Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới HTCT là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCNVN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Để thực hiện được điều này, con đường tất yếu là cải cách tư pháp; phát triển những thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế, khó khăn; phấn đấu đạt được các mục tiêu, yêu cầu của Đảng; đáp ứng sự trông chờ của Nhân dân. Đồng thời, xây dựng một nền tư pháp quốc gia ngày càng nghiêm minh, liêm chính và chuyên nghiệp, hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

Trong hoàn cảnh như vậy, họat động nghề nghiệp của luật sư (LS) chắc chắn sẽ góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Đồng thời, luật sư và các vị trí tư pháp khác ngày có càng vai trò, địa vị đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện nội dung chiến lược cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Liên quan đến các vụ án dân sự (VADS), VDS (VDS), hoạt động của LS rất đa dạng, phong phú. Với tư cách là nhà tư vấn pháp luật (PL), hỗ trợ pháp lý và đại diện theo ủy quyền cho các bên trong VADS, VDS, luật sư sẽ bào chữa trong vụ kiện, góp phần đảm bảo sự công bằng trong xét xử, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, góp phần giữ vững ổn định xã hội. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Tuy nhiên, việc tham gia của LS vào các VADS, VDS vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Nhiều người dân chưa có hiểu biết đúng đắn về vai trò, sự cần thiết sự của LS tham gia vào VADS, VDS; và ngay đến những người tiến hành tố tụng cũng có quan niệm cho rằng sự tham gia của LS trong hoạt động tố tụng dân sự sẽ chỉ mang lại những rắc rối, khiến việc tiếp cận công lý của các bên phức tạp hơn. Ngoài ra, để thích ứng với yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế, yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp đối với LS được đặt ra ngày càng cao hơn.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn nội dung:“Vai trò của luật sư trong VADS, VDS tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Tác giả hy vọng rằng, sẽ mang đến những kiến thức bổ ích, sự hiểu biết toàn diện hơn, sâu sắc hơn về vai trò của LS trong VADS, VDS. Ngoài ra, nội dung nghiên cứu này cũng là yêu cầu cấp thiết đối với một nền công lý, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Nghiên cứu vai trò của luật sư trong VADS, VDS không những góp phần cải cách tư pháp tổng thể mà còn có ý nghĩa đối với đội ngũ LS đang ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Trong những năm gần đây, đã có những công trình, bài báo nghiên cứu, đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến các khía cạnh khác nhau về vai trò, sự tham gia của LS trong tố tụng dân sự nói chung và VADS, VDS nói riêng. Cụ thể như sau:

Tác giả Hà Thị Lan Phương (2016), Luật sư và vấn đề bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng, Tạp chí Nghề luật, số 1/2016 [17]. Bài viết đã khẳng định LS giữ vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng. LS đại diện quyền của người bào chữa đảm bảo tính bình đẳng trước PL. Sự tham gia của LS vào tố tụng tạo ra tính khách quan, phá vỡ bản chất áp đặt của hoạt động nghiệp vụ trong việc tiến hành tố tụng theo quy định của PL. Vì vậy, tác giả cho rằng vai trò của LS hiện tại là người đại diện cho thân chủ vẫn bị hạn chế bởi các hoạt động có tính chất nghiệp vụ của các CQTHTT. Việc mở rộng hơn nữa quyền của LS để quyền của LS cao ngang quyền các CQTHTT, có như vậy mới đảm bảo quyền con người được quy định tại Hiến pháp 2013.[17]

Tác giả Nguyễn Thùy Anh (2020), Sự tham gia của luật sư trong vụ án dân sự, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội [1]. Đề tài đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng PL và thực tiễn thực hiện PL về sự tham gia của LS trong vụ án dân sự, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quy định PL và tăng cường sự tham gia của LS trong các vụ án dân sự. Như vậy, luận văn đã phân tích một số vấn đề lý luận về LS và sự tham gia của LS trong VADS; đánh giá về những kết quả đã đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong các quy định hiện hành của PL Việt Nam về sự tham gia của LS tại từng giai đoạn tố tụng của VADS. Từ đó đề xuất kiến nghị về hoàn thiện quy định của PL và tăng cường sự tham gia của LS trong các VADS dưới tư cách là người đại diện theo ủy quyền hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. [1]

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà (2019), Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ công lý – từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ, luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội [9]. Đề tài đã nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của LS tỉnh Phú Thọ trong việc bảo vệ công lý. Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá giá trị và tầm quan trọng của LS trong việc bảo vệ công lý, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả vai trò của LS trong bảo vệ công lý trong thời gian tới. Luận văn này cũng trở thành tư liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực LS trên địa bàn tỉnh và cả nước. [9]

Tác giả Phạm Thị Bích Hảo (2021), Vai trò của luật sư trong vụ kiện dân sự, Tạp chí điện tử luật sư Việt Nam, tháng 5/2021 [11]. Đối với khách hàng, việc mời LS ngay từ khi phát sinh tranh chấp là cần thiết để tránh những việc khiếu kiện, khiếu nại không đúng thẩm quyền hoặc vượt cấp. Khi LS đã tham gia tố tụng, khách hàng cần tuân thủ theo tư vấn của LS để vụ việc được tiến hành đúng quy định. LS cần định hướng khách hàng thu thập chứng cứ trong vụ kiện để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Khi tranh tụng, LS cần chủ động đưa ra những câu hỏi để thu thập thông tin bảo đảm sự thật khách quan của vụ việc trên cơ sở yêu cầu khởi kiện. Cần chú trọng việc hòa giải trong tranh chấp dân sự, nhất là những tranh chấp về thừa kế, tranh chấp nợ vay, nếu hòa giải thành sẽ hạn chế được mâu thuẫn trong nhân dân, giảm chi phí phát sinh trong quá trình thi hành án khi bản án có hiệu lực PL. [11] Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Tác giả Phạm Thị Hường (2013), Vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội [16]. Luận văn đã đề cập đến khái niệm LS, đặc điểm, ý nghĩa của việc LS tham gia tố tụng dân sự. Đồng thời, tác giả nghiên cứu các quy định của PL về vai trò của LS trong TTDS qua các giai đoạn, rút ra các quy định PL về vai trò của LS ở một số nước đại diện cho hệ thống PL cơ bản trên thế giới. Tác giả cũng làm rõ vai trò của LS trong TTDS trên cơ sở phân tích cụ thể các quy định của PL hiện hành. Làm rõ thực trạng hoạt động của LS, phân tích nguyên nhân và đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của LS trong TTDS. [16]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đề cập tới khái niệm LS, lịch sử phát triển của nghề LS, sự tham gia của LS trong tố tụng dân sự mà chưa tiến hành nghiên cứu, phân tích chuyên sâu về vai trò của LS trong VADS, VDS nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Ngoài ra, một số công trình được thực hiện trước khi Luật dân sự 2015 có hiệu lực.

Do vậy, đề tài “Vai trò của LS trong VADS, VDS tại Thành phố Hồ Chí Minh” rất cần được tiếp tục nghiên cứu và luận giải sâu sắc hơn trong bối cảnh hiện nay.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu:

  • Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của LS trong VADS, VDS;
  • Luận văn phân tích những hạn chế, bất cập của các quy định PL hiện hành của Việt Nam liên quan đến vai trò của LS trong VADS, VDS và những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn;
  • Luận văn tìm ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả về vai trò của LS trong VADS, VDS tại các cấp TA .

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

  • Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của LS trong VADS, VDS: khái niệm luật, đặc điểm, vị trí, vai trò của LS trong VADS, VDS; quy định của PL về vai trò của LS trong VADS, VDS và các điều kiện đảm bảo sự tham gia của LS trong VADS, VDS;
  • Từ đó, phân tích, đánh giá các quy định PL hiện hành về vai trò của LS trong VADS, VDS tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của LS trong VADS, VDS tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

  • Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vai trò của LS trong VADS, VDS theo Bộ Luật dân sự 2015. Cụ thể :

Trình tự, thủ tục giải quyết VADS, VDS bao gồm nhiều giai đoạn, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu họat động của LS trong phạm vi giải quyết VADS, VDS tại TA , không đề cập đến họat động của LS trong giai đoạn thi hành án dân sự;

Luận văn phân tích vai trò của LS với tư cách người đại diện theo uỷ quyền hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong VADS, VDS tại TA trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

  • Phạm vi nghiên cứu: Từ năm 2018 –

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp luận: luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, hệ thống văn bản pháp quy của nhà nước về vai trò của LS trong VADS, VDS và Bộ luật dân sự

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp thống kê; phương pháp khảo sát thực tiễn các VADS, VDS…

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về những vấn đề liên quan đến vai trò của LS trong VADS, VDS.

Đề tài đã nghiên cứu, phân tích khái niệm LS, vai trò, vị trí của LS trong VADS, VDS cũng như điều kiện đảm bảo sự tham gia của luật sự trong VADS, VDS. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Từ những cơ sở lý luận, luận văn làm sáng tỏ thực trạng những quy định của PL hiện hành về vai trò của LS, về điều kiện tham gia tố tụng, về vai trò cụ thể của LS; quyền và nghĩa vụ của LS trong VADS, VDS.

Luận văn sẽ đánh giá một cách toàn diện những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế, vướng mắc mà LS gặp phải khi tham gia VADS, VDS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào thực tiễn đó, luận văn đề xuất những giải pháp có giá trị nhằm nâng cao vai trò của LS trong VADS, VDS.

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Đề tài là công trình khoa học nghiên cứu về vai trò của LS trong VADS, VDS. Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể trở thành tài liệu tham khảo cho người tham gia tố tụng, CQTHTT, hoặc cho những người cần tìm hiểu, áp dụng các quy định PL về vai trò của LS.

Ngoài ra, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho học viên cao học, sinh viên tại các cơ sở đào tạo PL.

7. Kết cấu của luận văn

  • Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò của luật sư trong VADS, VDS.
  • Chương 2. Thực trạng thực hiện pháp luật về vai trò của luật sư trong VADS, VDS tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Chương 3. Phương hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện vai trò của luật sư trong VADS, VDS tại Thành phố Hồ Chí Minh.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ, VIỆC DÂN SỰ

1.1. Khái quát thực hiện pháp luật về vai trò của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự

1.1.1. Khái quát vai trò luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự

Trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập KT quốc tế và khu vực, cũng như mở rộng HTQT trên nhiều lĩnh vực. Qua đó, đã tạo ra những hiệu quả tích cực, thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển nhanh chóng, tác động mạnh mẽ đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, trong đó có lĩnh vực tư pháp nói chung và đội ngũ LS, cũng như hoạt đông nghề nghiệp của LS nói riêng.

Ở Việt Nam, chế định LS có những thăng trầm khác nhau qua những giai đoạn của lịch sử nhất định, bản thân khái niệm luật sư cũng có những thuật ngữ khác nhau để thể hiện, chẳng hạn như LS, người bào chữa, trạng sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… Tuy những thuật ngữ này được sử dụng trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử hay trong những trường hợp khác nhau của pháp luật, nhưng chúng đều thể hiện bản chất của một loại chủ thể thực hiện nghề luật. Đó là người họat động trong lĩnh vực pháp luật (PL), có tư cách tư pháp độc lập; và là một nghề thuộc danh mục nghề nghiệp VN.

Nghề LS ở VN đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài: Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

  • Sau khi CM tháng 8 thành công, nước VN Dân chủ cộng hòa ra đời. Từ đó, các quy định về LS, về tổ chức đoàn thể LS được xây dựng và hình thành;
  • Pháp lệnh tổ chức LS ra đời năm 1987, nhưng không có khái niệm về LS cụ thể mà chỉ quy định điều kiện trở thành LS, điều kiện gia nhập Đoàn luật sư.
  • Pháp lệnh LS năm 2001 mới đưa ra khái niệm về luật sư. Đó là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh và tham gia hoạt động tố tụng, tư vấn PL và cung cấp dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân; được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định PL. [12]

Và Luật LS đã quy định tại Điều 2: “LS là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật LS, và thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”.

Tiêu chuẩn LS là một điểm mới của Luật LS. Điều 10 Luật LS quy định về tiêu chuẩn LS như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và PL, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề LS, đã qua thời gian tập sự hành nghề LS, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề LS thì có thể trở thành LS”.[26]

  • Theo quy định của Luật LS năm 2006, khái niệm LS có nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể như:

Theo cách hiểu 1: LS là người có chứng chỉ hành nghề LS và thẻ Nhưng những người đó phải thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng (Điều 2, Luật LS 2006);

Theo cách hiểu 2: khái niệm LS có nội hàm tương tự như điều kiện hành nghề LS. Đó là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của PL; được CQNN cấp chứng chỉ hành nghề. Họ có quyền và tự nguyện gia nhập Đoàn luật sư – tổ chức xã hội nghề nghiệp. Và khi họ đã đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định của PL, được cấp chứng chỉ nghề LS thì mới có quyền đăng ký hành nghề; hành nghề và gia nhập Đoàn luật sư. Theo quan điểm này, LS là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 10 Luật LS và đã được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề LS.

Như vậy, LS là người có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực pháp lý, có đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời người đó phải có chứng chỉ hành nghề LS, thẻ LS và cung cấp dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng phù hợp với quy định PL và đạo đức nghề nghiệp. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

VADS là những vụ việc có có tính chất dân sự, đồng thời có dấu hiệu trái PL (tranh chấp giữa các chủ thể PL) được đưa ra TA hoặc cơ quan trọng tài để giải quyết.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được gọi là đương sự trong VADS. Ngoài ra, một thành phần quan trọng khác trong việc giải quyết VADS là CQTHTT và người tiến hành tố tụng (điều 68, Bộ luật TTDS 2015)

CQTHTT là CQNN thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc giám sát việc tuân theo PL trong TTDS, bao gồm (điều 46, Bộ luật TTDS 2015):

  • TA nhân dân;
  • Viện kiểm sát nhân dân;
  • Cơ quan thi hành án dân sự.

Người tiến hành tố tụng là người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo PL trong tố tụng dân sự như: Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký, Kiểm sát viên, Viện trưởng viện kiểm sát, Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên. (chương IV, Bộ luật TTDS 2015)

Trong VADS còn có những người tham gia tố tụng khác:

  • Người đại diện của đương sự có thể là người đại diện theo PL, hoặc theo uỷ quyền hoặc do TA chỉ định (điều 75, Bộ luật TTDS 2015)
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi đáp ứng đủ các điều kiện mà PL quy định (điều 75, Bộ luật TTDS 2015)
  • Người làm chứng là người biết các tình tiết liên quan đến vụ án dân sự, tham gia tố tụng theo quy định của PL, để làm rõ các tình tiết, sự việc của vụ án (điều 75, Bộ luật TTDS 2015)
  • Trong TTDS, ngôn ngữ để giải quyết các vụ việc tại TA là Tiếng việt. Vì vậy, nếu cần thiết phải có người phiên dịch – người tham gia tố tụng, dịch ngôn ngữ khác ra Tiếng Việt và ngược lại (điều 75, Bộ luật TTDS 2015)
  • Người giám định là người tham gia tố tụng sử dụng kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn theo quy định PL về lĩnh vực cần giám định để làm rõ các tình tiết, sự việc của VADS (điều 75, Bộ luật TTDS 2015)

VADS được giải quyết theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật TTDS, kể từ khi các bên khởi kiện cho đến khi TA ra bản án, quyết định có hiệu lực PL. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Từ đó, học viên hiểu khái niệm vụ án dân sự như sau: Vụ án dân sự là những tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…. giữa cá nhân, tổ chức này với cá nhân, tổ chức khác, và khởi kiện ra TA có thẩm quyền. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền, vụ án được giải quyết theo quy định của Luật TTDS và được TA thụ lý, giải quyết.

VDS được quy định như sau: “VDS là việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, và yêu cầu TA công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu TA công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (điều 361 Luật TTDS năm 2015) [26]

Do vậy, cần xác định VDS không có yếu tố tranh chấp xảy ra giữa các tổ chức, cá nhân về quyền và lợi ích hợp pháp trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động… Nên quy trình, thủ tục giải quyết VDS tại TA sẽ đơn giản hơn so với VADS, TA được giảm bớt gánh nặng, đương sự được giảm bớt phiền hà. Căn cứ từ đó, VDS có những đặc điểm sau:

Thời gian giải quyết VDS ngắn hơn. Tính từ ngày nhận được đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo không quá 03 ngày làm việc. Chánh án TA chỉ định một Thẩm phán để giải quyết đơn yêu cầu. Thẩm phán sẽ kiểm tra đơn cả về hình thức và nội dung. Trừ những trường hợp Luật TTDS đã có quy định thời hạn giải quyết cụ thể, nếu không thời gian chuẩn bị xét đơn yêu với VDS là 01 tháng,

TA phải mở phiên tòa để giải quyết VADS, còn đối với VDS TA chỉ cần mở phiên họp để giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.

Thành phần giải quyết VDS gồm có Thẩm phán, Kiểm sát viên, thư ký phiên họp, không có Hội thẩm nhân dân như trong thành phần xét xử VADS. Ngoài ra, có sự tham gia người yêu cầu hoặc người đại diện theo PL quy định; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Khi TA thấy cần thiết cũng có thể triệu tập những trường hợp này, hoặc có thể cả người làm chứng, người giám định, phiên dịch viên… tham gia phiên họp.

Kết quả giải quyết VDS được TA tuyên bằng “Quyết định”, chứ không phải tuyên bằng “Bản án” như trong VADS.

Thời hạn kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết VDS là 07 ngày ngắn hơn so với thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án bản án dân sự sơ thẩm là 15 ngày.

Từ những phân tích trên, khái niệm VDS được hiểu như sau: “VDS là việc riêng của tổ chức, cá nhân không có tranh chấp xảy ra nhưng có yêu cầu TA công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý. Để lấy đó căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…”.

Như vậy, vai trò của luật sư trong VADS, VDS là rất quan trọng. LS sẽ giúp các đương sự hiểu đúng, hiểu đủ quyền và nghĩa vụ của mình trước PL, tránh bị các CQTHTT lạm quyền, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của mình. Cũng như giúp cho đương sự hiểu được bản án, quyết định của các cơ quan tố tụng đã đúng PL hay chưa để tránh những khiếu kiện, khiếu nại kéo dài ảnh hưởng đến thời gian cũng như kinh tế của các đương sự.

1.1.2. Ý nghĩa tham gia của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

LS với sứ mệnh và chức năng xã hội của mình chính là người góp phần bảo vệ cán cân công lý, giúp đỡ những người yếu thế, đảm bảo mọi người dân đều được hưởng sự công bằng. Ngoài ra, luật sư còn tham gia đóng góp các ý kiến trong công tác xây dựng pháp luật, tác nghiệp cùng các cơ quan truyền thông để làm sáng tỏ các vấn đề xã hội, luật pháp, dân sinh,… những hoạt động này phần nào đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật ngày một văn minh hơn.

Luật sư thông qua hoạt động tham gia vào VADS, VDS của mình tạo dựng một niềm tin về công lý và chính nghĩa rất lớn đối với mỗi người dân. Nhờ có luật sư, người ta mới biết đâu là quyền mà mình đáng được hưởng và được bảo vệ, từ đó biết hi vọng vào một con đường tươi sáng hơn. Quyền của con người qua đó sẽ được bảo đảm, được tôn trọng.

Tóm lại, vai trò của Luật sư trong các VADS, VDS là đem lại sự công bằng cho mọi người niềm tin vào pháp luật của người bảo vệ công lý, ở đó Luật sư được ví như là hiệp sỹ thực hiện sứ mệnh trên trận tuyến bảo vệ công lý. Luật sư cần hành nghề bằng cái đức, cái tâm của mình. Phải dũng cảm và có bản lĩnh để vượt qua trở ngại, thử thách gặp phải trong quá trình hành nghề. Đó là một yêu cầu tự thân vận động nhằm chuẩn bị tâm thế cho mình khi đối đầu với những tình huống xung đột xảy ra trong quá trình tìm lẽ phải.

Đặc biệt xét từ khía cạnh Luật Hiến pháp – giúp đương sự nhận thức rõ về quyền, nghĩa vụ của mình, quyền con người, công dân về dân sự được tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; hướng dẫn sử dụng chứng cứ, hòa giải trên cơ sở pháp luật, thỏa thuận; bảo đảm quyền tự do, dân chủ, bình đằng trước pháp luật.

1.1.3. Các hình thức thực hiện vai trò của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự

Luật sư là một trong những nghề “cổ” nhất trên thế giới bởi nó gắn với việc thi hành và áp dụng pháp luật. Việc tham gia của LS vào tố tụng hiện nay là một đòi hỏi của đời sống xã hội hiện đại và hoạt động tư vấn pháp luật của LS cũng là một nhu cầu tất yếu. Do vậy, các hình thức thực hiện vai trò của LS trong VADS, VDS bao gồm:

Một là, sự tham gia của luật sư trong VADS, VDS là người đại diện PL, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự theo yêu cầu của họ. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Theo quy định PL, đương sự có thể tự mình thực hiện quyền hoặc thông qua người bảo vệ. Ngoài ra, TTDS là quá trình phức tạp gồm nhiều giai đoạn, có thể ở giai đoạn đầu, các thủ tục trình tự còn đơn giản nên đương sự nhận thấy không cần thiết có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên ở những giai đoạn sau, khi TA tiến hành xét xử, hay tại cấp xét xử cao hơn yêu cầu các minh chứng, tài liệu, căn cứ PL phức tạp thì đương sự lại nhận thấy cần có LS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Hai là, luật sư tham gia trong VADS, VDS với tư cách người đại diện theo uỷ quyền hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Như đã đề cập ở trên, trong vụ án dân sự, LS tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo uỷ quyền hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Về bản chất, LS là người đại diện theo uỷ quyền của khách hàng sẽ được hưởng tất cả hoặc được hưởng một số quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Vì để đảm bảo yếu tố khách quan trong cùng một VADS, VDS, LS khi đã tham gia tố tụng với vai trò này sẽ không thể đồng thời tham gia tố tụng với những vai trò khác, như:

  • Là đương sự khác;
  • Là người đại diện theo uỷ quyền hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự khác nữa.
  • Là người phiên dịch, chuyên gia giám định hoặc làm nhân chứng.

Tuy nhiên, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không xung đột thì LS có thể là người đại diện do đương sự này uỷ quyền, đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự khác. Ngoài ra, LS không được tham gia giải quyết vụ việc ly hôn với tư cách người đại diện theo uỷ quyền (người đại diện theo uỷ quyền để giải quyết tranh chấp về quan hệ nhân thân). Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Tóm lại, LS có tư cách pháp lý độc lập với khách hàng, không bị ràng buộc bởi các quyền, nghĩa vụ tố tụng mà đương sự thực hiện như khi tham gia với tư cách là người đại diện theo uỷ quyền.

Để bảo đảm quyền tự do ý chí của các bên khi tham gia TTDS được tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của họ, luật TTDS quy định các yêu cầu xác lập tư cách bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của LS. Điều này có nghĩa là mong muốn của các bên phải được thể hiện bằng văn bản và phải thực hiện thủ tục đăng ký quyền lợi này của các bên. Vì vậy, tùy theo đương sự mà LS trong các VADS, VDS có sự khác biệt về địa vị, quyền lợi, điều kiện tham gia của mình.

Ba là, luật sư được thực hiện nhiều hoạt động tố tụng khác nhau nhằm hỗ trợ đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trong tố tụng dân sự bao gồm 6 giai đoạn. Tùy vào tính chất, đặc điểm hoặc hoạt động tố tụng của mỗi giai đoạn mà LS sẽ tiến hành các thủ tục tố tụng khác nhau để hỗ trợ khách hàng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Hay nếu căn cứ theo vai trò của LS tham gia tố tụng dân sự cũng sẽ có những hoạt động tố tụng khác nhau. Cụ thể như:

Đóng vai trò là người đại diện theo uỷ quyền, các hoạt động tố tụng mà LS sẽ thực hiện là: quyền khởi kiện; thu thập, cung cấp giao nộp chứng cứ; nghiên cứu hồ sơ, đánh giá và sử dụng chứng cứ; tham gia phiên tòa sơ thẩm; phúc thẩm; tham gia thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực PL. Tất cả những hoạt động này để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp của khách hàng.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm: LS sẽ tư vấn, hướng dẫn khách hàng về nghĩa vụ thu thập, cung cấp giao nộp chứng cứ và hậu quả pháp lý của việc vi phạm nghĩa vụ này. Tiếp theo, nghiên cứu hồ sơ, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Đây là công việc quan trọng hàng đầu trong quá trình tham gia giải quyết VADS, giúp nắm bắt được tất cả các tình tiết, chứng cứ của vụ án, các yêu cầu, ý kiến, luận điểm của các bên đương sự và các hoạt động tố tụng, quyết định tố tụng của TA. Trên cơ sở đó LS xác định phương án giải quyết vấn đề, thực hiện các công việc cần thiết để củng cố chứng cư, xây dựng luận cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng.

Tại phiên tòa cấp sơ thẩm: LS sẽ đưa ra yêu cầu, cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó, đặt câu hỏi, tranh luận với đương sự phía bên kia dựa trên các chứng cứ và quy định của PL;

Sau khi HĐXX tuyên án, nếu đương sự không đồng ý với bản án, sẽ tiếp tục tham gia phiên tòa phúc thẩm và uỷ thác cho LS tham LS tư vấn và trợ giúp đương sự kháng cáo; tiếp tục thu thập và cung cấp các chứng cứ mới cho TA tại phiên tòa phúc thẩm. Tham gia các thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm: Thủ tục trình bày; thủ tục hỏi; thủ tục tranh luận

Nếu bản án, quyết định có hiệu lực PL thì LS tham gia với tư cách là người đại diện theo uỷ quyền của đương sự sẽ thực hiện quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, cung cấp chứng cứ, tranh tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm nếu được triệu tập tham gia phiên tòa.[9] Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

LS với vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm hỗ trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Nghĩa là, LS tư vấn, hướng dẫn cho đương sự thực hiện việc khởi kiện; soạn thảo đơn khởi kiện, chuẩn bị tài liệu khởi kiện… Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, LS sẽ hỗ trợ đương sự thu thập, cung cấp nghiên cứu, đánh giá tài liệu, chứng cứ. Tiếp theo, hỗ trợ đương sự đưa ra các yêu cầu đối với TA tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, đưa ra các yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập….[9]

Bằng tranh tụng, với những lý lẽ, lập luận sắc bén trước HĐXX, và sử dụng, đánh giá các chứng cứ, tài liệu, tình tiết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuỳ từng giai đoạn, LS có thể tư vấn, hướng dẫn đương sự trong quá trình kháng cáo. LS sẽ hỗ trợ đương sự tham gia tố tụng trước TA cấp phúc thẩm, đồng thời vẫn tiếp tục thu thập, phát hiện các vi phạm PL, các tình tiết mới của vụ án để yêu cầu những người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Bốn là, mục đích của luật sư tham gia tố tụng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Khi tham gia vào các VADS, VDS, LS có thể đảm nhận ở vai trò khác nhau, nhưng đều hướng tới mục đích chung là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng; làm rõ, sáng tỏ sự thật khách quan; thu thập chứng cứ trong VADS, VDS một cách hợp pháp, đúng quy định để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích chính đáng của đương sự. Đối với người dân, việc mời luật sư ngay từ khi phát sinh tranh chấp dân sự là cần thiết để tránh những việc khiếu kiện, khiếu nại không đúng thẩm quyền hoặc vượt cấp và giúp TA đưa ra nhứng phán quyết nghiêm minh, công bằng, dân chủ, đúng PL.

1.2. Điều kiện đảm đảo sự tham gia của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Thứ nhất, quy định về bảo đảm thực hiện quyền của LS. Việc LS tham gia TTDS có cơ sở pháp lý là các văn bản PL về TTDS. Những văn bản quy phạm PL này ghi nhận địa vị pháp lý của LS; xác định tư cách chủ thể, quyền, nghĩa vụ của LS trong quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Nếu PL chỉ liệt kê các quyền của LS mà không quy định cách thức thực hiện, đảm bảo thực hiện các quyền đó thì LS sẽ không thể hoàn thiện vai trò của mình khi tham gia tố tụng.

Thứ hai, là quy định về các tổ chức, cơ quan hỗ trợ hoạt động của LS. Các tài liệu được công chứng tại các cơ quan, tổ chức hỗ trợ VP thừa phát lại, VP công chứng, thẩm định giá đều được sử dụng tại TA. LS không có năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng chuyên sâu không được đảm nhận các công việc của công chứng viên, thừa phát lại, thẩm định viên, giám định viên. Với sự hỗ trợ của các tổ chức, cơ quan này, LS tham gia tố tụng dân sự sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả hơn.

Thứ ba, dù các quy định của luật TTDS về bảo đảm sự tham gia của LS trong TTDS có hoàn thiện đến mấy nhưng bản thân LS lại không thường xuyên nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn, LS không thể bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng, không có năng lực cạnh tranh trong xã hội PL thường xuyên thay đổi, đồng thời không thể hiện được sự tận tâm, uy tín của Luật sư.

Kỹ năng chuyên môn là một quá trình rèn luyện và không ngừng học tập của mỗi LS. Sự rèn luyện thường xuyên giúp cho hoạt động của LS đạt hiệu quả cao hơn. Để có thể làm tốt các chức năng mà xã hội giao phó, người LS cần phải xác định được tầm quan trọng của việc học tập, rèn luyện và coi đây là công việc thường xuyên hằng ngày, là trách nhiệm cụ thể thiết thân của mọi LS. Muốn có kỹ năng hành nghề tốt, ngoài kiến thức chuyên môn ra ở mỗi LS cần phải có sự chuyên cần cập nhật về kiến thức pháp luật.

Trong quá trình xét xử tại tòa, LS sử dụng kiến thức PL, kinh nghiệm tranh tụng, tài hùng biện, khả năng bào chữa… để giúp TA đánh giá toàn diện VADS, VDS, giúp các bên giải quyết được những vấn đề khó khăn, khắc phục được những nhận thức không đầy đủ về PL, nâng cao niềm tin, cải thiện hoạt động tố tụng, tạo sự cân bằng giữa các bên.

Vì vậy, LS không chỉ phải tuân thủ quy định hành nghề mà khi tham gia TTDS, LS phải đảm bảo các điều kiện sau:

  • Hiểu, nắm rõ các quy định PL liên quan đến giải quyết VADS, VDS; biện;
  • Phải có những kỹ năng cần thiết để thu thập chứng cứ, lập luận, tranh
  • Phải có kinh nghiệm thực tiễn giải quyết các VADS, VDS tại TA, có khả năng tư vấn, đưa ra được phương án tốt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Đặc biệt đối với khách hàng, việc mời Luật sư ngay từ khi phát sinh tranh chấp là cần thiết để tránh những việc khiếu kiện, khiếu nại không đúng thẩm quyền hoặc vượt cấp. Khi Luật sư đã tham gia tố tụng, khách hàng cần tuân thủ theo tư vấn của Luật sư để vụ việc được tiến hành đúng quy định. Luật sư cần định hướng khách hàng thu thập chứng cứ trong vụ kiện để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Khi tranh tụng, Luật sư cần chủ động đưa ra những câu hỏi để thu thập thông tin bảo đảm sự thật khách quan của vụ việc trên cơ sở yêu cầu khởi kiện. Cần chú trọng việc hòa giải trong tranh chấp dân sự, nhất là những tranh chấp về thừa kế, tranh chấp nợ vay, nếu hòa giải thành sẽ hạn chế được mâu thuẫn trong nhân dân, giảm chi phí phát sinh trong quá trình thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.3. Pháp luật điều chỉnh vai trò của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự

1.3.1. Khái niệm pháp luật về vai trò của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự

Pháp luật là hệ thống những quy tắc ứng xử chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm, thể hiện ý chí của Nhà nước.

Theo nghĩa rộng: PL là những quy định do các cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm hướng dẫn hành vi của người dân, các nhóm, tổ chức và là cơ sở để xử lý những hành vi không đúng quy định của PL. Quy định PL có thể là hành động có thể thực hiện (quyền), hành động không thể thực hiện (điều cấm), hành động bắt buộc phải thực hiện (nghĩa vụ), hành động tùy chọn mà các bên thống nhất.

Theo nghĩa hẹp: dùng để chỉ những quy định do Quốc hội ban hành dưới hình thức Hiến pháp, Luật, Nghị quyết… và các quy định do Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành. Những quy định của các cơ quan khác gọi là pháp quy.

Tóm lại, hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng, các nhà nghiên cứu đều đồng quan điểm rằng: PL do cơ quan có thẩm quyền ban hành; điều chỉnh, hướng dẫn hành vi, xử sự của con người trong quan hệ xã hội; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia.

Vì vậy, PL về vai trò của LS trong VADS, VDS được hiểu như sau: “PL về vai trò của LS trong VADS, VDS là tổng thể các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa LS và các chủ thể PL trong quá trình giải quyết VADS, VDS khi là người đại diện theo ủy quyền hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”.

1.3.2. Nội dung của pháp luật điều chỉnh vai trò của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự với tư cách là người đại diện theo ủy quyền Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Trong thực tế, không phải lúc nào việc trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng dễ dàng, thực tế đương sự có thể gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại khách quan như ốm đau, bệnh tật, bận công tác ở xa, hạn chế về khả năng giao tiếp, … Bên cạnh những khó khăn mang tính chất khách quan này, trong một số trường hợp, vì những nguyên nhân mang tính chủ quan (ví dụ: ngại đối mặt bị đơn vì quan hệ cá nhân trước đây, muốn giữ hình ảnh, cảm thấy không tự tin khi xuất hiện nơi đông người, nhận thấy bản thân hạn chế về kiến thức PL, hoạt động tố tụng tại TA …), đương sự không muốn trực tiếp tham gia các hoạt động tố tụng.

Trên thực tế, trong thời gian gần đây, việc đương sự nhờ LS làm đại diện theo ủy quyền ngày càng trở lên phổ biến. Điều này xuất phát từ sự tin tưởng của đương sự vào nhân phẩm, đạo đức, uy tín, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của LS ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó, BLDS 2015 đã có những quy định mới về cơ chế ủy quyền theo hướng mở rộng đối tượng được ủy quyền không chỉ là cá nhân mà còn có thể là pháp nhân. Theo đó, các bên có quyền nhờ LS hoặc công ty luật, văn phòng LS…tham gia TTDS với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của mình.

  • Thứ nhất, căn cứ phát sinh

Luật TTDS 2015 quy định LS được tham gia trong VADS, VDS với tư cách là người đại diện theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện, cá nhân, pháp nhân hoặc có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. (Điều 85, Bộ luật TTDS 2015)

Như vậy, theo quy định về việc ủy quyền cho tổ chức hành nghề LS có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, nếu đương sự không thể hoặc không muốn tham gia tố tụng dân sự thì sẽ ủy thác cho LS hoặc tổ chức hành nghề LS làm người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện theo ủy quyền sẽ thay mặt đương sự tham gia TTDS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ.

Quan hệ ủy quyền giữa LS, tổ chức hành nghề LS và đương sự trong VADS, VDS được xác lập theo nguyện vọng của khách hàng, được thể hiện qua việc ủy quyền của các bên cho LS, tổ chức hành nghề LS.

Về nguyên tắc, việc ủy quyền phải bằng văn bản, trong văn bản ủy quyền phải nêu cụ thể nội dung, phạm vi ủy quyền, trách nhiệm của LS, tổ chức hành nghề LS khi thay mặt khách hàng thực hiện nhiệm vụ. Văn bản ủy quyền chỉ được coi là hợp pháp nếu được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận tại. Nếu đương sự là cá nhân thì văn bản ủy quyền phải được chứng thực tại UBND xã, phường, thị trấn hoặc tại cơ quan công chứng. Nếu đương sự là pháp nhân thì văn bản ủy quyền phải có chữ ký của người đại diện pháp nhân đó và đóng dấu của pháp nhân. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

  • Thứ hai, phạm vi tham gia tố tụng

Phạm vi tham gia TTDS của LS hoặc tổ chức hành nghề LS với vai trò này, được xác định căn cứ theo văn bản ủy quyền của đương sự. Theo đó, đương sự có thể ủy quyền một phần hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tùy theo nội dung ủy quyền, LS hoặc tổ chức hành nghề LS sẽ có những quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định PL.

Tuy nhiên, phạm vi tham gia tố tụng của LS trong một số trường hợp cũng bị hạn chế theo quy định của PL. Ví dụ như lĩnh vực ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho LS thay mặt mình tham gia tố tụng; không được ủy quyền cho LS đối với các quyền và nghĩa vụ gắn liền với nhân thân như trường hợp thuận tình ly hôn, cấp dưỡng, hủy kết hôn trái PL. Mặt khác LS hoặc tổ chức hành nghề LS buộc phải từ chối nhận ủy quyền của đương sự nếu có cơ sở đề cho rằng sự ủy quyền này sẽ dẫn tới mâu thuẫn về lợi ích đối với các đương sự khác trong cùng một vụ việc.

  • Thứ ba, quyền và nghĩa vụ

LS đại diện theo ủy quyền của đương sự cũng như thông qua văn bản ủy quyền để biết được quyền và nghĩa của mình khi tham gia tố tụng. Và trong thực tế, LS sẽ thực hiện các hoạt động sau:

  • Cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc
  • Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân lưu giữ, quản lý, cung cấp tài liệu, chứng cứ để thực hiện chứng minh.
  • Đề nghị TA những nội dung sau:
  • Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ vụ việc mà LS không thể thực hiện được;
  • Đề nghị các đương sự khác trong VADS, VDS xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang có;
  • Triệu tập người làm chứng, lấy ý kiến giám định và xác định giá trị tài sản;
  • Thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng

Thứ tư, căn cứ chấm dứt

Theo quy định của BLDS 2015, LS với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của đương sự sẽ chấm dứt trong các trường hợp sau: Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

  • Theo thỏa thuận
  • Thời hạn ủy quyền đã hết
  • Công việc được ủy quyền đã hoàn thành.
  • Đương sự (hoặc người đại diện theo PL của pháp nhân), LS hoặc tổ chức hành nghề LS đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền.
  • Đương sự (là pháp nhân) hoặc tổ chức hành nghề LS chấm dứt tồn tại.

Vai trò của luật sư với tư cách là người đại diện theo ủy quyền trong TTDS sẽ cụ thể như sau:

Về mặt pháp lý, TTDS được hiểu là các quy trình, thủ tục nghiệp vụ do PL quy định để TA xem xét, giải quyết VADS, VDS. Có nhiều giai đoạn khác nhau trong quá trình này, từ khi vụ án, vụ việc được đưa ra trước TA đến khi TA ra quyết định hoặc bản án có hiệu lực PL. Và ở mỗi giai đoạn TTDS, LS với tư cách là người đại diện theo uỷ quyền của đương sự cũng có những hoạt động khác nhau:

Ở giai đoạn khởi kiện và thụ lý VADS, VDS: Đây là giai đoạn tham gia hoạt động tố tụng đầu tiên của LS với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của đương sự.

Khởi kiện VADS, VDS là hành vi đầu tiên tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Đây chính là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS. PL hiện hành có quy định về quyền khởi kiện như sau: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại TA có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (Điều 186 Bộ luật TTDS năm 2015).[19]

  • Những quy định trên đã dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất: Điều 186 Bộ luật TTDS 2015 quy định về quyền khởi kiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình khởi kiện hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền hoặc người đại diện theo PL khởi kiện. Như vậy, người bị xâm phạm quyền, lợi ích có thể tự mình khởi kiện hoặc ủy quyền cho người khác và tham gia vào toàn bộ quá trình tố tụng, bắt đầu từ khi làm đơn khởi kiện để nộp đến TA.

Quan điểm thứ hai: đối với cá nhân bị xâm hại quyền, lợi ích nhưng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì phải trực tiếp ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Đối với cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, trong làm chủ hành vi thì người đại diện theo PL bắt buộc phải ký đơn hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện. Nói cách khác, LS chỉ được tham gia giải quyết VADS, VDS khi người bị xâm hại quyền, lợi ích đã trực tiếp ký tên vào đơn, và nộp đơn lên TA thụ lý.

Căn cứ theo cách hiểu này, một số TA đã không chấp nhận đơn khởi kiện mà người nộp đơn là LS được ủy quyền. TA chỉ chấp nhận đơn khởi kiện của người bị xâm hại quyền, lợi ích trực tiếp ký tên hoặc điểm chỉ.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, VDS: đây là giai đoạn tiếp theo sau khi TA thụ lý VADS. TA chính thức xác lập quyền hạn và trách nhiệm của mình khi thụ lý VADS, VDS. Trong giai đoạn này, thủ tục tố tụng bắt buộc TA tiến hành là hòa giải. Thông qua đó sẽ xác định quan hệ tranh chấp cụ thể, xác định được đầy đủ nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Tương ứng với các nhiệm vụ, quyền hạn trên thì LS với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của đương sự cũng sẽ có những hoạt động cụ thể như sau:

  • Thực hiện quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật TTDS năm 2015;
  • Yêu cầu TA áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;
  • Trực tiếp tiếp nhận văn bản, công văn từ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, TA ;
  • Tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, tài liệu theo quy định; soạn thảo các văn bản liên quan trong hoạt động tố tụng; nghiên cứu hồ sơ vụ án, luận cứ và các cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi cho khách hàng đã ủy quyền cho mình (khoản 1 Điều 97 Bộ luật TTDS năm 2015).

LS tại phiên tòa sơ thẩm: Đây là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, mang tính chất quyết định. Tại phiên tòa này, TA sẽ giải quyết tất cả các vấn đề của VADS, VDS, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. LS của đương sự sẽ là nguời trực tiếp tham gia phiên tòa sơ thẩm này, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như đương sự mà mình đại diện. LS đại diện theo uỷ quyền của đương sự, với vai trò rất quan trọng, quyết định phần lớn đến việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng ở mức cao nhất. Trong phiên tòa sơ thẩm, các bên có thể không có mặt, nhưng vẫn nên tham gia để bảo vệ tối đa các quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân. Trong trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì LS đại diện sẽ thực hiện các quyền, nghĩa vụ tại phiên tòa thay cho khách hàng theo phạm vi đã ủy quyền.

Khi TA triệu tập lần đầu mà đương sự hoặc LS của họ vắng mặt thì HĐXX phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nếu TA chính thức xét xử lại và triệu tập lần hai, LS của đương sự vẫn vắng mặt thì HĐXX phiên tòa được ra quyết định có hoãn phiên tòa hay không. Nếu việc vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì TA sẽ xem xét cụ thể và đưa ra quyết định có hoãn phiên tòa hay không (điều 227, điều 228 Bộ luật TTDS năm 2015). Nếu như đương sự hoặc LS không có lý do bất khả kháng hay trở ngại khách quan nào thì TA sẽ xử lý như sau:

Một là, nguyên đơn và LS đại diện đều vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và TA ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Hai là, TA sẽ vẫn tiến hành xét xử khi bị đơn không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập (khoản 2, điều 227, Bộ luật TTDS năm 2015) Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Ba là, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà LS của nguyên đơn lại vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và TA quyết định đình chỉ giải quyết.

Khi tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa, LS đại diện cho nguyên đơn có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, hoặc khi thoả thuận với bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn còn chưa rõ ràng.

Khi tiến hành tranh tụng: LS thay mặt nguyên đơn trình bày về đơn khởi kiện và đưa ra chứng cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của khách hàng. Trường hợp LS đại diện cho bị đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì sẽ trình bày về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và các chứng cứ chứng minh, ý kiến giải đáp đối với đơn khởi kiện của nguyên đơn (điều 248 Bộ luật TTTDS 2015).

Trong mọi trường hợp, LS đại diện theo ủy quyền vẫn phải tôn trọng sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa và tận dụng chính nghĩa vụ này để bảo vệ đương sự nếu thấy LS đối phương có hành động, lời nói xâm phạm hay làm ảnh hưởng xấu tới việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Ở giai đoạn phúc thẩm VADS, VDS, nếu đương sự uỷ quyền cho LS tham gia tố tụng tại TA cấp phúc thẩm thì LS tiến hành việc kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm để yêu cầu TA cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, khác với đơn khởi kiện, việc kí đơn kháng cáo được quy định rõ ràng hơn.

Điều 272 Bộ luật TTDS năm 2015 quy định người kháng cáo nếu không tự mình kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình. Trong đơn kháng cáo phải ghi họ, tên, địa chỉ, số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người đại diện theo ủy quyền; ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người kháng cáo kèm theo văn bản ủy quyền kháng cáo của người kháng cáo đã được công chứng; trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại TA có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án TA phân công.

Trong văn bản ủy quyền phải ghi rõ ràng, cụ thể nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của TA cấp sơ thẩm. Đơn kháng cáo chỉ được TA thụ lý và chấp nhận việc đương sự ủy quyền cho LS đại diện trong giai đoạn phúc thẩm khi hồ sơ đầy đủ các giấy tờ này.

Nếu đơn kháng cáo được TA cấp phúc thẩm chấp nhận thì LS tiếp tục tiến hành những hoạt động như: tư vấn và trợ giúp đương sự kháng cáo; thu thập và cung cấp chứng cứ mới cho TA phúc thẩm; giúp đương sự đưa ra các yêu cầu, thay đổi, bổ sung kháng cáo và thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án; tham gia các thủ tục tranh tụng tại phiên tòa như: thủ tục trình bày, thủ tục hỏi, thủ tục tranh luận… Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm: Đây là thủ tục tố tụng đặc biệt. Ở giai đoạn này sẽ xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực PL nhưng lại phát hiện ra có vi phạm PL nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới. LS đại diện cần xem xét lại toàn bộ các tình tiết và trong bản án, quyết định của TA, từ đó tìm ra các căn cứ, chứng cứ mới để tư vấn và giúp đương sự thực hiện các thủ tục kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực PL. Tiếp tục thu thập và cung cấp chứng cứ cho những người có thẩm quyền kháng nghị, nghiên cứu hồ sơ và tham gia đại diện cho đương sự tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự.

1.3.3. Nội dung của pháp luật điều chỉnh vai trò của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Sự tham gia của LS trong TTDS có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như việc giải quyết VADS, VDS tại TA. LS với lợi thế hiểu biết PL, sẽ giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết VADS, VDS và bảo vệ quyền lợi của khách hàng. Không những vậy, với sự tham gia này, quá trình xét xử VADS, VDS của TA sẽ công bằng hơn, khiến cho CQTHTT, những người tiến hành tố tụng thận trọng hơn và giải quyết VADS, VDS theo đúng quy định của PL

Mặc dù LS có vai trò khác nhau ở các giai đoạn TTDS nhưng LS vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, và cũng có những đóng góp quan trọng trong việc bảo đảm dân chủ, pháp quyền trong hoạt động tư pháp.

  • Thứ nhất, căn cứ phát sinh

Một trong những quyền cơ bản của đương sự là quyền nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 58 Bộ luật TTDS 2004 đã được sửa đổi bổ sung 2011 và Điều 70 Bộ luật TTDS 2015). Thông thường, đương sự sẽ nhờ LS tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vì LS là những người đã đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về đào tạo, kiến thức, kỹ năng hành nghề và đạo đức nghề nghiệp.

Như vậy, LS được tham gia vào hoạt động tố tụng khi được sự đồng ý của đương sự và “sự chấp nhận” của TA . Thực tiễn cho thấy, nhiều TA đã sử dụng điều kiện này để từ chối sự tham gia tố tụng của LS (bằng cách yêu cầu cung cấp nhiều giấy tờ, tài liệu không thật cần thiết để chứng minh tư cách tham gia tố tụng của LS), gây khó khăn cho việc hành nghề của LS, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Vì lẽ đó, Bộ luật TTDS 2015 đã có những sửa đổi đối với quy định này. Bên cạnh đó, Bộ luật TTDS 2015 cũng bổ sung quy định cụ thể về các loại giấy tờ phải cung cấp khi đề nghị TA làm thủ tục đăng ký: LS xuất trình các giấy tờ theo quy định của Luật LS (gồm thẻ LS và giấy yêu cầu LS của khách hàng). Với quy định cụ thể như trên, LS sẽ không còn gặp khó khăn khi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận về việc tham gia tố tụng của LS như trước đây nữa.

  • Thứ hai, phạm vi tham gia tố tụng

Theo quy định PL hiện hành, LS tham gia tố tụng ở bất cứ giai đoạn cũng không bị giới hạn bởi các trường hợp ly hôn, cấp dưỡng, liên quan đến quyền nhân thân của đương sự. Một LS có thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án nếu quyền lợi đó không đối lập nhau.

  • Thứ ba, quyền và nghĩa vụ

Khi tham gia tố tụng dân sự với tư cách này, LS được PL quy định một số quyền và nghĩa vụ sau đây:

  • Tôn trọng TA và chấp hành nghiêm chỉnh nội qui TA ;
  • Khi TA triệu tập giải quyết vụ việc, đương sự phải có mặt và chấp hành quyết định của TA;
  • Yêu cầu TA cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng;
  • Đặt câu hỏi cho các đương sự khác hoặc nêu ra những câu hỏi cần hỏi liên quan đến VADS, VDS; đối chất với đương sự hoặc với người làm chứng; yêu cầu TA tạm đình chỉ việc xét xử vụ việc theo quy định PL.
  • Tranh luận tại TA , trình bày quan điểm, lập luận về chứng cứ có được và áp dụng PL ;
  • Thu thập chứng cứ, nghiên cứu, sao chép những tài liệu cần thiết để hoàn thiện hồ sơ VADS cho TA ;
  • Tham gia hòa giải, họp, xét xử hoặc vắng mặt thì nộp hồ sơ bảo vệ đương sự cho TA xem xét.
  • Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng khác thay cho đương sự.

Thứ tư, căn cứ chấm dứt

Sẽ chấm dứt tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự của LS trong những trường hợp sau:

  • Đương sự và LS cùng nhau quyết định chấm dứt hoặc theo ý chí của Đương sự vì ngay từ đầu, việc LS được nhờ tham gia tố tụng dân sự là theo yêu cầu của đương sự. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.
  • LS chết, bị TA tuyên bố mất năng lực hoặc bị hạn chế hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
  • Đương sự, là cá nhân, mất tích hoặc đã chết, bị TA tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
  • Đương sự, là pháp nhân, bị chấm dứt hoạt động.
  • Nếu trong quá trình giải quyết VADS, việc dân sư, LS có hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ và không đảm bảo khách quan khi TA xét xử, thì LS đó không được tiếp tục tham gia tố tụng, đồng thời thông báo bằng văn bản cho đương sự và LS biết.

Vai trò của luật sư với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự cụ thể như sau:

Trong TTDS có nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, ở mỗi giai đoạn thì LS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cần phải thực hiện các hoạt động tố tụng khác nhau.

Ở giai đoạn khởi kiện và thụ lý VADS, VDS: LS sẽ hướng dẫn cho đương sự xác định đúng quan hệ PL, nội dung đang tranh chấp để đưa ra yêu cầu chính xác, hợp pháp. Và để được TA chấp nhận thụ lý giải quyết VADS, LS cần tư vấn cho đương sự về quy trình, thủ tục khởi kiện, hướng dẫn khách hàng xác định thẩm quyền của TA giải quyết, giúp họ nhận thức được khi nào cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đối với hồ sợ vụ án: LS giúp nguyên đơn soạn thảo đơn khởi kiện, tư vấn cho khách hàng nên sử dụng các chứng cứ, tài liệu nào nộp cùng đơn khởi kiện lên TA; và tư vấn việc nộp tạm ứng án phí…

Nếu TA từ chối thụ lý vụ án do chưa đủ điều kiện theo quy định của PL, thì LS có trách nhiệm hướng dẫn nguyên đơn bổ sung, hoàn thiện các giấy tờ, chứng cứ, tài liệu… Nếu như TA vẫn tiếp tục từ chối thụ lý thì LS sẽ hướng dẫn nguyên đơn làm đơn khiếu nại đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết.

Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, VDS: LS sẽ hỗ trợ nguyên đơn thu thập, nghiên cứu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ…phục vụ vụ án. Đồng thời, LS sẽ hướng dẫn đương sự đưa ra các yêu cầu TA áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bổ sung, cập nhật được những tình tiết, tài liệu mới có giá trị đối với vụ án. LS cũng hỗ trợ để đưa ra các yêu cầu phản tố đối với bị đơn hay yêu cầu độc lập là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan… Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

Ngoài những chứng cứ, tình tiết liên quan đến vụ án và tài liệu thu thập được từ CQTHTT, LS cũng phải tự mình thu thập tài liệu, tình tiết liên quan đến vụ án, để tìm ra lợi thế bảo vệ khách hàng. Luật sư cũng cần định hướng cho đương sự thu thập chứng cứ trong vụ tranh chấp một cách hợp pháp, đúng quy định để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của đương sự. LS cũng cần nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án để phát hiện những sai lầm, thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ án của TA.

Và để quá trình tố tụng kết thúc nhanh hơn, đạt hiệu quả cao hơn trong giai đoạn thi hành án, LS cần làm tốt công tác hòa giải giữa các bên. LS cần phải giúp cho các đương sự hiểu rõ hơn về các quy định của PL, để nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tiếp cận gần hơn đến lợi ích của nhau, đánh giá vấn đề tổng quan và tường minh hơn, cùng nhau tháo gỡ rắc rối, cùng nhau đi tới sự đồng thuận, thống nhất trong VADS, VDS.

Tại phiên toà sơ thẩm, sau trường hợp hoà giải không thành công hay đối với những VADS, VDS, PL mà không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được, TA tiến hành việc tuyên án sơ thẩm VADS, VDS. Nội dung xét xử vụ án, quyết định quyền và lợi ích của các bên và cơ sở về việc giải quyết án sẽ được TA phán quyết ở phiên toà sơ thẩm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, LS có quyền phát biểu ý kiến và đương sự có quyền bổ sung, đóng góp thêm ý kiến cho LS của mình. Trong quá trình tranh tụng, LS cần xác định các tình tiết quan trọng của vụ án, vụ việc; mô tả quá trình đánh giá chứng cứ, khẳng định một cách chắc chắn giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình đã thu thập, nộp cũng với hồ sơ vụ án hoặc kết hợp với những quy định của PL để làm căn cứ pháp lý.

Ở giai đoạn phúc thẩm VADS, VDS: sau khi phiên tòa sơ thẩm giải quyết VADS, VDS kết thúc; LS có trách nhiệm hỗ trợ, tư vấn về trình tự thủ tục, thời hạn bảo đảm các thủ tục tố tụng dân sự tiếp theo được tuân thủ đúng pháp luật. Luật sư sẽ đề xuất việc tham gia của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nếu thấy cần thiết. Và tiếp tục tìm, điều tra các chứng cứ, định hướng cho đương sự thu thập chứng cứ trong VADS, VDS một cách hợp pháp, đúng quy định để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích chính đáng của đương sự, để giúp cho đương sự kháng cáo hiệu quả nhất, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng.

Ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, LS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự cần tìm các căn cứ trong cả giải quyết VADS trước đó để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. LS sẽ tư vấn và hỗ trợ đương sự thực hiện quyền khiếu nại đến những người có thẩm quyền. Và tiếp tục những hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ và thực hiện hoạt động tranh tụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong TTDS, luật sư luôn có vị trí, vai trò cụ thể, là người đại diện theo ủy quyền của đương sự hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề chung về LS và vai trò cũng như các quy định của PL về vai trò của LS trong TTDS sẽ giúp ta có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn. Đồng thời, trong quá trình hình thành, phát triển, các quy định của PL về vai trò của LS trong TTDS cũng ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với các nguyên tắc, chính sách của Đảng và Nhà nước, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và sự thật khách quan nhanh chóng được xác định, công lý được thực thi.

Và những vấn đề chung này sẽ là nền tảng, cơ sở để phân tích thực trạng PL và thực tiễn thực hiện vai trò của LS trong các VADS, VDS tại thành phố Hồ Chí Minh trong chương 2. Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM

One thought on “Luận văn: Vai trò của luật sư trong vụ án dân sự tại HCM

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp vai trò luật sư trong vụ án dân sự tại HCM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464