Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Thực trạng công tác quản lý Công trình thủy lợi của IMC Quảng Trị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tổng quan về IMC Quảng Trị

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

IMC Quảng Trị (gọi tắt tiếng Anh là IMC) được thành lập từ tháng 7/2004 theo Quyết định số 2230/QĐ-UB ngày 23/07/2004 trên cơ sở sát nhập 3 công ty thuỷ nông của tỉnh. Công ty chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Quyết định số 1677/QĐ-UBND ngày 13/08/2007 của UBND tỉnh Quảng Trị.

Hiện nay, công ty có 03 Xí nghiệp thủy nông trực thuộc để quản lý Công trình thủy lợi và 01 Xí nghiệp Tư vấn đầu tư và xây dựng.

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty

Công ty Quản lý khai thác Công trình thủy lợi Quảng Trị là Doanh nghiệp hạng II, hoạt động công ích với nhiệm vụ: Quản lý khai thác toàn bộ các Công trình thủy lợi trọng điểm của Tỉnh, phục vụ tưới tiêu có hiệu quả cho Sản xuất nông nghiệp của 8/10 huyện, thị, thành phố với tổng diện tích hơn 30.000ha/năm. Ngăn mặn, tiêu nước hơn: 13.000 ha/năm. Ngoài ra còn có nhiệm vụ cấp nước cho công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, nước sinh hoạt và phục vụ dân sinh, kinh tế khác.

Công ty có 2 bộ phận: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

  • Bộ phận Quản lý khai thác Công trình thủy lợi:

Đây là bộ phận chính của Công ty gồm 3 Xí nghiệp thủy nông hoạt động công ích, được UBND tỉnh giao quản lý các Công trình thủy lợi vừa và lớn của tỉnh, phục vụ tưới tiêu cho Sản xuất nông nghiệp. Bộ phận này hoạt động công ích không vì mục tiêu lợi nhuận nên hàng năm UBND tỉnh chỉ giao kế hoạch cho Công ty 2 chỉ tiêu là diện tích tưới tiêu và doanh thu, không có chỉ tiêu lợi nhuận và nộp ngân sách.

Công ty được UBND tỉnh giao quản lý 18 hồ đập; 20 trạm bơm; 7 đập ngăn mặn và trên 700 km kênh từ loại 1 đến loại 3, với tổng giá trị tài sản trên 1.600 tỷ đồng. Đây là khối tài sản lớn do Nhà nước đầu tư để phục vụ tưới tiêu cho Sản xuất nông nghiệp và phục vụ dân sinh của Tỉnh. Ý thức được tầm quan trọng của các công trình, Công ty đã phân đoạn quản lý công trình cho từng công nhân cụ thể, tổ chức duy tu bảo dưỡng công trình theo đúng định kỳ, hạn chế công trình xuống cấp.

Bộ phận sản xuất kinh doanh khác: Là Xí nghiệp Tư vấn đầu tư và xây dựng hoạt động kinh doanh khác ngoài công ích, hoạch toán độc lập. Hàng năm UBND tỉnh không giao chỉ tiêu kế hoạch doanh thu và lợi nhuận cho bộ phận này, mà Xí nghiệp tự tìm kiếm việc làm với bên ngoài.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công

2.1.3. Ngành nghề kinh doanh của công ty

Căn cứ theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV đăng ký lần đầu ngày 20/9/2007, đăng ký thay đổi lần 3 ngày 09/10/2014; Mã số Doanh nghiệp: 3200198514 gồm:

  • QLKT và bảo vệ Công trình thủy lợi; Xây dựng Công trình thủy lợi
  • Nuôi trồng thủy sản; Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.
  • Xây dựng công trình giao thông
  • Xây dựng công trình dân dụng, hạ tầng NN nông thôn, công trình nuôi trồng thủy sản
  • Tư vấn đầu tư và xây dựng các công trình: Thủy lợi, giao thông, thủy điện, xây dựng dân dụng, hạ tầng NN nông thôn, công trình nuôi trồng thủy sản, quy hoạch xây dựng và cải tạo đồng ruộng. Tư vấn đấu thầu, thẩm tra thiết kế, tổng dự toán công trình.
  • Tư vấn giám sát xây dựng hoàn thiện các công trình hạ tầng, Thủy lợi, Công trình thủy lợi, giao thông; Khảo sát địa chất, địa hình.
  • Kiểm định thí nghiệm vật liệu xây dựng, đánh giá sự phù hợp chất lượng công trình xây dựng
  • Sản xuất, bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng. – Dịch vụ hỗ trợ liên quan đến quảng bá và tổ chức – Du lịch sinh thái – Khai thác, xử lý và cung cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt.

2.1.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty

Mô hình tổ chức Công ty: Hội đồng thành viên – Cơ cấu quản lý bao gồm:

  • + Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc Công ty
  • + Hội đồng thành viên: 3 người
  • + Kiểm soát viên: 1 người hoạt động kiêm nhiệm
  • + Có 3 phòng nghiệp vụ: Tổ chức- Hành chính, Kinh tế và Kỹ thuật Sơ đồ tổ chức quản lý của Công ty theo sơ đồ 2.1  như sau :

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của IMC Quảng Trị

Công ty có 04 Xí nghiệp trực thuộc:

  1. Xí nghiệp thủy nông Nam Thạch Hãn: Quản lý hệ thống Nam Thạch Hãn, 6 trạm bơm (TB Hiền Lương, Trạm bơm Phước Lễ, Trạm bơm Quảng Điền, Trạm bơm Bắc Phước, Trạm bơm Ái Tử, Trạm bơm Trà Liên) và hệ thống ngăn mặn Việt Yên, cống xi phông An Tiêm. Phục vụ tưới tiêu cho huyện Hải Lăng, Triệu Phong và thị xã Quảng Trị.
  2. Xí nghiệp thủy nông Gio Cam Hà: Quản lý 9 hồ chứa (hồ Ái Tử, Trúc Kinh, Đá Mài, Tân Kim, Hà Thượng, Nghĩa Hy, Khe Mây, Trung Chỉ, Phú dụng); 9 trạm bơm (TB Vĩnh Phước, Trạm bơm Đông Giang, Trạm bơm Cam Lộ, Trạm bơm Hiếu Bắc, Trạm bơm Bến Ngự, Trạm bơm Nhỉ Hạ + Kỳ Lâm, Trạm bơm Thuỷ Khê, Trạm bơm Tân Minh, Trạm bơm Mò Ó) và các cống, đập ngăn mặn (đập ngăn Vĩnh Phước, cống ngăn mặn Mai Xá, cống ngăn mặn Xuân Hòa) thuộc huyện Gio Linh, TP Đông Hà. Phục vụ tưới tiêu cho huyện Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh, thành phố Đông Hà, huyện Đakrông – xã Mò Ó. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.
  3. Xí nghiệp thủy nông Vĩnh Linh: Quản lý 4 hồ chứa (hồ La Ngà, Bảo Đài, Bàu Nhum, Kinh Môn); 2 đập dâng (đập Sa Lung, Rú Lịnh); 5 trạm bơm (TB Xuân Long, Trạm bơm Cao Xá, Trạm bơm Kinh Môn, Trạm bơm Tiên Lai, Trạm bơm Bình An) và các cống, đập ngăn mặn (cống ngăn mặn Châu Thị, cống ngăn mặn Bến Tám) thuộc huyện Vĩnh Linh. Phục vụ tưới tiêu cho huyện Gio Linh và huyện Vĩnh Linh.
  4. Xí nghiệp Tư vấn đầu tư và xây dựng: Làm nhiệm vụ tư vấn đầu tư xây dựng các Công trình thủy lợi, giao thông trong và ngoài Công ty.

2.1.5. Tình hình lao động của Công ty IMC

Bảng 2.1 Tình hình lao động của Công ty ICM Quảng Trị năm 2016-2017

Tổng số lao động của IMC năm 2017 là 332 người, trong đó có 302 người làm nhiệm vụ Quản lý khai thác Công trình thủy lợi và 20 người làm tư vấn đầu tư xây dựng. Nhìn chung lực lượng lao động của Công ty được đào tạo bài bản: 59 người có trình độ đại học, 132 người có trình độ cao đẳng và trung cấp, 141 người có trình độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật, hoàn toàn đáp ứng năng lực theo quy định tại Thông tư số: 40/2011/TTBNNPTNT ngày 27/5/2011 của Bộ NN & PTNT Quy định năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia Quản lý khai thác Công trình thủy lợi.

2.2. Hiện trạng các Công trình thủy lợi do IMC quản lý

IMC Quảng Trị được UBND tỉnh Quảng Trị giao nhiệm vụ quản lý các Công trình thủy lợi trọng điểm của tỉnh; gồm 18 hồ đập vừa và lớn của tỉnh, có tổng dung tích trên 189,95 triệu m3 nước (trong đó có 02 đập dâng); 20 trạm bơm vừa và nhỏ với tổng công suất 1000kw; 07 cống ngăn mặn cùng với hệ thống kênh mương hơn 700 km trải dài trên diện rộng phục vụ tưới tiêu cho hơn 30.000 ha lúa của 8 huyện thị, chiếm hơn 70% diện tích tưới tiêu trên toàn tỉnh.

Tất cả các Công trình thủy lợi do Công ty quản lý (trừ sự cố tràn xã lũ Nam Thạch Hãn và đập Triệu Thượng 2) hiện đang hoạt động bình thường. Nhưng với đặc điểm các hệ thống Công trình thủy lợi do Công ty quản lý được xây dựng sau ngày đất nước thống nhất (đặc biệt có hồ chứa nước La Ngà xây dựng từ năm 1960) thời gian sử dụng trên 57 năm, phân bố trãi rộng trên địa bàn 8 huyện thị và thành phố trong toàn tỉnh. công trình đi qua nhiều vùng có địa hình, điạ vật và địa chất phức tạp, bao gồm cả vùng đồi núi trung du và đồng bằng. Đồng thời Quảng Trị là khu vực có khí hậu cực đoan khắc nghiệt, hàng năm về mùa mưa thường xuyên bị lũ lụt trên diện rộng, về mùa kiệt nắng nóng gay gắt kéo dài liên tục nhiều ngày. Do đó công trình thường ở trong tình trạng đối mặt với sự tàn phá lũ lụt, sự xâm thực mãnh liệt của môi trường thiên nhiên

Mặt khác kinh phí cho việc duy tu bảo dưỡng công trình của công ty quá hạn hẹp, nên hàng năm công ty không thể thực hiện việc duy tu bão dưỡng công trình theo đúng quy trình bảo trì, mới chỉ thực hiện duy tu sửa chữa công trình dừng ở mức vệ sinh kênh mương công trình, đào đắp xử lý khối lượng nhỏ để thông dòng chảy, hoặc tu sửa những hạng mục thiết yếu để phục vụ tưới tiêu. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Ngoài một số công trình mới được đầu tư xây dựng (Đá Mài, Tân Kim xây dựng năm 2009, đưa vào khai thác sử dụng năm 2014), nâng cấp (Hà Thượng được nâng cấp năm 2008; Triệu Thượng 1, Triệu Thượng 2 được dự án WB5 nâng cấp năm 2013; La Ngà, Trúc Kinh đang được dự án WB7 đầu tư nâng cấp). Các công trình còn lại qua thời dài khai thác sử dụng nhìn chung đã xuống cấp. Cụ thể hiện trạng như sau:

  • a) công trình đầu mối, các hồ chứa nước, đập dâng

Đập đất

Hầu hết các đập đất đang ổn định, song nhìn chung tồn tại một số sự cố và hư hỏng sau:

  • Hiện tượng thấm cục bộ qua thân đập và nền đập (như đập Nam Thạch Hãn, Kinh Môn, Bảo Đài, Nghĩa Hy, Phú Dụng,…) xảy ra từ nhiều năm nay. Mặc dù bị thấm nhưng qua theo dõi cho thấy công trình vẫn ổn định, nhưng đây là hiện tượng thấm bất thường đến nay vẫn chưa có điều kiện để xử lý.
  • Mái thượng lưu của các đập được gia cố bằng đá lát khan, nhưng do cát sỏi của tầng lọc ngược bị sóng nước cuốn trôi gây sụt lún, xô dịch mái đá tại một số vị trí.

Nhìn chung hiện nay mái đá lát thượng lưu các đập có dạng như mái đá đổ (như đập Kinh Môn, Ái Tử…).

  • Mặt đập: Hầu hết được gia cố bảo vệ bằng hỗn hợp cát sỏi, nhưng qua thời gian sử dụng do tác động của mưa gió đến nay mặt đập bị xuống cấp, có nhiều ổ gà khi mưa đọng nước, nên đi lại quản lý khó khăn. Phần bê tông gờ chắn mặt đập bị hư hỏng nặng.
  • Một số đập có tường chắn sóng bằng đá xây, lâu ngày mạch vữa xây bị xâm thực, phong hoá gây bong và nứt gảy nhiều đoạn.
  • Mái hạ lưu các đập có hiện tượng bị bào mòn xói trôi bề mặt. Nguyên nhân là do hệ thống rảnh thoát nước mặt trên mái hạ lưu bị hư hỏng nặng, về mùa mưa nước chảy tràn lan gây xói trôi đất.
  • Rảnh thoát nước chân mái hạ lưu đập bằng đá xây, lâu ngày mạch vữa bị phong hoá gây hư hỏng nặng
  • Thiết bị ống đo đường bảo hoà thân đập lâu ngày bị tắc, một số đập hiện nay không sử dụng được.

Cống áp lực

Tất cả các cống đang hoạt động và vận hành điều tiết được lưu lượng tưới theo yêu cầu, nhưng những sự cố hư hỏng ở các cống phổ biến như sau: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

  • Cửa cống đóng không kín nước, vận hành đóng mở nặng hoặc cánh cửa bị kẹt, đóng xuống không hết, nguyên nhân có thể do roăng cao su bị hỏng, các bánh xe chuyển động của cánh cửa bị han rỉ mất tác dụng làm tăng ma sát …gây đóng mở nặng.
  • Thiết bị đóng mở cống lạc hậu thường hay bị sự cố phải sửa chữa nhiều lần nhưng vẫn chưa đảm bảo.
  • Nhà tháp vận hành cống nứt nẽ hư hỏng, cầu công tác đã bị xuống cấp và hư hỏng cần được sửa chữa.

Tràn xả lũ

Đối với các tràn sâu cửa van cung thường bị hư hỏng roăng cao su dẫn đến rò rỉ nước, cần phải thay thế.

  • Đường cứu hộ cứu nạn (đường quản lý):

Đường cứu hộ cứu nạn của các cụm công trình đầu mối chủ yếu là đường đất tự nhiên hoặc một số ít có đổ đất cấp phối. Dưới tác động của thiên nhiên, của động vật và các phương tiện giao thông của nhân dân trong vùng làm cho các tuyến đường xuống cấp trầm trọng, mặt đường vô số ổ gà, nền đường bị lún … ( như đường cứu hộ cứu nạn đập Kinh Môn, Bảo Đài, Ái Tử….),vào mùa mưa lũ mặt đường bị lầy thụt chia cắt nhiều đoạn gây rất nhiều khó khăn cho việc đi lại, thậm chí có đường về mùa mưa lũ bị nước ngập không đi lại được (như đường vào đập Kinh Môn).

  • Về Hồ chứa:

Hầu hết các hồ chứa do Công ty Quản lý khai thác đều được thiết kế và xây dựng từ thập kỷ 80 của thế thế kỷ 20. Lúc bấy giờ theo Tiêu chuẩn thiết kế cũ các công trình hồ chứa nước nói trên được tính toán phòng lũ chỉ theo 1 tần suất thiết kế, và các hệ số cho phép tính toán ổn định cho đập, tràn có giá trị nhỏ, đến nay không phù hợp với tiêu chuẩn thiết kế mới, không phù hợp với tình hình Biến đổi khí hậu ngày càng có xu hướng bất lợi. Đến nay các hồ chứa cơ bản đã được đầu tư nâng cấp, sửa chữa, cụ thể như sau:

Năm 2014, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã được đầu tư xây dựng mới 02 Công trình thủy lợi là Hồ Đá Mài với dung tích là 8.271 triệu m3 nước và công trình Hồ Tân Kim với dung tích là 6.113 triệu m3 nước. Hai công trình này đưa vào sử dụng đã tạo nguồn, tưới cho hơn 1.300 ha lúa và hoa màu trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Bảng 2.2. Hiện trạng các công trình hồ, đập trên địa bàn tỉnh năm 2017

Một số hồ chứa đã được sự quan tâm của Bộ NN & PTNT trong thời gian qua đã được đầu tư nâng cấp theo tiêu chuẩn thiết kế mới như hồ Hà Thượng, hồ Bàu Nhum, Nghĩa Hy, Khe Mây, Trung Chỉ, La Ngà, Trúc Kinh… với các công việc chính: phải nâng cao trình đỉnh đập và mở rộng tràn xã lũ, gia cố mái thượng, hạ lưu, nâng cấp công lấy nước nên đã phát huy tốt hiệu quả đầu tư. Các hồ còn lại chưa được nâng cấp đầu tư theo tiêu chuẩn mới về an toàn đập nên tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn đập.

Các hồ đập của công ty quản lý từ ngày được xây dựng đến nay chưa được kiểm định an toàn đập (Hầu hết đập được xây dựng trên 15 năm), nhằm có cơ sở nâng cấp sửa chữa an toàn Hồ chứa theo tiêu chuẩn thiết kế hiện hành.

Đối với hệ thống cống ngăn mặn giữ ngọt và các công trình khác, toàn tỉnh đến nay có 14 công trình cống ngăn mặn giữ ngọt và 25 Công trình thủy lợi khác, trong đó có 7 công trình cống ngăn mặn giữ ngọt do công ty quản lý và 7 công trình do địa phương quản lý. Các công trình cống ngăn mặn, giữ ngọt đều phát huy hiệu quả ngăn mặn, giữ ngọt tốt. Công tác vận hành cống cũng khá đơn giản tuy nhiên hiện tại có 6 công trình xuống cấp, cần đầu tư sửa chữa. Giai đoạn 2011-2016, tỉnh đã đầu tư nâng cấp 110,50km/164,70km đê ngăn lũ, đê sông, đê bao, bờ bao các loại chống xâm nhập mặn, ngăn lũ tiểu mãn, lũ sớm để bảo vệ sản xuất. 155 cống tiêu kết hợp với trạm bơm tiêu nước cho 7.500 ha. Xây dựng 42,58km/102,42km kè bảo vệ, chống sạt lỡ bờ sông, bờ biển, 197 công trình cấp nước tập trung phục vụ cấp nước cho 429.748 người dân.

  • b) công trình kênh mương do công ty quản lý

Với đặc điểm kênh mương trãi dài trên diện rộng, phân bố trên địa bàn 8 huyện thị, hàng năm thường xuyên bị lũ lụt tàn phá, bồi lấp. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Thực hiện chương trình Kiên cố hóa kênh mương, từ năm 1999 đến nay tất cả các kênh chính, kênh cấp 1, cấp 2 của các hệ thống Nam Thạch Hãn, Ái Tử, Nghĩa Hy, Đá Mài +Tân Kim, Trúc Kinh, Hà Thượng, Kinh Môn, Là Ngà, Bảo Đài, Bàu Nhum đều đó được kiên cố hóa. Riêng các hệ thống nhỏ mới đầu tư kiên cố hóa các kênh chính, cấp 1 (có phụ lục kèm theo). Hệ thống kênh mương nội đồng từ kênh cấp 3 trở xuống do địa phương quản lý đạt tỷ lệ Kiên cố hóa thấp. Sau khi nâng cấp xây dựng các công trình đều phát huy tác dụng rất tốt như : Độ ổn định và bền vững của công trình được nâng cao, giảm tổn thất đầu nước, nâng cao khả năng tưới tự chảy, giảm thời gian tưới, tiết kiệm nước. Trong qua trình tưới đã hạn chế đáng kể các hư hỏng đột xuất và giảm chi phí cho công tác duy tu bảo dưỡng và vận hành hàng năm. Tuy nhiên do Quảng Trị nằm trong vùng có khí hậu khắc nghiệt, hàng năm thường xuyên bị bão lụt tàn phá, đồng thời do thiếu vốn nên hàng năm chỉ duy tu bảo dưỡng cầm chừng. Vì thế qua hơn 10 năm sử dụng công trình đã có dấu hiệu xuống cấp. Đối với các tuyến kênh được gia cố bằng tấm lát (như kênh chính Trúc Kinh, Ái Tử, Trạm bơm Cam Lộ …) về mùa mưa lũ những đoạn kênh đào thường bị sạt lỡ tấm lát mái trong, nguyên nhân trượt sạt do mực nước ngầm dâng cao gây áp lực trượt sạt mái.

Hầu hết kênh chỉ được gia cố mái trong, còn mái ngoài và bờ chưa được gia cố, nên những đoạn kênh đắp nổi đi qua vùng địa chất kém, vùng đất cát về mùa mưa lũ thường bị sạt mái ngoài, vỡ bò kênh. Do mái kênh lát tấm lát không chít mạch, nên cỏ cây vẫn mọc trong lòng kênh, khi tưới phải thường xuyên vệ sinh. Công tác nạo vét sửa chữa gặp nhiều khó khăn.

Bảng 2.3. Hiện trạng hệ thống kênh mương trên địa bàn tỉnh năm 2017

Cùng với việc nâng cấp và xây dựng mới các công trình đầu mối, việc hoàn chỉnh hệ thống kênh mương được đầu tư xây dựng với tổng chiều dài 2.126 km, trong đó tính đến năm 2017 đã kiên cố hoá được 1.071 km. Còn lại 1.055 km chưa được kiên cố. Như vậy tỷ lệ kiên cố các loại đạt bình quân đạt 50,36%. Trong đó loại I được kiên cố cao nhất là 90,12% và loại II đã kiên cố đạt tỷ lệ 77 ,43%.

  • CT trạm bơm

Hầu hết các trạm bơm do Công ty Quản lý khai thác hiện nay đều được xây dựng trên 20 năm. Các thiết bị: Máy bơm, động cơ, ống hút, ống xã.. qua thời gian dài sử dụng đến nay đã có một số động cơ bị hư hỏng, ống hút ống xã bị han rỉ. Các nhà trạm bơm hầu hết đã bị xuống cấp gây nhiều khó khăn cho công tác vận hành, quản lý.

  • CT ngăn mặn, giữ ngọt và tiêu úng Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Trên địa bàn Quản lý của đơn vị gồm có 07 công trình ngăn mặn giữ ngọt và hệ thống kênh tiêu úng. Những công trình này được đầu tư xây dựng từ những năm 90 trở về trước. Năm 2012 và 2013 được sự quan tâm của nhà nước một số công trình ngăn mặn đã được đầu tư sửa chữa nâng cấp gồm: cống ngăn mặn Châu Thị; cống ngăn mặn Việt Yên; đập ngăn Vĩnh Phước; cống ngăn mặn Bến Tám, hiện nay các công trình này hoạt động tốt, số còn lại đã xuống cấp. Các công trình ngăn mặn đã vận hành đảm bảo quy trình, những năm qua không có trường hợp mặn xâm nhập sâu vào nội đồng gây ảnh hưởng Sản xuất nông nghiệp. Hàng năm các cống đập đã giữ ngọt đảm bảo đủ lượng nước cho các HTX bơm tạo nguồn.

Hệ thống tiêu úng trong thời gian qua đã phút huy hiệu quả cao, như kênh tiêu Tân Bích (Kinh Môn); Kênh tiêu Hói Sòng (Trúc Kinh); Kênh tiêu T1, T2 Hà Thượng… đã tiêu tự chảy tốt không gây ngập úng lúa. Tuy nhiên qua thời gian sử dụng kênh bị bồi lấp và cỏ cây mọc trong lòng kênh nhiều, đồng thời Công ty thiếu kinh phí chưa được đầu tư nạo vét, nên việc tiêu thoát úng sẽ gặp khó khăn.

Ngoài ra, tỉnh Quảng Trị còn có hệ thống đê điều toàn tỉnh với tổng chiều dài 165 km, trong đó đã đầu tư nâng cấp, sữa chữa được 110 km đê; có 42,58km kè bảo vệ đã được xây dựng; ó 155 cống tiêu dưới đê, chủ yếu được xây dựng từ năm 1993 đến năm 2010 và một công trình điều tiết tham gia giảm lũ cho hạ du là Hồ Thủy lợi thủy điện Quảng

  • Chi cục Thủy lợi và Phòng, chống lụt bão – Sở NN&PTNT

SNN&PTNT là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương về: NN; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thuỷ sản; Thủy lợi và phát triển nông thôn; phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thuỷ sản và muối trong quá trình sản xuất đến khi đưa ra thị trường; về các dịch vụ công thuộc ngành NN&PTNT và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật.

Chi cục Thủy lợi là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn; giúp Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Thủy lợi và phòng, chống lụt bão trên địa bàn tỉnh. Chi cục Thủy lợi có tư cách pháp nhân, có trụ sở làm việc, có con dấu riêng và được mở tài khoản để hoạt động.

  • IMC Quảng Trị: Được UBND tỉnh thành lập và là Doanh nghiệp hạng II, hoạt động công ích với nhiệm vụ: Quản lý khai thác toàn bộ các Công trình thủy lợi trọng điểm của Tỉnh.
  • UBND huyện/thành phố/thị xã và Phòng NN & PTNT/ Kinh tế huyện, thị.
  • UBND huyện/ thành phố/ thị xã thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi trên địa bàn huyện/ thành phố/ thị xã. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Phòng NN & PTNT huyện, phòng Kinh tế thành phố, thị xã có chức năng tham mưu cho UBND huyện, thành phố, thị xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Thủy lợi trên địa bàn huyện, thành phố, thị xã. Phòng có nhiệm vụ đôn đốc các chủ quản lý Công trình thủy lợi thường xuyên kiểm tra theo dõi công trình, thực hiện báo cáo định kỳ về tình hình khai thác sử án dụng công trình, và các hình thức tổ chức và hoạt động của các WUOs phù hợp với điều kiện ở địa phương.

  • UBND xã/phường/thị trấn – Cán bộ phụ trách NN và Thủy lợi xã

UBND xã thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi trên địa bàn xã. UBND xã có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của các Tổ chức Hợp tác dùng nước. UBND xã thực hiện xây dựng hoàn chỉnh công tác quy hoạch Thủy lợi, quy hoạch hệ thống kênh mương nội đồng, quy hoạch vùng sản xuất trên địa bàn toàn xã, phường, thị trấn. Xây dựng phương án phòng chống thiên tai, hạn hán, bảo vệ công trình cho từng công trình, hệ thống Công trình thủy lợi trên địa bàn, động viên người dân tham gia nghĩa vụ công ích khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt, hạn hán, đảm bảo phục vụ công tác tưới tiêu, ổn định tình hình sản xuất theo đúng lịch thời vụ cũng như kế hoạch diện tích gieo trồng. Cán bộ phụ trách NN và Thủy lợi xã thực hiện chức năng theo dõi giám sát việc quản lý các Công trình thủy lợi được phân cấp quản lý trên địa bàn xã. Đôn đốc các chủ công trình thường xuyên kiểm tra theo dõi công trình, thực hiện báo cáo định kỳ về tình hình khai thác sử dụng công trình, phê duyệt phương án Phòng chống lụt bão, phương án bảo vệ công trình, các dự án đầu tư nâng cấp công trình.

Mô hình các Tổ chức dùng nước trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

  • Mô hình Ban QLTN huyện

Mô hình Ban QLTN huyện được huyện Hướng Hóa và huyện Đakrông áp dung. Ở 2 huyện này, Ban QLTN huyện trực thuộc Phòng NN & PTNT, thực hiện chức năng Quản lý khai thác Công trình thủy lợi.

Ban QLTN huyện có trách nhiệm điều hành hành các tổ quản lý Công trình thủy lợi tại các thôn, bản nhằm đảm bảo đồng bộ và nâng cao năng lực tưới tiêu cho đồng bào miền núi và quản lý, diều phối nguồn Thủy lợi phí cấp bù cho các Công trình thủy lợi nhỏ độc lập trên địa bàn huyện.

Ban QLTN huyện hưởng lương kiêm nhiệm trích từ nguồn Thủy lợi phí cấp bù của nhà nước.

  • Mô hình Liên hiệp Hội dùng nước Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Có 04 mô hình Liên hiệp hội dùng nước được thành lập trong dự án ADB4- Dự án hỗ trợ Thủy lợi miền Trung tại hệ thống thủy nông Nam Thạch Hãn. Do đặc thù ở hệ thống Nam Thạch Hãn là có rất nhiều kênh cấp II phục vụ tưới cho liên thôn và liên xã, trong khi hầu hết các HTXNN lại được thành lập theo quy mô thôn, nên mô hình “Liên hiệp hội dùng nước kênh cấp II liên thôn, liên xã”, trong đó các hội dùng nước là các HTXNN được thành lập ở đây.

Mô hình Liên hiệp Hội dùng nước kênh liên thôn/liên xã là dạng tổ chức “mềm”, không có con dấu, tài khoản riêng, là tổ chức để phối hợp điều hành các HTXNN thành viên theo tuyến kênh cấp II liên thôn, liên xã.

Tuy là dạng Liên hiệp Hội dùng nước nhưng là một tổ chức quản lý vận hành hiệu quả các tuyến kênh cấp II liên thôn, nhất là liên xã. Bộ máy gọn nhẹ, phát huy được hoạt động của các HTXNN hiên nay, đồng thời có sự hợp tác, điều hành để quản lý các tuyến kênh cấp II liên thôn, liên xã theo ranh giới thủy lực.

Có quy chế hoạt động QLTN để phối hợp điều hành phân phối nước, duy tu và bảo vệ công trình là yếu tố quan trong để phát huy hiệu lực quản lý thủy nông.

  • Mô hình Hợp tác xã dịch vụ NN

Các HTXNN hiện nay đã và đang được chuyển đổi theo Luật HTX năm 2012, có đầy đủ tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản để hoạt động.

HTXNN có điều lệ và quy chế hoạt động do người dân tham gia xây dựng được thông qua tại đại hội người dùng nước và được UBND huyện phê chuẩn. Tuy nhiên, hầu hết các HTXNN đều không có quy chế hoạt động quản lý thủy nông.

HTXNN có 2 nguồn thu chủ yếu là từ nguồn Thủy lợi phí cấp bù và thu phí Thủy lợi nội đồng từ người dân. Nhìn chung các nguồn thu chỉ đủ chi trả cho công tác vận hành điều tiết nước, không đảm bảo chi duy tu và bảo dưỡng Công trình thủy lợi.

  • Mô hình Tổ hợp tác

Tổ hợp tác được các địa phương thành lập hoặc chuyển đổi từ các mô hình tổ thủy nông thôn, bản trong vài năm gần đây. Mô hình này tổ chức hoạt động theo Nghị định số 151/2007/NĐ-CP về “tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác” .

  • Tổ hợp tác hoạt động dựa trên hợp đồng hợp tác, là thỏa thuận bằng văn bản giữa các tổ viên.
  • UBND cấp xã chứng thực (ký xác nhận, đóng dấu) vào hợp đồng hợp tác.
  • Hầu hết các Tổ hợp tác không thu phí Thủy lợi nội đồng mà chỉ trong chờ vào nguồn cấp bù Thủy lợi phí của nhà nước.

2.3.2. Thực trạng công tác quản lý Công trình thủy lợi Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

2.3.2.1. Tình hình phân cấp quản lý Công trình thủy lợi

Phân cấp Quản lý khai thác Công trình thủy lợi là một trong những nội dung trọng tâm trong công tác Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi. Trong thời gian qua, chính sách phân cấp Quản lý khai thác Công trình thủy lợi đã được triển khai thực hiện tại hầu hết các địa phương trên toàn quốc. Mặc dù còn những hạn chế nhất định, nhưng việc thực hiện chính sách phân cấp Quản lý khai thác Công trình thủy lợi ở nước ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Để tổ chức thực hiện có hiệu quả Thông tư 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12 tháng 10 năm 2009 của Bộ NN&PTNT về hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp Quản lý khai thác Công trình thủy lợi, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành quyết định số 268/QĐ- UBND ngày 21 tháng 2 năm 2012 về việc ban hành quy định hướng dẫn phân cấp quản lý Công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh.

  • Hiện tại, UBND tỉnh đã và đang chỉ đạo các ban ngành, địa phương thực hiện các quy định và hướng dẫn này. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã hướng dẫn các địa phương, IMC Quảng Trị xây dựng danh mục các Công trình thủy lợi được phân cấp, quy mô cống đầu kênh cụ thể từng công trình, thẩm định trình xin UBND tỉnh phê duyệt.
  • IMC Quảng Trị chủ trì, phối hợp với các huyện, thành phố, thị xã và các đơn vị liên quan xây dựng danh mục các Công trình thủy lợi, các tuyến kênh phân cấp, vị trí các cống đầu kênh của Tổ chức Hợp tác dùng nước trình Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn thẩm định, trình UBDN tỉnh phê duyệt.
  • Sở NN&PTNT, Chi cục Thủy lợi, Sở Tài chính, UBND huyện, UBND xã, IMC Quảng Trị và các đơn vị được phân cấp quản lý Công trình thủy lợi, kênh mương thực hiện nhận và bàn giao công trình theo theo quyết định của UBDN tỉnh, xác định mốc giới bàn giao tại thực địa.
  • Sau khi đi thực địa xong, về họp lập biên bản bàn giao, có xác nhận đầy đủ của các thành phần tham gia.

Bảng 2.4. Tiêu chí phân cấp quản lý công trình Thủy lợi tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2010-2020

  • SNN&PTNT hướng dẫn các địa phương thành lập, củng cố, kiện toàn TCDN, nâng cao năng lực của các tổ chức này để Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi được giao phát huy hiệu quả.
  • Hàng năm, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn có kế hoạch để kiểm tra thường xuyên, định kỳ công trình và tổ chức đào tạo, tập huấn cho người trực tiếp vận hành, bảo vệ công trình.
  • Các đơn vị, tổ chức, cá nhân được phân cấp Công trình thủy lợi phải vận hành an toàn và khai thác Công trình thủy lợi có hiệu quả, bảo đảm các yêu cầu phòng, chống, suy giảm, cạn kiệt, khắc hục hậu quả lũ, lụt, hạn hán, ô nhiễm nguồn nước và các tâc hại khác do nước gây ra. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Theo tiêu chí phân cấp của tỉnh Quảng Trị, IMC Quảng trị phải thực hiện bàn giao 05 Công trình thủy lợi cho địa phương quản lý. Đồng thời, IMC Quảng Trị sẽ được nhận bàn giao từ các địa phương 58 Công trình thủy lợi để quản lý. Kết quả bàn giao thể hiện ở Bảng sau.

Hiện nay, IMC chỉ mới nhận bàn giao từ địa phương 12 công trình (5 hồ chứa, 1 đập dâng và 6 trạm bơm điện), trong đó có 4 trạm bơm điện không thuộc tiêu chí phân cấp quản lý cho IMC. Các Công trình thủy lợi IMC được nhận bàn giao cụ thể như sau:

Bảng 2.5. Kế hoạch bàn giao phân cấp Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đến năm 2017

Như vậy, kết quả thực hiện phân cấp của tỉnh Quảng Trị đến nay cho thấy hiện nay hầu hết các Công trình thủy lợi vẫn chưa được bàn giao, cụ thể như sau:

Còn 5 trạm bơm IMC Quảng Trị không thể bàn giao cho các địa phương do 4/5 TCDN chưa đủ năng lực theo quy định của thông tư 40 của Bộ NN&PTNT để tiếp nhận công trình được phân cấp để quản lý và khai thác có hiệu quả (trạm bơm Ái Tử, Đông Giang, Bình An và Tân Minh) và trạm bơm Tiên Lai tưới cho cả hai HTXNN (Tiên Lai và Lâm Đặng).

Bảng 2.6. Danh mục Công trình thủy lợi các địa phương đã bàn giao cho IMC đến năm 2017

50 công trình các địa phương chưa bàn giao cho IMC gồm 23 hồ chứa, 27 trạm bơm. Trong số 23 hồ chứa có 11 hồ có dung tích trên 1triệu m3, trong số 27 trạm bơm điện có 3 trạm bơm có diện tích tưới trên 150 ha. Hiện nay các địa phương không muốn bàn giao các Công trình thủy lợi này cho IMC quản lý vì nhiều công trình được địa phương đầu tư xây dựng (nhà nước chỉ hỗ trợ một phần) nên địa phương không muốn chuyển lên cho IMC, trong trường hợp vẫn phải chuyển giao IMC, phải có nguồn tài chính chi trả chi phí đầu tư, xây dựng công trình cho địa phương. Mặt khác, các địa phương cũng muốn giữ các Công trình thủy lợi đang hoạt động ổn định trên địa bàn để được hưởng kinh phí cấp bù Thủy lợi phí hàng năm.

Để thực hiện quy định phân cấp Công trình thủy lợi, IMC đã bàn giao cho các địa phương 413 tuyến kênh với tổng chiều dài 311.109,7 m.

Hiện nay vẫn còn 96 tuyến kênh với tổng chiều dài 144.306m mà IMC chưa thể bàn giao cho các địa phương vì các tuyến kênh này đang tưới cho từ 02 đơn vị dùng nước trở lên. Trong số 96 tuyến kênh này chỉ có 15 tuyến kênh có diện tích quy mô phục vụ trên 100 ha. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Bảng 2.7. Tình hình phân cấp hệ thống kênh mương trên địa bàn tỉnh đến năm 2017

Mặt khác, với việc nhận lại hồ chứa, trạm bơm từ địa phương, IMC cũng phải nhận bàn giao một số tuyến kênh chính lớn như kênh chính hồ chứa nước Triệu Thượng 1 và Triệu Thượng 2 (tưới 3 hợp tác xã), kênh chính đập dâng Sa Lung (tưới 300 ha).

2.3.2.2. Công tác quản lý an toàn hồ đập

Hiện nay, Công ty đang quản lý 18 hồ đập vừa và lớn của tỉnh, có tổng dung tích trên 189,95 triệu m3 nước. Do đó công tác quản lý các hồ đập phải được đảm bảo tuyệt đối an toàn trong mùa mưa lũ và tích đủ nước phục vụ dân sinh là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của Công ty. Đầu mối các hồ đập được bố trí đủ người quản lý, lực lượng quản lý có trình độ chuyên môn theo đúng quy định tại Thông tư 40/2011/TTBNN&PTNT. Công tác tuần tra, kiểm tra hồ đập được thực hiện thường xuyên theo quy định; đặc biệt trong mùa mưa lũ tổ chức trực, tuần tra 24h/24h. Tất cả các hồ chứa thuộc Công ty quản lý đều có quy trình xã lũ do UBND tỉnh phê duyệt. Hàng năm trước mùa mưa lũ đều tổ chức kiểm tra hiện trạng công trình và cho tu sửa những điểm xung yếu. Công tác vận hành xã lũ được Công ty thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn hồ đập, không ảnh hưởng đến dân cư sinh sống vùng hạ du.

Tuy vậy, các hệ thống công trình do Công ty quản lý được xây dựng qua nhiều giai đoạn khác nhau đa dạng về hình thức đầu tư, hầu hết các hồ đập xây dựng trên 20 năm chưa được kiểm định an toàn đập, chưa được cắm mốc chỉ giới bảo vệ đầy đủ, nhiều hồ đập vẫn đang còn sử dụng quy trình vận hành điều tiết tạm thời (Trong số 18 hồ và đập dâng do Công ty quản lý có 11 hồ đập đã có quy trình vận hành chính thức đã được UBND tỉnh phê duyệt, còn 07 công trình chưa có quy trình vận hành chính thức) và phần lớn hồ đập chưa có phương án phòng, chống lũ lụt cho vùng hạ du (Bảng 2.8).

Một số hệ thống công trình từ khi đưa vào khai thác sử dụng thiếu số liệu quan trắc, đo đạc các thông số cần thiết để đánh giá trạng thái hoạt động của công trình như đo biến dạng, đo lún, đo thấm, quan trắc các tài liệu khí tượng thủy văn… Nên công tác quản lý an toàn hồ đập còn gặp nhiều khó khăn. Để đối phó có hiệu quả với tình hình Biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng khó lường, bên cạnh việc tổ chức trực bảo vệ, kiểm tra, quan trắc hồ đập theo đúng quy định, công ty đã lập các kế hoạch kiểm định an toàn đập, lập quy trình vận hành điều tiết, cắm mốc chỉ giới bảo vệ công trình, kế hoạch ứng phó khẩn cấp, phòng lũ cho vùng hạ du hồ đập (EPP). Tuy nhiên, do thiếu nguồn kinh phí nên đến nay Công ty vẫn chưa thực hiện được các kế hoạch trên.

Hàng năm, Công ty đều chỉ đạo các Xí nghiệp xây dựng kế hoạch duy tu bảo dưỡng, kế hoạch tưới tiêu cho từng hệ thống, nhưng kế hoạch này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nhiều năm, chưa có định mức tiêu thụ nước cho từng vùng, từng vụ chuẩn xác để áp dụng. Việc thực hiện phân chia nước nhiều nơi còn theo yêu cầu của người dân, chưa có quy trình. Nhiều vùng nước chảy vào ruộng liên tục từ đầu vụ đến cuối vụ vì không có cống điều tiết, nên lãng phí nước rất lớn.

Bảng 2.8. Tình hình lập quy trình vận hành điều tiết và các sự cố về an toàn các công trình hồ, đập do Công ty quản lý từ 2015 đến 2017 Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Qua các năm thực hiện, hầu hết các CTTL do Công ty  quản lý  hiện đang hoạt động bình thường, trừ 02 sự cố công trình vào năm 2016. Đó là sự cố công trình sạt trượt mái thượng lưu hồ Triệu Thượng 2 và sự cố vỡ sân tiêu năng tràn xả lũ Nam Thạch Hãn (Bảng 2.8). Cả hai sự cố trên đều xuất phát từ các nguyên nhân không liên quan đến việc thực hiện công tác quản lý, vận hành công trình của Công ty mà chủ yếu do các yếu tố khách quan về thời tiết và điều kiện địa chất công trình. Tuy vậy, có một phần nguyên nhân chủ quan là do công trình Nam Thạch Hãn từ khi được đưa vào sử dụng vào năm 1980 đến nay (trên 37 năm) nhưng vẫn chưa được tổ chức kiểm định an toàn đập, dẫn đến trong quá trình quản lý, khai thác Công ty không thể phát hiện ra những khiếm khuyết, hư hỏng ngầm ở trong phần khuất của công trình, cũng như cập nhật kịp thời các số liệu về lưu vực, chế độ dòng chảy. Sau khi sự cố xảy ra, UBND tỉnh đã đồng ý cho Công ty tổ chức kiểm định an toàn đập đối với công trình đầu mối Năm Thạch Hãn. Hiện nay, công tác kiểm định đã thực hiện xong và đang chờ cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2.3.2.3. Tình hình khai thác các Công trình thủy lợi của Công ty

Các hồ dung tích trữ từ 10 triệu m3 nước trở lên cơ bản bảo đảm an toàn trong mùa mưa lũ; một số hồ có dung tích từ 3 đến 10 triệu m3 nước đang bị hư hỏng cần được lưu ý; đáng quan tâm nhất là các hồ có dung tích nhỏ hơn 3 triệu m3 nước, do số lượng công trình bị hư hỏng rất lớn, một số bị hư hỏng nghiêm trọng và chủ đập không đủ năng lực quản lý (chủ đập là UBND xã).

Tuy nhiên theo kết quả điều tra của Tổng Cục Thủy lợi, Bộ NN& PTNT cho thấy mức đảm bảo an toàn của hồ chứa chưa cao, cụ thể: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Mô hình thiết kế lũ không còn phù hợp với tình hình mưa lũ hiện nay. Đặc biệt là rừng đầu nguồn bị phá đã làm cho dòng chảy tập trung nhanh hơn, tài liệu sử dụng tính toán thiết kế còn ngắn, thậm chí không có dẫn đến các giá trị thiết kế có thể thiên bé, không phản ánh đúng thực tế mưa lũ đe doạ an toàn đập về mùa mưa, thiếu nước về mùa khô làm cho hồ không phục vụ tốt mục tiêu cấp nước. Qua số liệu số hồ chứa loại lớn gần đây được đầu tư sửa chữa thì hầu hết tràn xả lũ đều phải mở rộng tăng từ 1,5 – 2 lần trong đó có khoảng 15 % thuộc hồ có dung tích trên 10 triệu m3.

Hầu hết số đập hiện có ở Quảng Trị là đập đất và phần lớn được xây dựng trong thời gian chiến tranh với điều kiện vật tư khó khăn, thi công bằng thủ công, gấp rút nên chất lượng đập chưa đảm bảo, đặc biệt có những hồ đã được xây dựng trên 70 năm… Vì vậy, hầu hết đập của hồ chứa đều có hiện tượng thấm nghiêm trọng, đe doạ đến an toàn của đập.

Việc khôi phục, sửa chữa, nâng cấp đập tiến hành theo các quy định về quản lý đầu tư xây dựng hiện hành. Hiện nay còn hồ, đập Thủy lợi bị hư hỏng nặng không đảm bảo an toàn nhưng các địa phương đều gặp khó khăn về kinh phí bố trí để sửa chữa đang đề nghị Chính phủ hỗ trợ.

Trước nguy cơ hạn hán tiếp tục xảy ra, toàn ngành đã quán triệt thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Chỉ thị của Bộ NN và PTNT đồng thời tham mưu cho UBND tỉnh tăng cường các giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn năm 2016, đối phó với ảnh hưởng của El Nino; xây dựng các phương án tổ chức sản xuất ứng phó với hạn hán vụ Đông Xuân 2015-2016 và vụ Hè Thu 2016 và các năm tiếp theo đảm bảo đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh và đời sống người dân.

Bảng 2.9. Tình hình khai thác các công trình hồ chứa, đập dâng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2015 – 2017

Bảng 2.9, tổng dung tích hồ chứa các công trình hồ chứa, đập dâng trên địa bàn toàn tỉnh vào khoảng 189,95 triệu m3. Tỷ lệ khai thác các công trình lên đến 93,95% năng lực thiết kế. Đây là tỷ lệ lớn so với nhiều địa phương khác trong nước. Một số công trình có năng lực khai thác vượt thiết kế như Hồ chứa Hà Thượng (179,41%), Hồ chứa Kinh Môn (125,37%), Hồ chứa La Ngà (115,26), Hồ chứa Bàu Nhum (137,59).

Một số công trình có lực khai thác thấp hơn thiết kế như Hồ chứa Khe Mây (39,5%), Hồ chứa Nghĩa Hy (42%), Hồ chứa Trúc Kinh (72%), Hồ chứa Rú Lịnh (77,78%), đặc biệt Hồ chứa Đá Mài và Hồ chứa Tân Kim có năng lực khai thác rất thấp, chỉ đạt 12,09% và 13,5% tương ứng. Vì vậy trong thời gian đến cần đầu tư thêm nguồn vốn hoàn thiện các hạng mục kênh mương nội đồng, cải tạo đồng ruộng mở rông diện tích để đưa vào sử dụng phục vụ nước tưới cho NN và địa phương.

Bảng 2.10. Tình hình khai thác trạm bơm trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015 – 2017

Bảng 2.10 cho thấy, hầu hết các trạm bơm đều có tỷ lệ khai thác rất thấp, bình quân chung chỉ đạt 75,02%. Nguyên nhân chính là do nhiều yếu tố như giá thành cao, hệ thống kênh mương hạn chế, điều kiện sử dụng khó khăn, đặc biệt mùa hạn nhiều trạm bơm hết nước để hoạt động. Chính những lý do này làm hạn chế công suất thực tế của các trạm bơm.

2.3.2.4. Tình hình đầu tư xây dựng mới, nâng cấp sữa chữa, duy tu bảo dưỡng các CTTL do công ty quản lý Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

  • Công tác đầu tư xây dựng mới

Nhờ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, năm 2014, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã được đầu tư xây dựng 2 Công trình thủy lợi là Hồ Đá Mài 66,13 tỷ, với dung tích là 8.271 triệu m3 nước và công trình Hồ Tân Kim 41,75 tỷ với dung tích là 6.113 triệu m3 nước. Hai công trình này đưa vào sử dụng đã tưới cho hơn 1.300 ha lúa và hoa màu trên địa bàn huyện Cam Lộ và thành phố Đông Hà.

  • Công tác nâng cấp, sửa chữa công trình

Bảng 2.11. Hệ thống các công trình hồ đập được đầu tư nâng cấp, sửa chữa trên địa bàn tỉnh do Công ty quản lý giai đoạn 2014-2016

Từ năm 2014 đến nay, do nguồn cấp bù miễn Thủy lợi phí hạn chế nên Công ty hầu như không có kinh phí bố trí cho sửa chữa lớn công trình. Trước tình hình đó, các năm qua UBND tỉnh phân bổ các nguồn vốn Trung ương hỗ trợ và nguồn vốn dự án ODA để nâng cấp, sửa chữa lớn các công trình. Các hệ thống công trình đầu mối được đầu tư nâng cấp sửa chữa từ năm 2014 đến 2017 với tổng kinh phí khoảng 252,7 tỷ đồng, bao gồm: Hồ Trúc Kinh (dung tích: 39,0 triệu m3– Dự án WB7), La Ngà (dung tích: 36,0 triệu m3Dự án WB7); Hồ Triệu Thượng 1 (dung tích: 4,1 triệu m3-Dự án WB5), hồ Triệu Thượng 2 (dung tích: 4,3 triệu m3-Dự án WB5); Thay thế đập cao su đầu mối Nam Thạch Hãn (dung tích: 10 triệu m3).

  • c) Công tác kiên cố hóa kênh mương

Kiên cố hoá kênh mương: Trong những năm qua được ngân sách tỉnh bố trí 32 tỷ đồng để kiên cố hoá kênh mương loại 1 và loại 2, Công ty đã kiên cố được 41 tuyến kênh với chiều dài là 24 km.

Bảng 2.12. Tình hình kiên cố hóa kênh mương trên địa bàn do Công ty thực hiện đến năm 2017

Các kênh được kiên cố hoá tải nước tốt, rút ngắn thời gian tưới góp phần tiết kiệm nước. Đến nay hệ thống kênh mương của Công ty quản lý đã kiên cố được 285 km, đạt 79%.

Ngoài ra, từ các nguồn vốn dự án ODA, nguồn vốn ngân sách do cấp huyện quản lý, hệ thống kênh mương đã được đầu tư nâng cấp giai đoạn 2015-2017 với tổng kinh phí khoảng 211,2 tỷ đồng, tổng chiều dài kênh được nâng cấp khoảng 322 km.

Với thực trạng công tác duy tu sửa chữa như trên, những năm qua nhìn chung công trình vẫn đủ năng lực để phục vụ tưới tiêu. Tuy nhiên nếu các hư hỏng công trình không được sửa chữa kịp thời, không được sửa chữa triệt để thì lâu ngày tích tụ thành hư hỏng lớn gây xuống cấp công trình và sẽ ảnh hưởng đến công tác an toàn hồ đập và công tác phục vụ tưới tiêu.

Bảng 2.13. Hệ thống các công trình kênh mương được đầu tư nâng cấp, sửa chữa giai đoạn 2015-2017 từ các nguồn vốn khác

  • d) Công tác duy tu bảo dưỡng Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Để thực hiện duy tu bảo dưởng nâng cấp công trình theo quy trình vận hành bảo trì, thì định mức kinh phí hàng năm lấy theo Quyết định 211/1998/QĐ-BNN-QLN (về ban hành quy định về chế độ sử dụng chi phí cho sửa chữa thường xuyên TSCĐ của doanh nghiệp khai thác Công trình thủy lợi) khoảng 9 tỷ đồng.

Nhưng do nguồn cấp bù Thủy lợi phí hàng năm có hạn, từ năm 2014 đến 2016 kinh phí  cho công tác duy tu bảo dưỡng công trình xấp xĩ 8,928 tỷ đồng. Với nguồn kinh phí hạn hẹp đó hàng năm đầu mỗi vụ tưới Công ty chỉ đủ để thực hiện các công việc cần thiết để tưới như:

Vệ sinh cắt cỏ, cắt rong lòng kênh; nạo vét bồi lấp lòng kênh, đắp các chổ vỡ, chổ mội trên kênh; Sửa chữa các vị trí sạt trượt tấm lát có khối lượng nhỏ;  Sơn chống rĩ các thiết bị cửa tràn, cửa cống , dầu mở bảo dưỡng cống, sửa chữa các cửa cống nhỏ trên kênh để điều tiết tưới; Bảo dưỡng  máy bơm, sửa chữa thay thế các thiết bị trạm bơm, sơn chống rĩ ống hút, ống xả… để nhằm đảm bảo thông dòng chảy trên kênh mở nước phục vụ tưới. Phần phát quang bờ kênh, mái đập Công ty huy động công nhân tự làm (33 công/người/năm). Nói chung chỉ sửa chữa ở mức cầm chừng để phục vụ tưới

Về thực hiện, hàng năm Công ty giao kinh phí sửa chữa thường xuyên cho các Xí nghiệp quản lý và sử dụng duy tu bảo dưỡng công trình (với đơn giá  nhân công lấy theo định mức nội bộ) Trên cơ sở đó, trước khi vào vụ tưới Công ty chỉ đạo các Xí nghiệp lập kế hoạch duy tu sửa chữa chi tiết cho tất cả các hạng mục công trình mà Xí nghiệp quản lý. Sau khi kế hoạch (bao gồm: danh mục, khối lượng, đơn giá, kinh phí) được Công ty phê duyệt, các Xí nghiệp tiến hành tổ chức thực hiện để phục vụ tưới.

2.3.3. Thực trạng công tác quản lý nước

Công ty được UBND tỉnh giao quản lý 16 hồ chứa vừa và lớn với tổng dung tích trên 189,95 triệu m3 nước và 2 đập dâng có Q tưới 34 m3/s. Tất cả các nguồn nước được thiết kế cấp cho NN theo tần suất thiết kế p = 75%. Tuy nhiên qua quá trình khai thác cho thấy những năm thời tiết thuận lợi thì lượng nước các hồ đập đảm bảo theo nhu cầu sử dụng. Những năm xảy ra hạn để đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất, Công ty phải sử dụng các biện pháp tưới hỗ trợ, tưới chống hạn như sau:

  • Đối với các hệ thống tưới kết hợp giữa hồ chứa và trạm bơm: Lập kế hoạch phối hợp điều tiết tưới tối ưu giữa hồ chứa và trạm bơm, với phương châm đầu vụ tăng cường các trạm bơm tưới, nước các hồ chỉ ưu tiên tưới cho các vùng không tưới được trạm bơm , dành để tưới giai đoạn cuối vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu.
  • Đối với hệ thống Liên hồ – đập: Lập kế hoạch điều tiết tưới tối ưu giữa các hồ và đập dâng, với phương châm tận dụng tối đa lượng nước hiện có của các hồ – đập để bổ sung cho nhau, hồ đủ nước nước điều tiết bổ sung cho hồ thiếu nước.
  • Đối với các vùng có nguồn nước hồi quy tại chỗ (ao hồ, kênh tiêu, sông ngòi) và gần nguồn điện, đầu tư xây dựng thêm các trạm bơm để bơm tưới hỗ trợ.
  • Tổ chức tưới luân phiên cho các kênh, từ kênh cấp 1 trở xuống, ngay sau khi kết thúc giai đoạn gieo sạ.
  • Áp dụng chế độ tưới nông – lộ – phơi cho cây lúa, kỹ thuật tưới nhỏ giọt cho cây trồng cạn để tiết kiệm nước và giảm thiểu phát thải khí CH4 gây hiệu ứng nhà kính.

Thực tế cho thấy liên tục các năm 2015-2017 do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino lượng nước các hồ đập chỉ trữ đạt xấp xỉ 60% dung tích thiết kế. Nhờ thực hiện tốt các giải pháp chống hạn nêu trên Công ty vẫn đảm bảo đủ nước chống hạn phục vụ Sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác.

2.3.3.1. Lập và thực thi kế hoạch sử dụng nước Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

  • a) Lập kế hoạch sử dụng nước

Nhiệm vụ chính của Công ty là tưới tiêu phục vụ Sản xuất nông nghiệp nên mục tiêu năm 2017 là: Bám sát lịch thời vụ của các địa phương để có kế hoạch điều tiết phân phối nước hợp lý, đảm bảo phục vụ tốt nhất cho bà con nông dân. Tìm mọi biện pháp để mở rộng diện tích phục vụ nhằm tăng sản phẩm cho xã hội và tăng doanh thu cho Công ty. Diện tích phục vụ năm 2017 như sau: Tổng diện tích phục vụ: 31.930,4 ha, trong đó: Diện tích lúa:31.284,1 ha; diện tích màu:333,2 ha; cấp nước cho nuôi trồng thuỷ sản: 313,1 ha. So với các năm 2016 trở về trước thì năm 2017 năng lực tưới tiêu của công ty đã tăng đáng kể. Chủ yếu là do năm 2017 đưa vào 2 hệ thống công trình mới được xây dựng vào phục vụ tưới tiêu và phát triển kinh tế địa phương.

TL phí được thu theo diện tích thực tế tưới tiêu và chất lượng tưới tiêu trên cơ sở mức thu quy định của UBND tỉnh (tưới chủ động thu 100% mức quy định. Tưới chủ động một phần thì thu 50% mức thu chủ động. Tạo nguồn tưới thu 40% mức thu chủ động). Trước đây Thủy lợi phí do các HTX thu của dân trả cho Công ty. Từ năm 2008 về sau theo Nghị định 154/2007/NĐ- CP của chính phủ, phần Thủy lợi phí này Nhà nước cấp bù cho Công ty, nhưng cũng theo diện tích và chất lượng phục vụ (vẫn hợp đồng và nghiệm thu với các HTX như trước đây). Chính vì vậy muốn tăng thu nhập cho Công ty thì biện pháp trước tiên là phải mở rộng diện tích tưới tiêu, nâng cao chất lượng phục vụ để tiến tới tăng diện tích tưới chủ động, giảm diện tích tưới chủ động một phần.

Hệ thống Nam Thạch Hãn cấp nước cho nhà máy nước thị xã Quảng Trị, đập ngăn mặn Vĩnh phước cấp nước cho nhà máy nước Đông Hà. Số người được phục vụ: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

86.000 người (thuộc thị xã Quảng Trị, thành phố Đông Hà, thị trấn Ái Tử huyện Triệu Phong). Nhưng đến nay Công ty vẫn chưa thu được tiền cấp nước (do UBND Tỉnh chưa định được giá nước).

Trong kế hoạch 5 năm 2016-2020 Công ty sẽ định giá bán hợp lý, để trình UBND tỉnh phê duyệt và hợp đồng với tất cả các nhà máy nước theo khối lượng sử dụng để tăng thu nhập cho Công ty.

Trước đây Công ty cấp nước cho các hộ nuôi cá nước ngọt và nuôi tôm, nhưng chỉ nghiệm thu diện tích nuôi cá, chưa thu nuôi tôm. Thời gian tới sẽ đưa diện tích nuôi tôm vào. Kế hoạch năm 2016-2020 sẽ cho đấu thầu nuôi cá trên các hồ chứa để tăng doanh thu. Thực tế tất cả các hệ thống Thủy lợi do Công ty quản lý đều phục vụ nhu cầu sinh thái và môi trường rất lớn, nhưng chưa có phương pháp nào để đo lường xác định được. Tất cả các huyện thị có Công trình thủy lợi đi qua, môi trường đều được cải thiện, hệ sinh thái hài hòa. Đặc biệt hồ Trung Chỉ, hồ Khe Mây phục vụ chủ yếu cho nhu cầu sinh thái và môi trường thành phố Đông Hà. Sau năm 2016 các công trình có tiềm năng phát triển du lịch dịch vụ sẽ cho các đơn vị có khả năng đấu thầu trên các hồ: Hồ Trung Chỉ và hồ Khe Mây (thành phố Đông Hà); Hồ Ái Tử (huyện Triệu Phong); Hồ Bảo Đài (huyện Vĩnh Linh).

  • b) Kết quả thực thi kế hoạch sử dụng nước:

Theo Bảng 2.14, tổng diện tích tưới của cả giai đoạn 2015-2017 là 116.296 ha, bình quân 1 năm cả hệ thống Công trình thủy lợi do Công ty đảm nhận và phục vụ là 38.765 ha, vượt so với kế hoạch là 100,11%. Lớn nhất là hệ thống Nam Thạch Hãn, cả giai đoạn tưới được 45,3 ngàn ha, bình quân 1 năm tưới 15,1 ngàn ha, vượt so với kế hoạch là 100,2%. Tiếp đến là hệ thống La Ngà, hệ thống Kinh Môn, cả giai đoạn tưới tương ứng là 8,5 ngàn ha và 8,2 ngàn ha. Thấp nhất là hệ thống Khe Mây cả giai đoạn tưới được 224,4 ha, đạt 98,9% so với kế hoạch. Do vùng này thành Phố Đông Hà chuyển đổi diện tích đất trồng lúa sang phát triển các khu dân cư và tương lai nhiệm vụ của Hồ Khe Mây sẽ chỉ là hồ điều hòa.

Về mức độ hoàn thành so với kế hoạch, trong cả giai đoạn, tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch cao nhất là HT Đá Mài – Tân Kim, đạt 117,6%. Do công trình đầu mối Đá Mài – Tân Kim được đưa vào sử dụng từ năm 2015, tuy nhiên hệ thống kênh mương vẫn chưa được xây dựng xong nên Công ty đã lập kế hoạch ứng với năng lực tưới của hệ thống kênh mương hiện trạng. Sau khi hệ thống kênh mương được hoàn thiện vào năm 2016, diện tích tưới của công trình được mở rộng thêm so với kế hoạch, nên tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch khá cao, đạt 132,8%. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Bảng 2.14. Tình hình thực hiện kế hoạch tưới tiêu của IMC Quảng Trị qua 3 năm 2015-2017

Tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch thấp nhất là HT Trúc Kinh và HT Trạm bơm Cam Lộ, đạt 97,4%. Lý do là trong năm 2016, công trình Trúc Kinh được đầu tư nâng cấp từ nguồn vốn dự án WB7, trong đó có hạng mục sữa chữa cống lấy nước cần phải xả cạn hồ để thi công.

Vì vậy khi vào mùa vụ, lượng nước tích trong hồ không đủ để phục vụ theo kế hoạch. Đối với HT Trạm bơm Cam Lộ, trong năm 2017, sau khi HT công trình Đá Mài – Tân Kim thi công hoàn thiện thêm một phần hệ thông kênh tưới đã đảm trách một phần diện tích tưới của HT Trạm bơm Cam Lộ, vì vậy diện tích phục vụ tưới của HT Trạm bơm Cam Lộ đã được thu hẹp lại so với kế hoạch đã lập đầu năm.

Từ những đánh giá trên, có thể thấy kết quả thực thi kế hoạch phụ thuộc rất lớn vào việc lập kế hoạch sử đụng nước của từng năm có chính xác không. Để lập được kế hoạch sử dụng nước chính xác cần dự đoán được tình hình thời tiết, mức độ ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu, cập nhật tiến độ thi công của các dự án nâng cấp sửa chữa các công trình, quy hoạch chuyển đổi mùa vụ của từng địa phương…

2.3.3.2. Tuyên truyền, hỗ trợ tổ hợp tác và người dùng nước

Theo thống kế số liệu của Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị đến năm 2017, toàn tỉnh có 304 TCDN, trong đó có: 2 mô hình Ban QLTN huyện, 261 Hợp tác xã NN và 41 tổ hợp tác (tổ hợp tác theo Nghị định 151 và tổ thủy nông thôn/bản).

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Trị các đơn vị được Công ty phục vụ tưới tiêu là HTX hoặc Tập đoàn sản xuất. Các HTX này hoạt động kinh doanh nhiều lĩnh vực, trong đó có dịch vụ tưới tiêu cho nông dân. Các HTX nhận nước từ cống đầu kênh đã phân cấp quản lý và chịu trách nhiệm phân phối nước đến tận đồng ruộng cho xã viên. Công tác quản lý hệ thống Thủy lợi nội đồng được các HTX giao cho đội thuỷ nông quản lý. Trước khi vào vụ tưới các HTX đều tu sửa, nạo vét kênh mương để dẫn nước. Kinh phí sửa chữa từ nguồn thu Thủy lợi phí nội đồng và huy động sức dân.

Từ năm 2012 thực hiện Quyết định số 268/QĐ-UBND của UBND tỉnh về phân cấp quản lý Công trình thủy lợi. Trên địa bàn tỉnh đã có 90 HTX nhận quản lý các tuyến kênh từ cấp 2 trở xuống (kênh có quy mô tưới nhỏ hơn 200 ha). Sau khi tiếp nhận các HTX này tự đầu tư kinh phí để duy tu bảo dưỡng công trình. Tuy nhiên việc lập kế hoạch và thực hiện duy tu bảo dưỡng các hệ thống này còn có một số HTX chưa quan tâm đúng mức, dẫn đến hiệu quả dịch vụ tưới tiêu chưa cao. Về hoạt động tài chính nhiều HTX đã tách riêng nguồn thu chi của dịch vụ tưới tiêu và có công khai cho xã viên, nhưng cũng có HTX không tách riêng và không công khai, nên còn hạn chế mức độ tham gia của người dân trong vận hành và duy tu bảo dưỡng.

Trong số 304 TCDN có gần 2600 người đang quản lý 463CTTL trên địa bàn tỉnh. Hầu hết các thành viên của các các TCDN đều chưa được đào tạo, tập huấn nên thiếu kỹ năng vận hành và duy tu bảo dưỡng Công trình thủy lợi, đặc biệt là kỹ năng quản lý tài chính. Đây cũng là một trở ngại lớn của tỉnh khi khó xã hội hóa công tác quản lý thủy lợi, chuyển giao công tác quản lý cho cộng đồng. Như vậy, nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực cho các TCDN trên địa bàn là rất lớn, nhưng với điều kiện kinh tế hiện nay của Quảng Trị, Tỉnh vẫn chưa thể bố trí kinh phí để tổ chức thực hiện.

Vì vậy, ngoài việc thành lập/ củng cố các TCDN, hoạt động đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ trực tiếp quản lý thủy nông cũng cần được chú trọng. Hoạt động này chủ yếu được lồng ghép vào trong kế hoạch đào tạo nâng cao năng lực quản lý khai thác Công trình thủy lợi của các dự án đang triển khai trên địa bàn tỉnh.

2.3.4. Thực trạng công tác quản lý kinh tế của IMC Quảng Trị Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

2.3.4.1. Kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của Công ty

Công ty là doanh nghiệp hoạt động công ích do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Vốn chủ sở hữu được UBND tỉnh giao quản lý chủ yếu là tài sản cố định (CTTL), vốn lưu động thiếu, nên hoạt động tài chính những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn. Theo Quyết định số 1940/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 của UBND tỉnh Quảng Trị, tài sản Công trình thủy lợi của công ty có tổng giá trị trên 1.600 tỷ đồng. Nguồn thu chính của công ty là từ các hoạt động công ích và kinh phí cấp bù do miễn thu Thủy lợi phí.

TL phí được thu theo diện tích thực tế tưới tiêu và chất lượng tưới tiêu trên cơ sở mức thu quy định của UBND tỉnh (tưới chủ động thu 100% mức quy định. Tưới chủ động một phần thì thu 50% mức thu chủ động. Tạo nguồn tưới thu 40% mức thu chủ động). Trước đây Thủy lợi phí do các HTX thu của dân trả cho Công ty. Từ năm 2008 về sau theo Nghị định 154/2007/NĐ- CP của chính phủ, phần Thủy lợi phí này Nhà nước cấp bù cho Công ty, nhưng cũng theo diện tích và chất lượng phục vụ (vẫn hợp đồng và nghiệm thu với các HTX như trước đây). Chính vì vậy muốn tăng thu nhập cho Công ty thì biện pháp trước tiên là phải mở rộng diện tích tưới tiêu, nâng cao chất lượng phục vụ để tiến tới tăng diện tích tưới chủ động, giảm diện tích tưới chủ động một phần.

Hệ thống Nam Thạch Hãn của IMC cấp nước cho nhà máy nước thị xã Quảng Trị, đập ngăn mặn Vĩnh Phước cấp nước cho nhà máy nước Đông Hà. Số người được phục vụ: 86.000 người (thuộc thị xã Quảng Trị, thành phố Đông Hà, thị trấn Ái tử huyện Triệu Phong). Nhưng đến nay Công ty vẫn chưa thu được tiền cấp nước (do UBND Tỉnh chưa định được giá nước). Theo kế hoạch Công ty sẽ định giá bán hợp lý, để trình UBND tỉnh phê duyệt làm cơ sở để hợp đồng với tất cả các nhà máy nước theo khối lượng sử dụng để tăng nguồn thu nhập cho Công ty.

Hiện nay IMC đang cấp nước cho sản xuất công nghiệp như Nhà máy gỗ ván ép và nhà máy tấm lợp  và nhà máy sản xuất vật liệu khu công nghiệp Quán Ngang, Nhà máy chế biến tinh bột sắn Cam Lộ, Nhà máy chế biến tinh bột sắn ở Hải Lăng. Về trung hạn sẽ cung cấp nước cho Khu kinh tế Đông Nam tỉnh Quảng Trị và nhà máy Nhiệt điện cảng Mỹ Thủy, cho nhà máy Bia Hà Nội và một số nhà máy khác thuộc khu công nghiệp Quán Ngang.

IMC cũng cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, trước đây Công ty cấp nước cho các hộ nuôi cá nước ngọt và nuôi tôm, nhưng chỉ nghiệm thu diện tích nuôi cá, chưa thu nuôi tôm. Thời gian tới sẽ đưa diện tích nuôi tôm vào. Theo kế hoạch sẽ cho đấu thầu nuôi cá trên các hồ chứa để tăng doanh thu. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Nguồn thu của Công ty chủ yếu là kinh phí cấp bù do miễn thu Thủy lợi phí, hàng năm Công ty đều phấn đấu tưới tăng diện tích nên doanh thu luôn vượt kế hoạch giao. Nhưng do mức cấp bù theo Nghị định 67/2012/NĐ-CP thấp, nên doanh thu của Công ty vẫn không đủ trang trải các chi phí hoạt động (năm 2013 thiếu 3,5 tỷ đồng; năm 2014 thiếu 5,2 tỷ).

Về quản lý chi phí: Do nguồn thu có hạn nên Công ty đã cắt giảm một số khoản mục chi và khoán chi phí cho các cơ sở tiết kiệm. Công ty đã tổ chức kiểm tra và quản lý các khoản chi phí của đơn vị chặt chẽ, đúng chế độ quy định.

Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty được thể hiện qua Bảng 2.15 cho thấy giai đoạn 2014-2016 kết quả sản xuất kinh doanh dịch vụ của công ty có xu hướng tăng và ổn định. Nếu năm 2014, tổng nguồn thu của công ty là 38,7 tỷ đồng, chi 38,6 tỷ đồng, còn lại lợi nhuận chỉ đạt 100 triệu. Tuy nhiên năm 2015 và 2016 nguồn thu cao hơn nhiều, gần 42 tỷ, chi khoảng 41 tỷ còn lại lợi nhuận tương ứng là 924 triệu năm 2015 và 883 triệu đồng năm 2016.

Bảng 2.15. Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của IMC Quảng Trị giai đoạn 2014-2016

2.3.4.2. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ công ích của công ty

Trong những năm vừa qua, Công ty TNHH MTV QL Khai thác công trình thủy lợi Quảng Trị tập trung thúc đẩy sản xuất theo định hướng: Đổi mới dịch vụ tưới tiêu phục vụ Sản xuất nông nghiệp, dân sinh đô thị, tăng cường quản lý nước và quản lý công trình, giữ gìn và bảo quản nguồn vốn được giao. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn song Công ty luôn cố gắng đảm bảo chế độ chính sách cho người lao động như chế độ ăn ca, các phụ cấp độc hại, phụ cấp lưu động, bảo hộ lao động, thực hiện chi trả cho người lao động theo mức được UBND tỉnh phê duyệt.

Bảng 2.16. Kế hoạch và kết quả thực hiện nhiệm vụ công ích giai đoạn 2015-2017

Công ty đã thực hiện tốt công tác quản lý tài chính và chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, tổ chức tự giám sát trong nội bộ doanh nghiệp, sử dụng kiểm toán nội bộ, các bộ phận chuyên môn và nghiệp vụ của doanh nghiệp, thanh tra nhân dân, tổ chức công đoàn, đại hội công nhân, viên chức để giám sát. Công ty luôn thực hiện nghiêm túc các quy định trong Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Quy chế quản lý tài chính doanh nghiệp, Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp, Quy chế kiểm toán nội bộ, Điều lệ doanh nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Nhìn chung, hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm công ích ổn định, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tỉnh giao, vượt mức các chỉ tiêu đặt hàng của UBND tỉnh.

2.4. Đánh giá của các đối tượng điều tra về công tác Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

2.4.1. Đặc điểm chung của các đối tượng được điều tra

Đặc điểm cơ bản của 60 đối tượng được điều tra thể hiện ở Bảng 2.17.

Bảng 2.17. Đặc điểm cơ bản của các đối tượng điều tra

Qua bảng 2.17 cho thấy các đối tượng điều tra chính là các cán bộ của công ty, cán bộ các cụm và HTX dùng nước, với đặc trưng của lĩnh vực nên chủ yếu là nam giới chiếm 91,7%, với độ tuổi trung bình là 35,7 tuổi, và chủ yếu là cán bộ quản lý chiếm 63,3%, với 48,3% có trình độ cao đẳng, đại học, có nhiều kinh nghiệm trong Quản lý khai thác Công trình thủy lợi ở các cấp quản lý, đảm bảo các thông tin thu thập làm dữ liệu nghiên cứu hợp lý và chính xác. Với những thông tin đó cho thấy số người được phỏng vấn phần lớn là những người có trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật, có kinh nghiệm công tác, vì vậy ý kiến của họ là địa chỉ tin cậy để làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá sau này.

2.4.2. Đánh giá của các đối tượng điều tra

Kết quả đánh giá các đối tượng điều tra sau khi được xử lý theo Bảng 2.18. Số liệu Bảng 2.18 cho thấy các tiêu chí khác nhau đều được đánh giá ở các mức độ khác nhau. Đối với 5 tiêu chí của Công tác tổ chức, phân cấp quản lý, ta thấy tiêu chí “Cơ cấu tổ chức quản lý khoa học, phát huy hết trách nhiệm của các bộ phận” và tiêu chí “Công tác tổ chức quản lý công trình hợp lý, đảm bảo thông tin xuyên suốt, kịp thời, hiệu quả” có tỷ lệ ý kiến “đồng ý”, “hoàn toàn đồng ý” khá cao (tương ứng 78,3% và 75%), tuy nhiên tiêu chí “Công tác phân cấp quản lý chặt chẽ, đúng quy định” và tiêu chí “Công tác phân cấp quản lý đầy đủ, khoa học” cũng còn tỷ lệ ý kiến “không đồng ý” và “hoàn toàn không đồng ý” cao (tương ứng 10%). Điều này đòi hỏi IMC cần tư vấn cho chính quyền tỉnh xem xét lại quy trình, tiêu chuẩn và quá trình phân cấp quản lý các Công trình thủy lợi sao cho hợp lý, khoa học. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Đối với 5 tiêu chí về Đánh giá quy trình vận hành công trình, cho thấy, 3 tiêu chí “Hệ thống tổ chức” “Công tác quan trắc khí tượng” “CB vận hành” có điểm trung bình từ 3,6 đến 3,7, tỷ lệ ý kiến “đồng ý” và “hoàn toàn đồng ý” khá cao (tương ứng 71,7%, với 68,3% và 61,7%). 2 tiêu chí còn lại là “Quy trình vận hành” “Thời gian vận hành” chưa được đánh giá tốt, tỷ lệ ý kiến “không đồng ý” và “hoàn toàn không đồng ý” cao, tương ứng 21,7% và 20%.

Thực tế cho thấy quy trình và thời gian vận hành Công trình thủy lợi đáp ứng các yêu cầu của quản lý và người dùng nước gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt trong điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt hạn hán, lũ lụt như Quảng Trị. Vì thế đòi hỏi công ty cần nghiên cứu kỹ quy trình và thời gian vận hành cho từng công trình, từng địa phương và từng thời gian, mùa vụ cho phù hợp và hiệu quả.

Đánh giá về công tác duy tu, sửa chữa công trình cho thấy, hầu hết cá tiêu chí trong công tác này đều được các đối tượng điều tra đánh giá không cao, điểm Trạm bơm chỉ đạt từ 3,1 đến 3,4, tỷ lệ “hoàn toàn không đồng ý” và “không đồng ý” khá cao. Tiêu chí “Bảo dưỡng, duy tu, sửa chữa công trình đúng quy định, phát huy hiệu quả ngay” chiếm đến 3,3% đánh giá “hoàn toàn không đồng ý”. Qua thực tế cho thấy đây được xem là công tác yếu nhất trong tất cả các khâu trong công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi hiện nay không những ở Quảng Trị mà hầu hết ở các địa phương nước ta.

Bảng 2.18. Đánh giá của các đối tượng điều tra về công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi của IMC Quảng Trị

Ghi chú: Mức đánh giá: 1= Hoàn toàn không đồng ý; 2 = Không đồng ý; 3 =Bình thường; 4 = Đồng ý; 5 = Hoàn toàn đồng ý.

Phần lớn các công trình Thủy lợi chúng ta được xây dựng trước đây, công nghệ lạc hậu thậm chí không có gì, chủ yếu từ “được làm từ đất”, qua thời gian năm tháng, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, điều kiện kinh tế khó khăn, dàn trải,… đã ảnh hưởng lớn đến công tác duy tu, bảo dưỡng công trình. Nhiều công trình rơi vào cảnh nguy cơ cao, gây ra hậu quả lớn, đặc biệt vào mùa mưa lũ. Điều này là khá phù hợp với thực tế hiện nay của các Công trình thủy lợi ở nước ta nói chung và ở Quảng Trị nói riêng. Đòi hỏi, trong thời gian đến công ty và địa phương cần có biện pháp hữu hiệu hơn, triển khai thực hiện tốt công tác duy tu bảo dưỡng công trình để công trình phát huy hiệu quả và an toàn hơn.

Đối với đánh giá về công tác Quản lý khai thác, sử dụng nước cũng cho thấy mức đánh giá “không đồng ý” cao. Cao nhất là tiêu chí “Phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị khai thác và các tổ chức dùng nước chặt chẽ, phù hợp”, tỷ lệ đánh giá “không đồng ý” đến 20%. Đây cũng là vấn đề đặt ra hiện nay đối với công tác Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi trên địa bàn. Hiện nay mối quan hệ nay vẫn còn mang tính lợi ích riêng, chưa đề cao lợi ích chung của công trình, của xã hội. Chính vì thế công tác quản lý công trình chưa được hiểu và thực hiện đúng, phần lớn các cơ quan và người dân còn nhận thức cho rằng đó là trách nhiệm, nhiệm vụ của Chi cục Thủy lợi của Sở NN&PTNT tỉnh. Vì vậy công tác phối hợp chưa cao, chưa phát huy được hiệu quả tổng hợp.

Nhìn chung, công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi trên địa bàn đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, tỷ lệ đánh giá chung “đồng ý” và “hoàn toàn đồng ý” của các tiêu chí “Đánh giá chung công tác Quản lý khai thác tốt”, “Tổ chức, phân cấp Quản lý công trình thủy lợi tốt, khoa học”, “Công tác quản lý, sử dụng nước hợp lý, công bằng” khá cao, tương ứng 50%, 50% và 41,7%. Mặc dù vậy, tỷ lệ đánh giá “hoàn toàn không đồng ý” và “không đồng ý” của các tiêu chí “Tổ chức, phân cấp Quản lý công trình thủy lợi tốt, khoa học”, “Công tác tổ chức vận hành công trình đúng quy trình” cũng khá cao, tương ứng 21,7% và 21%. Điều đó đòi hỏi chính quyền địa phương và công ty cần có các biện pháp hợp lý, hiệu quả hơn trong các công tác này nhằm hoàn thiện công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi trên địa bàn trong thời gian đến.

2.4.3. So sánh ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra về công tác quản lý các công trình thủy lợi Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Để nắm bắt được các ý kiến đánh giá của các nhóm đối tượng điều tra, chúng tôi tiến hành so sách giá trị trung bình ý kiến đánh giá của các nhóm này và được thể hiện ở bảng 2.19 và 2.20.

Bảng 2.19 cho thấy, trong 25 tiêu chí, có đến 21 tiêu chí có giá trị trung bình đánh giá của CB lãnh đạo, quản lý IMC Quảng Trị, CB lãnh đạo, quản lý Xí nghiệp và các phòng đều lớn hơn giá trị trung bình ý kiến đánh giá của CB lãnh đạo Cụm quản lý / Tổ quản lý, 2 tiêu chí bằng nhau (Công tác phân cấp quản lý chặt chẽ, đúng quy định và Công tác phân cấp quản lý đầy đủ, KH) và 2 tiêu chí thấp hơn (Tổ chức, phân cấp Quản lý công trình thủy lợi tốt, KH và Đánh giá chung công tác Quản lý khai thác tốt), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.

Bảng 2.19 cho thấy, trong 21 tiêu chí giá trị trung bình đánh giá của CB lãnh đạo, quản lý IMC Quảng Trị, CB lãnh đạo, quản lý Xí nghiệp và các phòng lớn hơn giá trị trung bình ý kiến đánh giá của CB lãnh đạo Cụm quản lý/Tổ quản lý chỉ có 7 tiêu chí có ý nghĩa thống kê ở mức dưới 0,05, đặc biệt các tiêu chí “Bảo dưỡng, duy tu, sửa chữa công trình nhanh, kịp thời”, “Bảo dưỡng, sửa chữa công trình đúng quy định, phát huy hiệu quả”, “Thời gian duy tu, sửa chữa ngắn, kịp thời”. Điều này hoàn toàn có lý trong thực tế hiện nay ở nước ta đối với tất cả các loại công trình xây dựng, trong đó có công trình thủy lợi.

Bảng 2.19: So sánh giá trị trung bình đánh giá của CB lãnh đạo, quản lý IMC Quảng Trị, CB lãnh đạo, quản lý Xí nghiệp và các phòng với CB lãnh đạo Cụm quản lý / Tổ quản lý về công tác quản lý các Công trình thủy lợi tại IMC Quảng Trị

Để bảo dưỡng, duy tu một Công trình thủy lợi cần rất nhiều khâu như khảo sát, đánh giá, ra quyết định, thiết kế, phê duyệt, cấp vốn,… sau đó mới thực thi. Chính sự rườm rà phức tạp này đã dẫn đến thời gian bảo dưỡng, duy tu sửa chữa trong thực tế chậm và kéo dài, gây bức xúc cho các Cụm, Tổ quản lý sử dụng nước. Đòi hỏi trong thời gian đến, nhà nước, chính quyền địa phương cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính hơn nữa nhằm nhanh rút ngắn thời gian bảo dưỡng, sửa chữa, duy tu Công trình thủy lợi để đưa vào sử dụng kịp thời, hiệu quả. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Bảng 2.20 phản ảnh chênh lệch về giá trị trung bình ý kiến đánh giá của CB lãnh đạo, quản lý IMC Quảng Trị, CB lãnh đạo, quản lý Xí nghiệp và các phòng với CB HTX dùng nước về công tác quản lý các Công trình thủy lợi tại IMC Quảng Trị. Kết quả phân tích cho thấy, trong tất cả 25 tiêu chí đánh giá, giá trị trung bình ý kiến đánh giá của CB lãnh đạo, quản lý IMC Quảng Trị, CB lãnh đạo, quản lý Xí nghiệp và các phòng đều lớn hơn giá trị trung bình ý kiến đánh giá của CB HTX và các tổ chức dùng nước. Trong đó có 16 tiêu chí có mức ý nghĩa thống kê sig < 0,05. Điều đó cho thấy 16 tiêu chí này có sự khác biệt lớn trong đánh giá của CB lãnh đạo, quản lý IMC Quảng Trị, CB lãnh đạo, quản lý Xí nghiệp và các phòng với CB HTX, các tổ chức dùng nước. Khác biệt lớn nhất là các tiêu chí thứ 15 “Thời gian duy tu, sửa chữa ngắn, kịp thời”, chênh lệch 0,986; tiêu chí thứ 9, “Thời gian vận hành hợp lý, đáp ứng yêu cầu” và tiêu chí thứ 16 “Công tác quản lý nước phù hợp, đúng quy định” đều có chênh lệch 0,914. Một lần nữa các tổ chức dùng nước, các HTX dùng nước đều phản ảnh không tốt đến công tác duy tu, sửa chữa Công trình thủy lợi. Đây là bức xúc nhất thời gian qua. Ngoài ra công tác vận hành và quản lý nước cũng được các tổ chức dùng nước, các HTX dùng nước đánh giá không cao so với CB lãnh đạo, quản lý IMC Quảng Trị, CB lãnh đạo, quản lý Xí nghiệp. Qua nghiên cứu thực tế chúng tôi nhận thấy, công tác vận hành các Công trình thủy lợi và công tác quản lý nước, đặc biệt đối với Quảng Trị cực kỳ khó khăn, trong đó điều kiện thời tiết có ảnh hưởng lớn nhất đối với công tác này. Chính vì thế chính quyền địa phương và lãnh đạo công ty cần có nhiều biện pháp, phương án hợp lý hơn trong công tác vận hành và quản lý nước, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu dùng nước của người dân và nân cao hiệu quả quản lý, sử dụng nước thủy lợi.

2.5. Đánh giá chung về công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi

2.5.1. Những kết quả đạt được

Từ công tác quản lý, khai thác các Công trình thủy lợi của IMC Quảng Trị thời gian qua, một số kết quả đạt được như sau:

Hệ thống Công trình thủy lợi Quảng Trị được Nhà nước, chính quyền địa phương hết sức chú trọng đầu tư phát triển, nâng cao năng lực tưới, tiêu góp phần quan trong để tăng diện tích gieo trồng, tăng thời vụ, chuyển đối cơ cấu cây trồng góp phần bảo đảm an ninh lương thực và phát triển bền vững.

Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau (Trung ương, địa phương, ODA, đóng góp của nhân dân,…), đến nay Quảng Trị đã xây dựng khoảng 508 Công trình thủy lợi. Trong đó: 131 hồ chứa; 204 đập dâng; 144 trạm bơm tưới, tiêu; 14 công trình cống và đập ngăn mặn, giữ ngọt và 25 công trình tưới khác.

Một số công trình ứng dụng hiện đại hoá trang thiết bị quản lý, vận hành công nghệ mới chất lượng cao, mỹ thuật như: công trình đập ngăn mặn Việt Yên, cống xi phông An Tiêm, hồ chứa nước Trúc Kinh, Bảo Đài, đập cao su ở công trình Nam Thạch Hãn, đây là công trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng tràn bằng đập cao su vào loại lớn nhất Việt Nam.

Cùng với việc nâng cấp và xây dựng mới các công trình đầu mối, việc hoàn chỉnh hệ thống kênh mương được đầu tư xây dựng với tổng chiều dài hơn 2.126 km, trong đó đã kiên cố hoá được 1.071 km. Hệ thống Thủy lợi đã cấp nước tưới chủ động trên 83,6% diện tích gieo cấy cho 2 vụ lúa, diện tích tưới 47.250 ha; tưới cho hoa màu: 2.000 ha; tiêu úng cho 7.500 ha; ngăn mặn, giữ ngọt, ngăn lũ tiểu mãn, lũ sớm cho hơn 13.000 ha. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Hệ thống Thủy lợi góp phần quan trọng trong phòng, chống thiên tai, bảo vệ sản xuất.

Hệ thống đê điều toàn tỉnh có tổng chiều dài 165 km. Từ năm 2006-2015 đã nâng cấp 110 km đê, xây dựng 7 km kè bảo vệ. Các tuyến đê, kè sau khi đưa vào sử dụng chống được lũ tiểu mãn, lũ sớm tần suất 10%, chống bão cấp 9 và triều 10%, an toàn trong mùa lũ; ngăn mặn, giữ ngọt, ngăn lũ tiểu mãn, lũ sớm tần suất 10% cho hơn 10.500 ha. Xây dựng hệ thống đê chống cát lấp, cát bay, cát chảy tràn vào nội đồng; đồng thời áp dụng các biện pháp Thủy lợi kết hợp NN-lâm nghiệp, cải tạo vùng cát thành vùng kinh tế Nông – Lâm – Ngư.

Hệ thống Công trình thủy lợi góp phần đảm bảo nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân nông thôn.

Tổ chức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi thường xuyên được củng cố và hoàn thiện từng bước đi vào nền nếp, đáp ứng yêu cầu phục vụ Sản xuất nông nghiệp.

IMC Quảng Trị là doanh nghiệp nhà nước duy nhất trên địa bàn tỉnh được giao nhiệm vụ thực hiện Quản lý khai thác vận hành Công trình thủy lợi. Công ty đang Quản lý khai thác: 16 hệ thống hồ chứa nước có tổng dung tích trên 189,95 triệu mét khối nước; 20 trạm bơm điện có tổng công suất lắp máy gần 1000 kw; 2 đập dâng có lưu lượng thiết kế (Q= 34 m3/s), 7 cống ngăn mặn và hươn 700 km kênh mương các loại để phục vụ tưới tiêu cho 16.300 ha đất Sản xuất nông nghiệp (chiếm 70% diện tích tưới, tiêu toàn tỉnh) và cấp nước sinh hoạt cho nhân dân 7 huyện thị và thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

Ngoài các công trình và diện tích tưới tiêu do Công ty thủy nông Quảng Trị Quản lý khai thác. Các Tổ chức dùng nước hiện đang quản lý 463 Công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh, Phục vụ tưới cho khoảng hơn 8.300 ha đất Sản xuất nông nghiệp.

Hoạt động của Công ty thủy nông Quảng Trị và các Tổ chức dùng nước cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ Sản xuất nông nghiệp.

2.5.2. Những tồn tại Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Mặc dù được đầu tư lớn nhưng công tác quản lý, vận hành hệ thống Công trình thủy lợi còn bộc lộ nhiều hạn chế, như: Hiệu quả quản lý thấp; bộ máy tổ chức cồng kềnh; đội ngũ cán bộ, nhân viên có xu hướng tăng; năng suất lao động thấp, chất lượng quản trị không cao, công trình xuống cấp nhanh, vi phạm Công trình thủy lợi tăng và chưa được giải quyết; sử dụng nước lãng phí.

Cơ chế vận hành mang nặng tính bao cấp, thiếu động lực để nâng cao năng suất lao động, đảm bảo chất lượng, đổi mới hệ thống quản trị của Công ty Quản lý khai thác Công trình thủy lợi.

Tổ chức thủy nông cơ sở thiếu bền vững; năng lực của cán bộ quản lý yếu cả về tổ chức quản lý và kỹ thuật; tài chính của tổ chức thủy nông cơ sở rất khó khăn, theo báo cáo của địa phương, trên 52% tổ chức có nguồn thu chỉ đáp ứng 65-70 % yêu cầu chi, thiếu kinh phí duy tu, sửa chữa nạo vét kênh mương, dẫn đến công trình hư hỏng, xuống cấp nhanh. Một số địa phương có xu hướng giao Công trình thủy lợi nội đồng cho Công ty khai thác Công trình thủy lợi quản lý, tiếp tục làm tăng gánh nặng đến ngân sách nhà nước. Tổn thất nước quá lớn trong quá trình dẫn nước từ công trình đầu mối đến mặt ruộng: do ngấm, kênh bị bồi lắng, sạt lở… cản trở dòng chảy, thiếu hệ thống kênh nội đồng và các công trình điều tiết nước cho từng khu tưới.

Quản lý an toàn hồ đập chưa được coi trọng đúng mức, nhiều hồ đập bị xuống cấp có nguy cơ mất an toàn, tổ chức quản lý hồ đập (đặc biệt là hồ đập nhỏ) chưa đáp ứng yêu cầu; năng lực cảnh báo, dự báo sớm phục vụ chỉ đạo điều hành và vận hành hồ chứa còn yếu. Trong số 18 hồ và đập dâng trên, chỉ có 11 hồ đập đã có quy trình vận hành (Ái Tử; Hà Thượng; Triệu Thượng 1; Triệu Thượng 2; Đá Mài; Tân Kim; Bảo Đài; Sa Lung; Nam Thạch Hãn; Trúc Kinh; La Ngà), còn 07 công trình chưa có quy trình vận hành (Nghĩa Hy; Trung Chỉ; Khe Mây; Phú Dụng; Kinh Môn; Hồ Rú Lịnh; Bàu Nhum), chiếm 39%. Công tác quản lý, bảo vệ các hệ thống Thủy lợi nội đồng chưa được địa phương quan tâm.

Các công trình tiêu úng trên địa bàn tỉnh cũng chưa được quan tâm đúng mức nên Các trục tiêu chính bị bồi lấp hầu như không được nạo vét; hệ thống tiêu nội đồng, nội vùng không có, các trạm bơm tiêu lạc hậu, công suất thấp.

Cơ sở hạ tầng chậm được củng cố, tỷ lệ diện tích có tưới đạt 83,6%, tỷ lệ cung cấp nước cho các dịch vụ khác ít được quan tâm và phát huy hiệu quả; hạ tầng Thủy lợi nội đồng chưa đáp ứng yêu cầu Sản xuất nông nghiệp theo quy trình tiên tiến hoặc khó chuyển đổi khi thay đổi cơ cấu cây trồng. Các công trình trên địa bàn tỉnh được xây dựng đã lâu, đặc biệt là các hồ chứa phần lớn được xây dựng từ 30 – 40 năm, nên hiện nay một số hạng mục công trình đã bị xuống cấp. Trước đây do chuỗi tài liệu về khí tượng thủy văn còn ngắn, tiêu chuẩn thiết kế chưa được chỉnh sửa dẫn đến vấn đề an toàn đập chưa cao, khả năng phòng lũ còn thấp trong điều kiện Biến đổi khí hậu hiện nay. Những năm gần đây diễn biến khí hậu ngày càng phức tạp hạn hán, lũ lụt, nước dâng xảy ra liên tục làm cho hầu hết các tuyến đê biển, đê sông bị tàn phá nghiêm trọng. Nhiều kè đang có biến động mạnh, xói chân, mái bị sạt lở, xô tụt nhưng chưa có điều kiện tu sửa, hoặc khi có điều kiện mới tập trung củng cố một số đoạn đang có diễn biến xói lở mạnh. Hệ thống Công trình thủy lợi chủ yếu tập trung cung cấp nước cho cây lúa, phần lớn các cây trồng cạn chưa có tưới hoặc tưới bằng các biện pháp lạc hậu và lãng phí nước. Đầu tư hạ tầng Thủy lợi cho phục vụ nuôi trồng thủy sản rất thấp, hệ thống Thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu nuôi. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Công tác căm mốc chỉ giới bảo vệ công trình trong số 18 hồ và đập dâng, chỉ có 07 hồ đập đã được thực hiện (Hà Thượng; Triệu Thượng 1; Triệu Thượng 2; Đá Mài; Tân Kim; Trúc Kinh; La Ngà), còn 11 công trình chưa được cắm mốc (Ái Tử ; Nghĩa Hy; Trung Chỉ; Khe Mây; Phú Dụng; Kinh Môn; Hồ Rú Lịnh; Bàu Nhum; Bảo Đài; Sa Lung; Nam Thạch Hãn), chiếm 61%.

Hệ thống tài chính yếu kém, chủ yếu dựa vào nguồn thu từ ngân sách nhà nước, phương thức cấp phát và nghiệm thu không dựa vào chất lượng dịch vụ, các dịch vụ khai thác tổng hợp không được phát huy để tăng nguồn thu. Kinh phí đầu tư xây dựng công trình hạn chế nên nhiều công trình xây dựng chưa hoàn chỉnh và thiếu đồng bộ. Kinh phí cho duy tu, sửa chữa và quản lý hồ không được đầu tư đầy đủ nên nhiều hồ bị xuống cấp nghiêm trọng, không bảo đảm an toàn.

Hiện tại, trong bối cảnh thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế của tỉnh gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu ngành NN theo định hướng đa dạng và hiện đại nhằm nâng cao giá trị giai tăng của các sản phẩm NN cùng với phát triển bền vững và thích ứng với Biến đổi khí hậu thì hệ thống Công trình thủy lợi hiện có bộc lộ những nhiều hạn chế của hệ thống Thủy lợi chuyên cung cấp nước tưới cho sản xuất lúa với các phương pháp tưới lãng phí nước. Hạn chế chủ yếu của hệ thống tưới là tính linh hoạt, kém kiểm soát và hiệu quả thấp.

2.5.3. Nguyên nhân

Tác động bất lợi của Biến đổi khí hậu toàn cầu và của quá trình phát triển kinh tế-xã hội gây ra như gây suy giảm chất lượng rừng đặc biệt rừng đầu nguồn, phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, công nghiệp, giao thông cản trở tiêu thoát lũ,….;

  • Chậm đổi mới theo cơ chế thị trường, duy trì quá lâu cơ chế bao cấp trong QLKT Công trình thủy lợi

Hiện nay, IMC Quảng Trị hoạt động theo phương thức giao kế hoạch công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Cơ chế này một mặt thiếu công cụ giám sát cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, mặt khác hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân dẫn tới chất lượng quản trị của doanh nghiệp yếu kém, bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp, số lượng cán bộ, công nhân viên có xu thế ngày càng tăng; hệ thống Công trình thủy lợi bị xuống cấp nhanh; chất lượng cung cấp dịch vụ thấp; thiếu cơ chế để phát huy tiềm năng, lợi thế về đất đai, nước, cơ sở hạ tầng và các nguồn lực khác của tổ chức Quản lý khai thác để tăng nguồn thu. Nhiều hệ thống Công trình thủy lợi có tiềm năng khai thác để cấp nước sạch nông thôn, cấp và tiêu thoát nước đô thị, công nghiệp, dịch vụ cũng như cho NN công nghệ cao… nhưng đã không được tận dụng triệt để. Phương thức hoạt động như vậy dẫn tới cơ chế tài chính thiếu bền vững, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, cơ chế bao cấp đã hạn chế thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, hạn chế cơ chế cạnh tranh cho đầu tư xây dựng, Quản lý khai thác công trình.

  • QLTN cơ sở chưa phát huy được vai trò chủ thể và quyết định của người dân, sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Việc thành lập và hoạt động của tổ chức thủy nông cơ sở còn mang nặng tính áp đặt, thiếu sự tham gia chủ động, tích cực của người dân. Đây là nguyên nhân quan trọng, cơ bản nhất khiến nhiều tổ chức thiếu bền vững.

Chưa làm rõ chủ trương miễn, giảm Thủy lợi phí của nhà nước làm cho một bộ phận cán bộ, người dân coi công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi là nhiệm vụ của nhà nước dẫn tới tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước, sử dụng nước lãng phí.

Việc hỗ trợ người dân thông qua chính sách miễn, giảm Thủy lợi phí là cần thiết nhưng phương thức chi trả theo hình thức gián tiếp (phần lớn cấp bù qua doanh nghiệp), nên chưa gắn kết được trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ với người hưởng lợi, giảm tiếng nói, vai trò giám sát của người dân trong dịch vụ cung cấp nước đồng thời tạo tâm lý sử dụng nước lãng phí.

Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý bất cập hiện nay đã hạn chế sự tham gia của các thành phần kinh tế và người hưởng lợi trong Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là người dân chưa được tạo điều kiện để tham gia.

Chính quyền cấp xã và các tổ chức đoàn thể cơ sở chưa quan tâm đến quản lý Công trình thủy lợi, mà coi đó là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp khai thác Công trình thủy lợi. Nhiều Công trình thủy lợi phân cấp cho xã quản lý nhưng không có chủ quản lý thực sự.

  • Khoa học công nghệ chưa bám sát yêu cầu sản xuất, thiếu động lực áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nguồn nhân lực còn hạn chế

Khoa học công nghệ mặc dù được quan tâm đầu tư rất nhiều bằng nguồn lực trong nước và quốc tế nhưng việc áp dụng và hiệu quả hạn chế: chưa bám sát hoặc dự báo đúng nhu cầu thực tế, chậm áp dụng công nghệ tiên tiến trong dự báo hạn, úng, xâm nhập mặn, hỗ trợ ra quyết định trong phòng chống thiên tai; nguồn lực phân tán, dàn trải, năng lực công nghệ không được nâng cao, không được đơn vị sản xuất chấp nhận. Hiệu quả hợp tác quốc tế trong việc ứng dụng, học tập kinh nghiệm quốc tế về Quản lý khai thác Công trình thủy lợi còn thấp.

Cơ chế quản lý không tạo được động lực và nhiều lúc còn là rào cản cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là các dự án đầu tư công. Việc nghiên cứu cơ chế, chính sách tạo động lực, đổi mới công tác Quản lý khai thác, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành Công trình thủy lợi chưa được quan tâm đúng mức, nhất là kỹ thuật sử dụng nước tiết kiệm.

  • Cải cách thể chế, cải cách hành chính chậm, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao

QLKT Công trình thủy lợi chủ yếu vẫn thực hiện theo cơ chế bao cấp, với hình thức giao kế hoạch, theo cơ chế cấp phát-thanh toán không gắn với số lượng, chất lượng sản phẩm nên việc hạch toán kinh tế chỉ mang tính hình thức, gây nên sự trì trệ, yếu kém trong QLKT Công trình thủy lợi. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

Thiếu cơ chế chính sách tạo động lực để người dân tham gia xây dựng, Quản lý khai thác Công trình thủy lợi nội đồng. Thiếu cơ chế, động lực để thu hút nguồn nhân lực có trình độ, chất lượng cao. Thiếu thể chế ràng buộc quyền lợi và trách nhiệm của người đứng đầu với hiệu quả sử dụng tiền vốn, tài sản, lao động của nhà nước.

Phân giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cơ quan chuyên ngành và các cơ quan phối hợp trong quản lý tài nguyên nước, Quản lý khai thác Công trình thủy lợi thiếu tính khoa học và chưa phù hợp với xu hướng đổi mới quản lý dịch vụ công theo cơ chế thị trường.

Cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động Quản lý khai thác Công trình thủy lợi chưa phù hợp, nên hiệu lực và hiệu quả chưa cao.

  • e) Nhận thức về Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi còn hạn chế

Nhận thức của một số lãnh đạo quản lý và người dân chưa đúng, chưa đủ về các chính sách hiện hành trong Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi, đặc biệt là chính sách miễn, giảm Thủy lợi phí. Phần lớn hiểu chính sách miễn, giảm Thủy lợi phí là bỏ Thủy lợi phí, trong khi đó thực chất đây là hỗ trợ của Nhà nước nhằm giảm gánh nặng chi phí Sản xuất nông nghiệp cho người dân và có nguồn kinh phí để tu sửa, chống xuống cấp công trình. Do vậy, đã không phát huy được sự tham gia của người dân trong Quản lý khai thác Công trình thủy lợi, đặc biệt là Công trình thủy lợi nội đồng. Ở một số. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý công trình thủy lợi

One thought on “Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464