực du lịch quốc tế, các quốc gia có quan hệ song phương hoặc trong cùng một khối kinh tế, thương mại du lịch phối hợp với nhau trong nỗ lực nhằm đa dạng hóa phương thức quan hệ hợp tác quốc tế trong du lịch đạt tới mục tiêu và bảo đảm các cam kết đã kí[35, tr56]. Ngoài ra các cơ quan có chức năng tiến hành tổ chức và quản lý công tác tiếp xúc và hợp tác quốc tế về du lịch.
Thứ năm, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động du lịch biển
Sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương… Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh du lịch cũng như cơ chế quản lý của các chủ thể đó. Cấp và thu hồi giấy phép hoạt động trong hoạt động du lịch. Nếu phát hiện thấy những lệch lạc, vi phạm trong kinh doanh dịch vụ du lịch thì sẽ có những biện pháp xử lý.
1.2.4. Phương pháp quản lý nhà nước về du lịch biển
Phương pháp QLNN là cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước, cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết. Để quản lý nhà nước về du lịch biển thì các phương pháp phải tập trung và phù hợp với đối tượng quản lý. Trong hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển, Nhà nước thực hiện các phương pháp sau: Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Thứ nhất, phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước thông qua quyết định dứt khoát và có tính bắt buộc. Đối với quản lý nhà nước về du lịch biển, phương pháp hành chính được áp dụng thông qua những thủ tục hành chính bắt buộc như thủ tục đăng ký kinh doanh đối với các cơ sở kinh doanh, thủ tục cấp thẻ hướng dẫn viên cho hướng dẫn viên du lịch…; Trong trường hợp các chủ thể thuộc đối tượng quản lý về du lịch biển không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật thì sẽ bị xử lý.
Thứ hai, phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là các phương pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế bằng việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ. Phương pháp kinh tế được áp dụng phổ biến trong công tác quản lý nhà nước về du lịch biển. Thông qua các hoạt động kinh doanh du lịch của các cơ sở kinh doanh, cơ quan nhà nước đưa ra các định mức kinh tế như thuế suất, lãi suất..để áp dụng. Ngoài ra, để các đối tượng tham gia vào hoạt động du lịch biển phát huy tối đa khả năng của mình, Nhà nước đưa ra các chính sách ưu đãi về kinh tế như chính sách thuế, ưu đãi lãi suất ngân hàng; giải pháp hỗ trợ phát triển..
Thứ ba, phương pháp thuyết phục, giáo dục
Thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định.
Phát triển kinh tế biển gắn với chủ quyền quốc gia là nội dung chính sách mà Đảng ta quan tâm. Vì thế phương pháp giáo dục, thuyết phục đối với du lịch biển là cần thiết. Công tác giáo dục, thuyết phục đến mọi đối tượng về vai trò của du lịch biển nhằm mục đích nâng cao ý thức tự giác, có trách nhiệm của mọi đối tượng. Bên cạnh đó, rèn luyện giáo dục đội ngũ cán bộ công chức về đường lối, chủ trương của Đảng, về ý thức lao động, sáng tạo, quản lý…
Trong quá trình quản lý về du lịch biển, cơ quản quản lý nhà nước căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu và quan trọng hơn hết cần xác định đối tượng ở đây là du lịch biển để lựa chọn phương pháp phù hợp. Hơn thế nữa, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển, cần phải biết vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý để phát huy tối đa năng lực của cơ quan quản lý.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về du lịch biển Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
1.3.1. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về biển đảo
Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn tới sự thành công trong việc phát triển du lịch. Nó kìm hãm nếu như đường lối sai với thực tế. Kế thừa và phát triển ý thức về chủ quyền biển đảo của ông cha ta trong lịch sử, thể hiện trong việc quản lý, sử dụng, khai thác và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, đồng thời, nhận thức được tầm quan trọng của biển đảo đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về biển và hải đảo.
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 “về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2030” trong đó Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo về định hướng Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2030. Để có thể thực hiện mục tiêu đến năm 2030 đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo của Tổ quốc, cùng với việc xác định bối cảnh quản lý nhà nước về biển và hải đảo của nước ta đang thay đổi và có những diễn biến phức tạp, điều quan trọng trước tiên đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo là phải đổi mới tư duy quản lý. Điều này được đặt ra như một vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cấp bách, đồng thời, hoàn thiện và phát huy hiệu quả chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về biển và hải đảo thích ứng được với tình hình mới.[6, tr9]
Thứ nhất, quản lý nhà nước tổng hợp, thống nhất về biển và hải đảo, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả
Thứ hai, quản lý nhà nước về biến đảo phải kết hợp hài hòa các mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững, tăng trưởng xanh với an ninh – quốc phòng.
Thứ ba, phát huy vai trò của người dân trong quản lý biển và hải đảo.
Tuy đây không phải là một vấn đề mới, bởi quan niệm “lấy dân làm gốc” hay “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” đã được chứng minh trong thực tiễn lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam ta, song đối với quản lý biển và hải đảo, với đặc thù của mình và nhất là trong bối cảnh hiện nay, người dân ven biển bám biển, bám tàu sẽ là lực lượng đông đảo cùng với nhà nước bảo vệ chủ quyền biển đảo, phát triển kinh tế biển, giữ gìn môi trường biển. Không có nguồn nhân lực hành chính nhà nước nào đủ đông đảo và túc trực 24/24h trên vùng biển rộng lớn như lực lượng ngư dân. Cũng chính họ là những người hàng ngày gắn bó với môi trường biển, quyết định nó trong sạch hay ô nhiễm. [23, tr.8]
1.3.2. Pháp luật Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Để quản lý được các hoạt động du lịch, Nhà nước phải sử dụng các công cụ quản lý. Một trong những công cụ hữu hiệu nhất của Nhà nước là ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Pháp luật luôn là hành lang pháp lý vững chắc, là môi trường pháp lý để điều chỉnh các hoạt động quản lý Nhà nước về du lịch.
Nhằm khắc phục những hạn chế cũng như tạo sức bật cho du lịch biển, đảo, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã xây dựng đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2030”. Mục tiêu của đề án là đến năm 2030, du lịch biển sẽ trở thành động lực của kinh tế biển Việt Nam, góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển và bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo góp phần làm cho đất nước giàu mạnh.
Để nâng cao tầm vóc và xây dựng thương hiệu du lịch biển Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 201/QĐ-TTg, về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040. Theo các chuyên gia, việc chú trọng đẩy mạnh phát triển du lịch biển đảo là một định hướng đúng đắn, phù hợp với thế mạnh của ngành Du lịch Việt Nam và mang ý nghĩa đặc biệt trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nước.
Từ đầu năm 2023, các chỉ đạo ở tầm vĩ mô tạo bước chuyển biến lớn trong công tác quản lý và các hoạt động phát triển du lịch. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn chỉ đạo toàn bộ hệ thống chính trị tập trung triển khai thực hiện các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 103/NQ-CP triển khai thực hiện NQ 08 với nhiều giải pháp đồng bộ và 15 nhiệm vụ trọng tâm.
Luật Du lịch 2023, Nghị định số 168 của Chính phủ, Thông tư số 06 của Bộ VHTTDL quy định chi tiết thực hiện luật với tinh thần đổi mới đã tạo sự thay đổi mạnh mẽ trong công tác quản lý kinh doanh du lịch. Tại các địa phương, việc thành lập 13 Sở Du lịch tại các địa bàn du lịch trọng điểm đã góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch sôi nổi, hiệu quả hơn.
Trước yêu cầu đặt ra để đưa Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Chính phủ đã ra Nghị quyết 19-2024/NQ-CP ngày 15/5/2024 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2024 và những năm tiếp theo. Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các cá nhân, cơ sở hoạt động trong lĩnh vực du lịch và du khách thì công tác kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm pháp luật về du lịch là một trong những nội dung cần thiết. Ngày 21/5/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2025/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực du lịch.
1.3.3. Đặc thù biển đảo Việt Nam
Việt Nam có nhiều tiềm năng về du lịch biển đảo khi sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km và hơn 3.000 hòn đảo, với những bờ cát trắng, vịnh biển hoang sơ, những hòn đảo nhiệt đới quanh năm tươi tốt…
Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới và là nước có diện tích ven biển lớn ở khu vực Đông Nam Á. Và có tới 125 bãi biển mà hầu hết là các bãi tắm đẹp, trong đó bãi biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes bầu chọn là 1 trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh. Việt Nam cũng là 1 trong 12 quốc gia có các vịnh đẹp nhất thế giới là Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang.
Về mặt hành chính, 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các địa phương có biển, với diện tích tự nhiên là 126.747 km2. Bên cạnh đó, lãnh thổ vùng đất ven biển, vùng biển và hệ thống các đảo, nơi diễn ra du lịch biển đảo và vùng ven biển tập trung tới 7/13 di sản thế giới ở Việt Nam; 6/8 các khu dự trữ sinh quyển; nhiều vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên…
Ngoài ra, từ bao đời nay, biển đảo không chỉ là nơi cung cấp nguồn sống, mà còn là không gian để cộng đồng người Việt tạo lập nên một nền văn hóa biển đảo, với những di sản văn hóa đặc sắc. Việc khai thác và sử dụng tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong những năm qua đã được Đảng và Nhà nước chú trọng và đã có nhiều chủ trương, chính sách đối với việc khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Ðây chính là nguồn tài nguyên giàu có để phát triển du lịch biển đảo bền vững.
1.3.4. Nguồn lực Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
Nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong việc phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Để phát triển du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng, nguồn lực được đánh giá là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của ngành. Khi nói đến nguồn lực, thì thường sẽ nhắc đến số lượng, chất lượng, cơ cấu và sự đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Chất lượng của nguồn lực phản ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động. Phát triển nguồn nhân lực du lịch là những hoạt động nhằm tăng cường về số lượng và nâng cao về chất lượng, hiệu quả làm việc của các nhóm nguồn lực du lịch và đó là điều cần thiết trong hoạt động quản lý du lịch có hiệu quả.
Nhu cầu nhân lực của ngành Du lịch ngày càng gia tăng. Cụ thể dự báo năm 2030 tăng 40% so với năm 2021. Trong đó, nhu cầu nhân lực có trình độ đại học được dự báo chiếm 0,7%; trình độ đại học, cao đẳng chiếm 15%; Trình độ trung cấp chiếm 13%; trình độ sơ cấp chiếm 22,3% và trình độ dưới sơ cấp chiếm 49%.
Bảng 1.1. Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2030
Theo tổng cục du lịch mỗi năm toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động về trình độ ngoại ngữ của nguồn nhân lực ngành Du lịch cho thấy, ngoại ngữ tiếng Anh hiện chiếm khoảng 42% nhân lực toàn ngành, tiếng Trung, tiếng Pháp và các tiếng khác với tỷ lệ tương ứng là 5%, 4% và 9% nhân lực. Như vậy, nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cho ngành Du lịch là rất lớn, trong đó đáng chú ý là nhu cầu nhân lực có trình độ cao ngày một gia tăng.
Quy mô đào tạo mới tăng mạnh, chất lượng cơ bản đảm bảo, dần gắn với nhu cầu xã hội. Cơ cấu ngành, nghề đào tạo từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực. Nhiều ngành, nghề đào tạo mới xuất hiện đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch, nhu cầu đào tạo du lịch nói riêng và phát triển kinh tế-xã hội trong hội nhập quốc tế nói chung. [20, tr 28]
Bảng 1.2. Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2030
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành du lịch được Nhà nước quan tâm một cách đáng kể. Bên cạnh đó công tác đào tạo nguồn cán bộ chất lượng cao tại địa phương cũng được chú trọng. Phòng Văn hóa và Thông tin đã phối hợp với phòng Giáo dục và Đào tạo ở các địa phương, các cơ sở đào tạo xây dựng và hoàn thiện nội dung đào tạo về nghiệp vụ du lịch biển.
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 đã đưa ra được những vấn đề lý luận cơ bản và pháp luật của quản lý nhà nước về du lịch biển. Theo đó, để hiểu rõ hơn về du lịch biển và công tác quản lý nhà nước, chương 1 đã tập trung phân tích các khái niệm về du lịch biển, khái niệm về quản lý nhà nước, đưa ra khái niệm và vai trò quản lý nhà nước về du lịch biển. Từ đó thấy rằng, để du lịch biển phát triển theo một thể thống nhất trong nền kinh tế của quốc gia, thì công tác quản lý nhà nước hết sức quan trọng. Đồng thời, chương 1 đưa ra những cơ sở lý luận cơ bản bao gồm chủ thể, nội dung, đối tượng, phương pháp QLNN đối với du lịch biển, phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển của du lịch biển. Làm rõ các quy định của pháp luật về công tác quản lý Nhà nước về du lịch biển, và các hình thứ xử phạt nếu vi phạm. Luận văn: Quản lý Nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch biển Quảng Trị

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
