Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Đặc điểm, tình hình có liên quan đến thực hiện pháp luật trong lĩnh vực cấp giấy phép xây dựng của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm 13 tỉnh miền Tây Nam bộ, gồm: Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau. ĐBSCL có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta ở nhiều mặt như: chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa, quốc phòng – an ninh và đối ngoại. Đây còn là “vùng cực Nam – Thành đồng của Tổ quốc”, cửa ngõ phía Tây Nam của quốc gia.
- Biểu đồ 1. Diện tích các tỉnh/thành khu vực miền Tây Nam bộ
Diện tích của ĐBSCL là 40.921,70 km² (chiếm tỷ trọng 12,2% diện tích của cả nước), với dân số 18 triệu người (chiếm tỷ trọng khoảng 19% dân số cả nước). 150 đơn vị hành chính cấp huyện, 1.000 đơn vị cấp xã với hơn 10 triệu hộ dân khiến cho quy mô kinh tế ngày càng phát triển; Tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 2020 đạt khoảng 970 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,95% GDP cả nước); Tổng sản phẩm bình quân đầu người (GRDP) của vùng là 56,02 triệu đồng/người/năm với tỷ lệ lao động có đào tạo là 62,8%.
ĐBSCL là vùng tập trung sản xuất lúa gạo, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, hàng năm vùng đóng góp lượng lớn hàng nông nghiệp xuất khẩu cho cả nước (31,37% GDP ngành nông nghiệp quốc gia, 50% sản lượng lúa, 65% lượng thủy sản nuôi trồng, 70% sản lượng trái cây, 95% sản lượng xuất khẩu gạo, 60% lượng thủy sản xuất khẩu), góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực cả nước và xuất khẩu thế giới. Bên cạnh đó, vùng cũng có tiềm năng ngành dầu khí và năng lượng tái tạo (năng lượng gió, mặt trời, thủy triều…). ĐBSCL có hệ thống kênh ngòi chằng chịt, nhiều vườn cây ăn trái, rừng cây diện tích lớn, vùng có 4 khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ở các tỉnh Đồng Tháp, Cà Mau và Kiên Giang. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Để phát triển ĐBSCL, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách. Ngày 28 tháng 02 năm 2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 287/QĐ-TTg về Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Vùng ĐBSCL có mục tiêu phát triển đến năm 2030 là trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của nước ta và trên thế giới dựa trên cơ sở tập trung phát triển hệ thống các trung tâm đầu mối về nông nghiệp, các hành lang kinh tế, các đô thị động lực với sự kết hợp phát triển các dịch vụ và công nghiệp, kết cấu hạ tầng đồng bộ, thích nghi biến đổi khí hậu toàn cầu; đẩy nhanh phát triển kinh tế biển, du lịch, tăng cường kết nối nội vùng và liên khu trong nước và trên thế giới; tập trung phát triển khoa học, công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng, từ đó góp phần tạo dựng môi trường sống bền vững, nâng cao chất lượng sống cho người dân; đồng thời duy trì và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc; ổn định chính trị, an ninh và quốc phòng.
Ngày 02 tháng 4 năm 2022, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW “Về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045” nhằm khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vùng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Yêu cầu phải phát triển nhanh và bền vững, phù hợp với vị trí, vai trò chiến lược của vùng; coi đây là nhiệm vụ xuyên suốt, trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của các địa phương trong vùng và cả nước. Nghị quyết nêu rõ các nhiệm vụ, giải pháp để phát triển vùng trong giai đoạn mới, bao gồm các giải pháp như:
- Về hoàn thiện thể chế, các chính sách phát triển và đẩy mạnh liên kết vùng;
- Về đẩy mạnh phát triển nhanh và bền vững kinh tế vùng;
- Về phát triển văn hóa, xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân;
- Về bảo đảm an ninh, quốc phòng;
- Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Nghị quyết số 13-NQ/TW “Về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045” của Bộ Chính trị có giao nhiệm vụ các địa phương trong vùng khẩn trương lập Quy hoạch tỉnh giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Luật Quy hoạch [15].
Ngày 18 tháng 6 năm 2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 78/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 13- NQ/TW ngày 02 tháng 4 năm 2022 của Bộ Chính trị “Về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045”, trong đó đề ra một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 như sau: Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021 – 2030 đạt khoảng 6,5 – 7%/năm. Quy mô nền kinh tế đến năm 2030 gấp 2 – 2,5 lần so với năm 2021. GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 146 triệu đồng/người/năm. Đô thị hóa của vùng đạt tỷ lệ từ 42 đến 48%, trong đó có khoảng 80% số xã của vùng ĐBSCL đạt chuẩn nông thôn mới. Trong các chỉ tiêu đã đề ra, có đề cập đến việc xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm phát triển của vùng với đầy đủ các dịch vụ từ thương mại, y tế, giáo dục cho đến khoa học và công nghệ, văn hóa, du lịch,…xây dựng thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang), Tân An (Long An), Long Xuyên (Đồng Tháp), Rạch Giá (Kiên Giang), thành phố Cà Mau và thành phố Sóc Trăng trở thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái chất lượng cao, du lịch biển đảo tầm cỡ trong nước và quốc tế, kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới. Hoàn thành hệ thống đường bộ cao tốc kết nối vùng với vùng Đông Nam bộ, hệ thống cảng biển và các cửa khẩu quốc tế gồm các tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông, Bắc – Nam phía Tây, Các tỉnh miền Tây Nam bộ – Sóc Trăng, Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng, Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu, Hồng Ngự – Trà Vinh; nâng cấp hệ thống quốc lộ chính yếu, các cầu; đầu tư hệ thống đường ven biển qua các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang”.
- Biểu đồ 2. Đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh khu vực miền Tây Nam bộ
Thực hiện các chính sách trên, các tỉnh miền Tây Nam bộ có tốc độ xây dựng ngày càng lớn. Theo số liệu thống kê qua các năm 2017 đến nay, nhu cầu cấp GPXD trên địa bàn các tỉnh, thành phố thuộc miền Tây Nam bộ là rất lớn. Đối với các tỉnh, thành phố đã có QHXD chi tiết 1/500, 1/2000, thiết kế đô thị tương đối hoàn chỉnh, tốc độ đô thị hóa cao, thì nhu cầu quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch là yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý. So sánh số lượng GPXD giữa các tỉnh, thành phố nêu trên có sự chênh lệch rõ. Qua nghiên cứu cho thấy, vấn đề quy hoạch xây dựng và quy định diện tích sàn xây dựng có ảnh hưởng lớn đến việc THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ.
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực cấp giấy phép xây dựng của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
2.2.1. Thực trạng về tổ chức triển khai, thực hiện các văn bản quy quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành liên quan đến cấp giấy phép xây dựng
UBND cấp tỉnh – miền Tây Nam bộ đã chủ động tổ chức triển khai thực hiện các VBQPPL liên quan công tác cấp GPXD như: Luật Xây dựng năm 2014, Luật Xây dựng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020, Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, Nghị định số 53/2017/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp GPXD, Thông tư số 15/2016/TT-BXD ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về cấp GPXD bằng nhiều hình thức cụ thể như: tổ chức Hội nghị triển khai, tập huấn cho các đối tượng là cán bộ, công chức thực hiện công tác về cấp GPXD, các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xây dựng tại các tỉnh/thành; niêm yết công khai các văn bản tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ; đăng toàn văn trên Trang TTĐT của Sở Xây dựng các địa phương.
Việc tổ chức triển khai các VBQPPL do CQNN ở Trung ương ban hành liên quan đến hoạt động cấp GPXD bằng nhiều hình thức khác nhau như: Hội nghị tập huấn, hoạt động tư vấn pháp lý của CQNN, tọa đàm chính quyền và doanh nghiệp về thủ tục hành chính, sổ tay, cẩm nang pháp luật… Qua đó, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có liên quan cập nhật kịp thời và triển khai thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật.
Một trong những điều kiện có tính tiên quyết cho việc cấp GPXD chính là quy hoạch xây dựng. Các tỉnh, thành phố đều có QHXD chung, song thực tế không phải tất cả đồ án, nhiệm vụ quy hoạch đều có tính ổn định. Quá trình tìm hiểu, cho thấy quy hoạch của các địa phương đều phải điều chỉnh, cá biệt có trường hợp điều chỉnh lần 4 (tỉnh Cà Mau). Mặt khác, đa số các tỉnh, thành phố miền Tây Nam bộ quy hoạch chi tiết chưa được phủ kín, một số địa phương chỉ dừng lại ở QHXD chung của tỉnh (như: Bến Tre, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng), dẫn đến khó khăn cho công tác cấp GPXD. Việc chưa ban hành quy chế quản lý kiến trúc cũng là rào cản ở nhiều địa phương trong công tác cấp GPXD do theo quy định của Luật Kiến trúc, đối với khu vực chưa có quy hoạch chi tiết hoặc thiết kế đô thị được duyệt, thì hồ sơ xin GPXD phải phù hợp quy chế quản lý kiến trúc được CQNN có thẩm quyền phê duyệt. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
- Biểu đồ 3. Thông tin quy hoạch xây dựng của các tỉnh miền Tây Nam bộ
Do thực tế không có quy chế quản lý kiến trúc, nên các cơ quan buộc phải căn cứ xét và cấp thông tin về chỉ tiêu quy hoạch của từng trường hợp đơn lẻ (xác định mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, giới hạn chiều cao công trình…) để cấp phép, do đó thiếu tính đồng bộ, nhất quán trong việc xem xét, giải quyết hồ sơ cấp phép, lẫn thiết kế đô thị, hoặc cấp GPXD tạm. Theo số liệu thống kê Quý I/2023, tại quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ, số GPXD có thời hạn (tạm) chiếm 52% số giấy phép được cấp, vì chưa có Quy chế quản lý kiến trúc.
Công tác quy hoạch, quản lý và triển khai thực hiện quy hoạch của tỉnh Cà Mau trong thời gian vừa qua được đánh giá là lĩnh vực còn nhiều hạn chế. Điều này thể hiện ở chỗ quy hoạch chi tiết chưa được phủ kín, quy hoạch manh mún, chưa đồng bộ và thường xuyên phải điều chỉnh (như dự án khu dân cư phía Đông Quốc lộ 1, khu A, ấp Bà Điều, xã Lý Văn Lâm, Cà Mau; hoặc khu vực phía Đông và phía Tây Phường 8 vẫn còn một số dự án của các nhà đầu tư khác phải điều chỉnh quy hoạch đường đấu nối do không thể giải phóng mặt bằng). Tình trạng này cũng xảy ra tương tự đối với các dự án ở các tỉnh, thành khác như Long An, Cần Thơ, Kiên Giang, Vĩnh Long…
Hoặc tại tỉnh Kiên Giang, tỉnh này được xem là vùng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm 15 đơn vị hành chính là Thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, các huyện Kiên Lương, Giồng Riềng, Giang Thành, Hòn Đất, Vĩnh Thuận, Tân Hiệp, Châu Thành, Gò Quao, An Biên, An Minh, U Minh Thượng và 2 huyện đảo là Kiên Hải và Phú Quốc. Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Kiên Giang đẩy mạnh phát triển các đô thị ven biển, hướng biển tạo động lực để thúc đẩy phát triển không gian kinh tế vùng ven biển Tây (tiếp giáp với vịnh Thái Lan), từ đó hình thành chuỗi đô thị hành lang biên giới nhằm ổn định đời sống người dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của vùng. Tuy nhiên, quá trình triển khai quy hoạch chi tiết tổ chức phân bố dân cư, đô thị, công nghiệp, du lịch và hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật cấp vùng cũng thường xuyên điều chỉnh và thay đổi.
Đồ án quy hoạch chi tiết được chia làm 2 loại, một loại là để nhà nước quản lý và loại thứ hai là để mời gọi đầu tư. Trong thời gian vừa qua, khu vực nào mời gọi đầu tư thì nhà đầu tư mới tiến hành quy hoạch chi tiết (thông qua cơ quan QLNN), nếu được chấp nhận thì sau đó triển khai thực hiện. Còn những khu vực dân cư ổn định, lẽ ra phải tiến hành quy hoạch chi tiết, vừa thuận lợi cho công tác cấp GPXD, vừa đảm bảo hiệu quả trong công tác quản lý xây dựng, nhưng vấn đề này các địa phương gặp rất nhiều khó khăn, rất chậm trong việc lập quy hoạch chi tiết, cũng như thiết kế đô thị, xuất phát từ yếu kém trong công tác quản lý lẫn kinh phí đầu tư cho công tác này [PHỤ LỤC 6]. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
- Diện tích sàn xây dựng nhà ở là chỉ số quan trọng trong công tác cấp GPXD.
Tổng diện tích nhà ở được xây dựng, hoàn thành và bàn giao trong kỳ (thường là một năm) dùng cho mục đích ở và sinh hoạt của cá nhân hoặc hộ gia đình được hiểu là diện tích sàn xây dựng nhà ở hoàn thành trong năm.
Tùy thuộc vào đặc điểm địa lý, nhu cầu và tình hình phát triển kinh tế – xã hội, mỗi địa phương có kết quả diện tích sàn xây dựng nhà ở theo giấy phép khác nhau [PHỤ LỤC 1].
Theo số liệu thống kê cho thấy Kiên Giang là địa phương có diện tích sàn xây dựng nhà ở hoàn thành trong năm chiếm tỷ trọng cao nhất trong số các tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, phù hợp với nhu cầu đầu tư xây dựng gắn với tốc độ đô thị hóa của tỉnh. Tuy nhiên, đây cũng là địa phương quy hoạch thiếu tính ổn định, thường xuyên điều chỉnh. Địa phương đứng thứ hai, thứ ba về diện tích sàn xây dựng nhà hoàn thành trong năm lần lượt là Cà Mau và Long An. Đây cũng là các địa phương có diện tích tự nhiên lớn so với các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Tây Nam bộ. Riêng Long An, Cần Thơ bên cạnh hình thức cấp phép xây dựng cho nhà ở riêng lẻ (cấp cho cá nhân, hộ gia đình), hình thức căn hộ chung cư (như Dự án Ehome Waterpoint, Phúc An City, chung cư Hưng Phú…) đã bắt đầu xuất hiện tại đây. Tuy nhiên, nếu so sánh với nhà ở riêng lẻ hoàn thành trong kỳ, tỷ trọng nhà dưới hình thức căn hộ chung cư tại chiếm tỷ trọng rất nhỏ trên tổng số diện tích sàn xây dựng nhà ở hoàn thành tại các tỉnh, thành phố thuộc khu vực.
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, tỉnh Hậu Giang gồm 18 đô thị gồm 2 thành phố, 1 thị xã, 11 thị trấn và 4 trung tâm xã. Mặc dù là đầu mối quan trọng trong mối quan hệ liên vùng giữa Cần Thơ – Kiên Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng, song diện tích sàn xây dựng hoàn thành hàng năm của Hậu Giang chiếm tỷ lệ thấp nhất so với tỉnh, thành phố khác, xuất phát từ mục tiêu chính của tỉnh là phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn, bảo vệ tốt môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái và ứng phó với biến đổi khí hậu. Hiện tại, tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung đô thị tỉnh Hậu Giang đạt 100%, tuy nhiên quy hoạch phân khu trên diện tích đất lập quy hoạch chung đạt gần 63%, quy hoạch chi tiết đạt gần 40%, tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh đạt gần 30% thấp hơn mức 31% của vùng ĐBSCL và thấp hơn 41% so với trung bình cả nước. Hệ thống hạ tầng xã hội đô thị phát triển đồng bộ về hình thái kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật, hiện nay toàn tỉnh có 18 đô thị gồm: 01 đô thị loại II, 02 đô thị loại III, 15 đô thị loại IV. Theo kế hoạch đến năm 2025 tỉnh xây dựng 19 đô thị; trong đó phấn đấu nâng loại đô thị Cái Tắc, huyện Châu Thành A từ loại V thành loại IV, công nhận đô thị Đông Phú, huyện Châu Thành đạt loại V, hoàn chỉnh hạ tầng cho các đô thị loại II, III của tỉnh ở địa bàn thành phố Vị Thanh, thành phố Ngã Bảy và thị xã Long Mỹ [PHỤ LỤC 2].
Chỉ số phát triển diện tích sàn xây dựng nhà ở hoàn thành trong năm phân theo địa phương phản ánh hiệu quả trong công tác cấp GPXD (diện tích phát triển theo GPXD). Theo đó, năm 2017, có 03 địa phương (Long An, Kiên Giang, Cần Thơ) có chỉ số phát triển diện tích sàn đạt ở mức 70% đến dưới 80%, có 03 địa phương (Sóc Trăng, Hậu Giang, Cà Mau) đạt chỉ số từ 80% đến dưới 90%, 03 địa phương (Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh) đạt tỷ lệ 90% dưới 100%; dẫn đầu là 04 địa phương (Bạc Liêu 123,6%, An Giang 118%, Bến Tre 109,6% và Tiền Giang 106,6%. Năm 2018, địa phương có chỉ số diện tích sàn nhà ở phát triển được thấp nhất là Đồng Tháp, với tỷ lệ 77,2%, có 07 địa phương có tỷ lệ đạt trên 100% là Tiền Giang (106,6%), Bến Tre (114,7%), Trà Vinh (109,2%), Vĩnh Long (105,5%), Hậu Giang (101,2%), Bạc Liêu (109,1%), Cà Mau (103,4%), các địa phương còn lại đều có chỉ số diện tích nhà ở hoàn thành từ 80% trở lên. Năm 2019, kết quả 12/13 địa phương (trừ An Giang) có chỉ số phát triển diện tích sàn đạt trên 90%, trong đó có 07 địa phương đạt tỷ lệ trên 100% (Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu). Năm 2020, có 10/13 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ trên 90% diện tích sàn nhà ở phát triển trong năm, trong đó có 07/10 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ trên 100%, gồm Long An, Vĩnh Long, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau; 03/13 tỉnh, thành có tỷ lệ đạt dưới 90% là Tiền Giang (88,4%), Trà Vinh (85,5%), Đồng Tháp (87%).
So sánh tỷ lệ giữa các năm, cho thấy chỉ số phát triển diện tích sàn xây dựng nhà ở hoàn thành trong năm có chiều hướng tăng dần qua các năm, cụ thể năm 2017 có 03 địa phương đạt tỷ lệ dưới 80%, thì đến năm 2018, chỉ có 01 địa phương có tỷ lệ dưới 80% (Đồng Tháp) và đến năm 2019, 2020, không có tỉnh, thành phố có tỷ lệ phát triển dưới 80%, tất cả đều đạt diện tích sàn nhà ở trên 80%, cá biệt 02 năm 2019 và 2020, có 07 địa phương đạt trên 100%. Tỷ lệ này cho thấy công tác cấp phép và triển khai hoạt động xây dựng theo giấy phép tại các tỉnh, thành phố được thực hiện tương đối tốt. Sự chênh lệch giữa tỷ lệ cấp phép và diện tích hoàn thành sau cấp phép chiếm tỷ lệ nhỏ, phản ánh nhu cầu đầu tư xây dựng là có thật; kết quả THPL trong lĩnh vực cấp phép xây dựng có hiệu quả trên thực tế [PHỤ LỤC 3]. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Số liệu thống kê trên cho thấy loại hình nhà ở phát triển tại các tỉnh miền Tây Nam bộ chủ yếu là nhà ở riêng lẻ chiếm tỷ trọng lớn (trên 99%) trong khi đó nhà ở chung cư chiếm tỷ trọng rất thấp (chưa đến 1%). Điều này phản ánh đúng nhu cầu đầu tư xây dựng gắn với điều kiện địa lý (diện tích tự nhiên), tình hình kinh tế – xã hội của các tỉnh, thành phố thuộc khu vực ĐBSCL. Theo thống kê, chung cư tại các tỉnh phát triển chủ yếu tại Cần Thơ và Long An – hai tỉnh có điều kiện kinh tế phát triển so với các tỉnh, thành khác trong khu vực. Tại Trà Vinh có đầu tư xây dựng chung cư, nhưng chủ yếu là chung cư thấp tầng vào hai năm 2017 và năm 2018.
Nhà ở riêng lẻ là loại công trình được sử dụng rộng rãi, phổ biến nhất hiện nay. Chính vì tính phổ biến cũng như để thuận lợi trong công tác quản lý đất đai, công trình xây dựng, hệ thống cơ sở kỹ thuật hạ tầng tại các khu đô thị, nông thôn, các khu kinh tế, hệ thống thoát nước, hệ thống đường điện, đánh giá tác động môi trường… và rất nhiều những vấn đề khác liên quan, do đó, khi các chủ thể muốn xây dựng nhà ở riêng lẻ thì cần phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện cũng như phải được sự đồng ý về cấp GPXD của cơ quan có thẩm quyền đối với nhà ở riêng lẻ [PHỤ LỤC 4].
Hình thức nhà ở riêng lẻ tại đô thị và nhà ở riêng lẻ tại nông thôn cũng có những sự khác nhau, do đó về điều kiện cấp GPXD đối với nhà ở riêng lẻ cũng ở nông thôn và đô thị cũng có những điều kiện khác nhau. Căn cứ Luật Nhà ở, Luật Xây dựng và các VBQPPL có liên quan, điều kiện chung cấp GPXD đối với nhà ở riêng lẻ tại đô thị gồm:
Điều kiện 1: xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị phải phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được chấp thuận; phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng. Đặc biệt, đối với nhà ở riêng lẻ thuộc khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được CQNN có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục quy định.
Điều kiện 2: Xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị phải bảo đảm an toàn cho công trình và các công trình lân cận; đáp ứng các yêu cầu về phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường; bảo đảm an toàn hạ tầng kỹ thuật, hành lang bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, năng lượng, giao thông, bảo tồn các khu di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và các công trình kiến trúc khác có giá trị, đảm bảo khoảng cách an toàn đến công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc phòng.
Điều kiện 3: Thiết kế xây dựng nhà ở riêng lẻ được thực hiện và hồ sơ đề nghị cấp GPXD theo quy định của pháp luật.
Về điều kiện chung cho cấp GPXD đối với nhà ở riêng lẻ tại nông thôn phải phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn. Trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ tại nông thôn chưa có quy hoạch điểm dân cư nông thôn, thì được miễn GPXD.
Theo số liệu nêu trên, Kiên Giang là địa phương có kết quả diện tích sàn xây dựng nhà ở riêng lẻ hoàn thành chiếm tỷ trọng cao nhất trong số các tỉnh, thành thuộc khu vực. Tất cả các năm từ 2017 đến 2020, tỉnh Kiên Giang đều có mức diện tích sàn nhỏ riêng lẻ phát triển từ trên 2 triệu m2 đến 2,3 triệu m2. Kết quả này phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế – xã hội và đô thị hóa của địa phương. Đây cũng là tỉnh đã hoàn tất công tác QHXD chung, quy hoạch chi tiết, tuy nhiên do địa phương vẫn còn những hạn chế trong công tác quản lý, dẫn đến quy hoạch chi tiết thường xuyên điều chỉnh, thiếu tính ổn định. Các tỉnh Cà Mau, Long An, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long cũng là những địa phương có diện tích sàn xây dựng nhà ở riêng lẻ thuộc tốp cao (sau Kiên Giang) so với các tỉnh, thành còn lại. Đây cũng là các địa phương cơ bản hoàn thành QHXD chung, quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch phân khu, tuy nhiên tính ổn định của công tác quy hoạch chi tiết xây dựng, quy hoạch sử dụng đất chưa cao, vẫn phải điều chỉnh nhiều lần. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Xét ở quy mô của nhà ở, thì tỉnh Cần Thơ, Long An là hai địa phương có loại hình căn hộ chung cư phát triển, trong đó Cần Thơ với vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và thương mại của Vùng ĐBSCL, đô thị loại I thuộc Trung ương, đã có nhiều dự án chung cư được đầu tư xây dựng tại đây (Cara River Park, Stella Icon, Nhịp điệu xanh – Dream House, Marina Plaza, Tây Nguyên Plaza) bên cạnh các chung cư thấp tầng (dưới 7 tầng), như: Hưng Phú, Gia Phúc, Cadif, Hồng Loan, Nam Long – Hồng Phát, An Phú. Tại Long An – cửa ngõ nối liền Đông Nam bộ với khu vực ĐBSCL, loại hình dự án căn hộ chung cư có xu hướng phát triển những năm gần đây, như dự án An Nhiên Riverside, Dragon Town, Eco Retreat Long An, Ehome Southgate, Gia Long Countryside, Golden House, Green Garden…[PHỤ LỤC 5].
Nhà chung cư có thể được định nghĩa là nhà có từ 2 tầng trở lên, gồm nhiều căn hộ có phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung với lối đi và cầu thang chung, hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các cá nhân, hộ gia đình và tổ chức.
Nhà chung cư bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng với mục đích sử dụng hỗn hợp vừa để ở vừa kinh doanh. Căn hộ chung cư được tính là tổng diện tích sàn xây dựng sử dụng để ở và sinh hoạt của hộ đó, không bao gồm diện tích sử dụng chung cho các hộ trong nhà chung cư như: phòng văn hóa và phòng bảo vệ, cầu thang, hành lang chung, bếp, lối đi, nhà vệ sinh chung,…
Theo quy định của nhà nước, đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình căn hộ chung cư, phải đảm bảo các yêu cầu: (1) Công trình phải có mặt bằng xây dựng để bàn giao từng phần theo tiến độ xây dựng theo quy định; (2) Công trình phải có thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và thiết kế kỹ thuật của hạng mục công trình, công trình khởi công đã được phê duyệt; (3) Phải có GPXD; (4) Có biện pháp bảo đảm an toàn công trình và các công trình lân cận, bảo vệ môi trường trong quá trình thi công; (5) Thực hiện công tác nghiệm thu, hoàn thành công trình đưa vào sử dụng.
Tóm lại, các tỉnh, thành luôn quan tâm đến công tác cấp phép xây dựng, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, đáp ứng nhu cầu chính đáng của công dân và nhà đầu tư. Song một trong những rào cản đặt ra cho công tác quản lý xây dựng theo giấy phép là quy trình cấp GPXD phải đảm bảo tính chặt chẽ, liên thông về thủ tục giữa công tác quy hoạch và cấp GPXD; thành phần hồ sơ; thẩm quyền cấp phép phải rõ ràng. Mục đích của công tác cấp GPXD là nhằm hướng hoạt động đầu tư xây dựng đi vào nề nếp (xây dựng đúng giấy phép, đảm bảo các thông số, chỉ tiêu quy hoạch, mật độ xây dựng, lộ giới, chỉ giới, tầng cao, hệ số sử dụng đất…).
Qua thống kê, cho thấy một số tỉnh mặc dù là địa bàn trọng điểm của vùng kinh tế phía Nam, tốc độ đô thị hóa cao, song diện tích sàn xây dựng nhà ở hoàn thành trong năm chưa nhiều, chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế xã hội; loại hình nhà chung cư chưa phát triển rộng khắp ở các tỉnh, trừ Long An và Cần Thơ. Quy hoạch điểm dân cư nông thôn chưa được chú trọng, dẫn đến hoạt động xây dựng mang tính tự phát, sự thiếu đồng bộ trong công tác quy hoạch là rào cản để nâng cao hiệu quả QLNN trong công tác cấp GPXD và quản lý xây dựng theo giấy phép.
Công tác cấp GPXD đã được UBND cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ chú trọng, kịp thời triển khai nhanh việc thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật về xây dựng. Việc cấp GPXD ngày càng được phân cấp mạnh cho UBND cấp huyện thực hiện, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp khi tham gia giải quyết thủ tục hành chính. Đồng thời, với việc đơn giản các thủ tục hành chính, công khai các quy định, quy trình; chấn chỉnh tác phong làm việc; nâng cao nhận thức về pháp luật và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, cũng như nhận thức của các tổ chức, doanh nghiệp và người dân nên số lượng chủ đầu tư chấp hành việc xin cấp GPXD đã tăng lên rõ rệt, thể hiện thông qua số lượng GPXD được cấp hàng năm. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Bên cạnh đó, UBND cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ đã duy trì đều đặn chế độ giao ban định kỳ công tác cấP GPXD đối với UBND cấp huyện, Ban Quản lý các Khu đô thị mới, Khu Công nghiệp – Khu chế xuất có thẩm quyền cấP GPXD và các cơ quan chức năng nhằm trao đổi, nắm bắt kịp thời các quy định mới liên quan đến công tác cấP GPXD; chủ động hướng dẫn cán bộ, công chức giải quyết khó khăn, vướng mắc trong phạm vi thẩm quyền khi giải quyết thủ tục hành chính; đồng thời tổng hợp những ý kiến, đề xuất xử lý các khó khăn để trình UBND cấp tỉnh, Bộ Xây dựng nếu vượt thẩm quyền. Từ đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc giải quyết thủ tục hành chính liên quan thực hiện pháp luật trong lĩnh vực cấp phép xây dựng nói riêng và lĩnh vực xây dựng nói chung.
2.2.2. Thực trạng về ban hành văn bản theo thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về cấp giấy phép xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản đã ban hành
Bên cạnh việc tổ chức triển khai thực hiện các VBQPPL do cơ quan trung ương ban hành về cấp GPXD, UBND cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ đã nghiên cứu xây dựng, ban hành các VBQPPL theo thẩm quyền về cấp GPXD phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của các địa phương. Cụ thể, UBND tỉnh An Giang ban hành Quyết định số 49/2021/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2021 quy định một số nội dung về cấp GPXD trên địa bàn tỉnh An Giang; UBND tỉnh Long An ban hành Quyết định số 24/2021/QĐ-UBND ngày 05 tháng 7 năm 2021 quy định về quản lý cấp GPXD trên địa bàn tỉnh [25]; UBND Thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số 19/2021/QĐ-UBND ngày 17 tháng 12 năm 2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 08/2017/QĐ-UBND ngày 16 tháng 11 năm 2017 về quy định phân cấp cấp GPXD, GPXD có thời hạn; UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND ngày 05 tháng 02 năm 2021 quy định về cấp GPXD có thời hạn đối với công trình, nhà ở riêng lẻ trên địa bàn tỉnh [26]; UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 18/2021/QĐ-UBND ngày 28 tháng 9 năm 2021 quy định về cấp GPXD trên địa bàn tỉnh [24]; UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 43/2021/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2021 ban hành quy định về cấp GPXD và quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh; UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 07/2020/QĐ-UBND ngày 21 tháng 5 năm 2020 quy định về quy mô, chiều cao tối đa và thời hạn được phép tồn tại công trình xây dựng, nhà ở riêng lẻ được cấp GPXD có thời hạn trên địa bàn tỉnh và Quyết định số 12/2018/QĐ-UBND ngày 18 tháng 6 năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 36/2016/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2016 quy định phân cấp quản lý cấp GPXD trên địa bàn tỉnh [23]; UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành Quyết định số 29/2021/QĐ-UBND ngày 09/11/2021 quy định về quy mô, thời gian tồn tại công trình, nhà ở riêng lẻ cấp giấy phép có thời hạn và phân cấp cấp GPXD trên địa bàn tỉnh; UBND tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định số 06/2021/QĐ-UBND ngày 23/02/2021 quy định thẩm quyền cấp GPXD; quy mô công trình và thời hạn tồn tại của công trình theo GPXD có thời hạn trên địa bàn tỉnh; UBND tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 24/2022/QĐ-UBND ngày 09/9/2022 quy định về cấp GPXD trên địa bàn tỉnh; UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 03/2022/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 quy định về cấp GPXD trên địa bàn tỉnh; UBND tỉnh Cà Mau ban hành Quyết định số 12/2021/QĐ-UBND ngày 02/6/2021 phân cấp thẩm quyền cấp GPXD, cấp GPXD có thời hạn trên địa bàn tỉnh; UBND tỉnh Tiền Giang ban hành Quyết định số 36/2021/QĐ-UBND ngày 19/8/2021 quy định phân cấp uỷ quyền và một số nội dung trong hoạt động đầu tư xây dựng. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Các quy định trên quy định về (i) phân cấp cấP GPXD theo thẩm quyền. Theo đó, Sở Xây dựng cấP GPXD đối với các công trình:
- Công trình xây dựng cấp đặc biệt, I, II;
- Công trình tượng đài, công trình di tích lịch sử – văn hóa , công trình tôn giáo, tranh hoành tráng đã được xếp hạng thuộc địa giới hành chính do mình quản lý;
- Công trình xây dựng trong cụm công nghiệp
- Công trình không theo tuyến tiếp giáp các tuyến, trục đường phố chính trong đô thị (trừ các công trình bảng quảng cáo, các công trình khác được lắp đặt, gắn trên các công trình, nhà ở riêng lẻ theo điểm c khoản 1 Điều này);
- Công trình thuộc dự án có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài;
- Công trình thuộc dự án được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư;
- Công trình bảng quảng cáo dọc tuyến cao tốc đã được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch và bảng quảng cáo gắn trên các công trình thuộc quyền quản lý, cấp phép;
- Các công trình khác do UBND tỉnh phân cấp, ủy quyền.
Ban Quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao hay Ban quản lý khu vực phát triển đô thị cấp GPXD các công trình trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu, khu chế xuất, khu công nghệ cao thuộc chức năng và phạm vi quản lý; (ii) điều kiện về quy mô công trình, nhà ở riêng lẻ được cấp phép xây dựng có thời hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý cấP GPXD và các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh. Các địa phương tùy theo đặc điểm quy hoạch cụ thể của mình, quy định quy mô công trình, nhà ở riêng lẻ cấP GPXD có thời hạn (bao gồm xây dựng mới và sửa chữa, cải tạo); Điều kiện cấP GPXD cho từng nhóm công trình, dự án.
Cơ quan cấp GPXD phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức khảo sát, thống nhất vị trí trước khi cấp phép xây dựng đối với các công trình xây dựng theo tuyến trong đô thị tại các khu vực đã có quy hoạch lộ giới nhưng chưa thể hiện vị trí hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Đối với công trình xây dựng có chiều cao từ 45m trở lên so với mặt đất, phải có văn bản đồng ý về độ cao công trình của Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam theo quy định tại Nghị định số 32/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định về quản lý độ cao chướng ngại vật hàng không và các trận địa quản lý, bảo vệ vùng trời tại Việt Nam. Khi cấP GPXD công trình, bắt buộc phải đảm bảo các yêu cầu an toàn về hành lang đường bộ, hành lang lưới điện, hành lang đường thủy và các công trình hạ tầng kỹ thuật khác có liên quan. Đối với công trình theo tuyến được cấp GPXD có thời hạn với quy mô cấp IV có tính chất, mục tiêu đầu tư phục vụ dân sinh (đường dây thông tin truyền thông, đường dây tải điện, hệ thống thoát nước, đường ống cấp nước,…). Đối với công trình không theo tuyến phải đảm bảo an toàn phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh môi trường; để tránh lãng phí nên khuyến khích sử dụng vật liệu lắp ghép để thuận lợi việc tái sử dụng và tháo dỡ; đồng thời phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể khác.
Nhìn chung, việc UBND cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ kịp thời ban hành và tổ chức tập huấn, triển khai các VBQPPL về công tác cấp GPXD trên địa bàn đã tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho các CQNN ở địa phương thực hiện. Qua đó, đã giải quyết quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân và doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư xây dựng theo đúng quy định của pháp luật, hạn chế tình trạng xây dựng không phép, sai phép trên địa bàn cấp tỉnh.
2.2.3. Thực trạng về thực hiện phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng được các tỉnh, thành phố tập trung đẩy mạnh Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Theo quy định tại Điều 103 Luật Xây dựng năm 2014 và Điều 17 Thông tư số 15/2016/TT-BXD ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về cấP GPXD, UBND cấp tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng cấp GPXD đối với các công trình xây dựng cấp I, cấp II; công trình tượng đài, công trình di tích lịch sử – văn hóa công trình tôn giáo, tranh hoành tráng đã được xếp hạng thuộc địa giới hành chính do mình quản lý; những công trình trên các tuyến, trục đường phố chính trong đô thị theo quy định của UBND cấp tỉnh; công trình thuộc dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; công trình thuộc dự án và các công trình khác do UBND cấp tỉnh phân cấp. Ngoài ra, UBND cấp tỉnh có thể phân cấp cho Ban quản lý các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu chế xuất; Ban quản lý các khu đô thị cấp GPXD cho các công trình thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan này.
Theo đó, tại các địa phương đã triển khai và cụ thể hóa quy định về phân cấp thẩm quyền cấP GPXD của UBND cấp tỉnh cho Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan một cách triệt để và thể hiện đầy đủ nội dung trong VBQPPL do UBND cấp tỉnh ban hành về công tác quản lý cấp GPXD trên địa bàn. Cụ thể, tại tỉnh Tiền Giang, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban quản lý các khu công nghiệp (Điều 3 Quyết định Số 36/2021/QĐ-UBND ngày 19 tháng 8 năm 2021); tại tỉnh Long An, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban quản lý khu kinh tế (Điều 4 Quyết định số 24/2021/QĐ-UBND ngày 05 tháng 7 năm 2021); tại tỉnh An Giang, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý kinh tế (Điều 3 Quyết định Số 49/2021/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2021); tại tỉnh Trà Vinh, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý khu kinh tế (Điều 6 Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND ngày 05 tháng 02 năm 2021); tại tỉnh Hậu Giang, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý các khu công nghiệp (Điều 9 Quyết định số 18/2021/QĐ-UBND ngày 28 tháng 9 năm 2021); tại tỉnh Bến Tre, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý các khu công nghiệp (Điều 10 Quyết định số 43/2021/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2021); tại tỉnh Sóc Trăng, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý các khu công nghiệp (Điều 2 Quyết định số 06/2021/QĐ-UBND ngày 23/02/2021); tại tỉnh Bạc Liêu, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý các khu công nghiệp (Điều 9 Quyết định số 24/2022/QĐ-UBND ngày 09/9/2022); tại tỉnh Đồng Tháp, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý khu kinh tế (Điều 8 Quyết định số 03/2022/QĐ-UBND ngày 10/3/2022); tại tỉnh Cà Mau, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý khu kinh tế (Điều 2 Quyết định số 12/2021/QĐ-UBND ngày 02/6/2021); tại tỉnh Vĩnh Long, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý các khu công nghiệp (Điều 5 Quyết định số 29/2021/QĐ-UBND ngày 09/11/2021); tại Cần Thơ, UBND thành phố phân cấp cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp (Điều 2 Quyết định số 08/2017/QĐ-UBND ngày 16/11/2017 và Quyết định số 19/2021/QĐ-UBND ngày 17/12/2021 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 08/2017/QĐ-UBND ngày 16/11/2017); tại tỉnh Kiên Giang, UBND tỉnh phân cấp cho Sở Xây dựng, Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh, Ban Quản lý khu kinh tế Phú Quốc (Điều 4 Quyết định số 12/2018/QĐ-UBND ngày 18/6/2018).
Đồng thời, nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan được phân cấp thực hiện có hiệu quả nội dung được phân cấp, đảm bảo phù hợp quy định pháp luật về cấP GPXD; tại UBND tỉnh An Giang ban hành Quyết định Số 3630/QĐ-UBND ngày 04 tháng 12 năm 2017 về công bố bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Xây dựng tỉnh An Giang (bao gồm 17 TTHC liên quan lĩnh vực cấp GPXD); UBND Thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số 1318/2021/QĐ-UBND ngày 22 tháng 6 năm 2021 về công bố danh mục TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Xây dựng Thành phố Cần Thơ (bao gồm 08 TTHC liên quan lĩnh vực cấp GPXD) [22]. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Theo tác giả, việc quy định phân cấp thẩm quyền cấp GPXD của UBND tỉnh cho các cơ quan có liên quan nêu trên là phù hợp tình hình thực tế, nhằm giảm tải khối lượng công việc sự vụ cho UBND cấp tỉnh, đồng thời phát huy tính năng động, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan được phân cấp trong giải quyết công việc cho người dân được nhanh chóng, thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Nhìn chung, trên cơ Sở phân cấp của UBND cấp tỉnh, Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan của địa phương đã tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ và cơ bản chấp hành các quy định pháp luật về điều kiện, thời gian, thành phần hồ sơ và trình tự, TTHC trong cấp GPXD, tăng cường ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong giải quyết TTHC, góp phần tăng sự hài lòng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp khi liên hệ công tác.
2.2.4. Thực trạng về thực hiện điều kiện, quy trình cấp giấy phép xây dựng Điều kiện cấp giấy phép xây dựng
Một số tỉnh, thành hiện nay đều căn cứ Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành của Trung ương để ban hành Quyết định về cấp GPXD trên địa bàn tỉnh, thành phố thuộc Trung ương. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải UBND tỉnh, thành phố nào cũng quy định rõ điều kiện cấp GPXD.
Cụ thể, trên địa bàn tỉnh Long An, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 24/2021/QĐ-UBND quy định về quản lý cấp GPXD [25], song các quy định chủ yếu mang tính chất dẫn chiếu luật, cụ thể:
- Điều kiện cấp GPXD thực hiện theo quy định tại Điều 41 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ.
- Đối với quy định tại khoản 2 Điều 41 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ thì Sở Xây dựng là CQNN có thẩm quyền chấp thuận về vị trí và tổng mặt bằng (đối với công trình không theo tuyến ngoài đô thị) để xem xét cấp GPXD.
Trường hợp công trình xây dựng thuộc thẩm quyền cấp GPXD của Sở Xây dựng thì việc chấp thuận về vị trí và tổng mặt bằng được lồng ghép kết hợp khi xem xét, kiểm tra thẩm định hồ sơ đề nghị cấp GPXD”.
Theo Điều 41 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng:
- Điều kiện cấp GPXD đối với các trường hợp cụ thể được quy định tại các Điều 91, 92, 93 và Điều 94 của Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Luật Kiến trúc năm 2019 và Luật số 62/2020/QH14.
- Đối với khu vực chưa có quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn thì quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành có liên quan hoặc quy chế quản lý kiến trúc hoặc văn bản của CQNN có thẩm quyền chấp thuận về vị trí và tổng mặt bằng (đối với công trình không theo tuyến ngoài đô thị) là cơ sở để xem xét cấp GPXD. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
- Đối với công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng thì CQNN có thẩm quyền không yêu cầu lập quy hoạch chi tiết theo quy định của pháp luật về quy hoạch, trường hợp các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được một chủ đầu tư thực hiện có quy mô nhỏ hơn 5 héc ta (trường hợp nhỏ hơn 2 héc ta cho dự án đầu tư xây dựng nhà ở chung cư) thì dựa trên quy hoạch phân khu xây dựng để xem xét cấp GPXD.
- Đối với công trình xây dựng ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng được yêu cầu thẩm tra theo quy định tại khoản 6 Điều 82 của Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 62/2020/QH14, ngoài việc báo cáo các kết quả thẩm tra của chủ đầu tư thì phải bổ sung thêm kết luận đáp ứng yêu cầu an toàn công trình, tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của hồ sơ thiết kế xây dựng.
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, mặc dù có quy định về điều kiện cấp GPXD (Điều 5, Quyết định số 09/2017/QĐ-UBND ngày 24/4/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Long), song các quy định không rõ ràng, cụ thể:
- Khoản 1, Điều 5 mang tính chất dẫn chiếu Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng;
- Khoản 2, Điều 5 đề cập đến quy định về diện tích tối thiểu để cấp phép và quy mô (Phần diện tích từ 15m2 đến 40m2 có chiều rộng và chiều sâu lô đất so với chỉ giới xây dựng từ 3m trở lên thì được xét cấp GPXD không quá 02 tầng);
- Khoản 3, Điều 5 liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất ghi nợ tiền sử dụng và đã hoàn tất nghĩa vụ tài chính. Tất cả nội dung liên quan đến điều kiện cấp phép, đều không đề cập đến các điều kiện phù hợp quy hoạch, phù hợp kế hoạch sử dụng đất của địa phương, phù hợp thiết kế.
Ngày 09 tháng 11 năm 2021, UBND tỉnh Vĩnh Long có ban hành Quyết định số 29/2021/QĐ-UBND để thay thế Quyết định số 09/2017/QĐ-UBND ngày 24/4/2017. Tuy nhiên, nội dung Quyết định vẫn chưa quy định rõ về điều kiện CPXD, còn mang tính dẫn chiếu VPQPPL của Trung ương.
Tại Cần Thơ, UBND Thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số 08/2017/QĐ-UBND ngày 16 tháng 11 năm 2017 về quy định phân cấp cấp GPXD, GPXD có thời hạn và Quyết định số 19/2021/QĐ-UBND ngày 17 tháng 12 năm 2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 08/2017/QĐ-UBND ngày 16 tháng 11 năm 2017. Theo đó, các văn bản này đều không đề cập đến điều kiện để cấp GPXD.
Như vậy, mặc dù ban hành VBQPPL để điều chỉnh thủ tục cấp GPXD, tuy nhiên các quy định về điều kiện cấp phép xây dựng của hầu hết UBND các tỉnh, thành phố đều không được quy định, hoặc quy định chưa rõ (chủ yếu mang tính dẫn chiếu VBQPPL khác), khó khăn trong việc thực hiện, thiếu sự thống nhất; có sự nhầm lẫn trong việc soạn thảo, khi gộp chung nội dung liên quan đến “điều kiện” và “thẩm quyền” thành một điều kiện cấp phép như VBQPPL của UBND tỉnh Long An. [PHỤ LỤC 7]
Quy trình cấp giấy phép xây dựng Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
- Thành phần hồ sơ cấp GPXD
Điều 42 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/03/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp GPXD như sau:
- Hồ sơ đề nghị cấp GPXD được gửi trực tiếp đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoặc thông qua dịch vụ công trực tuyến theo quy định của pháp luật.
- Các giấy tờ, văn bản, bản vẽ thiết kế trong hồ sơ đề nghị cấp GPXD phải là bản chính hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử được tải lên dịch vụ công trực tuyến.
- Bản vẽ thiết kế xây dựng phải tuân theo quy định về quy cách hồ sơ thiết kế xây dựng của Điều 33 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP.
- Chủ đầu tư chỉ cần nộp 01 bộ hồ sơ bản vẽ thiết kế xây dựng khi nộp hồ sơ dưới dạng bản sao điện tử.
Theo quy định trên, khoản 1 điều 42 Nghị định số 15/NĐ-CP của Chính phủ chỉ hướng dẫn hồ sơ phải nộp tại cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép, đây không phải là quy định về thành phần hồ sơ. Khoản 2 quy định “các văn bản, giấy tờ, bản vẽ thiết kế trong hồ sơ đề nghị cấp GPXD là bản chính hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử” không nêu rõ các văn bản, giấy tờ cụ thể, không gắn kết với điều kiện cấp GPXD để cụ thể hóa thành phần hồ sơ. Khoản 4 của Điều 42 nêu trên không liên quan đến thành phần hồ sơ, mà liên quan đến hình thức nộp hồ sơ cấp GPXD. Thực tế, các tỉnh, thành phố hiện nay, trong VBQPPL do UBND cấp tỉnh, thành phố ban hành, không quy định cụ thể về thành phần hồ sơ, dẫn đến có sự khác nhau trong việc áp dụng pháp luật.
Theo quy định tại Điều 95 Luật Xây dựng, hồ sơ đề nghị cấp GPXD mới được quy định như sau:
- Hồ sơ cấp GPXD mới đối với nhà ở riêng lẻ, bao gồm những thành phần như sau:
- Đơn đề nghị cấp của cá nhân, tổ chức;
- Một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (bản sao);
- Bản vẽ thiết kế xây dựng;
- Đối với công trình xây dựng có công trình liền kề phải có bản cam kết bảo đảm an toàn lao động đối với các công trình liền kề đó.
- Đối với công trình không theo tuyến, hồ sơ đề nghị cấp GPXD bao gồm những thành phần sau:
- a) Đơn đề nghị cấp;
- Một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (bản sao);
- Quyết định phê duyệt đầu tư, quyết định phê duyệt dự án (bản sao);
- Bản vẽ thiết kế xây dựng;
- đ) Bản sao chứng chỉ hành nghề của chủ nhiệm, chủ trì thiết kế kèm theo bản kê khai năng lực, kinh nghiệm của tổ chức thiết kế, cá nhân là chủ nhiệm, chủ trì thiết kế xây dựng.
- Hồ sơ đề nghị cấp GPXD đối với xây dựng công trình theo tuyến gồm những thành phần sau:
- Các tài liệu quy định tại các điểm a, c, d và đ khoản 2 Điều này;
- Văn bản đồng ý chấp thuận của CQNN có thẩm quyền về sự phù hợp với vị trí và phương án tuyến;
- Quyết định thu hồi đất của CQNN có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Luật Xây dựng có quy định về thành phần hồ sơ cấp GPXD, song các quy định còn mang tính chung chung, trong khi các VBQPPL tại mỗi địa phương quy định mỗi nơi mỗi khác. Tại Sở Xây dựng các tỉnh, đều có niêm yết thành phần hồ sơ cấp GPXD: Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
- Đối với công trình cấp I, II không theo tuyến; công trình trên các tuyến, trục đường phố chính trong đô thị; công trình thuộc dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Đơn đề nghị cấp GPXD (theo mẫu).
- Một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- Hai bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công đã được chấp thuận theo quy định của nhà nước (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính), mỗi bộ bao gồm những thành phần sau:
- Bản vẽ mặt bằng vị trí công trình trên lô đất tỷ lệ 1/100 – 1/500, kèm theo sơ đồ vị trí công trình;
- Bản vẽ các mặt bằng, các mặt đứng và mặt cắt;
- Bản vẽ mặt bằng móng.
- Đối với công trình theo tuyến trong đô thị
- Đơn đề nghị cấp GPXD (theo mẫu).
- Một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hoặc văn bản chấp thuận của CQNN có thẩm quyền về vị trí và phương án tuyến (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- Quyết định thu hồi đất của CQNN có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- Hai bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công đã được chấp thuận theo quy định của nhà nước (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính), mỗi bộ bao gồm những thành phần sau:
- Sơ đồ vị trí tuyến công trình;
- Bản vẽ mặt bằng tổng thể hoặc bản vẽ bình đồ công trình; + Bản vẽ các mặt cắt ngang chủ yếu của tuyến công trình;
- Bổ sung thêm đối với công trình ngầm: Bản vẽ các các mặt cắt dọc và mặt cắt ngang; Sơ đồ đấu nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài công trình.
- (iii) Đối với công trình của các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế:
- Đơn đề nghị cấp GPXD (theo mẫu).
- Một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (bản sao hay tệp tin bản chính).
- Hai bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công đã được chấp thuận theo quy định của nhà nước (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- Cấp GPXD theo giai đoạn đối với công trình không theo tuyến:
- Đơn đề nghị cấp GPXD (theo mẫu).
- Một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (bản sao hay tệp tin bản chính). Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
- Hai bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hay thiết kế bản vẽ thi công đã được chấp thuận theo quy định của nhà nước (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- (v) Cấp GPXD theo giai đoạn đối với công trình theo tuyến trong đô thị
- Đơn đề nghị cấp GPXD (theo mẫu).
- Một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hoặc văn bản phê duyệt của CQNN có thẩm quyền về vị trí và phương án tuyến (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- Quyết định thu hồi đất của CQNN có thẩm quyền phần đất thực hiện theo giai đoạn hoặc cả dự án theo quy định của pháp luật (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- Hai bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công được chấp thuận theo quy định của pháp luật (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- (vi) Cấp GPXD cho dự án
- Đơn đề nghị cấp GPXD (theo mẫu).
- Một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- Hai bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công được chấp thuận theo quy định của pháp luật (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
- Quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình (bản sao hoặc tệp tin chứa bản chụp chính).
Đối chiếu với các tỉnh, thành phố – Miền Tây Nam bộ, thành phần hồ sơ cấp GPXD tại Các tỉnh miền Tây Nam bộ được quy định tương đối rõ. Tuy nhiên, các quy định về thành phần hồ sơ này chưa được pháp lý hóa bằng VBQPPL (Quyết định) do UBND phố ban hành.
Hiện nay, hướng dẫn về thành phần hồ sơ cấp GPXD chủ yếu trên cơ sở trích dẫn và cụ thể hóa thành phần từ thực tiễn tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cấp GPXD. Nội dung chính của thành phần hồ sơ, gồm: Đơn, giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp, pháp lý về đầu tư, hồ sơ thiết kế. Tuy nhiên, điểm vướng mắc nhất của hồ sơ cấp phép trên thực tiễn liên quan đến hồ sơ thiết kế (phù hợp với tính chất, đặc điểm, quy mô công trình). Mặt khác, thành phần này được ghi nhận tại Cổng thông tin đã lạc hậu, chưa được cập nhật quy định mới của Chính phủ là Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng.
Tại các địa phương khác, việc quy định thành phần hồ sơ cũng gặp khó khăn tương tự. Công tác cấp phép do chịu sự điều chỉnh của nhiều VBQPPL khác nhau về quy hoạch, đất đai, kiến trúc, xây dựng, đầu tư…, nên thành phần hồ sơ cấp GPXD cần được chi tiết hóa (nhất là các nội dung liên quan đến hồ sơ thiết kế và trách nhiệm của CQNN, chủ đầu tư, đơn vị tư vấn đối với thiết kế kỹ thuật của dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách, vốn khác) là vấn đề cần có sự thống nhất chung, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện [PHỤ LỤC 8].
2.2.5. Thực trạng về xử lý vi phạm quy định về cấp giấy phép xây dựng Sở Xây dựng các địa phương tổ chức triển khai thực hiện công tác thanh tra,
Kiểm tra và xử lý vi phạm quy định về cấp GPXD trên địa bàn, thông qua việc ban hành và triển khai các kế hoạch công tác thanh tra hằng năm. Qua công tác thanh tra, kiểm tra, các lực lượng chức năng thanh tra đã phát hiện và xử lý nhiều hành vi phạm trong lĩnh vực cấp GPXD như: cấp GPXD văn phòng, nhà trọ nhưng hồ sơ chưa được thẩm định thiết kế kỹ thuật, Thiết kế bản vẽ thi công, chưa phê duyệt phòng cháy, chữa cháy; hồ sơ chưa hoàn chỉnh thủ tục pháp lý về quyền sử dụng đất, chưa đăng bộ, sang tên (chỉ mới có hợp đồng mua bán); chưa hoàn tất việc chuyển mục đích sử dụng đất; cấp GPXD trên phần diện tích đất chưa được công nhận (do thay đổi quy hoạch lộ giới hẻm); cấp GPXD vượt mật độ xây dựng tối đa cho phép; cấp GPXD mới trên phần đất quy hoạch, theo quy định phải cấp GPXD có thời hạn đối với phần quy hoạch…. Đặc biệt là các hành vi vi phạm như tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung GPXD được phê duyệt (xây dựng sai phép), tổ chức thi công xây dựng công trình không có GPXD mà theo quy định phải có GPXD (xây dựng không phép) và các vi phạm khác (quản lý chất lượng công trình; kinh doanh bất động sản; quản lý vận hành nhà chung cư; che chắn, rơi vãi vật liệu…).
Biểu đồ 4. Số liệu các hình thức xử lý vi phạm đối với cán bộ, công chức từ năm 2017-2020 của các tỉnh miền Tây Nam bộ
Bên cạnh việc xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định về cấp GPXD, Sở Xây dựng các địa phương còn xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong lĩnh vực cấp GPXD đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao vi phạm pháp luật về xây dựng; tổ chức bao che, chậm xử lý hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng, buông lỏng trong công tác quản lý. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Biểu đồ 5. Tổng hợp hình thức xử lý vi phạm đối với cán bộ, công chức từ năm 2017-2020 chi tiết của các tỉnh miền Tây Nam bộ
Công tác quản lý trật tự xây dựng trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn, do tốc độ đô thị hóa tại một số tỉnh, thành phố rất nhanh (Long An, Cần Thơ, Kiên Giang…), trong khi đó nhân sự được bố trí làm công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị tại các tỉnh rất ít. Nhiều trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật do có sai sót trong thực hiện chức trách nhiệm vụ, buông lỏng quản lý bị xử lý với hình thức Khiển trách, Cảnh cáo (tùy tính chất, mức độ và quy mô sai phạm). Cá biệt có những trường hợp bị xử lý với hình thức Cách thức, Buộc thôi việc (chủ yếu áp dụng đối với những trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự), do chưa thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ theo quy định của Luật Cán bộ công chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi. Tuy nhiên, thực tế các vi phạm bị xử lý với hình thức nặng (Hạ bậc lương, Cách chức, Buộc thôi việc) xuất phát từ lỗi chủ quan, cố ý trong công tác quản lý, sai phạm có tính hệ thống, gây hậu quả nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng, chủ yếu liên quan đến hành vi buông lỏng quản lý trong lĩnh vực đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, phân lô hộ lẻ dẫn đến phá vỡ quy hoạch; các cá nhân bị xử lý kỷ luật do hành vi vi phạm trong quản lý xây dựng không nhiều, chủ yếu gắn với các sai phạm tại các dự án nhà ở tại một số thành Phố lớn, cụ thể:
Tại Long An, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã đề nghị xử lý kỷ luật với hình thức khiển trách, cảnh cáo đối với các cán bộ vi phạm trong công tác quản lý đầu tư, xây dựng, đất đai và môi trường tại các khu dân cư tập trung trên địa bàn huyện Cần Đước từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/8/2018 (Ông Huỳnh Văn Quang Hùng, Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện; Ông Nguyễn Thanh Hiệp, Huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy Khối Kinh tế, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường; Ông Lê Minh Bảo, Huyện ủy viên, Đảng ủy viên Đảng ủy Khối Kinh tế-Tổng hợp, Trưởng Phòng Kinh tế – Hạ tầng; Ông Hồ Hoàng Hưng, Đảng ủy viên Đảng ủy Khối Kinh tế, Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai).
Tại tỉnh Sóc Trăng, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã đề xuất xử lý kỷ luật với hình thức cảnh cáo, khiển trách đối với các cán bộ vi phạm liên quan đến sai phạm tại Dự án Khu nhà ở thương mại Văn Minh, phường 2, Thành phố Sóc Trăng (Ông Trần Hoàng Hợp, Phó Chủ tịch UBND thành phố Sóc Trăng; Ông Bùi Thanh Tùng, Phó Giám đốc Ban Quản lý Dự án 1, nguyên Phó trưởng Phòng Quản lý đô thị; Ông Phạm Anh Minh, Bí thư Huyện ủy Châu Thành, nguyên Phó Giám đốc Sở Xây dựng; Ông Dương Quốc Việt, nguyên Giám đốc Sở Xây dựng; Ông Hoàng Văn Cuông, nguyên Phó Giám đốc Sở Tài chính; Ông Phạm Tiến Hải, Phó Chánh Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh, nguyên Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư).
Tại Vĩnh Long, ngày 21 tháng 3 năm 2023 Chánh Thanh tra tỉnh Vĩnh Long đang kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo tổ chức kiểm điểm trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân của Ban Quản lý khu công nghiệp do liên quan đến việc tham mưu cấP GPXD không đúng theo quy hoạch đối với 03 Công ty trên đất kho bãi, bãi container trong Khu công nghiệp Bình Minh – Thị xã Bình Minh (Ban Quản lý khu công nghiệp thiếu trách nhiệm kiểm tra, giám sát và chấp hành quy định quản lý theo điều chỉnh quy hoạch được UBND tỉnh ban hành. Đồng thời, Ban Quản lý khu công nghiệp còn quản lý chưa nghiêm ngặt trong công tác theo dõi, quản lý, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Công ty Cổ phần cảng Bình Minh).
Tại Cà Mau, UBND Thành phố Cà Mau đang trình phương án cưỡng chế cũng như xử lý trách nhiệm cán bộ, công chức liên quan đến sai phạm đối với công trình biệt thự xây dựng không phép, tọa lạc tại thửa số 441, 442, tờ bản đồ Số 01 do ông Hồ An Tập và bà Kiều Trang đứng tên tại xã Tân Thành, Thành phố Cà Mau (Theo đó, thì cả hai thửa đất này không đủ điều kiện để chuyển mục đích sử dụng từ đất nuôi trồng thủy sản sang đất ở tại nông thôn, do không phù hợp với QHXD).
Tại Kiên Giang, UBND thành phố Phú Quốc đang thực hiện quy trình kiểm điểm đối với 45 cán bộ, công chức, trong đó có: 28 lãnh đạo từ cấp trưởng, phó phòng trở lên và các chủ tịch xã; 17 cán bộ, công chức, viên chức cấp xã là cán bộ địa chính đã để xảy ra sai phạm trong công tác quản lý đất đai và trật tự xây dựng giai đoạn 2018 – 2022 theo Kết luận thanh tra số 10/KL-UBND ngày 02/3/2023 của UBND Tỉnh Kiên Giang (Đội trật tự quản lý đô thị Thành phố Phú Quốc, Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Phú Quốc, UBND phường Dương Đông, An Thới và UBND các xã Cửa Cạn, Bãi Thơm, Gành Dầu, Dương Tơ, Cửa Dương, Hàm Ninh). Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Ngày 21/8/2023, Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Kiên Giang đã xem xét xử lý kỷ luật với hình thức khiển trách đối với 03 cán bộ có hành vi vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, sử dụng đất đai, gồm: ông Huỳnh quang Hưng, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Phú Quốc; ông Trần Chiến Thắng, Bí thư Đảng uỷ, Chánh Thanh tra Tỉnh; ông Trương Thành Tấn, Bí thư Chi bộ, Chánh Thanh tra thành phố Phú Quốc.
Tại Cần Thơ, có trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự do lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cụ thể 7 bị cáo (nguyên là cán bộ, công chức) với chức trách nhiệm vụ được giao, biết rõ kế hoạch sử dụng đất, mặc dù UBND Thành phố đã ban hành nhiều văn bản về đảm bảo quyền sử dụng đất đúng mục đích, không để tình trạng chia lô, phân nền trái phép, xây dựng nhà và công trình kiến trúc vi phạm QHXD, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, nhưng các bị cáo vẫn cho chuyển mục đích sử dụng đất là các hộ gia đình, cá nhân tại phường Long Hòa liên quan đến dự án đường nối Cách Mạng Tháng Tám đến Đường tỉnh 918, tiếp tay cho việc phân lô hộ lẻ, xây dựng trái phép.
2.3. Nhận xét, đánh giá
2.3.1. Kết quả đạt được
UBND cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ đã chủ động tổ chức triển khai thực hiện các VBQPPL liên quan công tác cấp GPXD do CQNN ở trung ương ban hành một cách nghiêm túc, có hiệu quả. Qua đó, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có liên quan cập nhật kịp thời và triển khai thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật.
Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ đã nghiên cứu xây dựng, ban hành, triển khai các các VBQPPL theo thẩm quyền về cấp GPXD phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của các địa phương. Qua đó, đã giải quyết quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân và doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư xây dựng theo đúng quy định của pháp luật, hạn chế tình trạng xây dựng không phép, sai phép trên địa bàn cấp tỉnh.
Thực hiện phân cấp thẩm quyền cấp GPXD được các tỉnh, thành phố tập trung đẩy mạnh theo quy định của pháp luật về điều kiện, thời gian, thành phần hồ sơ và trình tự, TTHC trong cấp GPXD; tăng cường ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong giải quyết TTHC, góp phần tăng sự hài lòng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp khi liên hệ công tác.
Việc giải quyết thủ tục hành chính về cấp phép xây dựng đạt tỷ lệ đúng hạn cao. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Quá trình THPL cấp GPXD hiện nay phát sinh nhiều bất cập, vướng mắc chưa tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp như: hồ sơ cấp GPXD chủ yếu nộp tại bộ phận một cửa, chưa áp dụng hình thức dịch vụ công trực tuyến; các vấn đề liên thông về thủ tục chưa được thực hiện, dẫn đến quá trình cấp phép kéo dài. Một số hạn chế của THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND cấp tỉnh – Miền Tây Nam bộ gồm:
Một là, về tổ chức triển khai thực hiện các VBQPPL do CQNN ở trung ương ban hành. Công tác cấp GPXD bị chi phối bởi nhiều quy định của pháp luật liên quan như: Luật Đầu tư năm 2020, Luật Quy hoạch năm 2017, Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023; Luật Xây dựng năm 2014; Luật Phòng cháy, chữa cháy năm 2001, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020… Những quy định của pháp luật hiện nay còn chồng chéo, chưa thống nhất và chưa sát thực tiễn quản lý. Việc triển khai thực hiện những quy định của pháp luật chưa theo kịp nhu cầu thực tế phát triển của đô thị. Thiếu quy hoạch chung không gian xây dựng ngầm được lập cho đô thị, thiếu quy hoạch điểm dân cư nông thôn. Luật Kiến trúc chỉ yêu cầu quy chế quản lý kiến trúc cần phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc, đặc điểm, điều kiện thực tế của địa phương, chứ chưa yêu cầu cụ thể chi tiết đến công trình xây dựng. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP của Chính phủ bổ sung quy định về giấy phép môi trường (thay thế cho các giấy phép theo quy định của pháp luật cũ như: giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, giấy phép xả thải,…) đối với các nhóm dự án đầu tư xây dựng có phát sinh bụi, khí thải, nước thải ảnh hưởng đến môi trường. Tuy nhiên, căn cứ để cấp giấy phép môi trường phải dựa trên báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được CQNN có thẩm quyền chấp thuận kết quả thẩm định (nếu có); quy chuẩn kỹ thuật môi trường, quy định pháp luật về bảo vệ môi trường; quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia.
Hai là, hạn chế trong ban hành văn bản theo thẩm quyền của UBND cấp tỉnh về cấp GPXD và tổ chức thực hiện các văn bản đã ban hành. Nhiều VBQPPL được ban hành điều chỉnh thủ tục cấp GPXD, song các quy định về điều kiện cấp GPXD của hầu hết UBND các tỉnh, thành phố còn thiếu hay quy định chưa chi tiết, chủ yếu mang tính chất dẫn chiếu VBQPPL, bất cập trong việc thực hiện, thiếu sự đồng bộ, nhất quán từ CQNN cấp trên xuống CQNN cấp dưới hoặc giữa các CQNN có liên quan trong việc giải quyết thủ tục hành chính; từ đó có sự nhầm lẫn trong việc soạn thảo, khi gộp chung nội dung liên quan đến điều kiện và thẩm quyền thành một điều kiện cấp phép xây dựng.
Ba là, về thực hiện phân cấp thẩm quyền cấp GPXD. Một số địa phương đang gặp khó khăn trong việc xem xét thực hiện các thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng đất, địa phương không biết ưu tiên thực hiện thủ tục nào trước, thủ tục nào sau. Có một số trường hợp, doanh nghiệp mặc dù đã đủ điều kiện làm chủ đầu tư, đã chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực để triển khai thực hiện dự án nhưng vẫn phải chờ thời gian lâu vẫn chưa hoàn thành thủ tục đầu tư, do vướng mắc ở khâu chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính trên đất. Mặc dù đã có “đất sạch” để triển khai dự án, tuy nhiên để được cấp GPXD thì gặp một số vướng mắc như: chưa được phê duyệt chủ trương đầu tư, chưa xác định được hình thức giao đất thu tiền sử dụng đất hay đấu giá quyền sử dụng đất, khó khăn trong công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Khó khăn trong việc áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các công trình xây dựng trên đất nông nghiệp. Việc thực hiện các quy trình liên thông trong thủ tục cấp phép xây dựng vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Các quy trình liên thông còn mang tính chất nội bộ trong từng cơ quan, chưa đáp ứng đủ nhu cầu liên thông của các nhiều cơ quan, từ đó dẫn đến các thủ tục chưa được đơn giản hóa, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp khi giải quyết các thủ tục hành chính. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Bốn là, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện, quy trình cấp GPXD. Liên quan đến thực hiện cơ chế một cửa liên thông điện tử trong công tác cấp GPXD, thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành quy chế phối hợp theo cơ chế một cửa liên thông trong công tác cấp GPXD theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014; đồng thời UBND cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện cơ chế một liên thông, có kết nối điện tử, nhằm đáp ứng mục tiêu đơn giản hóa và điện tử hóa thủ tục, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cấp GPXD, trong đó bao gồm các thủ tục: Thẩm định thiết kế cơ sở – Thẩm định thiết kế kỹ thuật/ Thiết kế bản vẽ thi công – cấp GPXD chưa phát huy được hiệu quả.
Nhiều trường hợp còn sai sót trong thẩm định hồ sơ dẫn đến cấp GPXD sai thẩm quyền hoặc vi phạm điều kiện, quy trình cấp GPXD đến mức phải xử lý theo quy định của pháp luật; chất lượng hồ sơ thiết kế đề nghị cấp GPXD của một số trường hợp có quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật cao còn chưa đảm bảo chất lượng, làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết hồ sơ cấp GPXD.
Năm là, về xử lý vi phạm quy định cấp GPXD. Đối với công chức trực tiếp giải quyết hồ sơ, quan điểm xử lý có lúc còn khác nhau. Ví dụ: khi xác định trách nhiệm cung cấp thông tin quy hoạch là trách nhiệm của cơ quan quy hoạch, việc phát sinh thêm yêu cầu đối chiếu với đồ án quy hoạch 1/2000 không phải là nhiệm vụ của cơ quan cấp GPXD, nhưng do tâm lý sợ trách nhiệm, dẫn đến yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện thêm thủ tục đối chiếu. Hoặc vấn đề liên quan đến công trình có tầng hầm, thì việc chưa hình thành công thức tính mang tính áp dụng chung, dẫn đến cách giải quyết mỗi trường hợp mỗi khác nhau, thiếu đồng bộ trong công tác cấp GPXD.
Tóm lại, quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến công tác cấp GPXD vẫn chưa thống nhất rõ ràng. Quy hoạch chi tiết xây dựng, quy chế quản lý quy hoạch, thiết kế đô thị hay kiến trúc đô thị ở các một số tỉnh triển khai thực hiện còn chưa đúng tiến độ quy định, không đủ cơ sở để chấp thuận cấp GPXD, từ đó dẫn đến phát sinh thêm các thủ tục đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quy hoạch cung cấp thêm thông tin chi tiết chỉ tiêu quy hoạch, làm cơ sở cho việc cấp GPXD. Bên cạnh đó, năng lực của một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; chưa thực hiện triệt để cơ chế một cửa liên thông; các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện thủ tục hành chính phối hợp chưa chặt chẽ từ đó dẫn đến hiệu lực, hiệu quả trong giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả vẫn còn yếu.
- Những hạn chế trong THPL về cấp giấy phép xây dựng xuất phát từ các nguyên nhân sau:
Một là, do hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện. Hệ thống VBQPPL làm cơ sở pháp lý cho việc THPL về cấp GPXD ở nước ta chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, còn chồng chéo; quy định mang tính khái quát chung, chưa có hướng dẫn cụ thể, chưa lường trước các tình huống phát sinh trên thực tế; các quy định mới chưa giải quyết triệt để các bất cập của các quy định cũ. Luật Xây dựng sửa đổi, bổ sung năm 2020 có quy định thành phần hồ sơ cấp GPXD, tuy nhiên các quy định còn mang tính chất chung chung. Ngoài ra, các VBQPPL ở từng địa phương có quy định khác nhau về nội dung liên quan cấp GPXD nên việc chi tiết hóa thành phần hồ sơ cấp phép xây dựng là vấn đề cần có sự thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và tổ chức trong quá trình thực hiện giải quyết thủ tục hành chính. Luật Kiến trúc năm 2019 bổ sung quy định về Quy chế quản lý kiến trúc được lập cho các đô thị và điểm dân cư nông thôn của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; trong khi đó, các địa phương ở khu vực miền Tây Nam bộ hầu hết chưa có Quy chế kiến trúc được ban hành để làm cơ sở cấp GPXD. Hay như, công tác cấp GPXD hiện nay bị chi phối ít nhất bởi 07 quy định pháp luật liên quan như: Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Phòng cháy Chữa cháy, Luật Bảo vệ Môi trường [11], [8], [16]. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
Hai là, do hệ thống cơ sở dữ liệu chưa đồng bộ. Hệ thống cơ sở dữ liệu ngành quy hoạch, xây dựng, tài nguyên môi trường hiện nay còn manh mún, thiếu tính hệ thống, thiếu việc cập nhật dữ liệu của từng ngành, lĩnh vực, do một số ngành chưa có phần mềm quản lý chuyên ngành (số hóa dữ liệu; liên thông dữ liệu giữa các ngành, các cấp). Việc tích hợp dữ liệu chưa được thực hiện, dẫn đến cơ chế liên thông, phối hợp cung cấp thông tin gặp khó khăn, mất nhiều thời gian. Công tác phối hợp giữa các cơ quan trong việc cung cấp thông tin, xử lý nội nghiệp liên quan đến công tác cấp phép chưa đồng bộ (ví dụ chỉ tiêu quy hoạch trên văn bản quy hoạch khác và chưa được cập nhật vào đồ án quy hoạch 1/2000).
Ba là, do những yếu tố thuộc về chủ quan của các chủ thể THPL. Năng lực của một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; chưa thực hiện triệt để cơ chế một cửa liên thông; các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện thủ tục hành chính phối hợp chưa chặt chẽ từ đó dẫn đến hiệu lực, hiệu quả trong giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả vẫn còn yếu. Việc niêm yết điều kiện, thành phần, quy trình thực hiện hồ sơ cấp GPXD ở một số cơ quan chưa được thực hiện nghiêm túc, còn tình trạng qua loa, đại khái, chưa cập nhật các quy định pháp luật mới, hoặc chưa cụ thể hóa các quy định pháp luật vào tình hình thực tiễn của địa phương. Thực tế, các địa phương đều có xây dựng Cổng TTĐT, nhưng thông tin không được cập nhật thường xuyên, liên tục, thiếu hẳn việc theo dõi “đường đi” của hồ sơ, để người dân, doanh nghiệp, kiểm tra tiến độ, kết quả xử lý. Quá trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thực tế còn bổ túc nhiều lần, còn sự than phiền của người dân, doanh nghiệp; cơ chế “xin-cho” vẫn còn tồn tại. Các cơ quan còn buông lỏng trong khâu kiểm tra điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng, dẫn đến tình trạng một số trường hợp công trình không khởi công hoặc có gián đoạn trong quá trình thi công xây dựng. Một số trường hợp lách luật để thực hiện làm công trình nhà ở, nhưng sau đó chuyển thành công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, thương mại, y tế, giáo dục…, chưa đảm bảo các điều kiện để cấp GPXD ngay từ đầu, nếu xét đến các yêu cầu về cấp GPXD đối với công trình, dự án.
Bốn là, công tác về thanh tra, kiểm tra trong quá trình THPL về cấp GPXD tại các tỉnh, thành phố chưa thường xuyên. Công tác giám sát đánh giá đầu tư các dự án chưa được thực hiện nghiêm, để tổng kết rút kinh nghiệm, nhìn nhận những tồn tại, hạn chế trong THPL cấp GPXD. Do đó, chưa góp phần vào việc hoàn thiện các quy định pháp luật, quy trình thực hiện hay đề xuất các giải pháp tốt hơn trong quá trình thực hiện cấp GPXD.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
UBND các tỉnh, thành phố kịp thời ban hành các VBQPPL về quản lý cấp GPXD trên địa bàn, đẩy mạnh phân cấp, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, áp dụng cơ chế một cửa liên thông điện tử…, đã góp phần tăng cường công tác quản lý ở địa phương, giải quyết quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân và doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư xây dựng theo đúng quy định của pháp luật, hạn chế tình trạng xây dựng không phép, sai phép trên địa bàn. Tuy nhiên, việc xây dựng và ban hành các VBQPPL về quản lý cấp GPXD trên địa bàn các tỉnh, thành phố tại một số địa phương có nội dung còn chưa thống nhất và chưa đầy đủ; quy trình, thủ tục, thời gian cấp GPXD vẫn còn dài và phức tạp; quy định pháp luật về điều kiện cấp GPXD có thời hạn chưa phù hợp tình hình thực tế, gây khó khăn cho các địa phương trong quá trình triển khai thực hiện; việc áp dụng cơ chế một cửa liên thông điện tử trong cấP GPXD chưa đạt kết quả như mong đợi; trình trạng vi phạm trật tự xây dựng diễn biến phức tạp….
Do đó, trong thời gian tới, UBND các tỉnh, thành phố cần quan tâm hơn nữa công tác quản lý về cấp GPXD, trong đó cần tập trung thực hiện tốt các nội dung như: tổ chức triển khai thực hiện tốt công tác QHXD, đặc biệt đối với quy hoạch chi tiết xây dựng (1/500) để đảm bảo điều kiện cấp GPXD theo quy định; đề xuất Sửa đổi, cải tiến quy trình, rút ngắn thời gian cấp GPXD; ban hành Kế hoạch cụ thể, đề ra lộ trình chi tiết để hình thành Trung tâm cơ sở dữ liệu dùng chung của các CQNN tại địa phương, góp phần thực hiện hiệu quả cơ chế một cửa liên thông điện tử trong cấp GPXD; ban hành Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên đề hàng năm cho đối tượng là cán bộ, công chức quản lý về cấp GPXD; xây dựng Đề án kiện toàn cơ cấu, tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành Xây dựng theo hướng tinh gọn, hiệu quả… Khi các nội dung nêu trên được tập trung lãnh đạo và triển khai thực hiện một cách đồng bộ, quyết liệt thì công tác THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND tại các tỉnh, thành phố Sẽ được nâng lên, góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế – xã hội trên địa bàn phát triển nhanh và bền vững. Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật trong lĩnh vực cấp giấy phép xây dựng UBND
Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND
Luận văn: Thực trạng THPL trong lĩnh vực cấp GPXD của UBND