Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý, khai thác công trình thủy lợi Quảng Trị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam từ lâu vẫn được biết đến là một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp (SXNN) là chủ yếu với một số sản phẩm nông nghiệp (NN) có chất lượng trên thị trường quốc tế. Hội nhập quốc tế đã dẫn tới một xu hướng tất yếu là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỉ trọng NN, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Để phù hợp với xu thế đó Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm giảm tỉ trọng NN theo hướng bền vững. Có nghĩa là chú trọng vào mặt chất lượng, nâng cao giá trị gia tăng và đưa NN lên một tầm cao mới theo hướng phát triển NN công nghệ cao, NN hữu cơ, NN sạch là điểm tựa vững chắc cho các ngành kinh tế khác phát triển.
Trong các biện pháp được áp dụng thì thủy lợi (TL) là biện pháp có tầm quan trọng bậc nhất tạo điều kiện cho NN phát triển. Hệ thống các công trình thủy lợi (CTTL) có nhiệm vụ cung cấp nước và tiêu úng khi cần thiết. Nước đối với NN là vô cùng quan trọng, trong dân gian đến nay vẫn còn lưu truyền câu nói: ”Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Và chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói rằng: “Nước cũng có thể làm lợi, nhưng cũng có thể làm hại, nhiều nước quá thì úng lụt, ít nước quá thì hạn hán. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hoà với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Do đó, trong phát triển NN, Thủy lợi cần đi trước một bước để tạo tiền đề vững chắc cho việc nâng cao năng suất, hiệu quả cây trồng. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, từ khi hòa bình lập lại đến nay, chúng ta đã tập trung cao mọi nguồn lực cho công cuộc xây dựng các hệ thống Công trình thủy lợi. Việc nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác (QLKT) các Công trình thủy lợi, phục vụ Sản xuất nông nghiệp, dân sinh, kinh tế xã hội là nhiệm vụ quan trọng luôn được Chính phủ, các Bộ ngành trung ương, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (BNN&PTNT) ưu tiên quan tâm và chỉ đạo thực hiện.
Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau từ ngân sách trung ương, địa phương đầu tư, nhân dân đóng góp, viện trợ quốc tế… trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã đầu tư xây dựng hơn 500 Công trình thủy lợi lớn nhỏ, bao gồm: 131 hồ chứa, 204 đập dâng, 144 trạm bơm tưới, tiêu và 25 Công trình thủy lợi khác. Hệ thống kênh mương các loại được xây dựng để phục vụ tưới, tiêu với tổng chiều dài hơn 2.125 km, với tổng năng lực thiết kế tưới 47.300 ha/năm, hệ thống tiêu nước đầu, cuối vụ cho 7.500 ha, và ngăn mặn, chống lũ sớm cho 13.000 ha… Trong đó Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý, khai thác công trình Thủy lợi (IMC) Quảng Trị quản lý 16 hồ chứa, 02 đập dâng, 20 trạm bơm, 07 công trình (CT) ngăn mặn và hơn 700km kênh, phục vụ tưới cho 15.000ha đất canh tác [20].
Trong những năm qua, hệ thống các Công trình thủy lợi đã góp phần to lớn trong việc nâng cao năng suất cây trồng, phục vụ dân sinh và các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên hiện nay công tác Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Quảng Trị còn tồn tại những bất cập, hạn chế, chưa đạt hiệu quả cao, chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra. Chính vì vậy, để có thể phát huy hết năng lực của các Công trình thủy lợi thì vấn đề đặt ra là cần làm gì để nâng cao hiệu quả Quản lý khai thác hệ thống Công trình thủy lợi.
Để góp phần vào việc nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu vừa thiết thực, vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài đối với vấn đề nâng cao năng lực Quản lý khai thác hệ thống các công trình hiện có trên địa bàn tỉnh nói chung và tại IMC Quảng Trị nói riêng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết. Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý, khai thác công trình thủy lợi Quảng Trị”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Phân tích thực trạng quản lý các công trình thủy lợi tại IMC Quảng Trị giai đoạn 2015-2017, đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi tại Công ty trong thời gian đến.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý các công trình thủy lợi;
- Phân tích thực trạng quản lý các công trình thủy lợi tại IMC Quảng Trị giai đoạn 2015-2017 ;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi tại IMC Quảng Trị đến năm 2025.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề liên quan đến công tác Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi tại IMC Quảng Trị.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu là công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi tại IMC Quảng Trị;
- Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu, phân tích công tác Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi giai đoạn 2015-2017.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Được thu thập từ IMC Quảng Trị và một số đơn vị QLTN trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Được thu thập từ điều tra phỏng vấn trực tiếp 04 cán bộ lãnh đạo IMC Quảng Trị và 06 cán bộ lãnh đạo các Xí nghiệp trực thuộc, 15 cán bộ cụm quản lý thủy nông (15 người/35 cụm), và 35 người thuộc các tổ hợp tác dùng nước (35 người/304 HTX và tổ hợp tác dùng nước). Tổng số mẫu điều tra là 60 mẫu.
Nội dung thu thập số liệu của các đối tượng điều tra được thể hiện ở phụ lục 01 phiếu điều tra công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, bao gồm: các thông tin chung như đối tượng, họ và tên người được điều tra, giới tính, tuổi, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bộ phận công tác, cán bộ quản lý hay nhân viên, kinh nghiệm công tác. Các thông tin về công trình thủy lợi như loại công trình đang quản lý, năm xây dựng, năm tu bổ, thông số kỹ thuật công trình. Phần đánh giá công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi gồm 25 câu hỏi thuộc 5 lĩnh vực như Đánh giá công tác tổ chức/ phân cấp quản lý, Đánh giá quy trình vận hành công trình, Đánh giá công tác duy tu, sửa chữa công trình, Đánh giá công tác quản lý khai thác, sử dụng nước, và Đánh giá chung công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Ngoài ra còn có các câu hỏi mở về nhận xét tình hình quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn về kinh tế, xã hội và các vấn đề khác, những tồn tại, vướng mắc, và những giải pháp cần thiết để công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi được tốt hơn trong thời gian đến.
4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích
- Phương pháp thống kê mô tả: Tập hợp các số liệu và thông tin đã thu thập được, chọn lọc và thống kê những thông tin cần thiết.
- Phương pháp phân tổ: phân các chỉ tiêu nghiên cứu thành các tổ theo các tiêu thức khác nhau để phân tích, đánh giá và so sánh qua không gian, thời gian.
- Phương pháp so sánh: Sau khi thu thập và phân tích các số liệu cần thiết sẽ tiến hành so sánh qua các thời kỳ.
- Phương pháp hạch toán kinh tế: Dựa trên cơ sở tính toán các chỉ tiêu kinh tế như chi phí, doanh thu, lợi nhuận để hạch toán doanh thu, lỗ lãi.
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: thu thập thông tin từ các chuyên gia quản lý, các tài liệu đã công bố nhằm hệ thống cơ sở lý luận, thực tiễn, xây dựng quan điểm, định hướng, chiến lược và rút ra các kết quả, hạn chế và nguyên nhân nhằm đề xuất giải pháp. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm 3 chương nội dung:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý Công trình thủy lợi
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Công trình thủy lợi của IMC Quảng Trị
- Chương 3: Định hướng, mục tiêu và hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Công trình thủy lợi tại IMC Quảng Trị
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
1.1. Cơ sở lý luận về công trình thủy lợi
1.1.1. Khái niệm về thủy lợi, công trình thủy lợi
TL là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Thủy lợi còn có tác dụng chống lại sự cố kết đất. Thủy lợi thường được nghiên cứu cùng với hệ thống tiêu thoát nước, hệ thống này có thể là tự nhiên hay nhân tạo để thoát nước mặt hoặc nước dưới đất của một khu vực cụ thể [12] , [13].
TL theo nghĩa chung nhất là những biện pháp nhằm khai thác tài nguyên nước một cách hợp lý nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng. Những biện pháp khai thác nước bao gồm: khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua các hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy. Sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý có nghĩa là tận dụng những đặc tính hữu ích mà nó mang lại, mặt khác đấu tranh phòng chống và hạn chế những thiệt hại do nước gây ra đối với sản xuất và đời sống. Những lợi ích mà nguồn nước đem lại vô cùng to lớn và có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển kinh tế, phục vụ đời sống dân sinh, bao gồm nước dùng cho phát triển NN (trồng trọt, nuôi trồng thủy sản…), phát triển tiểu – thủ công nghiệp, phục vụ sinh hoạt, tạo cảnh quan phát triển du lịch, cải tạo môi trường sinh thái… [13].
TL là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ Sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) và bảo đảm an ninh nguồn nước [9].
CTTL là công trình hạ tầng kỹ thuật Thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao Thủy lợi và công trình khác phục vụ Quản lý khai thác Thủy lợi [9].
Hệ thống Công trình thủy lợi: Bao gồm các Công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định. Hệ thống Công trình thủy lợi bao gồm: công trình đầu mối, mạng lưới kênh mương, các công trình trên kênh… [12] , [13]. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
a) Công trình thủy lợi đầu mối: là Công trình thủy lợi ở vị trí khởi đầu của hệ thống tích trữ, điều hòa, phân phối, cấp, điều tiết nước hoặc công trình ở vị trí cuối của hệ thống tiêu, thoát nước [9].
- Hồ chứa nước: Giữ nước mưa và dòng chảy của sông suối trong mùa mưa để sử dụng trong mùa khô. Hồ chứa nước thường bao gồm các hạng mục: Đập ngăn nước, đập tràn xả nước thừa, cống lấy nước vào kênh dẫn…
- Đập dâng: Ngăn nước của sông, suối để tạo mực nước cần thiết chảy trong kênh mương đến các khu cần tưới. Đập dâng cùng với cống lấy nước đầu kênh tạo thành cụm đầu mối công trình đập dâng nước.
- Cửa lấy nước không đập: Là hình thức lấy nước trực tiếp từ khe suối vào kênh dẫn đến các khu tưới mà không cần có đập dâng.
- Trạm bơm: Trạm bơm nước từ nguồn nước vào kênh hoặc đường ống dẫn phục vụ sản xuất, dân sinh, (bao gồm bơm điện, bơm dầu, bơm thuỷ luân…).
b, Mạng lưới kênh mương
Kênh đất, kênh lát mái, kênh xây gạch, đá, kênh bê tông, kênh bằng đường ống các loại… (có độ dốc đảm bảo dẫn nước tự chảy thông suốt từ đầu mối đến mặt ruộng hoặc nơi cần cấp nước, tiêu nước). Kênh mương tưới là kênh mương làm nhiệm vụ dẫn nước tưới từ đầu mối đến mặt ruộng hoặc nơi cần cấp nước. Mạng lưới kênh mương được chia thành các cấp kênh: kênh chính (kênh cấp I) dẫn nước từ đầu mối cấp vào các kênh nhánh (cấp II). Kênh nhánh cấp II cấp nước vào kênh nhánh cấp III. kênh nhánh cấp III cấp nước vào kênh nội đồng. Kênh mương tiêu là kênh mương làm nhiệm vụ tiêu thoát nước chống sói lở, ngập úng.
c, Các công trình trên kênh
Cống lấy nước đầu kênh, bể lắng cát kết hợp tràn xả nước thừa khi có lũ, tràn qua kênh, kết hợp tràn nước thừa trong kênh, ống dẫn xi phông, cầu máng, công trình chia nước, cống tiểu câu.
1.1.2. Vai trò, vị trí của công trình Thủy lợi trong Sản xuất nông nghiệp và đời sống xã hội Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Hệ thống Công trình thủy lợi là một trong những loại cơ sở hạ tầng thiết yếu thiết lập những tiền đề cơ bản và tạo ra môi trường thuận lợi, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đầu tư cho Thủy lợi vừa để kích cầu vừa để phát triển kinh tế. Kinh nghiệm cho thấy ở đâu có Thủy lợi thì ở đó có sản xuất phát triển và đời sống nhân dân ổn định. Thủy lợi thực hiện tổng hợp các biện pháp sử dụng các nguồn lực của nước trên mặt đất, dưới mặt đất để phục vụ Sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt nông thôn, đồng thời hạn chế tác hại của nước gây ra cho sản xuất và sinh hoạt của nông dân. Như vậy, Thủy lợi hóa là một quá trình lâu dài nhưng có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển nền NN đất nước.
NN theo nghĩa rộng bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, lâm nghiệp, ngư nghiệp… tất cả các hoạt động này đều rất cần có nước. Nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thời tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để NN phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân đặc biệt đối với sự phát triển của ngành NN nói chung và cây lúa nói riêng, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta. Vì vậy mà hệ thống Thủy lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước như sau:
Tưới, tiêu nước phục vụ Sản xuất nông nghiệp và dân cư
Nhờ có hệ thống Thủy lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới cho NN đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa trong sản xuất. Mặt khác nhờ có hệ thống Thủy lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng vụ, tăng hệ số quay vòng sử dụng đất. Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã tăng vụ mùa trong sản xuất. Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư một cách thích đáng của Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho ngành Thủy lợi có sự phát triển đáng kể và góp phần vào vấn đề xoá đói giảm nghèo, tăng sản lượng lương thực và xuất khẩu thu ngoại tệ… Ngoài ra, nhờ có hệ thống Thủy lợi cũng góp phần vào việc chống hiện tượng sa mạc hoá.
Tăng năng suất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu NN, giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực.
Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới.
Đê có vai trò lớn trong việc phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ Sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt dân cư Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
TL góp phần to lớn vào việc phòng chống lũ lụt vào mùa mưa lũ lớn và ngăn mặn xâm thực, giữ nguồn nước ngọt ổn định để phục vụ sản xuất và đời sống dân cư do xây dựng các công trình đê điều … từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất.
- Về đê sông: Hệ thống bờ bao đê sông có vai trò lớn trong việc ngăn lũ vào mùa mưa, chống được lũ sớm, lũ tiểu mãn để bảo vệ vụ lúa Hè – Thu và các điểm dân cư trong vùng kiểm soát lũ. Trong điều kiện hiện nay do trên nhiều sông lớn phát triển nhiều thủy điện hồ đập nên đê sông có khả năng phòng chống lũ lụt khi các hồ đập xả thoát và điều tiết nước vào mùa mưa.
- Về đê biển: Hệ thống đê biển có thể ngăn mặn và triều tần suất cao khi gặp bão tố, sóng thần hay các hiện tượng thiên nhiên nước dâng khác.
Cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản
Đi đôi với mở rộng diện tích tưới nước để đảm bảo nước ngọt quanh năm cho nhiều vùng rộng lớn ở cả đồng bằng, trung du, miền núi, tạo điều kiện phân bổ lại dân cư, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, phát triển thuỷ sản.
Ngoài việc cung cấp nước phục vụ Sản xuất nông nghiệp, hệ thống Thủy lợi còn cung cấp nước sạch ở nông thôn, đô thị, khu đô thị, khu công nghiệp,… Bên cạnh đó hệ thống Thủy lợi còn đảm bảo nguồn nước cho nuôi trồng thuỷ sản nội địa và tạo điều kiện cho mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản vùng nước ngọt, nước lợ.
Bảo vệ, cải tạo môi trường sinh thái và phát triển thuỷ điện
- Các hồ đập được xây dựng ở mọi miền đã làm tăng độ ẩm, điều hoà dòng chảy, tạo điều kiện để ổn định cuộc sống định canh định cư để giảm đốt phát rừng. Các trục kênh tiêu thoát nước của các hệ thống thuỷ nông đã tạo nguồn nước ngọt, tiêu thoát nước thải cho nhiều đô thị, thành phố.
- Song hành với hệ thống tưới, tiêu, đê điều và đường thi công, Công trình thủy lợi đã góp phần hình thành mạng giao thông thuỷ, bộ rộng khắp. Đã cải tạo các vùng đất, nước chua phèn, mặn ở đồng bằng, nhiều vùng đất “chiêm khe mùa thối” mà trước đây người dân phải sống trong cảnh “6 tháng đi chân, 6 tháng đi tay”, thành những vùng 2 vụ lúa ổn định có năng suất cao, phát triển được mạng đường bộ, bảo vệ được cây lưu niên, có điều kiện ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
- Các hồ chứa có tác động tích cực cải tạo điều kiện vi khí hậu của một vùng, làm tăng độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tạo nên các thảm thực vật chống xói mòn, rửa trôi đất đai.
- Bên cạnh đó các hồ chứa có vai trò to lớn phát triển hệ thống thủy điện quốc gia, phục vụ phát triển đất nước.
Hệ thống Thủy lợi có vai trò quan trọng trong xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới
TL nói chung và các hệ thống thủy nông nói riêng đã đóng góp đáng kể vào việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Tóm lại, hệ thống Thủy lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi nhuận một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo. Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc CNH – HĐH đất nước.
1.1.3. Đặc điểm của Công trình thủy lợi
Xuất phát từ đặc điểm của công tác Thủy lợi, mục đích sử dụng, hệ thống Công trình thủy lợi có những đặc điểm sau:
- Hệ thống Công trình thủy lợi phục vụ cho nhiều đối tượng. Ngoài nhiệm vụ chính là phục vụ cho nhu cầu tưới tiêu NN thì nhiệm vụ cung cấp nước cho các khu công nghiệp, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, tiêu nước cho các khu dân cư và khu công nghiệp, giao thông, du lịch,…
- Chứa đựng rất nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật xây dựng khác nhau. Ngoài công tác quản lý và sử dụng, các Công trình thủy lợi còn mang tính chất quần chúng. Đơn vị quản lý phải dựa vào dân, vào chính quyền địa phương để làm tốt việc điều hành tưới, tiêu, thu Thủy lợi phí, tu sửa bảo dưỡng công trình và bảo vệ công trình. Do đó, đơn vị Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi không những phải làm tốt công tác chuyên môn mà còn phải làm tốt công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia khai thác và bảo vệ công trình trong hệ thống.
- Hệ thống Công trình thủy lợi nhằm cải tạo thiên nhiên, khai thác các mặt lợi và khắc phục các mặt hại để phục vụ cho nhu cầu của con người. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
- Hệ thống Công trình thủy lợi nằm rải rác ngoài trời, trên diện rộng, có khi qua các khu dân cư, nên ngoài tác động của thiên nhiên, còn chịu tác động của con người. Hệ thống Công trình thủy lợi thường xuyên đối mặt trực tiếp với sự tàn phá của thiên nhiên, trong đó có sự phá hoại thường xuyên và sự phá hoại bất thường.
- Vốn đầu tư xây dựng các công trình thường là rất lớn. Hệ thống Công trình thủy lợi có giá trị lớn tuy nhiên vốn lưu động ít, lại quay vòng chậm. Để có kinh phí hoạt động, có những lúc các đơn vị quản lý công trình thường phải vay ngân hàng và trả lại cao. Các Công trình thủy lợi không được mua bán như các công trình khác. Do đó hình thức tốt nhất để quản lý và sử dụng các Công trình thủy lợi là cộng đồng cùng tham gia.
- Các Công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu, trong đó tưới tiêu phục vụ cho Sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, sản xuất công nghiệp, phát điện, giao thông, du lịch, chống lũ, ngăn mặn, cải tạo đất, môi trường sinh thái. Công trình thủy lợi là kết quả tổng hợp và có mối quan hệ mật thiết hữu cơ về lao động của rất nhiều người trong nhiều lĩnh vực, bao gồm từ các công tác quy hoạch, nghiên cứu khoa học, khảo sát, thiết kế, chế tạo, thi công, đến Quản lý khai thác.
- Sản phẩm của công tác khai thác Công trình thủy lợi là hàng hóa đặc biệt có tính chất đặc thù riêng biệt. Sản phẩm là khối lượng nước tưới, tiêu phục vụ cho nhu cầu Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cho sinh hoạt. Công trình thủy lợi muốn phát huy hiệu quả phải được xây dựng kênh mương đồng bộ khép kín từ đầu mối đến tận ruộng. Mỗi công trình, hệ thống Công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhất định theo thiết kế không thể di chuyển từ vùng đang thừa nước đến vùng thiếu nước theo yêu cầu thời vụ, phải đều có một tổ chức Nhà nước, tập thể hay cá nhân trực tiếp quản lý, vận hành theo yêu cầu của các hộ sử dụng. Nhiều nông dân được hưởng lợi từ một Công trình thủy lợi hay nói cách khác một Công trình thủy lợi phục vụ cho nhiều người dân trong cùng một khoảng thời gian.
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý Công trình thủy lợi Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
1.2.1. Một số khái niệm
Quản lý: là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và kháng thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Quản lý là một phạm trù với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động, bất kỳ hoạt động nào mà do một tổ chức thực hiện đều cần quản lý nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân thực hiện những chức năng chung. Quản lý có thể được hiểu là các hoạt động nhằm bảo đảm hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác [12].
Quản lý Công trình thủy lợi: là quá trình lập kế hoạch, tổ chức điều hành hệ thống Công trình thủy lợi theo một quy hoạch phù hợp, bao gồm công tác kế hoạch hóa, điều hành bộ máy, quản lý điều hành, duy tu công trình, quản lý tài sản và tài chính và kiểm tra, kiểm soát các quá trình vận hành [12].
Quản lý Công trình thủy lợi là một nghệ thuật điều hành xây dựng hệ thống hoạt động nghiên cứu triển khai, thiết kế, duy tu bảo dưỡng Công trình thủy lợi và kết hợp tổng thể các nguồn nhân lực với các nguồn vật chất thông qua một chu trình khép kín của công trình, bằng việc sử dụng các kỹ năng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu như thiết kế ban đầu và mục đích phục vụ của công trình, đồng thời nhằm bảo đảm phát huy hết năng lực và công suất làm việc của các Công trình thủy lợi.
Các Công trình thủy lợi được quản lý theo pháp lệnh khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi. Cần phải ban hành các luật cụ thể về khai thác sử dụng các Công trình thủy lợi để hướng các cá nhân, các công ty, doanh nghiệp có các hoạt động kinh doanh sản xuất phù hợp với mục đích bảo vệ công trình. Công trình thủy lợi cần phải giao cho các tổ chức của địa phương đặc biệt quan tâm tới cộng đồng quản lý dưới các hình thức ban tự quản và nhóm sử dụng nước. Mặt khác, phải điều tra hiện trạng các Công trình thủy lợi, lên quy hoạch duy tu bảo dưỡng, sửa chữa và bảo vệ công trình. Khẩn trương tiến hành các chương trình dự án duy tu, sữa chữa, nâng cấp và làm mới các công trình để đảm bảo cho sự phát triển.
Khai thác: là tổng hợp những hoạt động để những sản vật có sẵn trong tự nhiên, những đối tượng nhân tạo được sử dụng một cách hợp lý nhằm tận dụng hết khả năng tiềm tàng vào phục vụ mục đích của con người [12].
Khai thác Công trình thủy lợi: là việc khai thác, sử dụng tiềm năng và lợi thế của Công trình thủy lợi để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường [12].
1.2.2. Các bước quản lý Công trình thủy lợi Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Trong công tác quản lý Công trình thủy lợi gồm các bước sau:
- Lập kế hoạch: Là một hoạt động của quá trình quản lý mà con người cần hướng vào mục tiêu để đạt được mục đích chung.
- Tổ chức: Là quá trình liên quan đến mục tiêu, kế hoạch và xác định trao trách nhiệm quyền quản lý cho các tổ chức cá nhân để có hiệu quả nhất.
- Điều hành, vận hành: Là những hoạt động để xác định phạm vi, quyền hạn ra quyết định, phân bổ và sử dụng các nguồn lực hợp lý, tăng cường quản lý có sự tham gia của cộng đồng và đảm bảo đúng mức độ, mục đích.
- Thúc đẩy: Nhằm tìm ra được những mặt lợi để thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý sử dụng có hiệu quả nhất.
- Kiểm soát và theo dõi: Là quá trình theo dõi, đánh giá kết quả đạt được.
1.2.3. Nội dung công tác quản lý Công trình thủy lợi
1.2.3.1. Tổ chức bộ máy Quản lý khai thác Công trình thủy lợi
CTTL có vai trò đặc biệt quan trọng không những phục vụ trong Sản xuất nông nghiệp mà còn có vai trò lớn trong việc cung cấp nước, tiêu nước phục vụ đời sống nhân dân, cung cấp nước cho các ngành khác phát triển như công nghiệp, dịch vụ,… Nếu quản lý và sử dụng không hợp lý, các Công trình thủy lợi có thể gây ra những hậu quả nặng nề cho xã hội, đặc biệt là lũ lụt. Chính vì thế, nhà nước cần có các quy định cụ thể trong việc tổ chức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Như vậy, tổ chức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi của địa phương được giao cho UBND tỉnh chịu trách nhiệm Quản lý khai thác. Tùy thuộc các địa phương khác nhau, công tác tổ chức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi khác nhau nhưng Sở NN&PTNT là cơ quan trực tiếp được UBND tỉnh giao phó công tác tổ chức quản lý, vận hành các Công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh.
Tổ chức quản lý Công trình thủy lợi có thể bao gồm nhiều bên liên quan khác nhau. Khi phân tích đánh giá công tác quản lýCTTL cần phải xác định cụ thể chức năng, phạm vi và nhiệm vụ của tổ chức trong mối quan hệ chặt của các đơn vị khác.
1.2.3.2. Công tác quản lý công trình Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
- Đo đạc, quan trắc, giám sát, kiểm tra, kiểm định, đánh giá an toàn Công trình thủy lợi;
- Quản lý, tổ chức bảo trì, đầu tư nâng cấp, xây dựng mới, hiện đại hóa, xử lý khắc phục sự cố công trình, máy móc, thiết bị; cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ Công trình thủy lợi;
- Trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án ứng phó thiên tai và phương án bảo vệ Công trình thủy lợi;
- Lập, lưu trữ hồ sơ kỹ thuật về quản lý Công trình thủy lợi.
1.2.3.3. Công tác quản lý nước
- Thu thập thông tin dự báo khí tượng thủy văn; đo đạc, quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng trên lưu vực; quan trắc, dự báo, cảnh báo lũ, ngập lụt, úng, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, số lượng, chất lượng nước; kiểm kê nguồn nước trong hệ thống Công trình thủy lợi, phân tích nhu cầu sử dụng nước;
- Lập và tổ chức thực hiện kế hoạch tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu, thoát nước, sử dụng nước; kiểm soát chất lượng nước, xâm nhập mặn; thực hiện phương án ứng phó thiên tai;
- Bảo vệ môi trường, chất lượng nước trong phạm vi bảo vệ Công trình thủy lợi; kiểm tra, kiểm soát việc xả chất thải, nước thải vào Công trình thủy lợi;
- Lập, lưu trữ hồ sơ kỹ thuật về quản lý, phân phối nước trong hệ thống Công trình thủy lợi.
1.2.3.4. Công tác quản lý kinh tế
- Tổ chức lập, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, áp dụng các định mức kinh tế – kỹ thuật phục vụ Quản lý khai thác Công trình thủy lợi;
- Tổ chức xây dựng và thực hiện kế hoạch cung cấp sản phẩm, dịch vụ Thủy lợi;
- Ký kết, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng cung cấp, sử dụng dịch vụ Thủy lợi;
- Xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi và các nguồn lực được giao;
- Định kỳ đánh giá hiệu quả Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch khai thác tổng hợp, mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ để phát huy năng lực Công trình thủy lợi;
- Lập, lưu trữ hồ sơ về quản lý tài sản, tài chính. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
1.2.4. Các tiêu chí đánh giá quản lý Công trình thủy lợi
1.2.4.1. Các tiêu chí phản ánh kết quả công tác quản lý Công trình thủy lợi
Để đánh giá kết quả công tác quản lý Công trình thủy lợi, trong khuôn khổ luận văn này tôi sử dụng các tiêu như:
- Mức độ hoàn thành kế hoạch do công tác quản lý đề ra như kế hoạch tưới tiêu, kế hoạch vận hành công trình, kế hoạch du tu, sửa chữa, kế hoạch phân cấp quản lý,…
- Mức độ thực hiện kế hoạch đề ra theo số tương đối và số tuyệt đối. Ngoài ra, việc đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động quản lý có thể được thực hiện thông qua khảo sát các bên liên quan. Sử dụng bảng hỏi để thu thập ý kiến của họ về việc thực hiện các nội dung cụ thể của quản lý Công trình thủy lợi. Mức độ thực hiện thường được đánh giá theo thang đo Likert 5 mức độ.
1.2.4.2. Các tiêu chí phản ánh hiệu quả công tác quản lý Công trình thủy lợi
Đánh giá hiệu quả là chỉ tiêu tổng hợp, đối với công tác quản lý Công trình thủy lợi, thể hiện ở các tiêu chí sau:
Hiệu quả của tổ chức bộ máy được xác định bởi hai yếu tố:
- Tổ chức bộ máy khoa học.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
Tính khoa học của tổ chức bộ máy được thể hiện qua các đặc tính:
- Khách quan: tính pháp lý của tổ chức bộ máy;
- Hợp lý: cơ cấu tổ chức bộ máy; Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
- Đồng bộ: mối tương quan giữa chức năng, nhiệm vụ với việc bố trí lao động;
- Hiệu quả: đảm bảo hoàn thành các chức năng nhiệm vụ được giao với chi phí tiết kiệm, khôn lãng phí nguồn lực.
Để đạt được những yêu cầu trên, một trong những yếu tố quan trọng là phải xác định được chức năng, nhiệm vụ của tổ chức bộ máy, xác định số phòng ban, biên chế cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên cơ sở tiêu chuẩn hoá theo chức danh đối với cán bộ công chức. Mỗi cán bộ, công chức phải có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ tương ứng để đảm nhận công việc mà bộ máy tổ chức yêu cầu. Việc xác định chức danh cán bộ, công chức thực chất là phân công cán bộ, công chức theo vị trí lao động trong bộ máy và xác định trách nhiệm, thẩm quyền trước bộ máy và pháp luật.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:
Trong thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất tốt, đủ năng lực thì ngành đó, đơn vị đó hoạt động hiệu quả. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phải tiến hành chặt chẽ: đúng trình độ, năng lực cán bộ, công chức đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức mà cán bộ đang yếu, đang thiếu.
Hiệu quả khai thác các Công trình thủy lợi
Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả tưới, tiêu và cung cấp nước cho các lĩnh vực cho xã hội. Ở đây chúng ta có thể đánh giá hiệu quả của công tác quản lý qua hiệu quả kinh tế của công ty, là hiệu của kết quả sau khi trừ đi chi phí, nó chính là phần thu nhập hoặc lợi nhuận của công ty có được trong quá trình hoạt động.
Trong lĩnh vực thủy lợi, hiệu quả lớn nhất có được là hiệu quả về mặt xã hội và môi trường. Hiệu quả xã hội thể hiện ở khía cạnh hoạt động công ích của công ty cung cấp nước tưới cho ngành nông nghiệp, thủy sản; nước sản xuất cho ngành công nghiệp và nước sinh hoạt cho xã hội. Hiệu quả xã hội ở đây còn tính đến mức độ điều tiết lũ lụt, tiêu nước lũ, ngăn mặn, giữ ngọt,… giảm thiệt hại về người và tài sản cho cộng đồng, xã hội. Hiệu quả môi trường như điều hòa tiểu khí hậu các vùng có thủy lợi, đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường. Trong khuôn khổ đề tài, tác giả không đề cập và đánh giá đến hiệu quả về môi trường. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
1.2.4.3. Các tiêu chí phản ánh mức độ tác động của hoạt động quản lý
Mức độ tác động của hoạt động quản lý được đánh giá thông qua các tiêu chí về kết quả và hiệu quả đạt được.
Trong quản lý nhà nước, tác động của hoạt động quản lý được hiểu là việc xem xét theo định kỳ một cách hệ thống và khách quan kết quả đạt được của đối tượng tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chí đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Như vậy, đánh giá mức độ tác động không đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng. Vì thế, đánh giá mức độ tác động được xem là một khâu rất quan trọng, đan xen với các khâu kế hoạch và triển khai. Đánh giá mức độ tác động còn là xem xét tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, ảnh hưởng và tính bền vững của đối tượng được đánh giá.
Mục đích của việc đánh giá mức độ tác động là để xác định tính phù hợp và mức độ hoàn thành của kết quả đạt được so với các mục tiêu, tính hiệu quả, những tác động khác của kết quả…. Quá trình đánh giá cần cung cấp thông tin trung thực, khách quan và hữu ích, cho phép lồng ghép những bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Ngoài ra, mức độ tác động của hoạt động quản lý được đo lường một cách tổng hợp thông qua các mức độ đánh giá của các đối tượng có liên quan, đặc biệt các Cụm quản lý thủy nông, các HTX và tổ dùng nước và người dân hưởng lợi.
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác Quản lý công trình thủy lợi Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
1.2.5.1. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
Nguồn nhân lực và công tác tổ chức bộ máy Quản lý khai thác Công trình thủy lợi
Chất lượng nguồn nhân lực, kể cả cán bộ lãnh đạo quản lý của công ty và ở nhiều tổ chức, đơn vị chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác tổ chức quản trị thiếu khoa học nên chi phí cao, năng suất lao động thấp, bộ máy cồng kềnh, chi tiền lương chiếm phần lớn nguồn thu của doanh nghiệp. Hầu hết các đơn vị Quản lý khai thác Công trình thủy lợi đều là doanh nghiệp nhà nước vận hành theo cơ chế bao cấp đã hạn chế tính năng động và thiếu động lực phát triển.
Đối với bộ máy quản lý Nhà nước về Thủy lợi, phân giao nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành còn nhiều bất cập, chồng chéo dẫn đến khó khăn trong điều hành chỉ đạo. Một số địa phương vẫn còn có sự trùng lẫn giữa chức năng quản lý Nhà nước và quản lý Sản xuất, chức năng quản lý nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ công ích của nhà nước.
Quản lý vẫn mang nặng tính quan liêu, mệnh lệnh, không phù hợp với cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường. Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát chưa bám sát thực tiễn và chưa được coi trọng, các thủ tục hành chính còn rườm rà.
Phương thức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi chậm đổi mới theo cơ chế thị trường. Cơ chế quản lý mang tính “nửa thị trường, nửa bao cấp”, doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, trong khi quản lý Sản xuất của doanh nghiệp theo cơ chế bao cấp không tạo ra động lực để thúc đẩy phát triển.
Quản lý Sản xuất bằng phương thức giao kế hoạch, theo cơ chế bao cấp dẫn đến tư tưởng dựa dẫm, trông chờ vào nhà nước. Quản lý tài chính theo hình thức cấp phát thanh toán, chưa ràng buộc chặt chẽ với cơ chế kiểm tra giám sát, đánh giá và tính công khai minh bạch đã làm sai lệch bản chất hoạt động Sản xuất trong nền kinh tế thị trường.
Đánh giá kết quả hoạt động Sản xuất chưa dựa vào kết quả đầu ra, thanh quyết toán chủ yếu dựa vào chứng từ, nặng về thủ tục hành chính. Cơ chế ràng buộc quyền lợi, trách nhiệm của người đứng đầu với hiệu quả sử dụng tiền vốn, tài sản vật tư, lao động của nhà nước chưa rõ ràng và thiếu chặt chẽ gây ra lãng phí nguồn lực. Phân phối thu nhập cho người lao động vẫn mang tính cào bằng dẫn đến năng suất lao động thấp, chí phí Sản xuất cao. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Phân cấp quản lý chưa phù hợp, nên hầu hết các Công trình thủy lợi đều do doanh nghiệp nhà nước quản lý đã không tạo được sân chơi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia nên chưa huy động được sức mạnh của các tổ chức cá nhân ở khu vực ngoài nhà nước và của nhân dân, đặc biệt là người hưởng lợi từ Công trình thủy lợi.
Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến trong quản lý, vận hành và khai thác Công trình thủy lợi
Nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành Công trình thủy lợi giữ vai trò quan trọng trong công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Đầu tư trang thiết bị khoa học công nghệ trong Quản lý khai thác Công trình thủy lợi cao có ảnh hưởng lớn đến năng suất công trình và năng suất lao động. Hiện nay khoa học công nghệ được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Ngoài việc áp dụng tiến bộ trong Quản lý khai thác công trình, áp dụng công nghệ tiên tiến trong dự báo hạn, úng, xâm nhập mặn, hỗ trợ ra quyết định trong phòng chống thiên tai có tác động lớn đến công năng và hiệu suất của công trình, cũng như tính an toàn công trình. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến bảo vệ Công trình thủy lợi và nguồn nước ở các địa bàn hết sức quan trọng.
Cơ sở hạ tầng và tính đồng bộ của hệ thống Công trình thủy lợi
Cơ sở hạ tầng và tính đồng bộ đầy đủ của hệ thống Công trình thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Việc chú trọng đầu tư xây dựng mới, đầu tư công trình đầu mối và đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa, hoàn chỉnh hệ thống sao cho đồng bộ, đầy đủ có ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác.
Ngoài ra các nhân tố về khả năng tài chính của công ty, chiến lược sản xuất dịch vụ của công ty.
1.2.5.2. Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Diễn biến thời tiết khí tượng thủy văn có xu hướng ngày càng bất lợi, thiên tai xảy ra ngày càng khắc nghiệt, dẫn đến việc phá huỷ hệ thống, thay đổi yêu cầu phục vụ tưới tiêu của các Công trình thủy lợi. Trong thiên nhiên, sự tổng hợp các điều kiện không nơi nào giống nhau cho nên hầu như Công trình thủy lợi nào cũng có những đặc điểm riêng. Thực tế xây dựng Công trình thủy lợi do tài liệu thủy văn không đầy đủ, không chính xác nên Công trình thủy lợi được xây dựng nhưng khả năng tháo lũ không đủ, gây nguy hiểm khi lũ lớn, nhiều trạm thủy điện không chạy đủ công suất.
Sự phát triển kinh tế xã hội đã làm cho các hệ thống Công trình thủy lợi bị xâm hại, vùng tưới bị xâm chiếm, nhiều hệ thống Thủy lợi bị thay đổi mục tiêu nhiệm vụ và giảm sự chi phối. Đồng thời, quá trình phát triển kinh tế xã hội cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước trong các hệ thống Công trình thủy lợi.
Ngoài ra yếu tố xã hội bao gồm các đặc điểm liên quan đến người sử dụng như tính cộng đồng, trình độ kỹ thuật, tập quán canh tác của nông dân cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc quản lý Công trình thủy lợi.
1.3. Tổng quan về công tác Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi ở nước ta Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
1.3.1. Những văn bản pháp quy về Quản lý khai thác hệ thống Công trình thủy lợi
Trong những năm vừa qua, Nhà nước và Bộ NN&PTNT đang từng bước, cũng cố và hoàn thiện về khung pháp lý và các văn bản hành chính hỗ trợ cho công tác Quản lý khai thác các hệ thống tưới tiêu như: Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi số 32/2001/PLUBTVQH10 ngày 4/4/2001, Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003; Nghị định 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008; Nhằm đồng bộ và thực hiện các nội dung của Nghị định 115/2008/NĐ-CP, Bộ NN&PTNT đã ban hành, Chỉ thị số 1268/CT-BNN-TL ngày 2/5/2009 về việc tăng cường công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi; Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12 tháng 10 năm 2009 Hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp Quản lý khai thác Công trình thủy lợi; Để thống nhất, hỗ trợ các chính sách trên Thông tư số 11/2009/TT-BTC ngày 21/01/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn đặt hàng, giao kế hoạch đối với các đơn vị làm nhiệm vụ Quản lý khai thác Công trình thủy lợi và quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước làm nhiệm vụ Quản lý khai thác Công trình thủy lợi đã phản ánh được hoạt động của các đơn vị Quản lý khai thác Công trình thủy lợi thông qua quản lý nguồn nước và quản lý hạch toán tài chính làm cơ sở cấp bù Thủy lợi phí. Về quản lý hoạt động, tổ chức doanh nghiệp khai thác Công trình thủy lợi: Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đã tạo hành lang pháp lý cho việc củng cố và ổn định tổ chức của các doanh nghiệp Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Quyết định số 2891/QĐ-BNN-TL ngày 12/10/2009 của Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Hướng dẫn xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi và tiếp theo là Thông tư số 56/2010/TT-BNNPTNT ngày 01 tháng 10 năm 2010 của Bộ NN và PTNT Quy định một số nội dung trong hoạt động của các tổ chức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi; Thông tư số 40/2011/TT-BNNPTNT ngày 27/5/2011 quy định điều kiện, năng lực của các tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, vận hành các hệ thống Công trình thủy lợi. Đây là những văn bản quan trọng, đã và đang được áp dụng thời gian qua, tạo cơ sở pháp lý giúp các địa phương, các đơn vị Quản lý khai thác Công trình thủy lợi triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách, đồng thời tăng cường công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Chính sách Thủy lợi phí mới thực sự là một bước ngoặt trong công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/09/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi, Nghị định lần này đã điều chỉnh mức thu phù hợp với chi phí thực tế phát sinh của các đơn vị Quản lý khai thác Công trình thủy lợi so với mức thu Thủy lợi phí quy định tại Nghị định số 115/2008/NĐ-CP bình quân tăng lên là 1,5 lần, đồng thời thống nhất mức thu Thủy lợi phí cũng là mức cấp bù đối với công trình đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước, đảm bảo 100% kinh phí miễn Thủy lợi phí tăng thêm cho các đơn vị thủy nông trung ương và các địa phương nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương… Theo Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng: Với chính sách miễn Thủy lợi phí mới này, đây sẽ là một trong những giải pháp tích cực đầu tư công vào NN nông thôn, thực hiện chính sách tam nông theo Nghị quyết số 26/NQ-TW khóa 10 của Ban chấp hành trung ương Đảng là một trong những nhiệm vụ thiết thực phục vụ cho chính sách an sinh xã hội, có những tác động mạnh mẽ về mặt chính sách vĩ mô nhằm khuyến khích người nông dân ở những vùng còn khó khăn, hạn chế về điều kiện sản xuất tích cực đầu tư hơn cho Sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch sản xuất từ cây lúa sang các cây trồng vật nuôi khác có hiệu quả kinh tế cao.
Trong những năm 2009-2012 gần 100 tiêu chuẩn kỹ thuật Thủy lợi đã được Bộ NN và PTNT chỉ đạo rà soát, bổ sung, nâng cấp, hoàn thiện, xây dựng mới và phổ biến thành các tiêu chuẩn quốc gia nhằm đáp ứng được đòi hỏi phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, hội nhập với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của thế giới cũng như đảm bảo việc thích ứng với thiên tai và Biến đổi khí hậu. Bộ NN& PTNT đang tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và ban hành một số văn bản quy định về công tác kiểm tra đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ tưới tiêu, chính sách tạo cơ chế chủ động cho doanh nghiệp trong Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Hệ thống đánh giá định chuẩn (Benchmarking) sẽ từng bước thể chế hóa và triển khai áp dụng nhằm kiểm tra đánh giá chất lượng lượng cung cấp dịch vụ và các hoạt động của IMCs, người sử dụng nước dựa trên bộ tiêu chí phù hợp, đảm bảo hiệu quả đầu tư và tăng hiệu ích hoạt động của hệ thống tưới tiêu theo hướng cấp nước phục vụ đa mục tiêu.
1.3.2. Hiện trạng các hệ thống Công trình thủy lợi ở nước ta [5]
Nước ta có hệ thống Thủy lợi tương đối phát triển, góp phần quan trọng tăng diện tích gieo trồng, tăng thời vụ, cải tạo đất, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Theo thống kê năm 2012, tổng diện tích đất trồng lúa được tưới đạt trên 7,3 triệu ha (vụ Đông Xuân 2,99 triệu ha, Hè Thu 2,05 triệu ha, Mùa 2,02 triệu ha), góp phần đưa sản xuất lương thực tăng nhanh và ổn định. Ngoài ra, các hệ thống Thủy lợi còn tưới cho 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp; tạo nguồn nước cho 1,3 triệu ha đất gieo trồng; cung cấp khoảng 6 tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp; ngăn mặn cho 0,87 triệu ha; cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha và tiêu nước cho trên 1,72 triệu ha đất NN. Các hệ thống Công trình thủy lợi đã hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển đa dạng hoá cây trồng, chuyển dịch cơ cấu trong NN .
Đến nay, đã xây dựng được hàng ngàn hệ thống Công trình thủy lợi, gồm: 6.648 hồ chứa các loại, khoảng 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênh mương, 25.960 km đê các loại. Trong đó, có 904 hệ thống Thủy lợi phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên. Nhiều hệ thống Công trình thủy lợi lớn, như: Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải, Núi Cốc, Cấm Sơn, Cửa Đạt, Sông Mực, Kẻ Gỗ, Tả Trạch, Phú Ninh, Định Bình, Đồng Cam,
Sông Ray, Dầu Tiếng-Phước Hoà, Quản Lộ-Phụng Hiệp, Tứ Giác Long Xuyên, Ô môn-Xà no, Nam Măng Thít, v.v… đã mang lại hiệu ích lớn cho đất nước. Đặc biệt trong vòng 10 năm qua, nhiều hệ thống Công trình thủy lợi quy mô lớn đã và đang được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và vốn vay ODA, như: các hồ chứa nước Cửa Đạt, Bản Mồng, Sông Sào, Ngàn Trươi, Rào Đá, Đá Hàn, Thác Chuối, Tả Trạch, Định Bình, Vân Phong, Nước Trong, Tân Mỹ; hệ thống thủy lợi Phan Rí – Phan Thiết, Phước Hòa, Easup Thượng, Quản Lộ – Phụng Hiệp để phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Hệ thống Công trình thủy lợi đã góp phần quan trọng trong phòng chống thiên tai, như: phòng chống lũ, chống úng, ngập cho khu vực đô thị và nông thôn, chống hạn, xâm nhập mặn. Cả nước đã xây dựng được khoảng 6.150 km đê sông, 2500 km đê biển; hệ thống các hồ chứa trên toàn quốc, trong đó có nhiều hồ chứa lớn (Cửa Đạt, Tả Trạch, Dầu Tiếng, v.v…) đóng vai trò quan trọng cho phòng, chống lũ các lưu vực sông. Hệ thống các trục tiêu lớn, các trạm bơm điện quy mô lớn đã được đầu tư, xây dựng đảm bảo chống ngập, úng cho các khu đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư nông thôn.
Hệ thống thủy lợi đã góp phần đảm bảo nguồn nước để cấp nước sinh hoạt cho đô thị, khu công nghiệp, khu vực nông thôn trên cả nước. Chỉ riêng hệ thống Dầu Tiếng-Phước Hòa đã quy hoạch, xây dựng để cấp nước cho 5 tỉnh, thành phố, gồm: Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh với lưu lượng khoảng 20 m3/s.
Các hệ thống Công trình thủy lợi còn góp phần điều hòa dòng chảy cho các dòng sông, ổn định dòng chảy mùa kiệt, bảo vệ môi trường nước, phát triển dịch vụ, du lịch. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
1.3.3. Thực trạng công tác Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi ở nước ta
1.3.3.1. Thành tựu cơ bản trong Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi ở nước ta
- Tổ chức quản lý nhà nước
Bộ máy quản lý nhà nước về Thủy lợi từ Trung ương đến địa phương tương đối đồng bộ, thống nhất để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về Thủy lợi.
Ở Trung ương, đã thành lập Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ NN và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Thủy lợi. Ở cấp tỉnh, có 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Chi cục Thủy lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão). Ở cấp huyện, thành lập Phòng NN&PTNT hoặc Phòng Kinh tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Thủy lợi. Nhìn chung, các cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi đã thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp việc cho các cấp lãnh đạo trong chỉ đạo, điều hành phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.
- Tổ chức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi
Về quản lý các Công trình thủy lợi đầu mối lớn, hệ thống Thủy lợi liên xã trở lên, cả nước hiện có 96 tổ chức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi là doanh nghiệp trực thuộc cấp tỉnh, 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ NN và Phát triển nông thôn, 7 đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh và 4 Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm.
Về quản lý các Công trình thủy lợi nhỏ và hệ thống kênh mương nội đồng, cả nước có 16.238 Tổ chức dùng nước, bao gồm các loại hình chủ yếu là: Hợp tác xã có làm dịch vụ Thủy lợi (Hợp tác xã dịch vụ NN và Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông), Tổ chức hợp tác (Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác, Tổ, Đội thủy nông) và Ban quản lý (BQL) thủy nông. Trong đó, Hợp tác xã và Tổ hợp tác là hai loại hình chính, chiếm 90% Tổ chức dùng nước.
Công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi đang từng bước đi vào nền nếp, phục vụ tốt sản xuất, dân sinh. Hoạt động của các tổ chức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, dân sinh. Một số đơn vị ở địa phương và Trung ương đã chủ động đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả các Công trình thủy lợi, như: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Thuận, Bình Thuận, TP Hồ Chí Minh, An Giang, Tiền Giang; công trìnhy TNHHMTV Khai thác Công trình thủy lợi Bắc Nam Hà, v.v…
1.3.3.2. Hạn chế, tồn tại trong Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi ở nước ta [5]
- a) Hiệu quả Quản lý khai thác Công trình thủy lợi còn yếu kém
Mặc dù được đầu tư lớn nhưng công tác quản lý, vận hành hệ thống Công trình thủy lợi còn bộc lộ nhiều hạn chế, như: Hiệu quả quản lý thấp; bộ máy tổ chức cồng kềnh; đội ngũ cán bộ, nhân viên có xu hướng tăng; năng suất lao động thấp, chất lượng quản trị không cao, công trình xuống cấp nhanh, vi phạm Công trình thủy lợi tăng và chưa được giải quyết; sử dụng nước lãng phí.
Cơ sở hạ tầng chậm được củng cố, tỷ lệ diện tích có tưới đạt 80%, tỷ lệ cung cấp nước cho các dịch vụ khác ít được quan tâm và phát huy hiệu quả; hạ tầng Thủy lợi nội đồng chưa đáp ứng yêu cầu Sản xuất nông nghiệp theo quy trình tiên tiến hoặc khó chuyển đổi khi thay đổi cơ cấu cây trồng. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Cơ chế vận hành mang nặng tính bao cấp, thiếu động lực để nâng cao năng suất, đảm bảo chất lượng, đổi mới hệ thống quản trị của Công ty quản lý khai thác Công trình thủy lợi.
Hệ thống tài chính yếu kém, chủ yếu dựa vào nguồn thu từ ngân sách nhà nước, phương thức cấp phát và nghiệm thu không dựa vào chất lượng dịch vụ, các dịch vụ khai thác tổng hợp không được phát huy để tăng nguồn thu.
Tổ chức thủy nông cơ sở thiếu bền vững; năng lực của cán bộ quản lý yếu cả về tổ chức quản lý và kỹ thuật; tài chính của tổ chức thủy nông cơ sở rất khó khăn, theo báo cáo của địa phương, trên 52% tổ chức có nguồn thu chỉ đáp ứng 65-70% yêu cầu chi, thiếu kinh phí duy tu, sửa chữa nạo vét kênh mương, dẫn đến công trình hư hỏng, xuống cấp nhanh. Một số địa phương có xu hướng giao công trình Thủy lợi nội đồng cho Công ty khai thác Công trình thủy lợi quản lý, tiếp tục làm tăng gánh nặng đến ngân sách nhà nước.
Quản lý an toàn hồ đập chưa được coi trọng đúng mức, nhiều hồ đập bị xuống cấp có nguy cơ mất an toàn, tổ chức quản lý hồ đập (đặc biệt là hồ đập nhỏ) chưa đáp ứng yêu cầu; năng lực cảnh báo, dự báo sớm phục vụ chỉ đạo điều hành và vận hành hồ chứa còn yếu.
- b) Thủy lợi chưa đáp ứng được yêu cầu của nền NN đa dạng và hiện đại
Hệ thống Công trình thủy lợi chủ yếu tập trung cung cấp nước cho cây lúa, phần lớn các cây trồng cạn chưa có tưới hoặc tưới bằng các biện pháp lạc hậu và lãng phí nước. Theo thống kê năm 2012, diện tích gieo trồng chè đạt 129 nghìn ha, cà phê 622,1 nghìn ha, cao su 910,5 nghìn ha, hồ tiêu 58,9 nghìn ha, điều 235,9 nghìn ha, cây ăn quả 675,9 nghìn ha, mía 297,9 nghìn ha, cây rau, đậu 1.004,9 nghìn ha (Chiến lược phát triển NN nông thôn Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030) nhưng diện tích được áp dụng các giải pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm nước còn hạn chế.
Đầu tư hạ tầng Thủy lợi cho phục vụ nuôi trồng thủy sản rất thấp, hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu nuôi.
1.3.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác Quản lý khai thác các Công trình thủy lợi ở nước ta [5]
- Nguyên nhân khách quan Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu, tác động bất lợi của quá trình phát triển kinh tế – xã hội gây ra (suy giảm chất lượng rừng, phát triển hồ chứa thượng nguồn, khai thác cát và lún ở vùng hạ du; phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, công nghiệp, giao thông cản trở thoát lũ…) tác động bất lợi cho hệ thống Công trình thủy lợi, đặc biệt hệ thống lấy nước dọc các sông lớn trên toàn quốc, hệ thống Thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long.
Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đòi hỏi yêu cầu cao hơn về Thủy lợi; yêu cầu tiêu, thoát nước của nhiều khu vực tăng lên nhiều so với trước đây, nhu cầu nước cho sinh hoạt, công nghiệp từ hệ thống Công trình thủy lợi tăng, mức đảm bảo an toàn tăng.
Tổ chức Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả sản xuất thấp khiến nông dân chưa quan tâm nhiều đến Thủy lợi.
- Nguyên nhân chủ quan
Chậm đổi mới theo cơ chế thị trường, duy trì quá lâu cơ chế bao cấp trong quản lý khai thác Công trình thủy lợi
Hiện nay, trên 90% doanh nghiệp khai thác Công trình thủy lợi trên cả nước hoạt động theo phương thức giao kế hoạch công tác quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Cơ chế này một mặt thiếu công cụ giám sát cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, mặt khác hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân dẫn tới chất lượng quản trị của doanh nghiệp yếu kém, bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp, số lượng cán bộ, công nhân viên có xu thế ngày càng tăng; hệ thống Công trình thủy lợi bị xuống cấp nhanh; chất lượng cung cấp dịch vụ thấp; thiếu cơ chế để phát huy tiềm năng, lợi thế về đất đai, nước, cơ sở hạ tầng và các nguồn lực khác của tổ chức Quản lý khai thác để tăng nguồn thu. Nhiều hệ thống Công trình thủy lợi có tiềm năng khai thác để cấp nước sạch nông thôn, cấp và tiêu thoát nước đô thị, công nghiệp, dịch vụ cũng như cho nông nghiệp công nghệ cao… nhưng đã không được tận dụng triệt để. Phương thức hoạt động như vậy dẫn tới cơ chế tài chính thiếu bền vững, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, cơ chế bao cấp đã hạn chế thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, hạn chế cơ chế cạnh tranh cho đầu tư xây dựng, quản lý khai thác công trình.
- Quản lý thủy nông cơ sở chưa phát huy được vai trò chủ thể và quyết định của người dân, sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Việc thành lập và hoạt động của tổ chức thủy nông cơ sở còn mang nặng tính áp đặt, thiếu sự tham gia chủ động, tích cực của người dân. Đây là nguyên nhân quan trọng, cơ bản nhất khiến nhiều tổ chức thiếu bền vững.
Chưa làm rõ chủ trương miễn, giảm Thủy lợi phí của nhà nước làm cho một bộ phận cán bộ, người dân coi công tác quản lý khai thác Công trình thủy lợi là nhiệm vụ của nhà nước dẫn tới tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước, sử dụng nước lãng phí.
Việc hỗ trợ người dân thông qua chính sách miễn, giảm Thủy lợi phí là cần thiết nhưng phương thức chi trả theo hình thức gián tiếp (phần lớn cấp bù qua doanh nghiệp), nên chưa gắn kết được trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ với người hưởng lợi, giảm tiếng nói, vai trò giám sát của người dân trong dịch vụ cung cấp nước đồng thời tạo tâm lý sử dụng nước lãng phí.
Mô hình tổ chức, cơ chế quản lý bất cập đã hạn chế sự tham gia của các thành phần kinh tế và người hưởng lợi trong Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là người dân chưa được tạo điều kiện, cơ chế để tham gia.
Chính quyền xã và các tổ chức đoàn thể cơ sở chưa quan tâm đến quản lý Công trình thủy lợi, mà coi đó là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp khai thác Công trình thủy lợi trên địa bàn. Nhiều Công trình thủy lợi phân cấp cho xã quản lý nhưng không có chủ quản lý thực sự.
- Khoa học công nghệ chưa bám sát yêu cầu sản xuất, thiếu động lực áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nguồn nhân lực còn hạn chế
Khoa học công nghệ mặc dù được quan tâm đầu tư rất nhiều bằng nguồn lực trong nước và quốc tế nhưng việc áp dụng và hiệu quả hạn chế: Khoa học công nghệ chưa bám sát hoặc dự báo đúng nhu cầu thực tế, chậm áp dụng công nghệ tiên tiến trong dự báo hạn, úng, xâm nhập mặn, hỗ trợ ra quyết định trong phòng chống thiên tai; nguồn lực phân tán, dàn trải, năng lực công nghệ không được nâng cao, không được đơn vị sản xuất chấp nhận. Số lượng đề tài khoa học công nghệ có kết quả ứng dụng vào sản xuất rất thấp (20-30%), hoặc chỉ được áp dụng trong phạm vi hẹp, còn nặng về công nghệ, xem nhẹ nghiên cứu nâng cao năng lực thể chế, làm luận cứ cho xây dựng cơ chế, chính sách. Hiệu quả hợp tác quốc tế trong việc ứng dụng, học tập kinh nghiệm quốc tế về Quản lý khai thác Công trình thủy lợi còn thấp.
Cơ chế quản lý không tạo được động lực và nhiều lúc còn là rào cản cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là các dự án đầu tư công. Việc nghiên cứu cơ chế, chính sách tạo động lực, đổi mới công tác quản lý khai thác, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành Công trình thủy lợi chưa được quan tâm đúng mức, nhất là kỹ thuật sử dụng nước tiết kiệm. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
- Cải cách thể chế, cải cách hành chính chậm, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao
QLKT Công trình thủy lợi chủ yếu vẫn thực hiện theo cơ chế bao cấp, với hình thức giao kế hoạch, theo cơ chế cấp phát-thanh toán không gắn với số lượng, chất lượng sản phẩm nên việc hạch toán kinh tế chỉ mang tính hình thức, gây nên sự trì trệ, yếu kém trong quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Vai trò của các cơ quan chuyên ngành mờ nhạt trong khi cơ quan cấp phát không chịu trách nhiệm đến kết quả cuối cùng, chưa tạo sự chủ động cho tổ chức Quản lý khai thác Công trình thủy lợi. Phân phối lương không dựa vào kết quả làm bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp.
Thiếu cơ chế chính sách tạo động lực để người dân tham gia xây dựng, quản lý khai thác Công trình thủy lợi nội đồng. Thiếu cơ chế, động lực để thu hút nguồn nhân lực có trình độ, chất lượng cao. Thiếu thể chế ràng buộc quyền lợi và trách nhiệm của người đứng đầu với hiệu quả sử dụng tiền vốn, tài sản, lao động của nhà nước.
Phân giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cơ quan chuyên ngành và các cơ quan phối hợp trong quản lý tài nguyên nước, quản lý khai thác Công trình thủy lợi thiếu tính khoa học và chưa phù hợp với xu hướng đổi mới quản lý dịch vụ công theo cơ chế thị trường.
Cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động Quản lý khai thác Công trình thủy lợi chưa phù hợp, nên hiệu lực và hiệu quả chưa cao.
- Nhận thức về Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi còn hạn chế
Nhận thức của một số lãnh đạo quản lý và người dân chưa đúng, chưa đủ về các chính sách hiện hành trong Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi, đặc biệt là chính sách miễn, giảm Thủy lợi phí. Phần lớn hiểu chính sách miễn, giảm Thủy lợi phí là bỏ Thủy lợi phí, trong khi đó thực chất đây là hỗ trợ của Nhà nước nhằm giảm gánh nặng chi phí sản xuất nông nghiệp cho người dân và có nguồn kinh phí để tu sửa, chống xuống cấp công trình. Do vậy, đã không phát huy được sự tham gia của người dân trong quản lý khai thác Công trình thủy lợi, đặc biệt là Công trình thủy lợi nội đồng. Ở một số địa phương, người dân không nộp Thủy lợi phí nội đồng, coi công tác Thủy lợi là trách nhiệm của Nhà nước. Tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước vẫn còn nặng nề, đặt nặng vấn đề đầu tư xây dựng công trình, xem nhẹ quản lý, chưa khơi dậy và huy động được sức mạnh toàn dân, toàn xã hội tham gia vào xây dựng, Quản lý khai thác và bảo vệ Công trình thủy lợi.
Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng chưa được coi trọng.
1.4. Kinh nghiệm Quản lý khai thác Công trình thủy lợi của một số địa phương trong nước Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình
Lựa chọn mô hình quản lý phù hợp để khai thác hiệu quả hệ thống Công trình thủy lợi cho phục vụ Sản xuất nông nghiệp, dân sinh là vấn đề được thảo luận trong nhiều năm gần đây. Thái Bình là tỉnh đầu tiên thực hiện phân cấp quản lý trong hoạt động khai thác Công trình thủy lợi. Ở đây, hệ thống thủy nông đã được đã quy hoạch cơ bản hoàn chỉnh từ năm 1975. Nguyên tắc thực hiện phân cấp rút ra từ tỉnh Thái Bình là: Phải giữ được sự ổn định trong quá trình bàn giao và sau khi bàn giao trong việc phục vụ cho Sản xuất nông nghiệp; Đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, không cát cứ, cục bộ, củng cố mối quan hệ giữa công ty thủy nông với địa phương và Tổ chức hợp tác dùng nước; Bàn giao nguyên trạng công trình, đồng loạt, nhanh gọn, đơn giản, dân chủ và đúng pháp luật giữa Công ty thủy nông cho HTX dưới sự giám sát của Ban chỉ đạo tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn; Việc sửa chữa, tu bổ công trình có thể thực hiện trước, trong, hoặc sau khi bàn giao nhưng phải đảm bảo hoạt động tại thời điểm bàn giao.
Theo đó, hai Công ty KTTL Bắc Thái Bình và Nam Thái Bình đã bàn giao 285 trạm bơm điện, 742 km sông dẫn nước vào trạm bơm, 216 cống đập nội đồng nhỏ trên kênh, 5.781 km kênh mương cấp 1, 2 sau trạm bơm cho các HTX dịch vụ NN trên địa bàn 7 huyện, thành phố (trừ Thái Thụy đã bàn giao từ 1994). Việc phân cấp công trình trạm bơm hoàn thành trong năm 2007 và phân cấp quản lý hệ thống sông trục hoàn thành trong năm 2009. Kết quả bước đầu cho thấy việc phân cấp quản lý đã tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực. Các Công trình thủy lợi từ đầu mối đến mặt ruộng đều có chủ quản lý thật sự. Các địa phương chủ động điều phối nước tưới theo tiến độ mùa vụ cho từng khu vực, từng nhóm cây trồng (lúa, đậu phộng, cà chua…); khi có mưa lớn xảy ra, việc tiêu nước chống úng cũng linh hoạt nên giảm được thiệt hại mùa màng nhiều hơn; chi phí điện giảm, tăng hiệu quả khai thác công trình.
Bên cạnh những kết quả nói trên, quá trình thực hiện việc phân cấp như trên cũng cho thấy có một số vấn đề phát sinh cần giải quyết: Các công ty thủy nông phải tính đến việc sắp xếp lại lao động. Trong trường hợp của tỉnh Thái Bình, các công nhân vận hành trạm bơm và đa số lao động gián tiếp dôi dư là những người còn trẻ, chưa đủ tiêu chuẩn giải quyết nghỉ theo chế độ, nên việc bố trí sắp xếp công việc mới để tránh gây khó khăn cho họ cũng là vấn đề không dễ; Các HTXNN tuy nhận công trình bàn giao từ công ty thủy nông nhưng lại chưa chuẩn bị lực lượng đội ngũ kỹ thuật để vận hành nên cũng gặp khó khăn; Việc xác định cống đầu kênh chưa thật sự rõ ràng nên khó cho việc xác định chi phí đầu tư tu bổ nâng cấp công trình sẽ lấy từ nguồn vốn do dân đóng góp hay từ nguồn Thủy lợi phí cấp bù; Trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc xử lý vi phạm khai thác và bảo vệ công trình chưa được coi trọng; chẳng hạn, việc cấp phép cho các hoạt động trong phạm vi khai thác và bảo vệ hệ thống sông trục chỉ mới tiến hành trên một số sông trục chính, còn lại hầu như chưa được quản lý.
1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Nguyên Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Theo báo cáo của Sở NN và PTNT, hiện nay toàn tỉnh Thái Nguyên có trên 1.214 Công trình thủy lợi lớn, nhỏ. Trong đó có 413 hồ chứa nước, 409 đập dâng kiên cố, 109 công trình phai đập, 283 công trình trạm bơm tưới. Hệ thống công trình đảm bảo tưới được 94.116 ha trên tổng số 121.710 ha gieo trồng (đạt 77%). Trong đó: Diện tích tưới cho lúa: 66.037 ha và tổng số diện tích tưới cho cây trồng khác: 28.079 ha.
Phân cấp Quản lý khai thác: Từ năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã phân cấp, giao cho Công ty TNHH Một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên quản lý 74 Công trình thủy lợi (bao gồm 36 hồ chứa, 33 đập dâng, 4 trạm bơm tưới và 01 trạm bơm tiêu). Còn lại 1.140 danh mục Công trình thủy lợi được giao cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã quản lý. Hiện tại Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi Thái Nguyên với số lượng 1.959 người (trong đó trình độ trên đại học 3 người, đại học 117 người, cao đẳng 7 người, trung cấp 89 người, sơ cấp 73 người còn lại là công nhân hợp đồng chưa qua đào tạo). Số Công trình thủy lợi được giao cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã quản lý và hệ thống kênh mương nội đồng được 296 tổ QLTN cơ sở trực tiếp quản lý vận hành khai thác.
Tổng kinh phí thực hiện hỗ trợ Thủy lợi phí giai đoạn 2011 – 2014 là trên 270 tỷ đồng. Chính sách Thủy lợi phí đã được tỉnh Thái Nguyên triển khai kịp thời, đúng đối tượng tạo điều kiện cho các địa phương tập trung hơn cho công tác đầu tư, Quản lý khai thác các hệ thống Công trình thủy lợi, từ đầu mối đến kênh mương hiện có, đổi mới nâng cao năng lực quản lý điều hành nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các công trình sau đầu tư; Tình trạng nợ đọng Thủy lợi phí cũng hoàn toàn chấm dứt. Thực hiện tốt công tác Quản lý khai thác Công trình thủy lợi đã góp phần quan trọng đưa diện tích lúa và hoa mầu được đảm bảo tưới từ Công trình thủy lợi không ngừng tăng, từ 83.000 ha (năm 2010) lên 94.100 ha (năm 2014).
1,4,3 Kinh nghiệm của một số tỉnh Tây Nguyên
Cùng với sự đầu tư của các địa phương, các tỉnh vùng Tây Nguyên đã xây dựng được các hệ thống thủy nông, với tổng số công trình xây dựng cơ bản là 156 và 842 công trình tiểu thủy nông, năng lực thiết kế tưới cho 70382 ha, cụ thể ở các tỉnh:
- Tỉnh Kontum: Đã xây dựng được 21 công trình xây dựng cơ bản, trong đó có 6 hồ chứa, 15 đập dâng, 110 công trình tạm, thời vụ. Năng lực tưới thiết kế là 8282 ha, năng lực tưới thực tế 8300
- Tỉnh Đăc Lăc: Đã xây dựng được 58 công trình xây dựng cơ bản, trong đó: 14 hồ chứa, 21 đập dâng, 9 trạm bơm và 337 công trình thủy nông, bán kiên cố được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn do các hộ và các ngành khác đầu tư. Năng lực thiết kế 32700 ha, năng lực tưới thực tế là 34525 ha. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
- Tỉnh Lâm Đồng: Đã xây dựng được 33 công trình cơ bản trong đó có 11 hồ chứa, 6 trạm bơm và 144 công trình tiểu thủy nông với năng lực thiết kế tưới cho 14000 ha, năng lực tưới thực tế chỉ có 6000 ha. Diện tích tưới của vùng thấp, mới chủ động đạt được 51% so với diện tích thiết kế ban đầu, chủ yếu là do các nguyên nhân sau:
Các công trình xây dựng thiếu đồng bộ, hoặc chất lượng chưa đảm bảo phần lớn các công trình đều có đầu mối hoàn chỉnh nhưng phần kênh mương còn dở dang.
Việc xác định khu tưới, diện tích tưới chưa kỹ dẫn đến xác định quy mô công trình thiếu chính xác và do địa hình đồng ruộng phân tán, dân cư thưa thớt, việc khai hoang xây dựng đồng ruộng còn chậm., không đồng bộ với xây dựng công trình.
Trình độ quản lý và khai thác công trình còn hạn chế, chưa chú trọng đến công tác duy tu, sửa chữa công trình theo định kỳ dẫn đến công trình xuống cấp theo thời gian. Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý các công trình thủy lợi.
Các công trình thủy nông ở Tây Nguyên, mặc dù còn hạn chế về năng lực tưới, song diện tích phục vụ tưới đã đạt được khá: Đông xuân là 29753 ha, Mùa là 58850 ha, Cây công nghiệp dài ngày 21000 ha.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng công tác quản lý công trình thủy lợi

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý công trình thủy lợi