Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ (Phu Tho Pharmaceutical College) nằm trên địa bàn thành phố Việt Trì Tỉnh Phú Thọ. Trường được thành lập theo quyết định số 5616/QĐ-BGD-ĐT ngày 27/8/2008 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở nâng cấp từ trường Trung cấp Kỹ thuật Dược Phú Thọ. Đây là trường ngoài công lập hoạt động theo quy chế, điều lệ của các trường Cao đẳng và quy chế tổ chức, hoạt động của các trường ngoài công lập và được xem là mô hình trường tư thục đầu tiên trong cả nước có chức năng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực dược có trình độ dược tá, dược sỹ trung cấp, cao đẳng dược với mô hình kết hợp đào tạo với thực tế sản xuất. Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Tiền thân của Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ là một cơ sở Dược thành lập năm 1989 trực thuộc Công ty Dược vật tư y tế Phú Thọ. Trải qua các giai đoạn phát triển từ Trung tâm Đào tạo Dược, Trường Kỹ thuật Dược, Trường Trung học Kỹ thuật Dược, Trường Cao đẳng Dược và đề án nâng cấp thành trường Đại học Dược đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt. Tuy trường mới được thành lập nhưng được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cùng với sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Ban Giám Hiệu Nhà trường đã hoàn thành rất tốt chức năng và nhiệm vụ của mình đó là: Đào tạo nguồn nhân lực Dược bậc cao đẳng dược và thấp hơn; bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, giáo viên; tổ chức biên soạn giáo trình, bài giảng phục vụ đào tạo; tuyển sinh và quản lý người học theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo; liên kết với các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội và các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo; thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, kết hợp đào tạo với lao động sản xuất – dịch vụ, chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực dược.
Với đội ngũ gần 500 cán bộ giảng viên, bao gồm giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, đại học…sẽ là nền tảng và cơ sở đào tạo ra những thế hệ cán bộ dược có chất lượng cao nhằm phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân và phát triển kinh tế xã hội cho tỉnh Phú Thọ nói riêng và của cả nước nói chung.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục
2.1.2. Quy mô ngành nghề của trường Cao đẳng Dược Phú Thọ Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Ngay từ khi mới thành lập, tập thể lãnh đạo nhà trường đã đề ra mục tiêu: Xây dựng Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ thành trường Đại học Y Dược khu vực phía Tây Bắc trong thời gian sớm nhất, đào tạo theo hướng kỹ năng thực hành; vững mạnh toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, chuẩn về chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy; cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học; hệ thống quản lý.
Để đạt được điều đó, nhà trường đặt ra yêu cầu trước mắt là phải đào tạo đội ngũ dược sĩ nắm chắc về lý thuyết và có kỹ năng thực hành thành thạo, có phẩm chất đạo đức và sức khỏe tốt. Bên cạnh đó khi sinh viên ra trường đều được trang bị các KNS cần thiết trong một xã hội hiện đại như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phòng vệ, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng nghiên cứu,….
Với mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học, Ban giám hiệu Nhà trường đã xây dựng chủ trương kế hoạch mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo.
Bảng 2.1. Bảng thống kê số lượng học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ từ năm học 2011- 2015
Các chuyên ngành đào tạo của Nhà trường
- Hệ cao đẳng: Công nghệ Dược, Cao đẳng Điều dưỡng, Tiếng Anh, Công nghệ Thông tin
- Hệ Trung cấp: Dược sĩ, Y sĩ đa khoa, Điều dưỡng
Nhà trường còn đào tạo hệ không chính quy, vừa học vừa làm bậc cao đẳng, trung cấp, liên thông từ trung cấp lên cao đẳng, đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn nghiệp vụ Dược, chứng chỉ GPS, chứng chỉ tin học,ngoại ngữ,…
2.2. Tổ chức thực hiện khảo sát
2.2.1. Mục đích khảo sát:
- Tìm hiểu về thực trạng KNS của sinh viên trường CĐ Dược Phú Thọ
- Tìm hiểu về thực trạng hoạt động giáo dục KNS cho sinh viên ở trường CĐ Dược Phú Thọ
- Tìm hiểu về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho sinh viên trường Cao Đẳng Dược Phú Thọ
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Nhận thức về giáo dục KNS của sinh viên, cán bộ QL, giảng viên trường CĐ Dược Phú Thọ về giáo dục KNS
- Khảo sát về thực trạng hoạt động giáo dục KNS ở trong nhà trường
- Khảo sát về quản lý hoạt động giáo dục KNS của sinh viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
2.2.3. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Bằng phỏng vấn trực tiếp 10 GV và CBQL, 10 Cố vấn học tập, 10 Cán bộ Đoàn thanh niên, 10 sinh viên về vấn đề cần thiết phải kiểm tra, đánh giá QLHĐGDKNS trong Nhà trường, cụ thể: “Theo thầy/cô công tác kiểm tra, đánh giá quản lý hoạt động GD KNS trong Nhà trường đã được thực hiện chưa? Nếu thực hiện rồi thì ở mức nào: Thường xuyên; Đôi khi hay Chưa bao giờ?
Bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu ý kiến được chia làm 3 loại: Dành cho đối tượng là giảng viên; đối tượng là sinh viên; đối tượng là CBQL, Cố vấn học tập và Cán bộ Đoàn Thanh niên, gồm các câu hỏi đóng/mở về vấn đề giáo dục KNS cho học sinh sinh viên.
Quan sát hành vi, thái độ, sản phẩm hoạt động của học sinh
2.2.4. Đối tượng khảo sát:
Cán bộ quản lý: 10 (trong đó gồm 02 phó hiệu trưởng, 04 Trưởng khoa, 04 tổ trưởng chuyên môn…)
- Giảng viên bộ môn: 50 người (trong đó 20 giảng viên giảng dạy các môn cơ bản như: Triết học, Tâm lý học, Lịch sử Đảng, Thể dục …, 30 giảng viên giảng dạy các môn chuyên ngành như: Bào chế, Kiểm nghiệm, Dược liệu, Dược lý, Hóa dược, Dược lâm sàng, Bảo quản thuốc,…)
- Cố vấn học tập: 20 người
- Cán bộ Đoàn: 10 người (trong đó 04 người là giảng viên, cán bộ trong trường, 06 người là SV trong trường)
- Sinh viên khóa CĐ5: 100 em
- Sinh viên khóa CĐ6: 100 em
- Sinh viên khóa CĐ7: 100 em
2.4.5. Tiến hành khảo sát:
- Số phiếu phát ra: 390 phiếu
- Số phiếu thu về: 390 phiếu
2.3. Kết quả khảo sát: Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
2.3.1. Thực trạng hoạt động giáo dục KNS cho SV trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
2.3.1.1. Thực trạng nhận thức của CBQL, GV, CV HT và cán bộ Đoàn TN về hoạt động GD KNS cho sinh viên
Thực trạng nhận thức của CBQL, GV, CV HT và cán bộ Đoàn TN về mức độ cần thiết phải GD KNS cho sinh viên
Để xác định nhận thức của CBQL, GV, CVHT, Cán bộ Đoàn TN về tầm quan trọng và sự cần thiết phải GD KNS cho SV, tác giả đã điều tra 90 người là CB, GV, CVHT và Cán bộ Đoàn TN trường, kết quả thu được như sau:
Kết quả điều tra cho thấy: 100 % CBQL cho rằng việc GD, bồi dưỡng, rèn luyện KNS cho SV là rất cần thiết. Có 97 % giảng viên trong trường cho là quan trọng và cần thiết. Có 96% Cố vấn học tập cho rằng GD KNS cho sinh viên trong trường là cần thiết và cán bộ Đoàn chiếm 100 %.
Như vậy ta thấy có một số lượng rất nhỏ cán bộ, giáo viên (3%) và cố vấn học tập (4 %) trong trường cho rằng GD KNS cho SV là ít cần thiết có thể họ nghĩ việc GD KNS cho các em là ở gia đình, ở địa phương hoặc do tự các em trải nghiệm và tiếp thu được từ trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó thì đại đa số cho rằng GD KNS cho SV là rất cần thiết vì những lý do sau:
- Đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý của các em SV dễ bị tác động bới các yếu tố bên ngoài, các em dễ bị ảnh hưởng theo thói quen tật xấu trong XH do đó GD cho các em kỹ năng phòng vệ, KN phòng tránh ma túy, mại dâm …là rất cần tiết.
- Xã hội phát triển, các gia đình đều sinh ít con, nên các em được chiều chuộng từ nhỏ, mất đi ý thức tự lập, trách nhiệm, sống ích kỷ, không biết yêu thương bố mẹ do đó cần GD cho các em biết quý sức lao động, sống tự lập, sống có ích,…
- Bên cạnh đó GD KNS sẽ giúp các em sống tự tin hơn, năng động hơn, biết tự chăm sóc bản thân, quan tâm đến người khác, tận tình giúp đỡ bạn bè, say mê học tập, khám phá khoa học,…
Thực trạng nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên nhà trường về trách nhiệm giáo dục KNS cho sinh viên
Tác giả đã thực hiện khảo sát nhận thức của 90 đối tượng là CBQL, giảng viên, Cố vấn học tập và Cán bộ Đoàn Thanh niên về trách nhiệm giáo dục KNS cho sinh viên và thu được kết quả sau:
Bảng 2.2: Nhận thức của CBQL, GV, Cố vấn học tập và cán bộ Đoàn Thanh niên về trách nhiệm phải giáo dục KNS cho SV
Như vậy, qua những phân tích, đánh giá ở trên cho thấy hầu hết các BQL, GV của Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đều nhận thức đúng vai trò quan trọng của HĐGDKNSvà cần thiết phải giáo dục KNS trong nhà trường (86.7%) và theo họ để thực hiện tốt GD KNS thì cần phải có sự phối hợp của các lực lượng giáo dục, thực hiện đồng loạt ở cả 3 môi trường : Nhà trường – Gia đình – Xã hội (100%). Đây là một điều kiện rất thuận lợi vì nếu đội ngũ CBQL và các GV trong trường đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động này thì họ sẽ tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động ấy và điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này diễn ra và mang lại hiệu quả cao nhất.
2.3.1.2. Thực trạng nội dung giáo dục KNS cho SV trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Tác giả đã tiến hành khảo sát đối với 90 CBQL, GV, CVHT, Cán bộ Đoàn thanh niên của Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ về mức độ thuần thục KNS của SV đang học tập tại trường và thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 2.2. Biểu đồ kết quả điều tra cán bộ quản lý, giảng viên đánh giá về thực trạng giáo dục mức độ thuần thục KNS của sinh viên
Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, đội ngũ CBQL, GV của trường nhận thấy mức độ thuần thục về KNS của SV Nhà trường hiện nay còn hạn chế chiếm đến 57.8 %, số sinh viên có KNS tốt chỉ chiếm có 1/3 là 29.9 %, rất tốt là 8.9 %, không có ý kiến gì là 4.5 %, những cán bộ giáo viên không đưa ra ý kiến gì có thể do các thầy chưa nhìn nhận đúng, đánh giá đúng, cũng có thể, cũng có thể do các thầy cô giáo chưa thật sự quan tâm đến vấn đề GDKNS cho các em sinh viên trong trường.
Đối với cán bộ, quản lý, giảng viên được kết quả như vậy còn đối với sinh viên thì sao? Tác giả đã tiến hành khảo sát 300 sinh viên học Cao đẳng Dược chính quy gồm các lớp CĐ5, CĐ6, CĐ7 và kết quả cho ra như sau:
Biểu đồ 2.3. Biểu đồ kết quả điều tra sinh viên đánh giá về thực trạng giáo dục mức độ thuần thục KNS của sinh viên
Như vậy, khi được hỏi về mức độ thuần thục KNS của SV hiện nay phần đông SV của trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đều cho rằng mức độ thuần thục KNS của sinh viên hiện nay còn hạn chế 55%, còn mức độ rất tốt là 12%, tốt 29,4%, không có ý kiến là 3,6%. Quan điểm của các em sinh viên cũng gần giống với quan điểm của các cán bộ quản lý và giảng viên đều cho rằng KNS của các bạn sinh viên trong trường chưa thật sự tốt. Có nhiều nguyên nhân mà KNS của các em chưa tốt đó là: Do các em chưa thật sự quan tâm đến vấn đề này, chưa thấy được tầm quan trọng, sự cần thiết của việc GD KNS cho bản thân, hoặc nhà trường chưa có biện pháp, chương trình giáo dục cụ thể, hợp lý, hoặc giảng viên bộ môn chưa lồng ghép vào bài giảng,… Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Thực trạng trên đặt ra một vấn đề cấp thiết đối với các trường Cao đẳng cũng như Đại học ở nước ta là song song với việc dạy chữ, dạy kiến thức, dạy nghề thì việc cần tăng cường giáo dục cho SV những KNS cần thiết cho cuộc sống tự lập trong tương lai như kỹ năng phỏng vấn xin việc, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp ứng xử ở nơi làm việc, kỹ năng ứng phó với các tình huống thiên tai, dịch bệnh bất thường, kỹ năng đảm nhận trách nhiệm… Khi có được những kỹ năng đó không những giúp cho SV có được chất lượng cao trong học tập các môn văn hóa, chuyên ngành ở trường mà còn giúp họ có đủ tự tin để bước ra cuộc sống và tìm cho mình một công việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng của mình.
Những thông tin trên phần nào đã cung cấp cho chúng ta cách nhìn tổng quát về thực trạng nhận thức về KNS của SV trường Cao Dược Phú Thọ. Và để chi tiết hơn tác giả đã tiến hành điều tra thực trạng về các nội dung KNS của sinh viên và thu được kết quả sau:
Bảng 2.3: Đánh giá thực trạng nội dung GD KNS của sinh viên
Qua những số liệu trên chúng ta có thể thấy rằng thực trạng KNS của SV trường Cao đẳng Dược Phú Thọ còn khá khiêm tốn. Sinh viên còn thiếu các KNS cơ bản, hoặc những kỹ năng đó đã có nhưng chưa tốt như kỹ năng phòng chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội chỉ có 9.6% rất tốt đối với đánh giá của sinh viên và 16,7% đối với đánh giá của các nhà QLGD, GV, CVHT và Cán bộ Đoàn TN; Kỹ năng ra quyết định có 5.0% rất tốt đối với đánh giá của sinh viên và 13.3% đối với đánh giá của QLGD, GV, CVHT và Cán bộ Đoàn TN ; Kỹ năng ứng phó với khó khăn và các tình huống bất thường 8.6% rất tốt với đánh giá của sinh viên và 7,8 % rất tốt với đánh giá của QLGD, GV, CVHT và Cán bộ Đoàn TN.
Đây là những kỹ năng mà các em ít được giáo viên bộ môn lồng ghép, tích hợp vào các môn học nên kết quả chưa cao. Bên cạnh đó, một số kỹ năng các em lại chiếm tỷ lệ tốt rất cao như: Kỹ năng tìm kiếm và khai thác thông tin là 32.3% đối với đánh giá của SV và 31,1% đối với đánh giá của QLGD, GV, CVHT và Cán bộ Đoàn TN ; Kỹ năng giao tiếp là 23.6% rất tốt đối với đánh giá của SV và 28.9% rất tốt với đánh giá của QLGD, GV, CVHT và Cán bộ Đoàn TN; Nghiên cứu khoa học là 22.6% rất tốt đối với đánh giá của sinh viên và 28.9% rất tốt với đánh giá của QLGD, GV, CVHT và Cán bộ Đoàn TN. Như vậy ta thấy sự đánh giá của sinh viên và CBQL, GV, CVHT, Cán bộ Đoàn TN về mức độ các nội dung KNS của sinh viên Trường Cao đẳng Dược là tương đối trùng quan điểm.
Sở dĩ có kết quả như vậy là do Nhà trường đã đưa một số nội dung KNS vào chương trình giảng dạy của Nhà trường, các giáo viên được xếp tiết, soạn bài giảng, giáo trình trước khi đến lớp, sau khi giảng dạy được kiểm tra, đánh giá bằng hình thức cho điểm.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giáo dục KNS cho sinh viên chưa hiệu quả, chưa đồng đều là do nhận thức của sinh viên và đội ngũ những nhà QLGD về vai trò, tầm quan trọng của KNS đối với sự phát triển toàn diện của SV còn chưa đầy đủ, nội dung cũng như phương pháp giáo dục nói chung và GD KNS còn nhiều bất cập, trang thiết bị phục vụ GD KNS chuyên biệt còn thiếu nên chất lượng chưa thật sự tốt.
2.3.1.3. Phương pháp và cách thức tổ chức thực hiện giáo dục KNS cho SV trường Cao đẳng Dược Phú Thọ Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Thực trạng hoạt động GD KNS trong việc tích hợp vào các môn học của giảng viên các khoa, bộ môn
Trong thời gian gần đây khi trong giới trẻ xuất hiện nhiều các vụ việc liên quan đến việc thiếu ý thức, thiếu đạo đức, thiếu KNS như: đánh nhau rồi quay camera tung lên mạng, tử tự vì lý do bị trách mắng, rồi nghiện game, nghiện thuốc phiện, nạo phá thai tuổi vị thành niên,….những sự việc này thu hút cả xã hội quan tâm và không khỏi phiền lòng vì giới trẻ bây giờ có lối sống buông thả, ích kỷ quá. Để xảy ra những sự việc như vậy giáo dục ở nhà trường đóng góp một phần rất lớn. Tuy nhiên trong nội dung chương trình giáo dục KNS trong trường hiện nay theo chương trình khung của Bộ giáo dục và Đào tạo là chưa có, mà phần lớn các cán bộ, giảng viên trong trường tùy theo năng lực và sở thích của mình mà lồng ghép hay tích hợp các nội dung GDKNS vào các bài giảng của mình. trường Cao đẳng Dược Phú Thọ với phương châm đào tạo ra những cử nhân không chỉ giỏi về chuyên môn tay nghề mà nhất thiết còn phải có KNS, kỹ năng hòa nhập, kỹ năng tồn tại. Xác định điều đó là rất quan trọng nên các giảng viên bộ môn đã lồng ghép, tích hợp những kiến thức về KNS vào bài giảng của mình. Với việc lồng ghép này bài học trở nên sinh động hơn, thiết thực hơn và tạo điều kiện cho các em áp dụng những kiến thức đã học vào với thực tế nhiều hơn.
Bên cạnh đó Phòng công tác học sinh sinh viên, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, Đội xung kích… cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động theo các chuyên đề hoặc kế hoạch giáo dục chính trị đầu khóa cho sinh viên ở đầu mỗi năm học nhằm trang bị cho các em những KNS cơ bản nhất. Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này tác giả đã tiến hành khảo sát 360 đối tượng là CBQL, GV, SV để đánh giá việc dạy học tích hợp giáo dục KNS cho sinh viên, kết quả được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.4: Kết quả đánh giá hoạt động tích hợp giáo dục KNS vào các môn học của GV các khoa, bộ môn
Như vậy, đa số GV đã xây dựng kế hoạch tích hợp GD KNS vào môn học là 100% tuy nhiên ở mức khá và trung bình nhiều hơn ở mức tốt. Có 43.3% GV thực hiện tốt trong việc lựa chọn nội dung KNS phù hợp với từng chương, từng bài dạy. Điều này chứng tỏ các GV đã đầu tư thời gian, nghiên cứu bài dạy của mình và nghiên cứu phương pháp giảng dạy lồng ghép các kiến thức về KNS sát thực với bài giảng để mang lại hiệu quả cao nhất. Công việc xây dựng kế hoạch và nội dung GD KNS tích hợp vào môn học; Lựa chọn nội dung KNS phù hợp với từng chương, từng bài dạy; Đánh giá kết quả nhận thức về KNS của sinh viên sau giờ học là 3 nội dung được tất cả các GV thực hiện, tuy nhiên vẫn chưa được triển khai tốt, đồng bộ, đặc biệt là việc kiểm tra chưa được thường xuyên. Việc đánh giá, bổ xung, điều chỉnh kế hoạch GD KNS sau khi thực hiện mới chỉ có 15.6 % số GV áp dụng tốt. Nguyên nhân là do GV chưa có quy định bắt buộc phải thực hiện giảng dạy tích hợp nội dung KNS mặt khác bản thân nhiều GV cũng chưa xác định được các cách thức triển khai GD KNS cần thiết cho sinh viên một cách bài bản và khoa học. Việc triển khai GD KNS cho SV đòi hỏi người dạy và hướng dẫn phải có sự trải nghiệm sâu sắc thì mới thu hút được sinh viên, các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường chưa có sự phối hợp tốt trong việc cùng GDKNS.
Thực trạng HĐGDKNStrong các hoạt động GD khác – Hoạt động của Cố vấn học tập
Cố vấn học tập là người nắm bắt tâm tư, tình cảm và tình hình học tập, rèn luyện của lớp và các cá nhân mình phụ trách. Thường xuyên động viên, hướng dẫn và uốn nắn kịp thời những ưu và nhược điểm của các thành viên tổ chức mình phụ trách, đồng thời chia sẻ các kinh nghiệm, vốn sống của mình giúp sinh viên học tập, rèn luyện và hòa nhập cuộc sống một cách an toàn, và hiệu quả. Tác giả đã tiến hành khảo sát 20 cố vấn học tập về công tác GD KNS và thu được kết quả sau:
Bảng 2.5: Đánh giá mức độ thực hiện các hình thức GD KNS của Cố vấn học tập
Như vậy, việc lựa chọn các hình thức giáo dục KNS của đội ngũ GVCN và Cố vấn học tập tại trường là khá đa dạng, tuy nhiên hiệu quả và mức độ thực hiện các hình thức trên còn chưa tốt: Có 40 % Cố vấn học tập thường xuyên giáo dục KNS qua các giờ sinh hoạt lớp; Có đến 75% CVHT giáo dục KNS thông qua các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, 50% thông qua các hội thi. Sở dĩ có kết quả cao ở 2 nội dung này là do Nhà trường thường phối hợp với Đoàn thanh niên Nhà trường, Tỉnh Đoàn, Tỉnh đội, Quân khu 2, Công an Tỉnh, các trường Đại học và Cao đẳng trên địa bàn tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao như: tiếng hát ngành Y dược, tiếng hát trung du, tiếng hát ba thế hệ,…Các cuộc thi như: Nữ sinh tài năng duyên dáng; Người đẹp các vùng Kinh đô,…
Mặt khác, tác giả tiến hành khảo sát hiệu quả của công tác triển khai các hoạt động giáo dục KNS của 50 GV, 20 cố vấn học tập, kết quả thu được thể hiện ở biểu đồ sau:
Qua biểu đồ tự đánh giá của đội ngũ GVCN, Cố vấn học tập cho thấy hiệu quả thực hiện hoạt động GD KNS của đội ngũ trên là ở mức khá. Việc lập kế hoạch cho các hoạt động GD KNS đã được quan tâm và đầu tư (26/70 người). Tuy nhiên trong quá trình triển khai còn chưa được tốt như việc phối hợp với gia đình còn hạn chế do các em sinh viên từ nhiều vùng miền khác nhau đến học nên việc phối hợp giữa cố vấn học tập với phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn về không gian, thời gian. Việc kiểm tra, đánh giá cũng rất hạn chế, nguyên nhân là do việc GD KNS cho SV chưa được đưa hẳn vào một chương trình bắt buộc cụ thể.
Có thể nói rằng, HĐGDKNScho SV ở đội ngũ cố vấn học tập vẫn còn mang tính chất tự phát là chủ yếu mà chưa có công văn, giấy tờ nào quy định bắt buộc họ phải có nội dung và thời lượng chương trình giáo dục cụ thể. Đồng thời, HĐGDKNScòn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan khác như lòng nhiệt tình, ý thức trách nhiệm cũng như năng lực của mỗi cá nhân giảng viên. Việc GDKNS ở họ chưa có định hướng rõ rệt cả về mục tiêu, phương pháp, kế hoạch cụ thể. Lãnh đạo nhà trường cũng chưa có sự quản lý, chỉ đạo chi tiết về công tác GD KNS trong đội ngũ cố vấn học tập, vì thế hiệu quả đạt được là chưa thật cao.
Hoạt động của Đoàn TN- Hội sinh viên
Những năm gần đây các hoạt động của Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên được Ban Giám Hiệu Nhà trường đầu tư, quan tâm phát triển. Với sự chỉ đạo thường xuyên của Trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, TW Hội sinh viên Việt Nam , Tỉnh đoàn Phú Thọ, trong những năm vừa qua Đoàn thanh niên – Hội sinh viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đã tổ chức khá nhiều hoạt động nhằm hướng tới việc GDKNS cho SV như:
- Tổ chức các CLB Võ thuật, khiêu vũ, erobic, Đàn ghi ta, Bóng đá…
- Tổ chức vận động quyên góp cho đồng bào bị thiên tai
- Tổ chức hội thảo kỹ năng tìm và khai thác thông tin, kỹ năng NCKH trong sinh viên
- Phối hợp với Ban tuyên giáo TW “Nói chuyên về lý tưởng của thanh niên-sinh viên”
- Tổ chức cho các em sinh viên xem phim miễn phí về đề tài chiến tranh, phương pháp lập nghiệp, KNS thành công tại rạp chiếu phim Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
- Tổ chức ngày hội đọc sách cho sinh viên toàn trường tham gia.
Các hoạt động trên đã thu hút rất nhiều bạn sinh viên tham gia nhiệt tình và hào hứng. Do vậy sau mỗi chương trình- kế hoạch các bạn tham gia tổ chức đều cảm thấy mình trưởng thành nhanh hơn, sống có trách nhiệm hơn với bản thân mình và cộng đồng xã hội. Các hoạt động này có sức lan tỏa lớn, không chỉ những bạn sinh viên được tham gia mà các bạn sinh viên khác cũng thấy rất vui, rất hào hứng và thấy các hoạt động này thật sự có ý nghĩa. Điều này đã tạo nên sự hứng thú, thi đua trong toàn trường.
Đánh giá chung về hiệu quả của công tác Đoàn-Hội trong việc giáo dục KNS cho sinh viên trong thời gian qua có những thành công đáng khích lệ, tuy nhiên hiệu quả vẫn ở mức khiêm tốn chưa đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của sinh viên, chưa có đội ngũ cộng tác viên phổ cập các chương trình về giáo dục KNS một cách đông đảo và hiệu quả. Các chương trình GDKNS do Đoàn Thanh niên – Hội sinh viên tổ chức vẫn chưa thường xuyên, nội dung chương trình giáo dục chưa phong phú, đa dạng nên việc GD KNS cho SV chưa thật hiệu quả.
Phối hợp các lực lượng giáo dục trong trường và ngoài xã hội để tổ chức các hoạt động giáo dục KNS
Hàng năm Nhà trường thường xuyên phối hợp với các đơn vị trên địa bàn tỉnh Phú Thọ như Công an Tỉnh Phú Thọ, Công an Thành phố Việt Trì, Trung tâm chăm sóc sức khỏe… tổ chức tuyên truyền về ma túy, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội, về sức khỏe sinh sản, về an toàn giao thông cho SV.
Thông qua những hoạt động đó, Nhà trường mong muốn giúp sinh viên vừa có những kiến thức cần thiết cho cuộc sống vừa học hỏi được những kỹ năng cơ bản.Tuy nhiên, các hoạt động của các tổ chức, cơ quan chuyên môn thực hiện giáo dục KNS trong nhà trường thường theo hình thức tuyên truyền tập trung theo trách nhiệm, thiếu thường xuyên, các nội dung giáo dục KNS chưa thực sự biến thành các hoạt động mang tính trải nghiệm ăn sâu vào tiềm thức sinh viên nên hiệu quả của các chương trình này là không cao và bền vững.
Mặt khác, công tác phối hợp giáo dục giữa nhà trường với phụ huynh để cùng tham gia giáo dục KNS còn nhiều bất cập: Do địa bàn tuyển sinh của trường trải rộng, sinh viên của nhà trường đến từ nhiều vùng miền khác nhau, phụ huynh ở xa nên nhà trường không cập nhật được thông tin thường xuyên dẫn đến hiệu quả phối hợp giữa gia đình và nhà trường bị ảnh hưởng.
Như vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường thì cần tuyên truyền nâng cao nhận thức tới sinh viên và phụ huynh về tầm quan trọng của KNS, đồng thời tạo sự đồng thuận trong việc triển khai các chương trình kế hoạch GDKNS cho các em sinh viên ở cả trong và ngoài nhà trường. Trên cơ sở phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và hội cha mẹ sinh viên, là sự đồng thuận trong việc áp dụng các mô hình quản lý, giáo dục toàn diện KNS giữa nhà trường với các tổ chức ngoài xã hội.
2.3.2.Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho sinh viên ở trường CĐ Dược Phú Thọ Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
2.3.2.1. Quản lý về xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động giáo dục KNS
Với yêu cầu xã hội ngày càng phát triển đòi hòi phải giáo dục người học một cách toàn diện. Do đó mỗi giáo viên bộ môn không chỉ truyền đạt cho sinh viên những kiến thức cơ sở ngành mà còn phải giúp sinh viên biết vận dụng các kiến thức đa ngành đó vào thực tiễn cuộc sống, biết chỉ ra được quy luật của tự nhiên và xã hội đồng thời thao tác nhanh ứng phó với mọi biến động của cuộc sống thực tế.
Từ yêu cầu đó đòi hỏi lãnh đạo nhà trường phải có kế hoạch chỉ đạo cụ thể để hướng dẫn từng giảng viên xây dựng nội dung chương trình môn học tích hợp kiến thức chuyên môn và kiến thức thực tế về giáo dục KNS trong từng môn học, bài học, tiết học, kỳ học và năm học.
Từ việc điều tra thực tế KNS của sinh viên và thực tế hoạt động GD KNS trong trường thấy rằng việc triển khai kế hoạch thực hiện hoạt động GD KNS trong nhà trường hiện nay là chưa tốt, còn mang nặng tính hình thức, văn bản giấy tờ, chỉ phổ biến mà không có biện pháp yêu cầu giáo viên thực hiện và kiểm tra, đánh giá, báo cáo kết quả. Nhà trường chưa có kế hoạch cụ thể để triển khai xây dựng các chương trình môn học có tích hợp, lồng ghép giáo dục KNS ở các môn học, đồng thời cũng chưa có sự kiểm tra đánh giá mức độ tác động và hiệu quả thực hiện. Việc tích hợp lồng ghép giáo dục KNS vào các môn học ở các khoa, bộ môn còn mang tính tự phát và chưa được quan tâm, chỉ đạo sâu sát.
Để làm rõ hơn về vấn đề này tác giả đã tiến hành khảo sát 60 CBQL, và
Bảng 2.7: Thực trạng quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường.
Từ bảng số liệu trên cho thấy công tác quản lý về kế hoạch thực hiện giáo dục KNS của đội ngũ GV trường chưa đạt hiệu quả như mong muốn: chỉ có 24.9 % GV các khoa, bộ môn có kế hoạch quản lý việc xây dựng kế hoạch GD KNS đạt mức tốt và khá. Hạn chế chiếm tỷ lệ nhiều nhất ở nội dung thường xuyên kiểm tra đánh giá, kết quả HĐGDKNS(51%). Hầu như các giảng viên chỉ kiểm tra nội dung các kiến thức bắt buộc trong bài giảng chuyên môn của mình, ít có giảng viên kiểm tra kiến thức về KNS được lồng ghép trong bài giảng, việc thường xuyên kiểm tra lại càng khó.
2.3.2.2. Quản lý về nội dung chương trình giáo dục KNS Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Quản lý nội dung chương trình GDKNS bao gồm từ việc quản lý việc chỉ đạo đội ngũ xây dựng nội dung chương trình cho đến việc tổ chức thực hiện những nội dung đó và kiểm tra kết quả đạt được như thế nào.
Để đánh giá thực trạng nội dung chương trình GD KNS cho SV của BGH Nhà trường thông qua việc tích hợp vào bài dạy của giảng viên và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tác giả đã tiến hành khảo sát 60 người (trong đó có 10 CBQL, 50 GV) và thu được kết quả sau:
Bảng 2.8: Đánh giá hiệu quả quản lý nội dung, chương trình GD KNS của đội ngũ CBQL, GV
Qua bảng số liệu cho thấy, việc giảng viên các khoa bộ môn trong trường thực hiện tốt việc xây dựng nội dung chương trình giáo dục KNS chỉ chiếm 8.3%, còn hạn chế chiếm đến 45%. Điều này chứng tỏ các GV đã có xây dựng chương trình, nội dung GDKNS tuy nhiên việc xây dựng còn chưa đồng bộ, chưa sâu sắc, chưa triệt để, đa số làm cho có. Việc bồi dưỡng thường xuyên cho GV các khoa, BM về nội dung, phương pháp GD KNS trong các môn học thực hiện ở mức trung bình và còn hạn chế chiếm đến 90%. Công tác quản lý bồi dưỡng cho các GV về nội dung và phương pháp GDKNS tích hợp vào các môn hầu như không thực hiện. Các GV bộ môn thường làm theo cảm hứng và ít quan tâm đến kết quả đạt được. Việc kiểm tra đánh giá cũng ít được quan tâm, để ý, không được tiến hành thường xuyên, kết quả không tốt. Hoạt động tổ chức, chỉ đạo, tích hợp GDKNS vào các hoạt động ngoại khóa, hoạt động đoàn thể, câu lạc bộ, tổ, đội, nhóm được thực hiện ở mức tốt hơn cả chiếm đến 25% tốt và 46.7% khá. Như vậy quản lý GDKNS qua hoạt động tích hợp GDKNS vào các hoạt động ngoại khóa, hoạt động đoàn thể, câu lạc bộ, tổ, đội, nhóm tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đã làm khá tốt, tuy nhiên vẫn còn hạn chế đó là chưa thường xuyên, đội ngũ cộng tác viên, cán bộ Đoàn còn chưa được bồi dưỡng, trang bị kiến thức về GD KNS.
2.3.2.3. Quản lý về đội ngũ thực hiện giáo dục KNS * Quản lý chỉ đạo GV bộ môn thực hiện HĐGDKNS Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Trong những năm gần đây, trước yêu cầu đòi hỏi nguồn nhân lực cao của xã hội. Các Nhà trường đều yêu cầu GV giảng dạy bộ môn tích hợp nội dung GD KNS vào bài dạy, tuy nhiên việc triển khai thực hiện vẫn còn mang tính hình thức, chỉ phổ biến, phát động phong trào là chính, không có các tiêu chí kiểm tra, đánh giá cụ thể nên hoạt động này còn chưa đạt kết quả cao.
GV là người thiết kế tổ chức thực hiện các hoạt động thường xuyên tại lớp và là người chỉ đạo, tổ chức cho SV tham gia các hoạt động theo chủ điểm. Việc quản lý được thể hiện ở những nội dung: Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên của GV như: Soạn, giảng bài có nội dung GDKNS, xây dựng nội dung cho các tiết sinh hoạt tập thể (hoạt động diễn ra ở lớp như thế nào? vai trò của GV? thời gian, hình thức, nội dung thực hiện có đúng quy định không? ý thức tự quản như thế nào?…); Quản lý việc chuẩn bị hoạt động theo chủ điểm (lớp có tham gia không? mức độ tham gia thế nào? kết quả ra sao.…Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động của SV.
Thực trạng quản lý đội ngũ GV thực hiện HĐGDKNStại trường còn mang tính phong trào, thiếu sự kiểm tra giám sát của lãnh đạo nhà trường. Nhà trường chưa quan tâm đến việc tập huấn, bồi dưỡng kiến thức giáo dục KNS cho đội ngũ cán bộ, giảng viên trong toàn trường.
Quản lý đội ngũ cán bộ Đoàn TN, Hội SV, Cộng tác viên thực hiện HĐGDKNS
Đội ngũ cán bộ Đoàn thanh niên và Hội sinh viên chính là những cán bộ, giảng viên và một số sinh viên của trường mà họ chính là những người trực tiếp xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các chuyên đề văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động chính trị, Đoàn, Đảng…. Đồng thời, với chức năng của mình tổ chức Đoàn Thanh niên – Hội sinh viên còn là đơn vị chỉ đạo và thực hiện việc kiểm tra đánh giá việc thực hiện các chương trình giáo dục KNS của Đoàn viên, sinh viên. Phối hợp với Phòng công tác học sinh sinh viên, Cố vấn học tập để tổ chức họp xét, xếp loại rèn luyện cho sinh viên theo quy định.
Việc quản lý HĐGDKNS trong nhà trường được thể hiện ở những nội dung: Quản lý việc xây dựng kế hoạch, việc triển khai kế hoạch, việc tổ chức thực hiện, việc phối hợp các lực lượng giáo dục, việc bồi dưỡng GV, cộng tác viên, việc kiểm tra đánh giá, xếp loại.
Bảng: 2.9: Thực trạng quản lý đội ngũ Cán bộ Đoàn TN – Hội SV thực hiện HĐGDKNS
(Số lượng khảo sát: 10 cán bộ Đoàn-Hội) Cũng giống như đội ngũ cán bộ giảng viên, công tác bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ Đoàn TN – Hội SV về HĐG KNS vẫn còn rất hạn chế. Do đó các HĐGDKNScho sinh viên vào các chương trình hoạt động của Đoàn thanh niên như: thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ,…vẫn chỉ mang tính cho có, còn vẫn chưa sâu rộng, chưa triệt để và chưa đạt hiệu quả cao. Để việc QL HĐGDKNS tốt hơn Nhà trường cần cử cán bộ Đoàn TN, Hội SV tham gia thường xuyên các lớp tập huấn của trường tổ chức, của địa phương tổ chức, của Trung ương tổ chức, để họ có kiến thức và kỹ năng nhất định trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động Đoàn có lồng ghép GDKNS được tốt nhất. Bên cạnh đó Bí thư Đoàn TN, chủ tịch Hội sinh viên phải tham mưu đề xuất các giải pháp hoạt động đồng bộ, tổ chức các chương trình có ý nghĩa, hiệu quả với CBQL trường để góp phần nâng cao chất lượng QL HĐGDKNS chi sinh viên trong trường. Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Quản lý chỉ đạo CVHT tham gia hoạt động GD KNS
Đội ngũ CVHT đóng vai trò rất quan trọng trọng việc GD KNS cho SV trong trường. Do đó ngoài GV bộ môn, Cán bộ Đoàn thanh niên, Hội SV thì CB QL Nhà trường cần phải có những phương pháp, hình thức cụ thể để đội ngũ CVHT tham gia tích cực vào HĐGDKNS.
Đối với hệ Cao đẳng đào tạo theo tín chỉ tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ, Nhà trường sắp xếp 1 tiết sinh hoạt lớp/1 tuần, mỗi tiết 50 phút. Thời gian dành cho CVHT chỉ có 50 phút mà rất nhiều công việc phải làm như: Kiểm tra sĩ số lớp trong tuần, phê bình, kiểm điểm những bạn vi phạm quy chế, quy định của Nhà trường, tuyên dương những bạn có ý thức học tập tốt, phổ biến các công văn mới của nhà trường, giải đáp những thắc mắc của sinh viên, tư vấn học tập, triển khai kế hoạch,…. Do đó việc lồng ghép GD KNS cho sinh viên là rất hạn chế. Đa số phụ thuộc vào nguồn cảm hứng của CVHT. Bên cạnh đó việc bắt buộc, việc kiểm tra đánh giá của BGH lại không có nên hoạt động này chưa có hiệu quả.
Để quản lý tốt HĐGDKNS cho SV của đội ngũ CVHT thì các CBQL phải xây dựng chương trình bắt buộc từ kế hoạch, nội dung, cách thực hiện, đưa ra các tiêu chí kiểm tra, đánh giá, khen thưởng. Có như vậy hoạt động GD KNS của CVHT cho sinh viên mới được nâng cao.
2.3.2.4. Quản lý về phối hợp các lực lượng thực hiện HĐGDKNS
HĐGDKNS diễn ra trong nhà trường và ngoài nhà trường, các lực lượng giáo dục có ảnh hưởng tới hoạt động đó là: các đoàn thể, tổ chức chính trị – xã hội trong nhà trường và ngoài nhà trường, phụ huynh, cộng đồng xã hội, các trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng KNS.
Việc giáo dục cho SV không chỉ có nhà trường và gia đình mà phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội. Các lực lượng tham gia phối hợp bao gồm: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV Việt Nam, GV chuyên môn, Cố vấn học tập, Phòng công tác SV, Công an, Phụ nữ, các đơn vị kết nghĩa… Mỗi lực lượng giáo dục đều có thế mạnh riêng, vì vậy quản lý tốt việc phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để tổ chức tốt HĐGDKNS chính là thực hiện xã hội hóa giáo dục, tạo môi trường GD tốt nhất cho SV, không chỉ có tác dụng giúp SV phát triển toàn diện mà còn giúp sinh viên vượt qua các khó khăn của tự nhiên và XH.
Thực trạng quản lý về phối hợp các lực lượng thực hiện hoạt động GD KNS trong nhà trường được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.10: Thống kê các đơn vị, tổ chức tham gia phối hợp GDKNS năm học 2015-2016
Qua bảng số liệu cho ta thấy hàng năm nhà trường đều có sự phối hợp với các lực lượng xã hội khác trong và ngoài nhà trường tổ chức các chương trình nói chuyện theo chuyên đề cho sinh viên nhà trường và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo sinh viên nhà trường tham gia. Sau mỗi chương trình tập huấn các em sinh viên học hỏi, tiếp thu được rất nhiều các kỹ năng phần mềm để áp dụng vào thực tế cuộc sống.
Tuy nhiên, các chương trình này chủ yếu là tuyên truyền mang tính chất một chiều, sinh viên chưa có cơ hội, thời gian để thực hiện, trải nghiệm nên hiệu quả thu được là chưa cao. Trong các hoạt động giáo dục KNS chưa có sự tham gia phối hợp sâu sát của hội cha mẹ học sinh, các đơn vị doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh.
2.3.2.5. Quản lý cơ sở vật chất phục vụ HĐGDKNS Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Những năm gần đây KHCN phát triển, việc áp dụng KHCN vào giáo dục cũng được đặc biệt quan tâm đầu tư và ứng dụng. Tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ cũng đã được trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy kiến thức chuyên môn nói chung và hoạt động GD KNS nói riêng. Có 100% các giảng đường có lắp máy tính, máy chiếu và camera, wifi được phủ sóng trong toàn trường. Nhà trường cũng đã thành lập một phòng riêng, chuyên trách về đồ dùng thiết bị, thường xuyên theo dõi kiểm tra việc sử dụng các thiết bị dạy học và hoạt động giáo dục của giảng viên.
Nhà trường quản lý và sử dụng khá hiệu quả những CSVC hiện có để tổ chức các hoạt động giáo dục KNS như: âm ly, loa đài, đầu video, dụng cụ thể thao, sân khấu, hội trường,…và kinh phí hoạt động. Tiết kiệm, cân đối hợp lý nguồn ngân sách được giao hàng năm để mua sắm thêm CSVC, tài liệu cho hoạt động. Tuy nhiên Nhà trường vẫn chưa được hỗ trợ kinh phí nhiều từ các tổ chức XH, các công ty, doanh nghiệp đóng trên địa bàn cho hoạt động GD KNS cũng như các hoạt động giáo dục khác.
Về tài liệu, ngoài giáo trình mà Nhà trường biên soạn như: Phương pháp nghiên cứu Khoa học, Kỹ năng giao tiếp, thì thư viện Nhà trường đã nhập rất nhiều các sách tham khảo về KNS cho sinh viên nghiên cứu như: Đắc nhân tâm, 100 bí quyết lập nghiệp; Tâm tư tuổi dậy thì; ….
2.3.2.6. Quản lý về việc kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GD KNS
Nếu công tác đánh giá chất lượng giáo dục chính xác, đầy đủ sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng mục tiêu giáo dục thực tiễn. Như vậy sản phẩm giáo dục con người phải được đánh giá trên các mặt: chất lượng kiến thức (văn hoá), chất lượng kỹ năng (KNS), chất lượng thái độ (đạo đức). Hình thức đánh giá được đổi mới như: đổi mới nội dung và phương pháp thi cử, đổi mới xếp loại hạnh kiểm…với việc đổi mới cách đánh giá chất lượng giáo dục sẽ làm cho HĐGDKNS càng có vị trí quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay.
Việc đánh giá SV qua HĐGDKNSsẽ góp phần đánh giá chất lượng giáo dục nói chung, đặc biệt là hạnh kiểm.
- Đối với GV, kết quả đánh giá phản ánh sự trưởng thành của SV và giúp GV tự đánh giá khả năng tổ chức hoạt động của mình.
- Đối với các cấp quản lý, việc đánh giá SV qua HĐGDKNSlà biện pháp để đánh giá kết quả giáo dục toàn diện. Quản lý việc kiểm tra đánh giá HĐGDKNSlà quản lý nội dung, các mức đánh giá, hình thức đánh giá, quy trình đánh giá của hoạt động này.
Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu đối với 10 CBQL và GV, 10 sinh viên, 10 cố vấn học tập và 10 cán bộ Đoàn thanh niên để tìm hiểu về công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả HĐGDKNS:
“Theo thầy/cô công tác kiểm tra, đánh giá quản lý hoạt động GD KNS trong Nhà trường đã được thực hiện chưa? Nếu thực hiện rồi thì ở mức nào: Thường xuyên; Đôi khi hay Chưa bao giờ?Kết quả thu được như sau:
Bảng 2.11: Kết quả nhận thức việc kiểm tra đánh giá kết quả HĐGDKNS
Biểu đồ 2.5: Kết quả nhận thức việc kiểm tra đánh giá kết quả HĐGDKNS
Từ kết quả trên cho thấy hoạt động kiểm tra, đánh giá đối với HĐGDKNSlá rất thấp. Tỷ lệ chưa bao giờ thực hiện rất cao chiếm 40 % đến 50 % ở các đối tượng được hỏi. Các cấp quản lý vẫn chưa quan tâm nhiều đến hoạt động này hoặc chỉ thực hiện qua loa hình thức nên việc kiểm tra đánh giá chưa triệt để, chưa hiệu quả. Như vậy CBQL cần tăng cường hơn nữa việc kiểm tra đánh giá để có những điều chỉnh thích hợp, kịp thời nhằm nâng cao chất lượng hoạt động GD KNS tại trường.
2.4. Đánh giá chung đối với việc quản lý hoạt động giáo dục KNS tại trường Cao đẳng Dược Phú Thọ Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
2.4.1. Điểm mạnh
Mặc dù chưa có kế hoạch cụ thể của cấp trên chỉ đạo HĐGDKNScho sinh viên, nhưng những năm gần đây Ban Giám Hiệu và các cán bộ, giảng viên trong trường Cao đẳng Dược Phú Thọ luôn ý thức ngoài việc giáo dục kiến thức chuyên ngành, còn phải giáo dục đạo đức, ý thức và KNS cho các em sinh viên. Xã hội phát triển kéo theo những thay đổi trong đời sống xã hội, tình trạng suy đồi về đạo đức, lối sống của SV có nguy cơ phát triển theo chiều hướng xấu đi, những yêu cầu của nhà tuyển dụng đối với nhân lực nhất là những SV mới ra trường phải toàn diện, phải chất lượng… Trước yêu cầu đó Lãnh đạo Nhà trường đã quan tâm và chỉ đạo sát sao hơn công tác GDKNS cho SV. Nhà trường luôn đặt mục tiêu về giáo dục chất lượng nghề nghiệp và chất lượng về đạo đức, lối sống cho SV lên hàng đầu. Khi đã xác định được mục tiêu đó, Nhà trường từng bước giao cho các tổ chức, đoàn thể, CBQL, GV lên kế hoạch thực hiện sao cho có hiệu quả tốt nhất.
Các hoạt động về GDKNS cho SV tuy không được tổ chức thường xuyên, liên tục mà chỉ thực hiện lồng ghép vào một số môn học, buổi học hoặc khi có chương trình hoặc dự án nào đó, nhưng mỗi lần như vậy đều thu hút được sự quan tâm, chú ý của đông đảo các CBQL, GV và SV của trường tham gia. Chính sự tích cực, nhiệt tình của các CBQL, GV đôi khi là nguồn động lực lôi cuốn SV vào các hoạt động này. Dần dần các em nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động này và trở nên thích thú tham gia hơn vì nhận thấy được sự bổ ích của nó. Đây là dấu hiệu cho thấy sự chuyển biến trong nhận thức của CBQL, GV và SV. Tất cả những điều đó sẽ tạo điều kiện để tạo điều kiện cho HĐGDKNScho SV của trường ngày càng phát triển hơn nữa.
Nhà trường đã cố gắng đưa ra các biện pháp QLHĐGDKNSnhằm GD rèn luyện KNS cho SV trong thời gian qua và đã mang lại những hiệu quả tích cực ban đầu như SV đã tích cực hơn trong các giờ học, có ý thức giữ trật tự, vệ sinh trong lớp học, trường học; tình trạng SV đi học muộn, bỏ học đã giảm đi đáng kể; SV đã tích cực hơn trong các hoạt động tập thể như hoạt động Hiến máu nhân đạo, Sinh viên tình nguyện hè, SV với việc bảo vệ môi trường, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, vì cuộc sống cộng đồng… Chính vì vậy mà chất lượng giáo dục của trường ngày càng tăng lên: tỷ lệ SV ra trường tốt nghiệp đạt loại khá giỏi và hạnh kiểm tốt ngày càng nhiều.
Một điểm mạnh nữa đó công tác GDKNS cho SV tại trường được rất nhiều các cơ quan, tổ chức trên địa bàn ủng hộ về cả tinh thần và vật chất, và bên cạnh đó là sự đồng tình, nhiệt tình ủng hộ của gia đình, của phụ huynh các em.
2.4.2. Điểm yếu Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Chưa có chỉ đạo cụ thể về nội dung, chương trình và kế hoạch GDKNS trong giảng dạy, trong công tác chủ nhiệm. Việc tổ chức, chỉ đạo và đánh giá hiệu quả cũng chưa thường xuyên, chưa đánh theo giai đoạn của quá trình GD Về cán bộ, giảng viên tuy đã có chuyển biến về tư tưởng nhận thức trong việc quản lí tổ chức các chương trình HĐGDKNSnhằm rèn luyện KNS cho SV, nhưng sự nhận thức của các lực lượng CBQL, GV cũng như SV còn chưa đầy đủ và sâu rộng. Điều này thể hiện ở sự quan tâm của một số ít CBQL, GV còn thờ ơ, chưa thấy trách nhiệm của mình trong việc quản lí, phối kết hợp tổ chức GD. Một số SV chưa thấy hết tầm quan trọng của những chương trình HĐGDKNStrong việc rèn KNS, cho nên không tham gia hoặc miễn cưỡng tham gia hoạt động một cách chiếu lệ.
Bên cạnh đó đội ngũ CBQL, GV của trường chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách chính quy, bài bản về kiến thức và phương pháp GD KNS. Vì thế mà mỗi khi tổ chức những chương trình GDKNS cho SV thì bản thân các CBQL, GV còn lúng túng, khi gặp những tình huống khó thì chưa có cách giải quyết thỏa đáng, phù hợp với tâm lý SV nên tạo ra không khí chán nản, không hào hứng tham gia của SV. Điều đó là một cản trở lớn cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của HĐGDKNS cho SV của trường.
Nhà trường tổ chức các chương trình HĐGDKNSnhiều khi còn vì phong trào chung cho nên mục đích GD rèn luyện KNS cho SV chưa rõ ràng, chưa sâu rộng để làm thay đổi nhận thức và hành động của sinh viên.
Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy KNS chưa được quan tâm. Công tác phối hợp giữa các tổ chức, lực lượng giáo dục trong cũng như ngoài nhà trường nhằm thực hiện HĐGDKNS cho SV chưa chặt chẽ, thường xuyên. Công tác kiểm tra, đánh giá của nhà trường đối với hoạt động này còn mang tính hình thức, chưa được đầu tư thỏa đáng. Chưa động viên, khen thưởng các cá nhân, tổ chức làm tốt công tác GD KNS kịp thời nên chưa tạo được động lực thúc đẩy hoạt động này phát triển.
Các biện pháp của CBQL và GV đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức, quản lý, chất lượng của HĐGDKNScho SV nhiều khi mang tính tổng quát, hô hào là chính, còn việc thực hiện thì chưa được nghiêm túc, chu đáo ở từng khâu, từng khoa, từng người thực hiện.
2.4.3. Thuận lợi
Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục luôn thể hiện sự quan tâm tới hoạt động GD và Phát triển toàn diện cho người học. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, với những thay đổi của điều kiện kinh tế – xã hội càng đặt ra yêu cầu bức thiết về việc giảng dạy nhằm hình thành, phát triển KNS cho thế hệ trẻ. Điều đó đòi hỏi công tác QLHĐGDKNScần phải được tăng cường đầu tư và quan tâm hơn nữa.
Tổ chức Đoàn thanh niên, Hội Sinh viên trong nhà trường giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức HĐGDKNSnên sẽ huy động được lực lượng CBQL,GV trẻ, khoẻ, nhiệt tình tham gia tổ chức HĐGDKNS cho SV.
Trong những năm gần đây, do nhận thức được vai trò của HĐGDKNScho SV đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực của nhà trường, đáp ứng nhu cầu của xã hội, nên lãnh đạo nhà trường đã có sự quan tâm đầu tư hơn trong công tác quản lý cũng như mọi điều kiện khác cho HĐGDKNS.
Khoa học công nghệ phát triển, các nhà QL, các thầy cô giáo, các tổ chức, cha mẹ học sinh có thể tham khảo trên Internet nhiều phương pháp GD KNS đa dạng và hiệu quả.
2.4.4. Khó khăn Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Bên cạnh những thuận lợi thì Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ cũng bắt gặp nhiều khó khăn trong việc QLHĐGDKNS cho sinh viên tại trường như:
Chất lượng đội ngũ CBQL, GV về KNS chưa thật tốt lại ít được bồi dưỡng, tập huấn. Đây là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như giảng dạy KNS cho SV của trường.
Trong hoạt động giáo dục, Nhà trường luôn coi việc truyền đạt kiến thức văn hóa, nghề nghiệp cho SV là việc chính khóa, quan trọng hàng đầu, còn những hoạt động khác trong đó có hoạt động về GDKNS chỉ là những hoạt động phụ, ngoài giờ lên lớp. Chính tâm lý đó đã vô tình làm cho công tác GDKNS của nhà trường bị coi nhẹ. Từ đó, việc đầu tư đào tạo, bồi dưỡng cho CBQL, GV về KNS cũng không được chú trọng. Sự hiểu biết của họ về KNS, giảng dạy KNS vẫn còn chưa nhiều, nên khó truyền đạt cho sinh viên được hiệu quả.
GDKNS cho SV là công việc không phải của một hai người mà đòi hỏi cần có sự tham gia tích cực của toàn xã hội, trong đó đóng vai trò quan trọng nhất vẫn là các lực lượng giáo dục trong nhà trường như: Ban giám hiệu, các phòng ban, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên; các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương,… Chính vì vậy, việc thiếu sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các lực lượng này cũng là một trong những khó khăn cho công tác đào tạo, giảng dạy về KNS của trường. Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
Môi trường sống bây giờ rất nhiều phức tạp, Nhà trường chỉ có thể quản lý khi các em học ở trường, còn ngoài giờ lên lớp thì gia đình cũng khó có thể kiểm soát hết được.
Xã hội bùng nổ thông tin nên các em được tiếp cận với nhiều kênh thông tin bao gồm cả thông tin tích cực và thông tin tiêu cực. Ở lứa tuổi các em chưa thể phân biệt, lựa chọn được những thông tin thật sự có ích cho mình. Đặc biệt là các em nam dễ bị xa đà vào các trò chơi điện tử.
Việc đưa hoạt động GD KNS vào giảng dạy cho SV trên thực tế là rất khó khăn vì Bộ chưa có quy định cụ thể đối với các Trường Cao đẳng, Đại học kéo theo đó là giáo trình về GDKNS chưa được biên soạn. Vấn đề dạy KNS cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam mới chỉ được đặt ra trong khoảng vài năm trở lại đây nên chúng ta chưa có sách viết riêng mà chủ yếu tham khảo tài liệu từ nước ngoài. Vì vậy, việc áp dụng những kiến thức của người nước ngoài vào thực tế ở Việt Nam không thể mang lại hiệu quả cao vì sự khác nhau về môi trường sống, điểm về văn hóa, lối sống, tâm sinh lý,…
Đặc biệt, nguồn tài liệu về giáo dục KNS trên Internet hiện nay rất đa dạng. Điều này làm cho SV, CBQL, GV – những người làm công tác giảng dạy về KNS cũng khó lựa chọn thông tin chính xác, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, cũng như đặc điểm tâm sinh lý để việc tiếp thu và giảng dạy có hiệu quả. Thực tế đó đặt ra yêu cầu là cần phải có những cuốn sách giáo trình chung, thống nhất nhưng khác nhau cho từng đối tượng, từng cấp học.
Còn một số nguyên nhân liên quan tới việc SV không muốn tiếp nhận những hoạt động về GDKNS và không có thời gian dành cho việc GDKNS.
Ngoài ra, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, trong thiết bị phục vụ, môi trường giả định cho tổ chức và HĐGDKNScũng gây khó khăn cho triển khai GDKNS và công tác giáo dục toàn diện cho sinh viên.
Tiểu kết chương 2
Qua nghiên cứu tài liệu, điều tra khảo sát các đối tượng là CBQL, GV, SV và các lực lượng xã hội khác có ảnh hưởng tới công tác tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục KNS cho sinh viên về thực trạng KNS của SV, thực trạng hoạt động giáo dục KNS và thực trạng QL HĐGDKNS tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ, tác giả nhận thấy: Hiện nay HĐGDKNScho SV trường vẫn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, nội dung và hình thức tổ chức giáo dục KNS cho SV còn đơn điệu, mờ nhạt. Việc quản lý hoạt động giáo dục KNS của đội ngũ CB, GV và các lực lượng giáo dục khác còn chưa đi vào nề nếp và có chiều sâu, chưa thực sự đóng góp nhiều cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường .
Nguyên nhân là do sự nhận thức chưa đầy đủ về vai trò tầm quan trọng của việc giáo dục KNS đối với sự phát triển bền vững và toàn diện nhân cách trí tuệ SV. Bên cạnh đó Bộ giáo dục và Đào tạo chưa có hướng dẫn cụ thể triển khai nội dung giáo dục KNS trong các trường cao đẳng, Đại học. Mặt khác Nhà trường cũng chưa áp dụng các giải pháp QLHĐGDKNSmột cách đồng bộ dẫn đến đến sự đơn điệu, nghèo nàn về nội dung và hình thức hoạt động nên chưa thu hút được nhiều SV tham gia.
Vì chưa bắt buộc phải thực hiện HĐGDKNSnên trong công tác QL còn làm qua loa đại khái, từ việc xây dựng chương trình kế hoạch, bồi dưỡng đội ngũ CBQL, GV, huy động các lực lượng giáo dục, kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và hiệu quả của công tác HĐGDKNSvà ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục toàn diện cho SV. Nhà trường cần có những biện pháp tích cực hơn trong việc quản lý, tổ chức, chỉ đạo hoạt động GD KNS cho SV. Luận văn: Thực trạng về trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giáo dục sinh viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ