Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em mẫu giáo ở các trường mầm non huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trên khắp cả nước, tất cả các bậc học đã và đang tích cực thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Mục tiêu cụ thể đối với giáo dục mầm non được xác định trong Nghị quyết là: “Giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1…”. Bên cạnh đó, Luật trẻ em năm 2016 chính thức có hiệu lực từ 1/6/2017 đề cao tầm quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em trên nhiều lĩnh vực.

Lứa tuổi Mẫu giáo có vị trí đặc biệt quan trọng, là thời kỳ vàng trong sự phát triển nhân cách của trẻ em. Ở lứa tuổi này, trẻ cần được tiếp nhận, giáo dục các giá trị, hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, tạo cơ sở cho sự phát triển nhân cách ở những lứa tuổi tiếp theo. Những tổn thương về thể chất và tinh thần mà lứa tuổi này gặp phải có thể để lại hậu quả và trở thành nỗi ám ảnh đối với các em trong suốt cuộc đời. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Hiện nay, xâm hại tình dục trẻ em đang là vấn đề nhức nhối trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Xâm hại tình dục để lại hậu quả nặng nề cả về thể chất lẫn tinh thần cho nạn nhân. Thực tế cho thấy, hầu hết trẻ sau khi bị xâm hại đều có những rối loạn về tâm lý, hành vi; trẻ trở nên sợ hãi và mất niềm tin vào các mối quan hệ với mọi người xung quanh…Thứ trưởng Bộ Lao động – thương binh và xã hội Đào Hồng Lan cho biết theo thống kê, năm 2014 có gần 1.600 trẻ em, năm 2015 có hơn 1.300 trẻ em và năm 2016 là hơn 1.200 trẻ em bị xâm hại tình dục (theo tuoitre.vn). Đánh giá chung của nhiều cơ quan tham gia điều trần do Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng Quốc hội tổ chức ngày 27.3.2017 (Bộ Giáo dục – đào tạo, Hội Liên hiệp phụ nữ VN, Trung ương Đoàn, Viện KSND tối cao, TAND tối cao…) cho thấy thực trạng đã rất nhức nhối, nhưng công tác phòng chống lại chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Đáng lưu ý, nhiều nạn nhân của các vụ ấu dâm là trẻ mầm non. Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm Bộ Công an cũng cho biết, mỗi năm trung bình có từ 1.600 – 1.800 vụ xâm hại trẻ em nghiêm trọng được phát hiện (kể cả xâm hại tình dục) (theo vietbao.vn).

Trong 5 tháng đầu năm 2018, toàn quốc phát hiện 682 vụ xâm hại, 735 em bị xâm hại, trong đó xâm hại tình dục hơn 500 vụ và 562 em bị xâm hại. Đáng nói, đối tượng xâm hại trẻ em bởi người thân trong gia đình chiếm đến 21,3%, bởi thầy giáo, nhân viên nhà trường là 6,2%, bởi người quen, hàng xóm là 59,9%, người lạ là 12,6% [17].

Tuy nhiên, ở các trường Mầm non, hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em chưa được triển khai. Nguyên nhân của thực trạng này là do công tác quản lý giáo dục chưa phù hợp. Trong Chương trình giáo dục mầm non được ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT và Chương trình giáo dục mầm non được sửa đổi một số nội dung theo Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT, nội dung giáo dục giúp trẻ biết một số nguy cơ không an toàn và phòng tránh (nội dung 4 trong Mục Giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe cho các lứa tuổi: nhà trẻ, mẫu giáo) mới chỉ dừng lại ở việc dạy trẻ nhận biết và phòng tránh một số tai nạn thương tích, cảnh giác với người lạ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, thủ phạm xâm hại tình dục trẻ em chủ yếu là người quen của trẻ. Hơn nữa, nội dung hết sức quan trọng là giúp trẻ nhận biết các vùng nhạy cảm trên cơ thể, quyền tuyệt đối của trẻ với việc bảo vệ cơ thể của mình, các kỹ năng phòng chống sự xâm hại chưa được đề cập đến.

Trong thời gian qua, trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, việc thực hiện các giải pháp phòng, chống xâm hại tình dục, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng chưa được thực hiện có hiệu quả. Các vụ việc xâm hại tình dục trẻ em có xu hướng gia tăng với tính chất phức tạp do trẻ em và người chăm sóc trẻ thiếu kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ [13]. Vì thế, yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý giáo dục là phải có các biện pháp quản lý phù hợp để thực hiện và thúc đẩy hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em mẫu giáo ở các trường mầm non huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ Mẫu giáo ở các trường mầm non Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho các em, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục của các nhà trường mầm non.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ Mẫu giáo của hiệu trưởng các trường mầm non huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

4. Giới hạn nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ mẫu giáo bao gồm nhiều nội dung. Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ em mẫu giáo của Hiệu trưởng các trường mầm non, bao gồm: quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục, quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ mẫu giáo.

Đề tài được triển khai, nghiên cứu tại 5 trường mầm non trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên bao gồm các trường: Mầm non Si Pa Phìn, Mầm non Chà Nưa, Mầm non Nà Hỳ, Mầm non Nà Khoa và Mầm non Chà Cang từ năm học 2016-2017 đến hết năm học 2017-2018.

5. Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em mẫu giáo ở các trường mầm non huyện Nậm Pồ chưa được quan tâm thực hiện, do đó chưa hình thành được ở trẻ kỹ năng PCXHTD. Nếu có những biện pháp quản lý giáo dục phù hợp và hiệu quả thì sẽ hình thành, phát triển được kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • 6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo.
  • 6.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ở các trường mầm non tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
  • 6.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ở các trường mầm non trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập và tìm hiểu các nguồn tài liệu khác nhau có liên quan đến giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục như: sách, báo, tạp chí, luận án, các bài viết trên các trang web… Từ đó phân tích và tổng hợp các vấn đề nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

7.2.1. Phương pháp điều tra giáo dục

Sử dụng các mẫu phiếu điều tra dành cho Cán bộ quản lý GD, Giáo viên nhằm thu thập số liệu về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo trên địa bàn huyện Nậm Pồ.

7.2.2. Phương pháp phỏng vấn

Đối tượng phỏng vấn là Cán bộ quản lý GD, giáo viên và nhân viên của các trường mầm non trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Chủ đề phỏng vấn là công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại trường mình công tác.

7.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu sản phẩm: Kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học của Hiệu trưởng và Kế hoạch thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ em của giáo viên tại 5 trường mầm non được khảo sát.

7.3. Phương pháp chuyên gia

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất.

7.4. Phương pháp sử dụng toán thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu

Sử dụng phương pháp thống kê trong toán học để xử lý và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ở các trường mầm non trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

  • Những nghiên cứu về xâm hại tình dục trẻ em

Trong những năm gần đây, vấn đề XHTDTE được quan tâm nghiên cứu nhiều nước trên thế giới. Các công trình đó đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, độ tuổi, địa điểm, thủ phạm, nạn nhân của các vụ xâm hại tình dục. Có thể kể đến một số hướng nghiên cứu sau: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Nghiên cứu xâm hại tình dục dưới góc độ sinh học

Những học giả theo thuyết sinh học thường quan tâm đến tác động của những cơ quan trong cơ thể khi giải thích về hành vi tình dục như lượng hooc – môn hay quá trình hình thành các nhiễm sắc thể trong cơ thể. Các kích thích tố nam thúc đẩy bản năng tình dục, khoái cảm tình dục và điều khiển tình dục, nhận thức, tình cảm và tính cách của nam giới. Vì vậy, các nhà nghiên cứu về hành vi tình dục lệch chuẩn thường liên hệ hành vi của nam giới với mức độ kích thích tố nam của nam giới. Khi nam giới đến tuổi dậy thì, lượng kích thích tố sinh dục nam tăng lên. Vì động cơ tình dục sẽ tăng mạnh trong giai đoạn này, người ta tin rằng có mối tương quan giữa lượng kích thích tố sinh dục nam và động cơ tình dục. Lượng kích thích tố sinh dục nam được coi là yếu tố sinh học gây tác động đến hành vi tình dục bình thường hoặc bất thường của một cá nhân.

Các nhà khoa học Đức đã mổ xẻ não những người mắc chứng ấu dâm để tìm câu trả lời thỏa đáng. Các nhà nghiên cứu ở bộ phận y học tình dục của Trung tâm Y khoa Trường Đại học Schleswig-Holstein (UKSH) tại thành phố Kiel (Kiel là thủ phủ bang Schleswig-Holstein của Đức) đã công bố những phát hiện mới nhất về bộ não của những người mắc chứng ấu dâm với kỹ thuật cộng hưởng từ (MRT). Theo bác sĩ tâm lý trị liệu Jorge Ponseti, những nhà khoa học Pháp, Canada và các nước Bắc Âu từng nghiên cứu về chứng rối loạn tình dục này. Thế nhưng, những công trình nghiên cứu các chức năng của não bộ còn quá ít. Các nhà khoa học Đức đã có những nỗ lực theo hướng này nhằm giải mã bí mật của chứng ấu dâm. Bác sĩ Ponseti nhận xét: “Với MRT, các nhà khoa học có điều kiện tối ưu để tìm hiểu sâu hoạt động và kết cấu của bộ não những người mắc chứng ấu dâm. Điều kỳ diệu nhất là MRT cho phép chúng ta biết vùng não nào hoạt động mạnh và vùng nào hoạt động kém”.

Y học xếp ấu dâm là một chứng rối loạn về tình dục đối với trẻ vị thành niên. Theo hệ thống xếp hạng mới của khoa bệnh học tâm thần Mỹ, chỉ những người có ham muốn tình dục lâu dài và liên tục đối với trẻ em mới được coi là người mắc bệnh ấu dâm. Trái lại, theo bác sĩ Ponseti, nếu có ham muốn tình dục lệch lạc đó nhưng không thực hiện hành vi ấu dâm thì gọi là thiên hướng tình dục. “Kỹ thuật MRT cho phép chúng ta biết ai mắc chứng ấu dâm nhưng thật không may, nó không thể giải thích tại sao con người mắc bệnh đó” – bác sĩ Ponseti kết luận.[6]

  • Quan điểm của thuyết hành vi về xâm hại tình dục Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Lý thuyết hành vi giải thích rằng hành vi tình dục lệch chuẩn là kết quả của một quá trình học hỏi. Lý thuyết về hệ thống môi trường cho thấy hành vi con người chịu tác động từ sự tương tác với các hệ thống và môi trường xã hội. Để được xã hội chấp nhận như một thành viên, cá nhân phải hành xử theo mong đợi của xã hội khi cá nhân tuân thủ các chuẩn mực của xã hội đề ra. Tiến trình xã hội hóa là tiến trình cá nhân học hỏi những chuẩn mực được xã hội quy định, và những khuôn mẫu hành vi đúng, và những hành vi không đúng. Lý thuyết tình cảm gắn bó thì cho rằng, con người có thiên hướng hình thành các mối quan hệ tình cảm chặt chẽ với người khác và khi người ta mất mát hoặc đau khổ, họ biểu hiện ra ngoài là sự cô đơn hoặc tách biệt. Giai đoạn dậy thì và bắt đầu tuổi vị thành niên là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình phát triển về mặt tình dục và hiểu biết xã hội của một cá nhân. Nếu bố mẹ quan tâm đầy đủ đến con cái trong giai đoạn này, con trai sẽ có nhận thức tốt để kiểm soát hành vi tình dục và tính cách của mình. Cha mẹ cũng phải có vai trò quan trọng trong việc giảng giải và hướng dẫn con cái trong việc xây dựng mối quan hệ tình cảm với người khác. Nam giới có quan hệ tình dục với trẻ em thường có kỹ năng sống kém và không có sự tự tin cần thiết để xây dựng các mối quan hệ thân thiết với bạn bè đồng trang lứa. Vì vậy, những người này có thể tìm kiếm cảm giác tình dục với những người nhỏ tuổi.

  • Lý thuyết nhận thức và hành vi về xâm hại tình dục

Lý thuyết nhận thức và hành vi tìm hiểu những suy nghĩ của người xâm hại tình dục trẻ em có tác động như thế nào đến hành vi của họ. Theo đó, khi một người có hành vi lệch chuẩn về tình dục, họ cố gắng xua đi cảm giác tội lỗi và xấu hổ bằng việc suy nghĩ lệch lạc hoặc méo mó về hành vi. Thông thường, những người này sẽ chối bỏ hoàn toàn việc họ đã có hành vi đó, cho rằng người bị hại tự xây dựng nên câu chuyện hoặc đơn giản nói rằng họ không nhớ chuyện gì đã xảy ra hoặc chối bỏ phần nào trách nhiệm bằng việc cho rằng nạn nhân cố tình hoặc gợi ý có hành vi tình dục với họ, hoặc chống cự không theo cách là họ không đồng ý…Tất cả những người xâm hại tình dục đều có xu hướng hiểu sai về lời nói hoặc hành động của trẻ em theo nhiều cách khác nhau và họ càng quen biết với nạn nhân thì điều này càng có khả năng xảy ra. Những người này thường coi đó là những hành động tình cảm tự nhiên có sẵn trong tất cả những người lớn và cho rằng chính trẻ em khuấy động nó thức dậy. Họ cũng cho rằng trẻ em tò mò về tình dục và muốn biết về nó và họ giảng dạy cho chúng bằng chính những trải nghiệm thực tế. [6]

  • Mô hình lý thuyết về xâm hại tình dục của David Finkelhor 

David Finkelhor là một trong những nhà lý luận nổi tiếng về xâm hại tình dục trẻ em. Ông đã đưa ra một mô hình về những điều kiện quan trọng đối với xâm hại tình dục trẻ em. Mô hình này là sự kết hợp từ nhiều lý thuyết để tìm hiểu về việc tại sao con người bắt đầu tham gia vào hành vi lệch chuẩn về tình dục. Mô hình này giải thích sự phức tạp về đối tượng xâm hại tình dục trẻ em, từ động cơ cho tới việc họ tiếp tục hành vi này như thế nào. Mô hình này bao gồm 4 yếu tố: cảm xúc, khoái cảm tình dục, sự cản trở và việc mất đi phản xạ có điều kiện. Yếu tố cảm xúc ở đây là mối liên hệ giữa nhu cầu tình cảm của người xâm hại tình dục trẻ em với tính cách của đứa trẻ. Ví dụ, một người xem mình giống như một đứa trẻ hoặc có nhu cầu tình cảm như đứa trẻ nên anh ta muốn xây dựng mối quan hệ với một đứa trẻ. Và nếu anh ta không có đầy đủ các kỹ năng sống để phát triển các mối quan hệ bình thường, anh ta có thể cảm thấy thoải mái hơn nếu anh ta có mối quan hệ với trẻ em do có cảm giác về quyền lực và kiểm soát. Yếu tố khoái cảm tình dục đánh giá nguyên nhân tại sao trẻ em lại gợi khoái cảm tình dục ở một người lớn (trích lại từ Tony Ward và Richard J.Seigert, 2002). Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Finkelhor sử dụng thuyết học hỏi xã hội để giải thích hiện tượng này. Theo đó, ông giải thích rằng người có hành vi xâm hại tình dục trẻ em đã từng bị lạm dụng khi còn là một đứa trẻ và khi lớn lên người đó lại tìm đến trẻ em để có quan hệ tình dục. Yếu tố cản trở ở đây muốn nói đến khả năng của người xâm hại tình dục trẻ em cảm thấy nhu cầu tình cảm và tình dục không được thỏa mãn trong mối quan hệ với người lớn. Ông sử dụng lý thuyết phân tích tâm lý và lý thuyết tình cảm gắn bó để giải thích về yếu tố này. Lý thuyết phân tích tâm lý mô tả những kẻ gạ gẫm trẻ em là những người bất hòa sâu sắc với mẹ khiến họ không thể hiểu và gắn bó được với phụ nữ. Trong mối quan hệ với những người lớn, những người này không có đầy đủ các kỹ năng xã hội và sự tự tin cần thiết để xây dựng các mối quan hệ. Finkelhor chia sự cản trở thành 2 loại là sự cản trở về mặt phát triển và sự cản trở về mặt hoàn cảnh. Sự cản trở về mặt phát triển là việc một cá nhân bị cản trở về mặt tâm lý khi bước vào giai đoạn phát triển tình dục. Sự cản trở về hoàn cảnh muốn nói đến việc một cá nhân có những nhu cầu tình dục trưởng thành bị cản trở thể hiện tình dục bình thường do những mất mát trong một mối quan hệ, hoặc do một sự kiện nào đó xảy ra khiến họ bị khủng hoảng về tinh thần. Yếu tố cuối cùng của mô hình là mất đi phản xạ có điều kiện, ở đây có nghĩa là có những yếu tố thúc đẩy người xâm hại tình dục trẻ em vượt qua những suy nghĩ thông thường của mình và tự cho phép mình có hành vi gạ gẫm xâm hại tình dục trẻ em. Trong yếu tố này, Finkelhor xem xét đến việc con người tự bóp méo suy nghĩ của mình để biện minh cho hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Ngoài ra, các yếu tố về tính cách cá nhân như bị stress hay bị lạm dụng cũng khiến người ta khó kiềm chế được cảm xúc và hành vi của mình. Như vậy, với sự kết hợp của 4 yếu tố trong mô hình này có thể thấy người ta có thể có những suy nghĩ ủng hộ sự lạm dụng tình dục, và như vậy nó làm tăng nguy cơ gây ra hành vi xâm hại tình dục trẻ em bởi vì hệ thống niềm tin của họ đã vượt qua được những chế ngự về tình cảm và đạo đức (trích lại từ Tony Ward và Richard J. Seigert, 2002).

  • Những nghiên cứu về kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em và giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em

Kỹ năng phòng chống XHTD của trẻ em là một kỹ năng trong số các kỹ năng sống. Nghiên cứu các công trình ở nước ngoài về kỹ năng sống, chúng tôi có thể tổng hợp theo 1 số hướng như sau:

Từ những năm 90 của thế kỷ XX, “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình giáo dục những giá trị sống với 12 giá trị cơ bản cần được giáo dục cho thế hệ trẻ.

Những nghiên cứu về kỹ năng sống trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về kỹ năng sống cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kỹ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống ở giai đoạn này quan niệm về kỹ năng sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về kỹ năng sống nêu trên. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Mặc dù, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về kỹ năng sống của Tổ chức y tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kỹ năng sống ở các nước không giống nhau. Ở một số nước, nội hàm của khái niệm kỹ năng sống được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm kỹ năng sống chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội.

Từ năm 1997 tại Lào, kỹ năng sống được thể hiện trong các ngữ cảnh cụ thể, liên quan đến giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, được lồng ghép vào chương trình giáo dục chính quy, không chính quy và các trường sư phạm đào tạo giáo viên. Tại Campuchia có quan niệm kỹ năng sống là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia.

Trong chương trình giáo dục của Malaysia những năm gần đây, kỹ năng sống được coi như là một môn học, mục tiêu của môn học này là cung cấp cho trẻ những kỹ năng thực tế cơ bản để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu hướng kinh doanh.

Tháng 12 năm 2003 tại Bali – Indonesia đã diễn ra hội thảo về giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục với sự tham gia của 15 nước. Qua báo cáo của các nước cho thấy có nhiều điểm chung, nhưng có những nét riêng trong giáo dục kỹ năng sống:

Thái Lan nhìn nhận một cách khái quát kỹ năng sống là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống hàng ngày để an toàn và hạnh phúc.

Quan niệm của Ấn Độ kỹ năng sống là những khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người. Nepal thì coi kỹ năng sống như là một phương thức để ứng phó hay là những kỹ năng cần thiết để tồn tại. Tại Philipine kỹ năng sống là những năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày.

Như vậy, có thể khẳng định lại một lần nữa, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục là một trong những kỹ năng sống cơ bản của con người. Vì thế, việc hình thành và phát triển kỹ năng này ở trẻ là vô cùng cần thiết, giúp trẻ có nhận thức đúng và hành vi ứng xử phù hợp để ngăn ngừa và ứng phó hiệu quả trước nguy cơ bị xâm hại.

Về vấn đề giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em, có thể tìm thấy các bài viết trên các tạp chí. Natasha Daniels, một nhà trị liệu tâm lý trẻ em nổi tiếng của Mỹ, đã đưa ra lời khuyên cho các bậc phụ huynh về việc dạy con các kỹ năng cần thiết để tránh nguy cơ bị xâm hại tình dục trước khi quá muộn [16].

1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Ngày 28 tháng 02 năm 2014 Bộ Giáo dục&ĐT đã ban hành Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT, qui định Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa. Đối với bậc học mầm non qui định là hoạt động giáo dục giúp trẻ hình thành và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ ứng xử tích cực. Ngày 05 tháng 9 năm 2014, Sở Giáo dục&ĐT Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Thông tư số 04/2014/TTBGDĐT cho từng cấp học. Ngày 28 tháng 01 năm 2015, Bộ Giáo dục&ĐT đã ban hành văn bản số 463/BGDĐT-GDTX về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Theo văn bản hướng dẫn này, thì giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại các trường mầm non là: “Tiếp tục rèn luyện những kỹ năng đã được học ở mầm non, tập trung hình thành cho trẻ kỹ năng giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bạn bè; kỹ năng xây dựng tình bạn đẹp; kỹ năng kiên trì trong học tập; kỹ năng đúng giờ và làm việc theo yêu cầu, kỹ năng đồng cảm… tạo tiền đề cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất, học vấn và năng lực của học sinh” [3].

Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình.

Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo [Nguyễn Thanh Bình (2007), ”Giáo dục kỹ năng sống”, Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng sư phạm, Nxb Đại Học Sư Phạm, Hà Nội; Nguyễn Thanh Bình (2009), Chuyên đề giáo dục kỹ năng sống, Nxb Đại Học Sư Phạm, Hà Nội], tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam.

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên (2013), trong cuốn sách “Phương pháp giáo dục giá trị và kỹ năng sống cho trẻ trung học phổ thông”, các tác giả đã tập trung nghiên cứu, luận giải vấn đề lồng ghép giữa giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, trong đó giáo dục giá trị sống được coi là nền tảng, còn kỹ năng sống là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện. Nghiên cứu của các tác giả đã giúp cho giáo viên trung học phổ thông định hướng tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường, theo đó, giáo viên có thể tổ chức các giờ dạy hay hoạt động giáo dục kỹ năng sống một cách riêng biệt hoặc lồng ghép việc giáo dục kỹ năng sống vào trong dạy học các môn học mà giáo viên đó đang đảm nhận [8].

Tác giả Nguyễn Công Khanh (2012), trong cuốn “Phương pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống” tác giả đã nghiên cứu đê xuất biện pháp đổi mới, đa dạng hóa phương pháp giáo dục và phát triển kỹ năng sống đáp ứng nhu cầu, hứng thú và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh [7]. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Từ năm 2010 đến nay, nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu các đề tài về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ như Lương Thị Hằng (2010), với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở trường trung học phổ thông Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên”; Lê Anh Tuấn (2011), với đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho trẻ ở trường trung học phổ thông huyện Thạch Thất, Hà Nội”; “Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” (Lê Thị Thanh Xuân, 2014); Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thành phố Hà Nội (Hoàng Thúy Nga, 2016)…Các công trình này đã đề cập đến những nội dung cơ bản như: khái niệm giá trị sống, kỹ năng sống, biện pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và các cách tiếp cận, các biện pháp quản lý trong giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống cho trẻ em, học sinh.

Như vậy, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Nhiều công trình nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục kỹ năng sống. Tuy nhiên, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non hiện nay vẫn là một khoảng trống, cần sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Xâm hại, xâm hại tình dục, xâm hại tình dục trẻ em

  • Xâm hại

Theo Tự điển Tiếng Việt (2008) – NXB Hồng Đức “xâm hại là xâm phạm đến khiến cho bị tổn hại”.

Xâm hại là bất cứ hành động (hoặc không nhất thiết là hành động) có chủ làm tổn thương hoặc gây nguy hại cho người khác. Tùy thuộc vào mức độ của nó, hành vi này có thể gây ra những tổn thương nghiêm trọng cả về thể chất và tinh thần đối với người bị hại. Những hậu quả mà xâm hại gây ra sẽ đeo bám nạn nhân suốt cả cuộc đời, đồng thời cũng ảnh hưởng trực tiếp tới gia đình, cộng đồng và xã hội.

  • Xâm hại tình dục

Cụm từ “xâm hại tình dục” có thể được hiểu là hành vi tình dục không tự nguyện, trong một số trường hợp còn dùng đến vũ lực. Xâm hại tình dục có thể bao gồm việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, loạn luân, cưỡng hiếp và bóc lột tình dục bởi những người được xem là đáng tin cậy, chẳng hạn như bác sĩ, giáo viên hoặc giới tăng lữ. Các nạn nhân bị quấy rối tình dục, dù qua lời nói hay về thể chất thường bị đe dọa, hãm hại nếu nói ra sự việc [19]

Theo tác giả Đinh Thị Vân Anh: “Xâm hại tình dục là sự lôi kéo, cưỡng bức người khác vào các hoạt động nhằm thỏa mãn dục vọng của mình” [2]. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Từ khái niệm “xâm hại” và khái niệm xâm hại tình dục trên, theo chúng tôi: “Xâm hại tình dục là tất cả những hành vi tình dục không tự nguyện gây ra tổn thương nghiêm trọng cả về thể chất lẫn tinh thần cho nạn nhân”.

  • Xâm hại tình dục trẻ em

Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF): “Xâm hại tình dục trẻ em là mọi hành vi lôi kéo trẻ vào các hoạt động liên quan đến tình dục, mà trẻ không đủ khả năng (hoặc không hiểu), hoặc không đủ tâm thế để đưa ra quyết định đối với các hành vi này, hoặc các hành vi đó vi phạm đến luật pháp hay các giá trị văn hóa của cộng đồng sở tại” [14].

Tổ chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc (Australian AID) định nghĩa XHTD trẻ em xảy ra khi một ai đó sử dụng quyền lực hoặc lợi dụng sự tin tưởng của trẻ để lôi kéo trẻ vào hoạt động tình dục. Xâm hại tình dục trẻ em bao gồm tất cả các hành vi tình dục không mong muốn, có thể bao gồm cả hành vi xâm hại có tiếp xúc hay hành vi xâm hại không tiếp xúc [14].

Theo định nghĩa của Finkelhor (2009), XHTD trẻ em bao gồm hành vi phạm tội về tình dục mà trẻ em dưới 17 tuổi là nạn nhân. Luật Bảo vệ và Hỗ trợ trẻ em bị bạo hành của Mỹ (CAPTA) định nghĩa XHTD trẻ em bao gồm những hành vi sau: “Sử dụng, thuyết phục, lôi kéo hoặc sử dụng áp lực để ép trẻ em tham gia vào hoặc hỗ trợ người khác tham gia và thực hiện hành vi tình dục hoặc hành vi gợi tình vì mục đích có hành vi tình dục hoặc hiếp dâm, và trong trường hợp những người chăm sóc hoặc người thân trong gia đình gạ gẫm, mại dâm, sử dụng hình thức bóc lột trẻ em, loạn luân với trẻ em (Child Welfare Information Gateway, 2009) [10]. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Theo định nghĩa của Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ, XHTD trẻ em không những bao gồm các hành vi động chạm trực tiếp đến thân thể mà phô dâm, ngôn dâm với trẻ em, xem phim đồi trụy trẻ em cũng được xem là XHTD trẻ em [15].

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa “Xâm hại tình dục trẻ em là sự lôi kéo trẻ em vào hoạt động tình dục mà em đó không hiểu biết đầy đủ, không có khả năng đồng ý một cách hiểu biết, hoặc chưa phát triển đầy đủ hoặc vi phạm pháp luật hay các cấm kỵ của xã hội. Xâm hại tình dục trẻ em là hành vi giữa trẻ em với người lớn hoặc trẻ em khác (Karin Heissler 2001) [14].

Nói về khái niệm “xâm hại tình dục”, ông Trần Thành Nam – Tiến sỹ Tâm lý học trẻ em và vị thành niên cho biết: XHTD trẻ em là tất cả các hành vi dụ dỗ, xúi bẩy, lôi kéo, ép buộc trẻ em thực hiện một số hành vi mang tính chất tính dục không phù hợp với lứa tuổi của các em. Hành vi nhìn chỗ kín (thị dâm), nói chuyện về vấn đề liên quan đến hoạt động tình dục, bộ phận sinh dục (khẩu dâm), nghe, động chạm, ôm đều có thể được xem là XHTD. Khái niệm XHTD được hiểu rất rộng chứ không chỉ là có hành vi quan hệ tình dục như nhiều người vẫn nghĩ [18].

Nhìn chung, có rất nhiều cách hiểu về XHTD trẻ em cho thấy tính chất phức tạp của vấn nạn này. Việc có nhiều cách định nghĩa như trên khiến cho cha mẹ, những người làm công tác giáo dục gặp phải khó khăn trong việc hiểu đúng bản chất của hành vi XHTD trẻ em và phòng ngừa XHTD trẻ em. Xuất phát từ tình hình đó, Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội đã ban hành Luật trẻ em 2016. Trong đó tại khoản 8 Điều 4 định nghĩa XHTD được hiểu như sau: “XHTD trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” [12].

Như vậy, có thể thấy có rất nhiều quan điểm về XHTD trẻ em. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm về XHTD trẻ em của Tiến sỹ Trần Thành Nam làm khái niệm công cụ cho đề tài nghiên cứu.

1.2.2. Kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

1.2.2.1. Khái niệm kỹ năng sống Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

UNESCO (2003) quan niệm: kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày.

Chương trình giáo dục kỹ năng sống của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), cho rằng kỹ năng sống bao gồm những kỹ năng cốt lõi như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu.

Theo tác giả Nguyễn Võ Kỳ Anh: “KNS là khả năng có được những hành vi thích nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường ngày” [1].

Với phân tích nêu trên, tác giả cho rằng: “KNS là khả năng làm cho hành và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày”.

Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO): Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày [7].

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): kỹ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh. Đó là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày [7].

Theo UNICEF, kỹ năng sống là tập hợp rất nhiều kĩ năng tâm lí xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kĩ năng tự xử lí và quản lí bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Từ kỹ năng sống có thể thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành động đó sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Trong tài liệu tập huấn “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” của Bộ GD-ĐT, kỹ năng sống là những cách hành xử giúp mỗi cá nhân hòa nhập vào môi trường xung quanh (gia đình, lớp học…), giúp cá nhân ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, thách thức của cuộc sống thường ngày, giúp họ hình thành các mối quan hệ, phát triển những nét nhân cách tích cực thuận lợi cho sự thành công trong học đường và thành công trong cuộc sống [7].

Nếu hiểu kỹ năng sống là năng lực (tổng hòa cả kiến thức, thái độ và hành vi) theo nghĩa rộng đó là năng lực cá nhân có thể áp dụng những hiểu biết và kĩ năng để thực hiện hay giải quyết có hiệu quả các vấn đề, cả trong tình huống mới [5].

Hiểu kỹ năng sống là “khả năng tâm lí xã hội”, tức là đề cập tới năng lực của con người khi biểu hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác trong các tình huống khác nhau của môi trường văn hóa [5].

Trong những định nghĩa khác, có thể nhận thấy người có kỹ năng sống phải thể hiện ở những cách ứng xử tích cực. Có thể nhận thấy thêm rằng: xã hội hiện đại thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi con người cũng có những thay đổi theo, người có kỹ năng sống cần thay đổi một cách phù hợp và mang tính tích cực.

Có thể thấy, tuy cách diễn đạt về kỹ năng sống khác nhau nhưng có sự thống nhất hiểu kỹ năng sống thuộc về phạm trù năng lực (hiểu kĩ năng theo nghĩa rộng, bao hàm cả tri thức, thái độ và hành vi, hành động trong lĩnh vực đó), mà không phải là phạm trù thuộc kĩ thuật của hành động, hành vi (hiểu kĩ năng theo nghĩa hẹp).

Trong đề tài này, chúng tôi lựa chọn khái niệm sau làm khái niệm công cụ: Kĩ năng sống là những khả năng tâm lí- xã hội của mỗi cá nhân thể hiện trong hành vi thích ứng tích cực giúp cá nhân ứng xử một cách hiệu quả trước nhu cầu, sự thay đổi và thách thức của cuộc sống thường ngày.

1.2.2.2. Kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

Kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục là một kỹ năng thuộc nhóm kỹ năng bảo vệ bản thân. Từ sự phân tích và khái niệm công cụ về kỹ năng sống, theo chúng tôi, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục là khả năng tâm lý xã hội của mỗi cá nhân thể hiện ở hành vi thích ứng tích cực giúp cá nhân ngăn ngừa và thoát hiểm trước nguy cơ bị xâm hại tình dục.

1.2.2.3. Giáo dục kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục Giáo dục kĩ năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp [9].

Mục tiêu chính của Giáo dục kỹ năng sống là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hôi. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Từ nội hàm của khái niệm kỹ năng sống và hoạt động giáo dục kỹ năng sống, chúng tôi cho rằng: Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục nhằm trang bị cho đối tượng những kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ để phòng ngừa và thoát hiểm trước nguy cơ bị xâm hại tình dục.

1.2.2.4.Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo là hoạt động của Cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, trẻ mẫu giáo và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ trong nhà trường. Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo chính là những công việc của nhà trường mà người Cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non.

Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em.

Từ những luận giải trên, chúng tôi cho rằng: “Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, trẻ mẫu giáo nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục, giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách theo mục tiêu giáo dục mầm non”.

1.3. Một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em mẫu giáo Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

1.3.1. Một số đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Đến tuổi mẫu giáo, sự phát triển về mọi mặt của trẻ – từ thể chất đến tâm lý – đạt đến mức độ cao hơn so với lứa tuổi vườn trẻ. Hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề đã làm xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới ở trẻ. Sự phát triển này tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ trong việc tiếp nhận các tác động giáo dục, trong đó có giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em.

  • Sự phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo – Sự phát triển trí nhớ

Ghi nhớ không chủ định chiếm ưu thế. Trẻ ghi nhớ những gì có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của nó: đó là những cái mà trẻ thích, gây ấn tượng mạnh mẽ cho trẻ. Vì vậy, đối với trẻ mẫu giáo nhỏ nếu đặt ra yêu cầu ghi nhớ một cách cưỡng bức thì kết quả sẽ ngược lại. Do đó, để phát triển trí nhớ cho trẻ thì cần đưa trẻ vào những hoạt động vui chơi mà trong đó các sự vật hiện tượng phải liên quan đến nhu cầu của chính đứa trẻ và phải gây ấn tượng mạnh mẽ cho trẻ.

  • Sự phát triển chú ý

Chú ý không chủ định chiếm ưu thế, trẻ thường chú ý đến những đối tượng gây kích thích mạnh hoặc gây sự ngạc nhiên, nhất là tạo ra sự hứng thú cho trẻ… Khả năng phân phối chú ý kém. Độ bền vững của chú ý, sự tập trung chú ý đến cuối độ tuổi được nâng lên. Tính bền vững của chú ý phụ thuộc vào từng đối tượng hoạt động. Nếu đối tượng sinh động hấp dẫn, liên quan đến nhu cầu, hứng thú của trẻ và đòi hỏi sự tham gia tích cực của trí tuệ, đặc biệt khi trẻ được tiếp xúc hoạt động với đối tượng thì tính bền vững chú ý cao hơn.

  • Sự phát triển tưởng tượng

Tưởng tượng của trẻ mẫu giáo còn rất hạn chế: vừa có tính chất tái tạo thụ động vừa có tính chất không chủ định. Các em lẫn lộn giữa tưởng tượng và hiện thực. Tuy nhiên, nhiều khi các em đã xây dựng những hình ảnh mới mang tính chất sáng tạo theo kinh nghiệm lứa tuổi.

  • Sự phát triển tư duy Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

đầu tuổi mẫu giáo, khả năng khái quát hóa và trừu tượng hóa của trẻ còn rất hạn chế, gắn liền với những tình huống cụ thể. Cuối tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng hình ảnh trong đầu nhưng do biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải được một số bài toán hết sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan hình tượng. Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh là điều kiện thuận lợi nhất giúp trẻ cảm thụ những hình tượng nghệ thuật, đồng thời cũng tạo tiền đề cần thiết để làm nảy sinh những những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng. Loại tư duy này sẽ được phát triển mạnh ở những giai đoạn sau và chỉ có thể phát triển một cách lành mạnh khi nó có chỗ dựa là những hình tượng rõ ràng và đúng đắn.

  • Sự phát triển ngôn ngữ

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo được thể hiện ở cả mặt ngữ âm – ngữ điệu, vốn từ và cơ cấu ngữ pháp; sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc và phong cách ngôn ngữ của trẻ. Sự phát triển ngôn ngữ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu các kinh nghiệm xã hội – lịch sử của trẻ trong các hoạt động ở nhà trường, trong đó có hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống XHTD trẻ em.

  • Sự phát triển tình cảm của trẻ mẫu giáo

Tình cảm của tuổi mẫu giáo đang phát triển mạnh và nó có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.

Trẻ mẫu giáo rất giàu cảm xúc, dễ xúc động trước những tác động của hiện thực. Những xúc cảm của trẻ dễ thay đổi.

Những đặc điểm đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo là cơ sở để các nhà giáo dục có biện pháp tác động phù hợp trong quá trình giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ.

  • Sự phát triển ý chí của trẻ mẫu giáo

Bản thân các hành động ý chí cũng được biến đổi trong suốt thời kì mẫu giáo. Trong tuổi mẫu giáo bé, hành vi của trẻ hầu như hoàn toàn gồm những cử chỉ bột phát, những biểu hiện ý chí thỉnh thoảng mới quan sát thấy khi có những hoàn cảnh đặc biệt thuận lợi, đến tuổi mẫu giáo nhỡ, số lượng những biểu hiện đó tăng lên song chúng vẫn chưa chiếm một vị trí đáng kể trong hành Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Chỉ ở tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới có những nỗ lực ý chí tương đối lâu, mặc dù con thua xa trẻ lứa tuổi phổ thông.

Các phẩm chất ý chí được phát triển, đặc biệt là tính mục đích. Ở tuổi mẫu giáo lớn, do có khả năng làm chủ được nhiều hành vi, được người lớn giao cho nhiều việc nhỏ… trẻ dần dần xác định rõ mục đích của hành động. Nếu ở tuổi mẫu giáo nhỡ, mục đích động cơ hành động hoàn toàn trùng nhau thì ở lứa tuổi mẫu giáo lớn trẻ dần dần tách động cơ ra khỏi mục đích với sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Biết điều khiển hành vi của mình theo yêu cầu của người lớn. Mục đích công việc ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành.

Sự phát triển ý chí của trẻ mẫu giáo giúp trẻ có thể lĩnh hội, thực hiện được các yêu cầu, nhiệm vụ của giáo viên trong quá trình giáo dục để hình thành kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho bản thân.

1.3.2. Mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non nhằm từng bước hình thành cho trẻ những kiến thức, thái độ và kỹ năng phù hợp, nhận diện những hình thức xâm hại tình dục, trên cơ sở đó phát triển cho trẻ những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, khắc phục, loại bỏ những biểu hiện của hành vi tiêu cực để phòng ngừa, ứng phó với hành vi xâm hại tình dục và việc thực hiện hành vi tương tự với người khác.

Mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo là những kết quả mong đợi của nhà giáo dục về kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em tương ứng trẻ có thể đạt được.

Mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo giúp cho giáo viên định hướng và tự lựa chọn được các nội dung phù hợp với độ tuổi của trẻ, với điều kiện kinh tế – văn hoá – xã hội của mỗi địa phương.

Mục tiêu chung là hướng tới hình thành cho trẻ ý thức về những vùng kín của cơ thể; về quyền của các em với cơ thể của mình; về những biểu hiện của hành vi xâm hại tình dục, có nguy hại cho sự an toàn của các em; về cách ứng xử đúng mực với người khác để phòng tránh sự xâm hại; về cách thoát hiểm khi bị xâm hại; về sự cần thiết phải thông báo cho người lớn và các lực lượng trợ giúp trước nguy cơ bị xâm hại và khi bị xâm hại.

1.3.3. Nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em tại các trường mầm non tập trung vào những vấn đề sau:

  • Những kiến thức về vùng kín của cơ thể (đối với giới nữ và giới nam)
  • Về quyền của các em với cơ thể của mình: Các em có quyền tuyệt đối với cơ thể của mình, khi các em không muốn, không cho phép, người khác không được phép chạm vào cơ thể của các em
  • Về những biểu hiện của hành vi xâm hại tình dục, có nguy hại cho sự an toàn của các em: giới thiệu cho trẻ biết các hành vi sau đây là biểu hiện của xâm hại tình dục:

XHTD trẻ em bằng cách đụng chạm: đây là dạng XHTD phổ biến nhất và dễ dàng nhận ra. Đó là những hành vi tác động trực tiếp lên cơ thể giữa trẻ và thủ phạm như: sờ vào vùng kín của trẻ; ép buộc trẻ quan hệ tình dục hoặc lôi kéo trẻ vào các hành vi tình dục với trẻ em khác hoặc với người lớn; hôn hít hay sờ mó vào những vùng kín của trẻ hoặc bắt trẻ phải làm vậy với mình; ép trẻ thực hiện hành vi mại dâm…

XHTD trẻ em bằng cách không đụng chạm: là những hành vi tác động vào nhận thức, tinh thần, tâm lý tình cảm của nạn nhân. Hình thức XHTD này có thể bao gồm các biểu hiện cụ thể như: dùng lời nói hoặc tranh ảnh khiêu dâm để làm cho trẻ sốc, làm cho trẻ hưng phấn tình dục hoặc làm cho trẻ quen với tình dục; bắt trẻ đứng, ngồi theo tư thế gợi dục để chụp ảnh; dụ dỗ, ép buộc trẻ xem những loại sách báo, phim ảnh khiêu dâm; phô bày bộ phận sinh dục của mình trước mặt trẻ; nhìn trộm trẻ trong khi thay quần áo hoặc khi tắm…

  • Về cách ứng xử đúng mực với người khác để phòng tránh XHTD: Dạy cho trẻ biết cách ứng xử đúng mực, giữ đúng khoảng cách trong các mối quan hệ với người thân, với người quen, với người lạ.
  • Về cách phản ứng và thoát hiểm khi bị XHTD: Dạy cho trẻ cách phản ứng khi bị đụng chạm trực tiếp vào cơ thể hoặc những hành vi xâm hại không đụng chạm; dạy cho trẻ cách thoát hiểm khi bị kẻ xấu ôm chặt, bị túm tay hoặc có những hành vi khống chế khác…
  • Về sự cần thiết phải thông báo cho người lớn và các lực lượng trợ giúp trước nguy cơ bị xâm hại và khi bị xâm hại: Nói cho trẻ biết rằng cần phải thông báo cho bố mẹ, người thân, giáo viên..về những hành vi bất thường của người khác đối với mình để được trợ giúp kịp thời, ngăn chặn, chống lại hành vi xâm hại Nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể.

1.3.4. Phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

  • Phương pháp giáo dục kỹ năng PCXHTD: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Giáo dục kỹ năng sống nói chung, kỹ năng PCXHTD cho trẻ nói riêng phải gắn với các việc làm, tình huống cụ thể: trẻ được quan sát người khác làm, trẻ được tự thực hiện để trải nghiệm. Sự trải nghiệm nhiều lần sẽ giúp trẻ nhận thấy ý nghĩa thiết thực của việc làm, từ đó trẻ sẽ chủ động vận dụng các kĩ năng cần thiết vào từng tình huống cụ thể trong cuộc sống.

Trong quá trình giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ mẫu giáo, có thể sử dụng các nhóm phương pháp giáo dục sau: nhóm phương pháp trực quan, nhóm phương pháp dùng lời, nhóm phương pháp thực hành. Với phương pháp trực quan bao gồm phương pháp làm mẫu, phương pháp làm cùng, phương pháp làm gương (những phương pháp này giúp trẻ quan sát, bắt chước/tập thử, thực hành thường xuyên những kỹ năng cần hình thành); nhóm phương pháp dùng lời bao gồm các phương pháp trò chuyện, giảng giải ngắn (những phương pháp này giúp trẻ huy động tối đa những kinh nghiệm đã có, giải thích và khích lệ trẻ vui vẻ, hào hứng thực hiện kỹ năng); nhóm phương pháp thực hành bao gồm các phương pháp trải nghiệm, trò chơi, giao việc (những phương pháp này giúp trẻ bắt chước, tập thử và tích cực thực hành thường xuyên các kỹ năng).

  • Hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo có thể thực hiện thông qua nhiều hình thức như: Qua chế độ sinh hoạt trong ngày của trẻ ở trường; Qua hoạt động có chủ đích; Qua tổ chức các hoạt động vui chơi, dạo chơi cho trẻ; Qua tổ chức các hoạt động ngoài nhà trường

Đối với trẻ mẫu giáo, có thể giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục thông qua hoạt động vui chơi. Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ, khi chơi trẻ được phát triển các kỹ năng ý thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó với những thay đổi. Nội dung chơi của trẻ phản ánh những sinh hoạt hàng ngày trong gia đình, làng xóm. Hình thức chơi chủ yếu của trẻ có thể lồng ghép để giáo dục kỹ năng PCXHTD là chơi đóng vai có chủ đề, trò chơi đóng kịch…

Hoạt động giao tiếp được sử dụng để nhận và truyền thông tin về thái độ, kiến thức, kỹ năng phòng chống XHTDTE. Đối tượng giao tiếp là trẻ với các thành viên trong lớp, trường mầm non, trong gia đình, láng giềng, họ hàng, cộng đồng gần gũi.

Tổ chức các hoạt động cô và trẻ cùng làm tại nhóm lớp, lồng ghép các hoạt động giáo dục kỹ năng PCXHTD vào chương trình giáo dục trong các hoạt động học, hoạt động hàng ngày của trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Giáo dục trẻ thói quen hành vi có văn hóa: không đi vệ sinh nơi công cộng, thay quần áo ở nơi kín đáo, không để người khác nhìn thấy vùng kín của cơ thể mình, thể hiện các hành vi giao tiếp thân mật như ôm, hôn…phù hợp với từng mối quan hệ…

1.3.5. Đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non nhằm so sánh với mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ, từ đó xác định những kỹ năng trẻ đã đạt và chưa đạt để tiếp tục có kế hoạch hướng dẫn và tổ chức thực hiện cho phù hợp. Từ kết quả đã đạt được trong quá trình giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ, Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên tiếp tục hoàn thiện và điều chỉnh, bổ sung cơ sở vật chất cho phù hợp với nội dung giáo dục, hướng dẫn cho trẻ. Điều chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức, kế hoạch giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ từng độ tuổi, đảm bảo cơ hội tốt nhất để trẻ hoạt động tích cực.

1.4. Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em mẫu giáo ở trường mầm non

1.4.1 Hiệu trưởng trường mầm non với công tác quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Hiệu trưởng nhà trường là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận. Với tư cách pháp nhân đó, hiệu trưởng trường mầm non có các vai trò chủ yếu và cần có các phẩm chất, năng lực tương xứng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Hiệu trưởng, đại diện cho chính quyền về mặt thực thi luật pháp, chính sách giáo dục nói chung, các quy chế giáo dục và Điều lệ Trường mầm non. Để đảm đương vai trò này, đội ngũ Cán bộ quản lý trường mầm non cần có phẩm chất và năng lực về pháp luật (hiểu biết và vận dụng đúng đắn luật pháp, chính sách, quy chế giáo dục và Điều lệ trường học vào quản lý các mặt hoạt động của trường mầm non).

Hiệu trưởng là hạt nhân tạo động lực cho bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân lực trường mầm non thực hiện các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ (trong đó tập trung vào điều hành đội ngũ giáo viên, nhân viên thực hiện nhiệm vụ dạy học, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ) có hiệu quả hơn. Để đảm đương được vai trò này Cán bộ quản lý trường mầm non cần có phẩm chất và năng lực về tổ chức và điều hành đội ngũ Cán bộ quản lý cấp dưới, giáo viên, nhân viên, năng lực chuyên môn (am hiểu và vận dụng thành thạo các tri thức về tổ chức nhân sự, giáo dục học, tâm lý học, xã hội học và các tri thức phổ thông về bậc học mầm non) để quản lý các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ở nhà trường, trong đó có quản lý.

Trong quản lý giáo dục kỹ năng sống kỹ năng PCXHTD cho trẻ mẫu giáo, Hiệu trưởng phải am hiểu các nội dung giáo dục, các phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp; đồng thời, cần có năng lực quản lý để thực hiện hoạt động quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục và kiểm tra đánh giá hoạt động Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Tóm lại, trong trường mầm non, Hiệu trưởng là chủ thể quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo. Chủ thể quản lý phải đề ra các kế hoạch, nội dung, mục đích, lựa chọn phương pháp và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện giáo dục nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em.

1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em tại các trường mầm non bao gồm quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ; quản lý nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em; quản lý phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em; quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em tại các trường mầm non.

1.4.2.1. Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ mẫu giáo, nhà quản lý cần:

Xác định rõ mục tiêu sẽ đạt được của từng nội dung giáo dục kỹ năng cho trẻ như: Về kiến thức, phải trực tiếp góp phần nâng cao hiểu biết cho trẻ về cơ thể, về vùng kín của cơ thể, về cách bảo vệ vùng kín của cơ thể, về những hình thức biểu hiện của XHTD, về cách ứng xử trong các mối quan hệ để ngăn ngừa sự xâm hại…; hình thành ở trẻ kỹ năng phòng tránh sự xâm hại và thoát hiểm khi bị khống chế, xâm hại; hình thành ở trẻ thái độ trân trọng cơ thể mình, thận trọng trong các mối quan hệ và luôn cảnh giác với những nguy cơ bị XHTD.

Xác định các hoạt động, các nguồn lực hỗ trợ giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ để đạt được mục tiêu đã đề ra

Chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non để đạt mục tiêu quản lý. Tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non có liên quan mật thiết đến việc tổ chức hoạt động giáo dục, dạy học, tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ngay trong nhà trường. Quá trình triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng gồm: thành lập ban chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ thông qua hoạt động học, vui chơi theo các chủ đề đã được xác định, do hiệu trưởng làm trưởng ban; xây dựng các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày;

Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non. Khi sắp xếp bố trí lực lượng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ, hiệu trưởng phải biết được phẩm chất và năng lực của từng giáo viên, nhân viên, mặt mạnh, mặt yếu, nếu cần có thể phân công theo từng “ê kíp” nhằm bảo đảm cho công việc được tiến hành một cách thuận lợi và có hiệu quả.

Tổ chức bồi dưỡng giáo viên thực hiện nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục thông qua dự giờ, sinh hoạt chuyên môn để nâng cao năng lực cho giáo viên về phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động nhằm giáo dục kỹ năng cho trẻ đạt hiệu quả. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ so với mục tiêu đề ra từng giai đoạn, từ đó điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp ở giai đoạn tiếp theo.

1.4.2.2. Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo nhằm nhằm đạt được mục tiêu giáo dục.

Quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho cho trẻ cần được xác định từ đầu năm học, đầu mỗi học kỳ và của từng tháng. Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục&ĐT, Sở Giáo dục&ĐT cũng như của Phòng Giáo dục&ĐT, Hiệu trưởng cần chủ động, sáng tạo, linh hoạt phân công cho phó hiệu trưởng xây dựng và quản lý chặt chẽ các thành tố như mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện, giáo viên giảng dạy và kết quả giáo dục kỹ năng cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non.

Quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non là quản lý toàn bộ hệ thống kiến thức, giá trị, chuẩn mực nội dung cần tổ chức giáo dục cho trẻ. Quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non cần tập trung vào các yêu cầu về kiến thức, các chuẩn mực, hành vi ứng xử cần đạt được khi kết thúc một nội dung giáo dục kỹ năng này cho trẻ.

Tóm lại, quản lý nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục, đòi hỏi nhà quản lý phải hết sức coi trọng từng nội dung giáo dục, như:

Quản lý nội dung giáo dục nhận thức cho trẻ gồm: Kỹ năng nhận biết cơ thể, vùng kín của cơ thể; Kỹ năng nhận biết các biểu hiện của hành vi xâm hại tình dục.

Quản lý nội dung hình thành kỹ năng cho trẻ: Kỹ năng ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ để phòng ngừa sự xâm hại; Kỹ năng thoát hiểm khi bị xâm hại; Kỹ năng tìm kiếm sự trợ giúp để phòng ngừa và xử lý hậu quả của hành vi xâm hại tình dục.

1.4.2.3. Quản lý phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Quản lý phương pháp và hình thức hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo là một khâu vô cùng quan trọng. Để đạt được mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non, hiệu trưởng cần lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức quản lý giáo dục một cách phù hợp nhất.

Công tác quản lý các phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo đòi hỏi hiệu trưởng nhà trường phải tìm hiểu bản chất và cách thức áp dụng những mô hình phương pháp bồi dưỡng hiệu quả phù hợp với điều kiện địa phương nhưng vẫn đảm bảo quy trình quản lý.

Nhà quản lý cần linh hoạt trong quản lý phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo. Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, của nhà trường, phụ thuộc vào nội dung giáo dục để đưa ra các phương pháp, hình thức giáo dục phù hợp, thiết thực.

Cán bộ quản lý cần hướng dẫn giáo viên bám sát vào mục tiêu, nội dung trong Chương trình giáo dục mầm non sau sửa đổi bổ sung để đưa ra các phương pháp, hình thức giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Người Hiệu trưởng phải đề ra kế hoạch ngắn hạn và dài hạn để động viên, khuyến khích giáo viên cố gắng tự học tập, tự bồi dưỡng và tham gi a học các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ để trang bị cho mình thêm vốn hiểu biết về kiến thức về phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ mẫu giáo.

1.4.2.4. Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Trong quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non, việc kiểm tra đánh giá có ý nghĩa không chỉ đối với nhà quản lý giáo dục mà còn có ý nghĩa đối với cả cha, mẹ của trẻ. Qua kiểm tra đánh giá, giáo viên, cha, mẹ trẻ sẽ hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình trong thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ. Quá trình kiểm tra có thể thực hiện định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp, song kiểm tra dù thực hiện ở cách thức nào cũng cần xây dựng chuẩn đánh giá cho phù hợp với đặc điểm của nhà trường thì việc kiểm tra đánh giá mới khách quan, công bằng.

Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó những tác động quản lý giáo dục của ban giám hiệu, giáo viên có ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình giáo dục, rèn luyện kỹ năng PCXHTD cho trẻ. Vì vậy, khi kiểm tra, đánh giá quá trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ phải xác định rõ mục đích, bảo đảm tính khách quan, toàn diện, công khai. Đây vừa yêu cầu, vừa là nguyên tắc cao nhất trong kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng cho trẻ tại các trường mầm non.

Để thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra kết quả giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ trong quá trình dạy học, giáo dục ở nhà trường, nhà quản lý giáo dục cần: lập kế hoạch kiểm tra (kế hoạch kiểm tra cần xác định rõ mục tiêu, nội dung kiểm tra, đánh giá, chuẩn đánh giá, phương pháp, hình thức đánh giá); xây dựng các lực lượng kiểm tra, đánh giá; xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá; tổ chức kiểm tra, đánh giá; phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá và phản hồi thông tin đến giáo viên và các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ. Từ kết quả của hoạt động kiểm tra đánh giá đó nhà quản lý xây dựng kế hoạch điều chỉnh cách quản lý nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục và cả hoạt động quản lý kiểm tra, đánh giá sao cho phù hợp với điều kiện của địa phương và phù hợp với trẻ.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

1.5.1. Các yếu tố khách quan

1.5.1.1. Mục tiêu, yêu cầu đổi mới nội dung chương trình giáo dục ở bậc mầm non

Đây chính là yếu tố đầu tiên có tính định hướng cho công tác giáo dục và rèn luyện kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non. Quá trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ, nếu không bám sát mục tiêu giáo dục ở bậc mầm non và không xác định được yêu cầu của việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ thì công tác quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục, rèn luyện kỹ năng cho trẻ ở các trường mầm non sẽ không đạt hiệu quả. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta xác định, đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho nền giáo dục nước nhà. Vì thế, giáo dục ở các cấp học, bậc học phải hướng tới đổi mới toàn diện, sâu sắc hơn cả về quy mô và chất lượng giáo dục. Do vậy, việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục ở bậc mầm non, đó là đảm bảo an toàn về thể chất và tinh thần cho trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho trẻ bước vào thời kỳ học tập ở bậc tiểu học và các bậc học tiếp theo. Đây chính là yếu tố tác động có ý nghĩa định hướng cho công tác giáo dục nói chung, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non nói riêng.

1.5.1.2. Hoàn cảnh kinh tế xã hội của địa phương

Môi trường xã hội có tác động lớn tới hoạt động quản lý giáo dục. Nếu môi trường sống thuận lợi, trẻ được chăm sóc chu đáo và đầy đủ dinh dưỡng, được tiếp nhận các tác động giáo dục tiến bộ, việc quản lý chỉ đạo, tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống nói chung, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ nói riêng sẽ đạt hiệu quả tốt. Ngược lại, ở những vùng miền điều kiện sống còn khó khăn, dân trí thấp, giao thông không thuận tiện, điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ giáo dục hạn chế thì sẽ có nhiều thách thức, trở ngại đối với cán bộ quản lý trong việc quản lý, chỉ đạo tổ chức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em ở nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

1.5.1.3. Tác động từ cơ sở vật chất của các trường mầm non

Cơ sở vật chất là một bộ phận rất quan trọng của nhà trường là thành tố không thể thiếu được trong công tác giáo dục trẻ, nó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục. Xây dựng cơ sở vật chất trường mầm non, chính là tạo ra một môi trường sư phạm có đầy đủ phòng học, phòng chức năng, phòng làm việc, trang thiết bị, đồ dùng, sân chơi… đó chính là tạo ra môi trường sư phạm có đủ diện tích cho trẻ hoạt động, có cảnh quan đẹp, hấp dẫn mang tính giáo dục cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục. Chính vì vậy, yếu tố vật chất có vai trò quan trọng, góp phần bảo đảm cho giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục đạt hiệu quả.

1.5.2  Các yếu tố chủ quan

1.5.2.1. Tác động từ nhận thức của các lực lượng giáo dục trong nhà trường về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo

Trình độ nhận thức của đội ngũ Cán bộ quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non. Nhận thức đúng giúp nhà trường phát huy được thế mạnh của giáo viên và các lực lượng giáo dục tham gia vào quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục và quản lý giáo dục kỹ năng cho trẻ tại các trường mầm non.

Nhận thức của các lực lượng quản lý giáo dục và giáo viên về hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ tại các trường mầm non, được đánh giá bởi các vấn đề như nhận thức về sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ; hiểu thế nào là kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục; ý nghĩa vai trò của giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ. Vai trò chức năng nhiệm vụ và mối quan hệ giữa Ban giám hiệu, Cán bộ quản lý, giáo viên, vai trò trách nhiệm của gia đình và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ; mối quan hệ giữa nhà trường – gia đình – các tổ chức xã hội đối với việc giáo dục kỹ năng cho trẻ tại các trường mầm non hiện nay.

Nhận thức của cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên phù hợp với mục tiêu quản lý sẽ thúc đẩy cho hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ nhanh chóng đạt hiệu quả tối ưu và ngược lại khi nhận thức lệch lạc, chưa đúng với yêu cầu tổ chức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ sẽ trở thành lực cản việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ của các trường mầm non. Do vậy, nhận thức của các lực lượng này đúng sẽ tạo nên sự đồng thuận trong việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ cũng như hiểu được sự cần thiết của việc tổ chức, nâng cao tinh trần trách nhiệm của họ trong hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

1.5.2.2. Năng lực của cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên

Đội ngũ Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên là lực lượng chủ đạo quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường. Nếu đội ngũ cán bộ có năng lực quản lý tốt, am hiểu về tầm quan trọng của kỹ năng sống nói chung, kỹ năng PCXHTD nói riêng, xác định được nội dung và các phương pháp, hình thức tương ứng để triển khai hoạt động này thì việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ sẽ đạt hiệu quả. Nếu đội ngũ giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có kiến thức chuyên môn vững vàng, có năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục và dạy học, không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì việc thực hiện các hoạt động giáo dục kỹ năng PCXHTD cho trẻ mẫu giáo sẽ có chất lượng tốt, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường. Ngược lại, năng lực của đội ngũ cán bộ và giáo viên hạn chế sẽ không đảm bảo chất lượng của hoạt động quản lý giáo dục trong nhà trường nói chung, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em nói riêng.

1.5.2.3. Môi trường gia đình

Dưới góc độ giáo dục, gia đình, không chỉ là lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục mà còn là môi trường giáo dục quan trọng, là trường học đầu tiên và suốt đời của con người. Trong lĩnh vực giáo dục kỹ năng sống nói chung, kỹ năng PCXHTD cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non, môi trường gia đình có thể tác động theo hướng tích cực hoặc không tích cực đối với quá trình hình thành và phát triển kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục của trẻ. Do kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục thuộc phạm trù năng lực nên sự trải nghiệm có ý nghĩa quan trọng đòi hỏi quá trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ cần phát huy tốt sức mạnh của các yếu tố gia đình và xã hội.

Nếu cha mẹ, người thân của trẻ có nhận thức đúng đắn về sự cần thiết phải trang bị kỹ năng phòng chống XHTD cho con em mình, tự tìm hiểu để nâng cao kiến thức cho bản thân, suy nghĩ tìm ra cách dạy con biết cách phòng tránh xâm hại thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giáo dục được tiến hành tại nhà trường bởi những kiến thức (dù là sơ đẳng) mà trẻ được cha mẹ trang bị ở nhà sẽ là cơ sở để trẻ tiếp nhận các tác động giáo dục ở nhà trường. Ngược lại, nếu cha mẹ của trẻ kém hiểu biết, thờ ơ, bỏ mặc việc giáo dục con cho nhà trường, không phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục trẻ thì sẽ gây khó khăn cho các hoạt động giáo dục của trường mầm non.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục là một trong số các kỹ năng sống, là khả năng tâm lý xã hội của mỗi cá nhân thể hiện ở hành vi thích ứng tích cực giúp cá nhân ngăn ngừa và thoát hiểm trước nguy cơ bị xâm hại tình dục.

Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục nhằm trang bị cho đối tượng những kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ để phòng ngừa và thoát hiểm trước nguy cơ bị xâm hại tình dục.

Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo là hoạt động của Cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, trẻ mẫu giáo và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ trong nhà trường. Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo chính là những công việc của nhà trường mà người Cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non.

Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, trẻ mẫu giáo nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục, giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách theo mục tiêu giáo dục mầm non.

Trong trường mầm non, Hiệu trưởng là chủ thể quản lý các hoạt động giáo dục, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo bao gồm nhiều nội dung: quản lý mục tiêu giáo dục, quản lý nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo, bao gồm các yếu tố khách quan và chủ quan như: mục tiêu, nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo ở trường mầm non; điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, môi trường sống của trẻ; nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trong nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng chống xâm hại tình dục

One thought on “Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp QL giáo dục phòng chống xâm hại tình dục

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464