Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước đối với công giáo ở tỉnh Bình Phước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát về kinh tế – xã hội có ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với công giáo ở Bình Phước

2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Tỉnh Bình Phước được tái lập năm 1997 (tách ra từ tỉnh Sông Bé cũ), là tỉnh thuộc Trung du miền núi ở phía Tây của vùng Đông Nam Bộ. Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai. Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia. Phía Nam giáp tỉnh Bình Dương. Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông và Campuchia với diện tích tự nhiên là 6.857,35 km2; tỉnh Bình Phước có 11 đơn vị hành chính cấp huyện (8 huyện, 2 thị xã, 01 thành phố); 111 xã, phường, thị trấn trong đó có 15 xã biên giới giáp với 03 tỉnh nước bạn Campuchia (Kbong Khmum, Kratie, Mundulkiri) với chiều dài biên giới 260,433km, tỉnh là cửa ngõ đồng thời là cầu nối của vùng với Tây Nguyên và Campuchia.

Địa hình vùng lãnh thổ Bình Phước là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên với đồng bằng, có độ cao trung bình từ 450 – 500m so với mặt nước biển. Do nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu cận xích đạo nên có nhiệt độ trung bình hàng năm khá cao từ 25,6oc đến 27,3oc .

Trên địa bàn tỉnh có 2 con sông lớn, sông Sài Gòn chảy qua phía Tây của tỉnh với chiều dài 136km, là ranh giới tự nhiên giữa Bình Phước và Tây Ninh, Sông Bé chảy theo hướng Bắc Nam rồi đổ ra sông Đồng Nai.

Theo số liệu thống kê, vào năm 1926, ở địa bàn này số người kinh Nam Bộ có 105.968 người, người Kinh Bắc Bộ và Trung Bộ có 4.122 người; người S’tiêng có 11.945 người; người Khmer có 2.469 người; người Chăm có 453 người. Người dân tộc S’tiêng được phân chia thành 3 khu vực cư trú:

Vùng miền núi là nơi cư trú của tộc người S’tiêng Bù Piết, do sống tiếp giáp với nước bạn Campuchia và với dân tộc Êđê, Mơnông Tây Nguyên nên chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ và rõ nét về phong tục tập quán, văn hoá, tín ngưỡng tôn giáo của các dân tộc đó. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Vùng Trung du là nơi cư trú tộc người S’tiêng Bù Lơ, họ sống tiếp giáp với người S’tiêng Bù Piết và người S’tiêng Bù Đếh, luôn có mối quan hệ chặt chẽ về nếp sống phong tục và tập quán, sinh sống chủ yếu làm rẫy, làm ruộng và săn bắt.

Vùng núi thấp là nơi cư trú tộc người S’tiêng Bù Đếh, họ sống tiếp giáp và quan hệ gắn bó với người Kinh, người Kh’mer, người Chăm nên phần nào có ảnh hưởng nhất định về phong tục tập quán và đời sống kinh tế – xã hội.

Cuối năm 1976, qua cuộc vận động định canh định cư, đồng bào DTTS đã bỏ cách sống phân tán trong núi rừng về sống tập trung thành từng cụm dân cư, phum sóc xen kẽ hoặc bên cạnh các thôn của người Kinh. Theo số liệu thống kê, vào những năm 1978, 1979 tại huyện Phước Long có 25.328 người là đồng bào DTTS, chiếm 1/3 dân số của huyện, đông nhất là người S’tiêng với dân số là 20.402 người chiếm 80%. Huyện Lộc Ninh, vào năm 1979, DTTS là 11.479 người, chiếm 78% dân số. Tại huyện Đồng Phú, vào những năm này người DTTS có 3.317 người chủ yếu là người S’tiêng, Khmer chiếm 8,2% dân số của huyện. Huyện Bình Long, DTTS là 14.000 người, chiếm 16% dân số toàn huyện, trong đó người S’tiêng 12.533 người, chiếm 89% dân số dân tộc toàn huyện. Bên cạnh những đặc điểm về phân bố dân cư, mật độ dân số giữa vùng đô thị và nông thôn cũng có sự chênh lệch nhau. Như huyện Phước Long là 97 người/km2; thị trấn Phước Bình (Phước Long) là 62 người/km2; xã Đồng Nai (Bù Đăng) chỉ có 3 người/km2. Do đó việc phân bố lại dân cư, lao động để khai thác tiềm năng đất đai theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và tiếp nhận dân cư, lao động của các huyện là điều cần thiết, nên lúc bấy giờ dân số chung của tỉnh (Sông Bé) là 577.256 người, thì đến năm 1981 lên tới 678.600 người.

Sau giải phóng, tình hình dân số đã biến đổi một cách nhanh chóng. Vào những năm 1982-1984, tỷ lệ gia tăng tự nhiên cao. Theo Cục Thống kê (Sông Bé), năm 1976-1981, tỷ lệ gia tăng tự nhiên là 2,39%, đến năm 1982 là 3,55%. Tỷ lệ sinh rất cao như người S’tiêng ở xã Thọ Sơn là 8,64%, tỷ lệ chết là 3,78%. Dân số trong cộng đồng dân tộc thiểu số của tỉnh Bình Phước ngày càng phát triển nhanh, nói lên sự nâng cao về mức sống và điều kiện vệ sinh y tế ngày càng được bảo đảm.

Toàn tỉnh hiện nay dân số khoảng 927.126 người (số liệu thống kê năm 2013), mật độ dân số 134 người/km2, đồng bào dân tộc thiểu số 182.793 người (chiếm 17,9% dân số). Tín đồ các tôn giáo trên địa bàn tỉnh có 212.791 người, chiếm gần 23% dân số của tỉnh. Trong đó, tín đồ là người dân tộc thiểu số có 74.916 người, chiếm hơn một nửa dân số các DTTS.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công

2.1.2. Phát triển kinh tế 

Đặc điểm kinh tế, xã hội

  • Kinh tế

Trước đây nền kinh tế cổ truyền của các dân tộc thiểu số dựa vào thiên nhiên và mang tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc. Phương thức canh tác phổ biến là phát rẫy, chọc, tỉa. Sau vài năm, đất cằn cỗi, họ bỏ hoang, đi phát nương nơi khác. Hình thức kinh tế săn bắn, hái lượm vẫn có vai trò nhất định trong đời sống kinh tế gia đình. Ngoài ra, các dân tộc thiểu số ở Bình Phước còn có nghề dệt vải, thổ cẩm, đan lát đồ mây, tre, rèn công cụ truyền thống.

Bảo tồn và phát huy truyền thống canh tác của cư dân nông nghiệp lâu đời. Khi di cư đến Bình Phước, cộng đồng người Kinh tiếp tục trồng lúa nước, thâm canh hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản…Đay là nguồn thu nhập chính của cư dân người Kinh. Cùng với trồng trọt, các nghề thủ công nghiệp nhỏ (Mộc, rèn, thêu, đan…); thương nghiệp, dịch vụ cũng phát triển.

Sau ngày giải phóng, nhân dân các dân tộc ở Bình Phước dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ đã thu được những thành tựu nhất định. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Về nông nghiệp: đã thực hiện chủ trương khôi phục các ngành sản xuất chính như ểau, quả, mở rộng diện tích cây lương thực, thực phẩm; tiến hành khai hoang, phục hoá; các phong trào khai hoang, phục hoá, trồng rừng, định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số…được phát động.

Về công nghiệp: Khôi phục các ngành công nghiệp quan trọng như trồng cây Cao su, Cà Phê…

Bước sang thời kỳ đổi mới, Bình Phước có nhiều bước tiến đáng kể. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, các tiềm năng, thế mạnh được khai thác. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển, xuất – nhập khẩu được khuyến khích, đẩy mạnh hợp tác đầu tư với nước ngoài.

Nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện trên cơ sở phát huy thế mạnh về cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả theo hướng đầu tư thâm canh; đất đai được sử dụng có hiệu quả. Bộ mặt nông thôn thay đổi, số hộ giàu và trung bình ngày càng cao. Vùng đồng bào dân tộc được quan tâm đầu tư phát triển.

Lâm nghiệp được phát triển trên cơ sở bảo vệ tài nguyên và phát triển vốn rừng, công tác trồng và chăm sóc rừng được ưu tiên. Quản lý bảo vệ rừng, định canh, định cư cho đồng bào được thực hiện.

Công nghiệp tăng, sản phẩm đa dạng như Điều, Cà Phê, Cao Su và chất lượng sản phẩm được nâng lên và tìm được thị trường tiêu thụ khá ổn định.

Cơ sở hạ tầng được tập trung xây dựng, đáp ứng phần lớn yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Mạng lưới điện đã đến được hầu hết các xã, phường, thị trấn; đường giao thông mở đến tất cả các khu dân cư; mạng lưới bưu chính viễn thông được phủ kín đến tất cả các xã, phường, thị trấn và được đầu tư ngày càng hiện đại.

Những tiềm năng phát triển kinh tế hiện nay:

Về điều kiện tự nhiên: Bình Phước có điều kiện tự nhiên, khí hậu, đặc biệt là đất có chất lượng cao chiếm tới 61% diện tích rất phù hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị cao như cao su, điều, cà phê, tiêu và một số cây trồng hàng năm như bắp, mì, đậu đỗ. Đây là yếu tố cơ bản nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu phong phú để phát triển công nghiệp chế biến, xuất khẩu. Có nguồn tài nguyên khoáng sản, trong đo đáng lưu ý là mỏ đá vôi Tà Thiết cung cấp nguyên liệu cho sản xuất xi măng, cao lanh, đá xây dựng, sét, gạch ngói… đảm bảo cho nhu cầu phát triển trong tỉnh. Tỉnh cũng có tiềm năng lớn về rừng và đất rừng có thể phát triển và khai thác có hiệu quả tiềm năng này.

Về vị trí địa lý: Bình Phước có vị trí địa lý, có điều kiện kết cấu hạ tầng tuy mới bước đầu hình thành (viễn thông, điện, giao thông…) nhưng tương đối thuận lợi cho phát triển. Về điện có đường điện 500 KV di qua, có thuỷ điện Thác Mơ công suất 150 MW, thuỷ điện Cần Đơn công suất 72 MW, thủy điện Skor Phu Miêng công suất 51 MW.

Về giao thông, ngoài các tuyến nội tỉnh khá thuận lợi, còn hai đường quốc lộ lớn QL 13, QL 14 xuyên suốt và nối liền tỉnh Bình Phước với các tỉnh trong cả nước, nước bạn Campuchia và đặc biệt là mở ra hướng giao lưu kinh tế – xã hội với các vùng Tây Nguyên và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đó là những lợi thế so sánh nổi trội của tỉnh, tiền đề cho tỉnh phát triển vững chắc kinh tế – xã hội. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Về công nghiệp: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 8 Khu công nghiệp (KCN) đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận phê duyệt quy hoạch với tổng diện tích 5.244ha. Để phát huy lợi thế và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư hạ tầng, tỉnh đã chia ra thành 19 khu. Hiện nay còn 12 khu, trong đó có 9 khu đã đầu tư xây dựng, 7 khu đã đi vào hoạt động thu hút 139 doanh nghiệp với tổng số vốn đầu tư khoảng  1.087.026 triệu USD (92 doanh nghiệp nước ngoài, 47 doanh nghiệp trong nước) tạo điều kiện cho 30.575 lao động, trong đó 387 lao động là người nước ngoài đến từ các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Úc, Hà Lan….  Về tiềm năng du lịch: Xác định tiềm năng, lợi thế của địa phương để đưa ra định hướng quy hoạch và lựa chọn loại hình du lịch đầu tư phát triển trọng điểm là hết sức cần thiết. Đây là tiền đề quan trọng quyết định đến sự phát triển bền vững của ngành du lịch Bình Phước trong hiện tại và tương lai. Bình Phước có nhiều tiềm năng và rất phù hợp để phát triển loại hình du lịch sinh thái. Vì tỉnh có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng với hàng loạt các danh lam thắng cảnh, vườn quốc gia; có nhiều di tích lịch sử cách mạng và hệ thống các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số bản địa độc đáo.

  • Xã hội

Trong những năm gần đây, Cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, hoạt động văn hóa-thông tin được đẩy mạnh nhất là công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, đặc biệt là trong các dịp lễ, tết và các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, địa phương. Công tác văn hóa thông tin, truyền thanh truyền hình về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu văn hóa-văn nghệ, vui chơi giải trí cho nhân dân.

Tỉnh Bình Phước được đánh giá cơ bản là tỉnh có hệ thống thông tin liên lạc,  phong phú. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai rộng khắp toàn tỉnh trong nhiều năm qua đã đem lại những đổi thay rõ nét, tích cực trong đời sống văn hóa của nhân dân. Đặc biệt, với một địa bàn nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và bản sắc của các dân tộc thiểu số được quan tâm chú trọng góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của đất nước, của địa phương.

Các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, thông tin, truyên truyền được triển khai tích cực và đạt kết quả tốt. Lĩnh vực an sinh xã hội được quan tâm thực hiện tốt, các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất đối với người nghèo, người dân tộc thiểu số tiếp tục được quan tâm thực hiện; công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo được tăng cường, giải quyết đật kết quả cao; công tác cải cách hành chính được các ngành quan tâm chỉ đạo, thường xuyên; Quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được tăng cường.

2.1.3. Dân cư, văn hóa, xã hội Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Đặc điểm dân tộc (tộc người)

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Phước có 41 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số 196.646 người (chiếm khoảng 20% dân số), hội đủ dân cư của 63 tỉnh, thành phố trong cả nước di cư đến lập nghiệp; trong đó  đông nhất là người Kinh và người S‟Tiêng; ngoài ra còn có các dân tộc khác như: Khmer, Tày, Nùng, có số lượng trên 15.000 người.  Người S‟Tiêng là dân tộc bản địa chính của tỉnh Bình Phước và cũng là địa bàn sinh sống tập trung nhất của người S‟Tiêng trên cả nước.

Vào những năm 1904, người S’tiêng cư trú tại núi Bà Đen (tỉnh Tây Ninh) và núi Bà Rá (tỉnh Phước Long cũ). Như vậy, vùng lãnh thổ mà bộ tộc người S’tiêng có khả năng cư trú rộng từ tỉnh Tây Ninh qua Sông Bé đến lưu vực sông Đăk Quít tiếp giáp Campuchia. Theo một tác giả người Pháp là (Raulin) vào năm 1875 các sóc người S’tiêng, Khme ở  vùng Hớn Quản mang địa danh Hán Việt do triều đình nhà Nguyễn đặt cho như An Lộc, Bình Tây, Đông Phất, Đồng Nơ, Xuân La, Nha Bích… (nay thuộc huyện Bình Long và huyện Chơn Thành).

Người  Stiêng được phân chia thành 3 khu vực cư trú:

Vùng miền núi là tộc người S‟tiêng Bù Piết sống tiếp giáp với nước bạn Campuchia, dân tộc Êđê, Mơnông Tây Nguyên. Do đó, chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ và rõ nét về phong tục tập quán, văn hoá, tín ngưỡng tôn giáo.

Vùng Trung du là tộc người Sơtiêng Bù Lơ được sống tiếp giáp với người Sơtiêng Bù Piết và người Sơtiêng Bù Đếh, luôn có mối quan hệ chặt chẽ về nếp sống phong tục và tập quán sinh sống chủ yếu làm rẫy, làm ruộng và săn bắt.

Vùng núi thấp là tộc người Sơtiêng Bù Đến được sống tiếp giáp và quan hệ gắn bó với người Kinh, người Khơmer, người Chăm. Vì vậy phần nào có ảnh hưởng nhất định về phong tục tập quán và đời sống kinh tế – xã hội.

  • Sự hình thành và phân bố dân cư từ sau năm 1975:

Ngay từ sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng thống nhất nước nhà. Đảng và Nhà nước các cấp đã có những chủ trương chính sách vận động đồng bào các dân tộc thiểu số cùng chung sức trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới trên quê hương mình, đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế xã hội tiến hành cuộc vận động định canh định cư, văn hoá giáo dục, phát triển kinh tế trong vùng các dân tộc thiểu số của tỉnh.

Sau giải phóng, tình hình dân số đã biến đổi một cách nhanh chóng vào những năm 1982 – 1984 tỷ lệ gia tăng tự nhiên có khuynh hướng gia tăng cao, theo số liệu của Cục Thống kê (Sông Bé) năm 1976 – 1981 thì tỷ lệ gia tăng tự nhiên là 2,39%, đến năm 1982 tăng tự nhiên là 3,55%. Một hiện tượng rất phổ biến ở đồng bào dân tộc thiểu số  sau ngày giải phóng là tỷ lệ sinh rất cao như người S’tiêng ở xã Thọ Sơn 8,64%, tỷ lệ chết 3,78%, nguyên nhân này là do tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số, bởi vì dưới chế độ tộc quyền và phương thức canh tác nguyên thuỷ, sinh con đông nhất là con gái sẽ được giàu có về của cải và lao động. Vậy thì có thể nói từ năm 1975 đến nay dân số trong cộng đồng dân tộc thiểu số  của tỉnh Bình Phước ngày càng hồi sinh và phát triển nhanh. Điều này nói lên sự nâng cao về mức sống và điều kiện vệ sinh y tế ngày càng được cải thiện và bảo đảm. Đặc biệt trong các thành phần dân tộc thiểu số, người Stiêng có tỷ lệ gia tăng dân số rất cao, đó là đặc điểm về dân số ở đồng bào dân tộc thiểu số trong điều kiện hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

  • Về văn hóa

Bình Phước là nơi định cư và sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau, nên các loại hình văn hóa, tín ngưỡng dân gian ở Bình Phước hết sức phong phú và đa dạng. Nổi bật Bình Phước có nhiều nét văn hóa của người S’tiêng, ngoài ra tỉnh còn có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như Liên hoan văn hóa các dân tộc thiểu số vào tháng 12 hàng năm, lễ hội cầu mưa của người S’tiêng, lễ bỏ mả, lễ mừng lúa mới của người Khmer,…

Ngoài người Kinh và các nhóm dân tộc thiểu số từ miền Bắc di cư đến. Hiện nay, ở tỉnh Bình Phước chủ yếu có 3 dân tộc người tại chỗ, đó là các dân tộc Khmer, S’tiêng, Mnông. Do dân di cư từ các miền về tỉnh Bình Phước nên đã có sự giao lưu, hội nhập phong tục tập quán của các cư dân. Từ đó, tạo nên sự đa dạng của văn hoá các dân tộc ở Bình Phước.

Đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước có một kho tàng văn hoá dân gian hết sức phong phú, độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc. Bản sắc văn hoá đó được thể hiện ở tín ngưỡng đa thần nguyên thuỷ. Tín ngưỡng dân gian này chi phối khá mạnh nền văn hoá nghệ thuật của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong kho tàng văn hoá dân gian còn chứa đựng một kho tàng văn học rất phong phú, trong đó có tục ngữ, ca dao, dân ca,…

Trình độ văn hóa của cư dân Bình Phước sau giải phóng đến nay được nâng lên rõ rệt, số người có trình độ đại học, cao đẳng cũng tăng nhanh. Mặc dù vậy, vẫn cần thấy rằng số người có trình độ đại học, cao đẳng vẫn còn thấp so với dân số.

Riêng trình độ văn hoá của người dân tộc thiểu số quá thấp so với người Kinh.

2.2. Thực trạng Công giáo ở tỉnh Bình Phước

2.2.1. Khái quát về tôn giáo ở Bình Phước

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 08 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Hồi giáo, Phật giáo Hòa hảo, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam và đạo Baha‟i với tổng số khoảng 1.432 chức việc, 221.514 tín đồ (chiếm tỷ lệ khoảng 23,5% dân số toàn tỉnh), sinh hoạt tại 264 cơ sở thờ tự, 218 chức sắc, nhà tu hành, cụ thể:

Đạo Công giáo có 03 Giáo hạt, gồm: Giáo hạt Phước Long, Giáo hạt Đồng Xoài thuộc Giáo phận Buôn Mê Thuột và Giáo hạt Bình Long thuộc Giáo phận Phú Cường với tổng cộng 61Giáo xứ, 38 Giáo họ, 01 Trung tâm hành hương, 09 Cộng đoàn 05 Dòng tu đã được chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, với 73 linh mục, 108.495 tín đồ, hơn 230 tu sĩ.

Phật giáo có 126 cơ sở thờ tự, 58.651 tín đồ, 121 chức sắc, nhà tu hành.

Đạo Tin lành có 33 hệ phái, 67 chức sắc, 60 Chi hội thuộc Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), 01 Hội thánh Báp tít và 01 Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam. 03 Ban Đại diện 371/373 điểm nhóm đã đăng ký sinh hoạt theo Chỉ thị số 01 của Thủ tướng Chính phủ với tổng số 60.473 tín đồ.

Đạo Cao Đài có 03 Họ đạo, với tổng số 3458 tín đồ, 11 chức sắc; Hồi giáo có 294 tín đồ, 02 chức sắc, 02 cơ sở thờ tự.

Phật giáo Hòa Hảo có 134 tín đồ. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam có 15 tín đồ (đã thành lập được Ban Đại diện tại tỉnh với 05 thành viên).

Đạo Baha‟i có 12 tín đồ (đã thành lập Hội đồng tôn giáo Baha‟i tại phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long gồm 09 thành viên); các tôn giáo này chưa có chức sắc và cơ sở thờ tự.

Ngoài 08 tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, hiện nay trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện một số tà đạo, đạo lạ như: Nhất quán đạo, Thanh Hải vô Thượng sư, Pháp luân công, Ngọc Phật Hồ Chí Minh,… Các tà đạo này có số lượng người tin theo ít, phạm vi hoạt động tại một số địa phương, truyền đạo lén lút và thường xuyên thay đổi địa bàn hoạt động. Hiện nay trên địa bàn tỉnh tình hình hoạt động của các tà đạo, đạo lạ diễn biến phức tạp, các ngành chức năng, chính quyền địa phương đang theo dõi, ngăn chặn, xử lý.

Nhìn chung, hoạt động của các cá nhân và tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh cơ bản tuân thủ pháp luật; các chức sắc, chức việc, tín đồ tin tưởng vào chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Các tổ chức tôn giáo tăng cường việc xây dựng cơ sở thờ tự, thành lập đơn vị tôn giáo cơ sở, xin giao đất, cấp GCNQSD đất, thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, tăng cường việc truyền đạo. Tuy vậy, tình trạng xây dựng, cơi nới, sửa chữa cơ sở thờ tự và sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật vẫn còn xảy ra ở một số nơi. Đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

2.2.2. Hoạt động của Công giáo ở Bình Phước

2.2.2.1. Khái quát về Công giáo Bình Phước

Giai đoạn từ giữa thế kỷ 19 đến năm 1954

Ngay từ rất sớm khu vực tỉnh Bình Phước ngày nay đã nằm trong tâm điểm truyền giáo của giáo sĩ Công giáo. Sau nhiều năm đến năm 1851 các giáo sĩ của Pháp đã thiết lập được một Hội truyền giáo trong vùng đồng báo DTTS S‟tiêng  cách Bù Đốp ngày nay 15km. Đến đầu thế kỷ XX có khoảng 10 hộ người Kinh theo đạo Công giáo (khoảng 40-50 giáo dân) đến cư trú tập trung thành một cộng đoàn nhỏ tại xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh ngày nay. Năm 1933, giáo họ Lộc Tấn được thành lập và xây dựng tại xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh. Đây là cơ sở thờ tự đầu tiên của đạo Công giáo được xây dựng ở tỉnh Bình Phước; sự kiện này đã đánh dấu sự có mặt của đạo Công giáo sau quá trình thâm nhập bắt đầu bám rễ và phát triển trên mảnh đất Bình Phước.

Bên cạnh sự gia tăng số lượng giáo dân tại các đồn điền cao su trên, còn có 03 Cộng đoàn giáo dân di cư tự do vào Bình Phước vào những thời điểm khác nhau như: tại khu vực xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng có 10 giáo dân từ Vĩnh Long lên; tại khu vực thị trấn Đức Phong có 65 giáo dân di cư tự do từ miền Bắc và 10 giáo dân sống rải rác ở Trung tâm Bà Rá, Phước Long.

Đến năm 1954, đạo Công giáo có mặt trên địa bàn toàn tỉnh Bình Long, Phước Long (cũ). Tín đồ là những người tin theo Công giáo “theo Chúa vào Nam” năm 1954 và do di dân lập ấp chiến lược (của chế độ Ngô Đình Diệm) đưa đến khai khẩn kinh tế và phục vụ cho âm mưu chính trị của chúng. Trong số hơn 543.000 giáo dân và 809 linh mục từ Bắc di cư vào Nam có khỏang từ 14.000 đến 15000 giáo dân và 20 linh mục di cư vào tỉnh Bình Long, Phước Long (cũ).[nguồn Địa chí Bình Phước tập 1,2.]

Như vậy, đến năm 1954 theo số liệu thì số lượng tín đồ Công giáo ở Bình Phước khoảng hơn 16.000 giáo dân  915.000 di cư, 1.500 làm công nhân đồn điền) với 03 Nhà thờ kiên cố (Lộc Ninh, Lộc thiện, Lộc Tấn và 01 nhà thờ bán kiên cố (Phú Riềng) [nguồn Địa chí Bình Phước tập 1,2].

Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975 Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Từ năm 1955 đến 1975, đạo Công giáo phát triển khá mạnh, số lượng tín đồ tăng nhanh, nhiều nhà thờ, cơ sở thờ tự, dòng tu được xây dựng do thời điểm này chế độ Ngụy quyền Sài Gòn đang quản lý, nhằm mở rộng địa bàn tôn giáo làm lá chắn phía Tây Bắc cho chế độ Ngụy quyền Sài Gòn.

Đặc biệt là từ năm 1955 đến 1965 chỉ trong vòng 10 năm số lượng giáo dân tại tỉnh Bình Phước đã lên đến gần 20.000 với 22 cơ sở thờ tự được thành lập gồm 15 giáo xứ, 6 giáo họ và 01 Trung tâm hành hương được chia thành 2 giáo hạt Phước Long và Bình Long thuộc sự quản lý của hai giáo phận Buôn Mê Thuột và Phú Cường.

Đến năm 1975, Đạo Công giáo ở tỉnh Bình Phước có 07 giáo xứ, giáo họ thuộc giáo hạt Bình Long trực thuộc Toà Giám mục Phú Cường – tỉnh Bình Dương; 15  giáo xứ, giáo họ, 01 Trung tâm hành hương thuộc giáo hạt Phước Long trực thuộc Toà Giám mục Buôn Mê Thuột – tỉnh Đăk Lăk. Các chức sắc giáo hội Công giáo đã thâm nhập truyền đạo rộng ra vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện Bù Đăng, Phước Long, Lộc Ninh, nhưng phát triển được số lượng tín đồ không nhiều do truyền thống đa thần của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa S‟Tiêng, M‟Nông, chỉ có khoảng 2.500 người tin theo.

Giai đoạn từ năm 1975 đến nay   

Thời kỳ từ 1975 đến 1990

Sau giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, tại tỉnh Bình Phước có 23 cơ sở của đạo Công giáo; tất cả các giáo xứ, giáo họ đều không có linh mục trong coi do di tản về tòa giám mục và phần lớn giáo dân đi di tản nơi khác, đa số cơ sở thờ tự bị chiến tranh tàn phá nặng nề; quá trình truyền đạo phát triển tín đồ và ảnh hưởng của đạo Công giáo chững lại một thời gian dài; lý do:

Sau thời điểm giải phóng miền Nam 30/4/1975 Nhà nước ban hành Quyết định số 111/CP ngày 17/4/1977 của Hội đồng Chính phủ “về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo Xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía Nam” trong đó có nội dung về nhà, đất liên quan đến tôn giáo, cụ thể:

  • Nhà nước bảo hộ mọi nhà thờ, chùa chiền, miếu mạc, thánh thất được thực sự và thuần túy dùng vào việc thờ cúng hành đạo.
  • Nhà nước tịch thu toàn bộ nhà, đất của các Đoàn Hội các tổ chức không được nhà nước thừa nhận và cho phép hoạt động.
  • Nhà, đất của các đoàn, hội, các tổ chức khác và của các tôn giáo hiện đang cho thuê được giải quyết theo chính sách chung về nhà, đất cho thuê. Riêng đối với các nhà tập trung của các tổ chức, các tôn giáo đã cho hội viên, giáo dân của mình nhờ, hoặc ở thuê với giá rất r mà không nằm trong phạm vi nơi thờ cúng, hành đạo thì Nhà nước có thể xét cấp hẳn cho người đang sử dụng.
  • Những nhà cửa đất đai khác còn bỏ trống hoặc dùng vào mục đích không phải thờ cúng, hành đạo, thì Nhà nước vận động thuyết phục giáo dân giao cho Nhà nước dùng vào việc phục vụ lợi ích chung của địa phương.

Vì vậy, hoạt động của đạo Công giáo vào thời điểm sau giải phóng miền Nam 1975 đến năm 1985 hầu như không phát triển; do Nhà nước đã trưng dụng một phần đất đai của các tổ chức tôn giáo để sử dụng vào các công trình công cộng và vào thời điểm đó thì tôn giáo của nước ta phát triển không mạnh, một số cơ sở thờ tự cũ không hoạt động hoặc có hoạt động nhưng cầm chừng , giáo dân di cư đi làm ăn nơi khác, không có linh mục coi sóc mục vụ.vv.

Từ năm 1986, cùng với chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, số lượng tín đồ tăng đột biến do chính sách di dân khai khẩn vùng kinh tế mới; giáo dân ở khắp 3 miền Bắc –Trung – Nam các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, TP.HCM. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Thời kỳ từ 1990 đến nay

Sau thời kỳ nhạt đạo, đến đầu những năm 1990 cùng với đường lối đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta; đạo Công giáo bắt đầu phát triển mạnh trở lại, đồng thời bới quá trình phát triển dân số tự nhiên, Bình Phước tiếp tục diễn ra quá trình tăng trưởng dân số cơ học với nhịp độ lớn, chủ yếu là dân di cư tự do, trong đó có nhiều người theo đạo Công giáo; đo đó số lượng tín đồ phát triển nhanh, đây là nguồn bổ sung số lượng giáo dân cho các cộng đoàn, giáo điểm. Vì vậy, trong thời gian này đã hình thành thêm một số giáo xứ, giáo họ mới. Để khắc phục tình trạng thiếu linh mục chăm coi mục vụ và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho giáo dân; Tòa giám mục đã cử một số linh mục về làm chính xứ, quản nhiệm các giáo xứ, giáo họ.

Khi tỉnh Bình Phước được tái lập ngày 01/01/1997, trên địa bàn tỉnh có khoảng 67.000 giáo dân với 46 cở sở của đạo Công giáo, 23 linh mục, 12 nữ tu. Tuy nhiên với 46 cơ sở thờ tự của đạo Công giáo thì có 23 cơ sở có trước năm 1975, 23 cơ sở còn lại hình thành sau năm 1975 do dân di cư tự do vào lập kinh tế.    

Từ năm 2000 trở đi đến 2010

Là thời kỳ mở của hội nhập sâu rộng của đất nước ta với thế giới; thu hút đầu tư phát triển xã hội, kinh tế hạ tầng nhất là bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tại tỉnh Bình Phước sau khi tái lập điều kiện kinh tế-xã hội gặp nhiều khó khăn đến lúc này đã có những bước phát triển nhanh chóng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao rõ rệt, kinh tế phát triển manh nhất là cây công nghiệp như cao su, cà phê, các khu công nghiệp được xây dựng và phát triển nhanh chóng. Công giáo thời ký này phát triển mạnh, đời sống giáo dân tăng cao, cơ sở thờ tự, vật chất của các giáo xứ, giáo họ được xây dựng khang trang đáp ứng cơ bản nhu cầu sinh hoạt của bà con giáo dân. Ngoài ra chính quyền tỉnh đã xem xét thành lập thêm 31 cơ sở tôn giáo và chấp thuận bổ nhiệm 15 linh mục về làm Quản xứ, quản nhiệm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của tín đồ giáo dân ở vùng sâu, vùng xa, những nơi chưa có cơ sở thờ tự.

Tính đến năm 2010, toàn tỉnh có 90.225 tín đồ; 36 giáo xứ, 18 giáo họ; 38 Linh mục thuộc Giáo hạt Bình Long (Toà Giám mục Phú Cường – tỉnh Bình Dương) và Giáo hạt Phước Long (Toà Giám mục Ban Mê Thuột – tỉnh Đăk Lăk).

Trong giai đoạn này hoạt động của đạo Công giáo nổi lên việc sai phạm có tính hệ thống của một số chức sắc thuộc Giáo hạt Phước Long như việc chỉ đạo cho xây dựng, sửa chữa không xin phép, tổ chức lễ hội đông người từ nhiều địa phương (không có truyền thống, không phải lễ hội tôn giáo), chỉ đạo bầu Ban hành giáo, Hội đồng Giáo xứ không theo nguyên tắc, không được sự thống nhất của chính quyền, khôi phục các hội đoàn trước năm 1975 không đúng tính chất, không xin phép chính quyền và có thái độ hoạt động chống đối; tình trạng mẫu thuẫn trong nội bộ cơ sở tôn giáo; khiếu kiện tố cáo và đòi lại cơ sở, nhà đất trước đây, sự thiếu hợp tác, gắn kết với chính quyền của một số chức sắc….. Bên cạnh đó, hiện có nhiều tổ chức hội đoàn, các cơ sở trực thuộc Dòng tu chưa quản lý được. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Từ năm 2010 đến nay (năm 2015)

Tính đến hết năm 2015, Đạo Công giáo có 03 Giáo hạt, gồm: Giáo hạt Phước Long, Giáo hạt Đồng Xoài thuộc Giáo phận Buôn Mê Thuột và Giáo hạt Bình Long thuộc Giáo phận Phú Cường với tổng cộng 57 Giáo xứ, 40 Giáo họ, 08 Cộng đoàn thuộc 04 Dòng tu được cấp GCN đăng ký hoạt động với 59 linh mục, 98.477 tín đồ. Ngoài ra còn có khoảng 30 Cộng đoàn thuộc các Dòng tu chưa được cấp GCN đăng ký hoạt động; 01 Trung tâm Hành hương tại thị xã Phước Long.

Trong giai đoạn này tình hình hoạt động của đạo Công giáo nhìn chung đã có bước ổn định hơn trước, một số vi phạm xảy ra trong việc tổ chức lễ trái phép, xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự trái phép, vi phạm của các linh mục cũng đã giảm so với trước đây.

Công tác Quản lý nhà nước về tôn giáo, hoạt động của chức của các tổ chức, cá nhân tôn giáo để nhằm chấn chỉnh, xử lý kịp thời những vi phạm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân tôn giáo trên địa bàn; kết quả:

Đối với cơ quan, cán bộ quản lý Nhà nước về tôn giáo: UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng tham mưu UBND tỉnh tiến hành kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với 01 tập thể UBND huyện; kiểm điểm 02 Phòng Nội vụ, 46 UBND cấp xã, phường, thị trấn và xử lý kỷ luật đối với 29 cán bộ công chức vi phạm. Trong đó kiểm điểm rút kinh nghiệm 16 cán bộ, công chức và có hình thức kỷ luật đối với 13 cán bộ, công chức (Cảnh cáo 03, khiển trách 10).

Như vậy, sau hơn một thế kỷ du nhập, định hình và phát triển ở Bình Phước, đến nay đạo Công giáo đã tìm được chỗ đứng vững chắc với số lượng tín đồ đông nhất và đạo Công giáo trở thành tôn giáo lớn mạnh nhất với hệ thống, cơ cấu quản lý vững chắc, đội ngũ linh mục được đào tạo bài bản. Bên cạnh đó, sự có mặt của khoảng 18 Dòng tu (06 nam, 12 nữ) thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau như: giáo dục, y tế, giảng dạy giáo lý, chăm sóc thanh thiếu niên nhi đồng, hoạt động từ thiện xã hội… nhưng nhiệm vụ quan trọng nhất vẫn là thực hiện truyền giáo mở rộng „nước Chúa” đã tô điểm thêm bức tranh sinh động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

2.2.2.2. Số lượng tín đồ và sự phân bố của đạo Công giáo ở Bình Phước

Tính đến hết năm 2018 trên địa bàn tỉnh  đạo Công giáo có 03 Giáo hạt, gồm: Giáo hạt Phước Long, Giáo hạt Đồng Xoài thuộc Giáo phận Ban Mê Thuột và Giáo hạt Bình Long thuộc Giáo phận Phú Cường với tổng cộng 61 Giáo xứ, 38 Giáo họ, 01 Trung tâm Hành hương; 10 Cộng đoàn thuộc 05 Dòng tu với 67 Linh mục, 496 chức việc, 107.499 tín đồ, 200 tu sỹ. (trong đó có khoảng 30.324 tín đồ là đồng bào dân tộc thiểu số) được phân bố rải rác ở khắp 111 xã, phường, thị trấn.

Tuy nhiên sự phân bố của đạo Công giáo không đồng đều do yếu tố khác nhau như: Theo giáo phận thì giáo phận Ban Mê Thuột (82.000 giáo dân, 73 cơ sở thờ tự) có số lượng tín đồ, cơ sở thờ tự lớn hơn rất nhiều so với giáo phận Phú

Cường  (25.000 giáo dân, 27 cơ sở tôn giáo); phân bố không đồng đều theo địa bàn (Tại thị xã Phước Long tập trung đông tín đồ nhất với khoảng 20.000 tín đồ, huyện Bù Đăng có khoảng hơn 23.000 tín đồ, tại các huyện thị còn lại chỉ có khoảng từ 3000-5.000 giáo dân/1 huyện); theo khu vực thành thị chủ yếu là người kinh, khu vực nông thôn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số.

2.2.2.3. Hệ thống tổ chức giáo hội và đội ngũ chức sắc, chức việc đạo Công giáo

Hệ thống tổ chức giáo hội Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Đạo công giáo là một tôn giáo có hệ thống tổ chức chặt chẽ, hoàn chỉnh; hệ thống  tổ chức giáo hội cơ sở được hình thành và thiết lập cùng với quá trình truyền giáo. Tổ chức giáo hội cơ sở là cầu nối giữa giáo dân với giáo hội là nơi trực tiếp triển khai và thực hiện chủ trương của giáo hội.

Theo quy định của pháp luật tại Điều 3 Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 và giáo luật đạo Công giáo thì giáo xứ là cấp hành chính đạo cuối cùng. Tuy nhiên trong thực tế do điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh nên tại Bình Bình Phước dưới các giáo xứ còn có giáo họ trực thuộc. Các giáo họ này là những cơ sở vệ tinh của giáo xứ được lập ra để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho bộ phận giáo dân ở cách xa giáo xứ hàng tuần có linh mục vê dâng thánh lễ. Sau khi các giáo họ này phát triển thì giáo hội (Tòa giám mục) sẽ nâng cấp lên thành các giáo xứ và bổ nhiệm linh mục về trông coi sóc tại đây. Do vậy từ khi tách tỉnh năm 1997 đến nay năm 2016 số lượng cơ sở thờ tự của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh tăng rất nhanh từ 23 lên 97 cơ sở thờ tự.

Công giáo ở tỉnh Bình Phước cũng theo xu hướng chung về hệ thống giáo hội cơ sở theo Quy chế Hội đồng mục vụ giáo xứ năm 2002 của giáo hội. Các giáo xứ, giáo họ đều thành lập Hội đồng giáo xứ, Ban hành giáo gồm 5 thành viên: Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch, 01 Thư ký, 01 Thủ quỹ hay thường gọi là chức việc được bầu cử theo nhiệm kỳ. Dưới Hội đồng này còn có các ban nghi lễ, ban nam giới, ban phụ nữ, thanh niên, thiếu nhi. Để nâng cao chất lượng của tổ chức giáo hội cơ sở, Tòa giám mục hàng năm tổ chức tĩnh tâm cho các Ban hành giáo xứ, giáo họ và các hội đoàn theo cụm hoặc khu vực để kiểm điểm, rút kinh nghiệm và đề ra phương hướng hoạt động cho năm tới.

Thực trạng đội ngũ chức sắc, chức việc Công giáo ở Bình Phước

Đi đối với việc phát triển tín đồ, thành lập các cơ sở tôn giáo; thì hoạt động củng cố, đào tạo đội ngũ chức sắc, giáo sỹ được quan tâm do thiếu chức sắc quản lý các giáo xứ, giáo họ; Với sự phát triển của xã hội cùng nhu cầu của giáo dân nên nhiều cơ sở mới được thành lập nhằm đáp ứng nguyện vọng cho bà con. Nhưng bên cạnh đó số lượng Linh mục hiện nay của 02 Giáo hạt Phước Long và Đồng Xoài chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc mục vụ của giáo dân. Trong tổng số 73 cơ sở (35 Giáo xứ, 38 Giáo họ) chỉ có 33 Linh mục (21 Linh mục Quản xứ, 08 Linh mục phó xứ và 04 Linh mục phụ tá) trực tiếp Quản xứ và Quản nhiệm. Vì vậy có đến 15 Linh mục phải kiêm nhiệm mục vụ từ 02 cho đến 04 cơ sở tôn giáo.  

Từ năm 2000 đến nay UBND tỉnh đã chấp thuận cho 43 công dân đi đạo tạo Linh mục tại các Đại chủng viện; Theo thống kê hiện nay có 24 tu sỹ đang được cử đi đào tạo tại Đại Chủng viện Sao Biển Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn ở Thành phố Hồ Chí Minh; 19 tu sỹ đã hoàn thành chương trình đào tại Đại chủng viện được UBND tỉnh chấp thuận phong chức Linh mục hiện đang là Quản xứ, Phó xứ tại các cơ sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh.

Thực trạng đội ngũ chức việc

Chức việc là một đội ngũ tín đồ có chức vụ trong các giáo xứ, giáo họ giúp Linh mục quản lý các cơ sở tôn giáo và làm cầu nối liên hệ với chính quyền địa phương để giải quyết những công việc liên quan; hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 485 chức việc, phục vụ tại 97 giáo xứ, giáo họ. Hội đồng giáo xứ, Ban hành giáo gồm 5 thành viên: Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch, 01 Thư ký, 01 Thủ quỹ được bầu cử hoạt động theo nhiệm kỳ. Đội ngũ chức việc trên địa bàn tỉnh trong những năm qua hoạt động rất tích cực, góp phần xây dựng các cơ sở của đạo Công giáo ngày càng phát triển, ổn định, hoạt động tuân thủ quy định của pháp luật; đội ngũ chức việc hàng năm được các cấp, các ngành thường xuyên tuyên truyền phổ biến chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để về vận động giáo dân thực hiện đúng theo quy định.

2.2.2.4. Thực trạng hội đoàn, dòng tu của đạo Công giáo

Thực trạng hội đoàn Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Hiện nay tại các giáo xứ, giáo họ đều có các hội đoàn hoạt động dành riêng cho từng lứa tuổi, hoặc giới tính, nghề nghiệp như: Hội Hiền mẫu, Hội gia trưởng, Hội Lê giô, Hội Thiếu nhi, Hội thanh niên, Hội gia đình…. và các Hội đoàn  phục vụ lễ nghi tôn giáo như: Ca đoàn, Hội văn nghệ, kèn trống, ca nhạc….

Trong những năm gần đây các Hội đoàn ở tỉnh Bình Phước có xu hướng khôi phục và phát triển mạnh; tính đến nay toàn tỉnh có khoảng hơn 200 Hội đoàn hoạt động ở trong các giáo xứ, giáo họ với 10 loại hội khác nhau thu hút khoảng 10.000 người tham gia (chiếm  khoảng 10% đạo Công giáo). Nội dung hoạt động của Hội đoàn có nhiều loại như: Hội phục vụ nghi lễ, hội từ thiện nhân đạo, hội tập hợp quần chúng. Nguyên nhân tham gia các Hội đoàn này ngày càng tăng là do các hội đoàn này ngoài mục đích phát triển đạo còn trực tiếp huy động giáo dân thực hiện nghĩa vụ của tín đồ đối với giáo hội. Hội đoàn Công giáo có tính đặc thù khác so với với các hội quần chúng ngoài xã hội và việc giáo dân Công giáo tham gia ngày Càng đông vào các Hội đoàn là do các tổ chức Đoàn thể chính trị ở vùng giáo chưa thực sự thu hút giáo dân tham gia.

Tuy nhiên hiện nay ngoài các Hội đoàn thành lập với mục đích phục vụ lễ nghi tôn giáo không phải đăng ký thì các Hội đoàn còn lại trên địa bàn tỉnh hoạt động không thực hiện đăng ký theo quy định của pháp lênh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004 và Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ; do đó gây khó khăn cho công tác quản lý đối với những họat động của các Hội đoàn này.

Thực trạng dòng tu

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 18 dòng tu (12 nữ, 06 nam) chủ yếu có trụ sở dòng chính ở các tỉnh, thành phố khác đến hoạt động; trong đó có 08 cộng đoàn thuộc 04 dòng tu nữ được Ban Tôn giáo Chính phủ cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động theo dòng chính và Ban Tôn giáo tỉnh cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho 04 Cộng đoàn.

Ngoài ra còn có 30 cộng đoàn (09 nam, 21 nữ) hay còn gọi là cơ sở trực thuộc dòng tu đang sinh hoạt trên địa bàn tỉnh chưa được cơ quan có thẩm quyền xác nhận là cơ sở trực thuộc dòng làm cơ sở để Ban Tôn giáo Chính phủ cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động và Ban Tôn giáo tỉnh cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo theo Công văn số 830/TGCP-CG của Ban Tôn giáo Chính phủ.

Việc chia tách, thành lập các cộng đoàn.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Phước không có việc chia tách, thành lập đối với các cộng đoàn thuộc các dòng tu đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, các cộng đoàn thuộc các dòng tu này hoạt động tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Đối với các cộng đoàn, dòng tu chưa được cấp đăng ký hoạt động diễn ra khá phức tạp. Khi thành lập, chia tách các cộng đoàn các dòng tu không thực hiện đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định, do đó hiện nay ta chưa quản lý được hoạt động của các cộng đoàn này.

Các cộng đoàn dòng tu Công giáo được chia tách, thành lập nhằm mục đích chủ yếu để về các cơ sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh để chăm lo, phục vụ các nghi lễ tôn giáo tại các Giáo xứ, tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện nhân đạo.  

Nhiều cộng đoàn, dòng tu không muốn đăng ký, cho rằng thủ tục rờm rà, đăng ký sẽ bị chính quyền quản lý… vì vậy đa số các cộng đoàn, dòng tu được Bề trên dòng mua đất để tu sĩ đến làm kinh tế. Khi các tu sĩ chuyển đến đăng ký với chính quyền địa phương là người đi làm kinh tế có tín ngưỡng, tôn giáo là đạo Công giáo. Phần lớn những người đi làm kinh tế này không tổ chức hoạt động tôn giáo mà chỉ cầu nguyện tại gia. Do không đăng ký hoạt động nên công tác quản lý đối với các cộng đoàn này chỉ ở mức theo dõi, như cộng đoàn thuộc dòng Thánh gia (Long Xuyên – An Giang) thôn Đồng Tâm, xã Phước Tân, huyện Phú Riềng; cơ sở thuộc Đan Viện Thánh Mẫu Phước Sơn tại thôn 1, xã Đường 10, huyện Bù Đăng…

2.2.2.5. Thực trạng đất đai, cơ sở thờ tự của đạo Công giáo Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 06 cơ sở nhà đất liên quan đến tôn giáo của đạo Công giáo với diện tích đất khoảng 40.922m2; diện tích cơ sở thờ tự 1.500m2.

Đất của những cơ sở trên được Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả vào các công trình công cộng ở địa phương. Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh không có tình trạng kiến nghị, khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp, tài sản có nguồn gốc tôn giáo. Các cơ sở tôn giáo được Nhà nước trưng dụng, trưng dụng hoán đổi, mua lại hoặc cơ sở tôn giáo hiến tặng đã được UBND tỉnh xem xét giao đất, cấp GCNQSD đất tại những vị trí phù hợp để xây dựng cơ sở thờ tự và sinh hoạt tôn giáo ổn định.

Thực trạng đất đai tôn giáo ở Bình Phước

Nhà nước ta, trước sau như một khẳng định thực hiện chính sách “ Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ngay từ phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ngày 03/9/1945, khẳng định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phân nhân dân, đạo đức của tôn giáo có nhiều điều phù hợp với đạo đức truyền thống của dân tộc, với nội dung xây dựng xã hội mới tăng cường đoàn kết nhân dân.

Trong từng thời kỳ lịch sử, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách phù hợp đối với vấn đề tín ngưỡng và tôn giáo, trong đó chính sách đất đai đối với tôn giáo nhằm đảm bảo có nơi thờ tự, sinh hoạt tôn giáo.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2013 thì cơ sở tôn giáo được giao đất, cấp giấy chứng nhận theo hình thức không thu tiền sử dụng đất và cơ sở tôn giáo được nhận quyền sử dụng đất thông qua hình thức Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng ổn định.

Kết quả đến nay (hết năm 2018) hầu hết các cơ sở tôn giáo hoạt động hợp pháp đã được giao đất, cấp giấy chứng nhận sử dụng đất ổn định theo quy định của pháp luật; đại đa số các cơ sở tôn giáo đã chấp hành tốt việc sử dụng đất, sửa chữa, xây dựng, tôn tạo cơ sở thờ tự đúng quy định. Tính đến nay, UBND tỉnh đã cấp GCNQSD đất cho 92/100 cơ sở của đạo Công giáo với tổng diện tích được cấp khoảng 91,2ha; còn 08 cơ sở chưa được giao đất do đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục hồ sơ theo quy định của pháp luật.

Thực trạng cơ sở thờ tự

Đối với đạo Công giáo nơi thờ tự là một nhu cầu linh thiêng, vì đây là nơi tập trung bà con giáo dân để linh mục làm lễ, truyền giảng Kinh thánh, giáo lý; do đó nhu cầu về xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự là một vấn đề bức thiết.

Trước đây sau khi tách tỉnh, thì các cơ sở được hợp thức hóa và công nhận sử dụng các công trình đã xây dựng trước đây làm nơi sinh hoạt sau này khi đủ điều kiện, cuộc sông giáo dân đã khá hơn thì các giáo xứ đã xây dựng các công trình khang trang hơn; một số cơ sở chưa có nhà thờ xin xây dựng nhà nguyện tạm làm nơi sinh hoạt. Tuy nhiên đây cũng là thời điểm do số lượng tín đồ tăng, nhà thờ ở cách xa, đường đi lại khó khăn nên giáo dân đã tự ý xây dựng 60 nhà nguyện trái phép. Hiện nay sau khi UBND tỉnh chấp thuận cho thành lập 26 giáo họ/60 nhà nguyện này thì các giáo họ vẫn sử dụng các nhà nguyện trước đây làm nơi sinh hoạt tôn giáo hàng tuân trong khi chờ kinh phí để xây dựng nhà thờ khang trang hơn.  Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 100 cơ sở tôn giáo trong đó có 70 cơ sở đã, đang xây dựng cơ sở thờ tự với quy mô khang trang, rộng lớn và kiến trúc phù hợp với quy hoạch của địa phương. Nơi thờ tự chủ yếu là Nhà thờ để sinh hoạt tôn giáo hàng tuần, nhà giáo lý để giảng dạy kinh thánh, giáo lý; nhà sinh hoạt và một số công trình phụ trợ như nhà ăn, nhà xứ, tượng đài, bia tháp nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt của bà con giáo dân. Đối với những giáo xứ, giáo họ mới được thành lập đang mượn địa điểm sinh hoạt hoặc sinh hoạt tại nhưng nhà nguyện cũ được UBND tỉnh chấp thuận thành lập giáo họ trong khi chờ lập thủ tục hồ sơ xin giao đất, cấp GCNQSD đất. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

 Tình từ sau khi tách tỉnh năm 1997 đến nay, UBND Tỉnh đã chấp thuận cho các giáo xứ, giáo họ, xây dựng, sửa chữa khoảng 180 lượt hồ sơ đúng theo quy định của pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của giáo dân. Trong đó có nhiều nơi xây dựng với kiến trúc đẹp, khang trang với giá trị lên đến hơn chục tỷ đồng như: giáo xứ Long Điền, thị xã Phước Long, giáo xứ Phú Lương  – thị xã Bình Long; giáo xứ Đăk Ân, huyện Bù Gia Mập; Giáo xứ Đăk Nhau – huyện Bù Đăng….

2.2.2.6. Thực trạng sinh hoạt tôn giáo, hoạt động đối ngoại

Sinh hoạt tôn giáo: Các cơ sở tôn giáo nói chung và đạo Công giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh hiện nay đều tổ chức sinh hoạt diễn ra bình thường tuân thủ quy định của pháp luật. Hiện nay theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo các giáo xứ, giáo họ đã thực hiện tốt việc đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo chỉ đang ký một lần theo quy định, ngoài những sinh hoạt tôn giáo không có trong lịch đăng ký theo quy định thì các cơ sở của đạo Công giáo đều lập thủ tục hồ sơ đăng ký bổ sung theo ( Điều 43) với UBND các cấp đúng theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Chính Phủ. Hàng năm, UBND các cấp đã chấp thuận cho các giáo xứ, giáo họ tổ chức hàng chục cuộc lễ lớn ngoài chương trình đăng ký góp phần đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của giáo dân.

Ngoài ra chính quyền đã phát hiện 13 vụ việc chủ yếu là linh mục đến làm lễ tại nhà nguyện xây dựng trái phép, giáo dân tự ý tổ chức lễ không xin phép, mời người từ nơi khác về làm lễ thay.

Hoạt động đối ngoại

Trên địa bàn tỉnh không có trụ sở của Tòa giám mục; các hoạt động của đạo Công giáo chỉ diễn ra ở tổ chức cơ sở và tổ chức trung gian là các giáo hạt. Tuy nhiên Công giáo là một tôn giáo lớn có hệ thống tổ chức chặt chẽ, có tính chất quốc tế, phổ biến ở nhiều nước trên thế giới; có trụ sở là Tòa thánh Vaitican; do đó giáo hội Công giáo Việt Nam nói chung  là một thành viên nằm trong cơ cấu tổ chức của giáo hội Công giáo thế giới, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tòa thành Vaitican vì vậy thường xuyên có mối quan hệ thân thiết và trực tiếp với Tòa thành Vaitican.

Các hoạt động đối ngoại của các Tòa giám mục đều có liên hệ đến tỉnh Bình Phước; trong những năm qua chính quyền tỉnh quan tâm tạo điều kiện cho Tòa giám mục Ban Mê Thuột và Phú Cường đăng ký sứ thần của Tòa thánh đến hoạt động tôn giáo tại tỉnh theo quy định của pháp luật và việc quản lý các hoạt động đối ngoại thực hiện theo tinh thần hợp tác, hiệp định đã ký kết giữa Chính phủ nước ta với Tòa thánh Vaitican.

2.2.2.7. Hoạt động từ thiện xã hội

Trong những năm qua, chính quyền địa phương luôn khuyến khích và tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức tôn giáo cơ sở của đạo Công giáo tham gia vào các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo như: Nuôi dưỡng người già không nơi nương tựa, tr  em mồ côi; bếp cơm tình thương cho các bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện; cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt; tặng nhà tình thương, tặng quà cho người nghèo; tham gia xã hội hóa giáo dục mở nhóm tr , lớp mầm non… Các hoạt động này được các cá nhân và giáo xứ, giáo họ thực hiện tích cực và có sự phối hợp với chính quyền các cấp.

Tuy nhiên việc tham gia các hoạt động từ thiện của đạo Công giáo chủ yếu là thực hiện trong nội bộ các giáo xứ, giáo họ ít ảnh hưởng ra bên ngoài của đạo Công giáo. Theo kết quả báo cáo của 03 giáo hạt, hàng năm đã tổ chức hàng trăm cuộc vận động, quyên góp giúp giúp đỡ người nghèo, gia đình khó khăn để phát triển kinh tế với số tiền trên 01 tỷ đồng/năm (theo báo cáo của Ủy ban Đoàn Kết Công giáo tỉnh từ năm 2000 đến 2018 hoạt động từ thiện với tổng giá trị hơn 20,3 tỷ đồng).  

2.3. Phân tích thực trạng Quản lý Nhà nước đối với công giáo ở tỉnh Bình Phước Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

2.3.1. Xây dựng kế hoạch Quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn Tỉnh

Chỉ đạo xây dựng, ban hành văn bản về quản lý hoạt động tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng.

Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các ngành thực hiện công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động cụ thể của đạo Công giáo, đảm bảo đúng thẩm quyền được phân cấp.

Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đối với đạo Công giáo; UBND tỉnh đã ban hành một số văn bản về quản lý Nhà nước như:

Trên cơ sở Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Nghị định số 22 trước đây; UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số 69/2005/QĐ-UB ngày 20/7/2005 Ban hành

Quy định phân cấp quản lý và giải quyết các vấn đề tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh Bình Phước; Quyết định số 01/2007/QĐ-UBND ngày 15/01/2007 Quy định hạn mức đất tôn giáo khi Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 99/2005/ngày 24/8/2005 Quy định cấp Giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện Nghị định số 92 của Chính phủ; UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 22/8/2013 Quy định tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước và Quyết định số 51/2013/QĐ-UBND ngày 28/11/2013 Ban hành

Quy định phân cấp quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và Công giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

Thực hiện Luật Đất đai năm 2013, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 30/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 Ban hành Quy định hạn mức đất tôn giáo trên địa bàn tỉnh. Thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 61/2013/QĐ-UBND ngày 24/12/2013 Ban hành quy định cấp Giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã ban hành các Kế hoạch để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật Nhà nước về Công giáo nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tín ngương, tôn giáo cũng như quản lý Nhà nước đối với Công giáo như: Kế hoạch số 33/KH-UB ngày 19/5/2005 V/v tiếp tục thực hiện các chủ trương, chính sách về tôn giáo; Kế hoạch số 52/KH-UBND ngày 12/6/2006 về việc tổ chức điều tra, thống kê các hệ phái Tin lành chưa được công nhận về mặt tổ chức; Kế hoạch số 77/KH-UBND ngày 21/6/2011 về việc triển khai thực hiện Kế hoạch số 09 của Tỉnh ủy; Kế hoạch số 61/KH-UB ngày 21/8/2012 về việc triển khai công tác đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2012-2015; Công văn số 01/UBND-NC ngày 21/01/2014 về triển khai thực hiện Chỉ thị số 33CT/TU ngày 08/01/2014 của Tỉnh ủy về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tôn giáo trong tình hình mới; Công văn số 06/UBND-NC ngày 19/02/2014 V/v triển khai thực hiện Thông báo số 49/TB-TGCP ngày 10/12/2013 của Ban Tôn giáo Chính phủ; Công văn số 12/UBND-NC ngày 10/4/2014 hướng dẫn về hoạt động Dòng tu, Hội đoàn, lập quỹ và hoạt động tài chính, hoạt động nhân đạo, từ thiện… của các tôn giáo; việc sử dụng đất đai, xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự và các hoạt động khác của tôn giáo và hiện nay đã có Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định 162/NĐ-CP ngày 30/12/2017 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

Công tác thể chế hóa chủ trương, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, ban hành văn bản quản lý, hướng dẫn về công tác quản lý nhà nước đối với tín ngương, tôn giáo cũng như Công giáo tại địa phương được tổ chức triển khai thực hiện kịp thời. Từ đó, nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong công tác thi hành pháp luật và quản lý nhà nước đối với Công giáo, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Ngoài ra, hàng năm UBND các huyện ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo các ban, ngành và UBND các xã quản lý tốt hoạt động trong dịp lễ Giáng sinh, Phục sinh của Công giáo và Tin lành; lễ Phật đản, Vu lan của Phật giáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào theo đạo tổ chức lễ được thuận lợi, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về các vấn đề, vụ việc tôn giáo phát sinh trong công tác quản lý để các ngành chức năng chủ động nắm tình hình và phối hợp xử lý kịp thời.

2.3.2. Công tác tuyên truyền và vận động chức sắc, chức việc, tín đồ

Trước hết cần tăng cường , phát huy việc đa dạng hóa các phương thức vận động quần chúng, chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo.vận động có thể thông qua tổ chức giáo hội, các nhà tu hành, với các hình thức lồng ghép các nộ dung tuyên truyền, hoặc thông qua các buổi tổ chức sinh hoạt tôn giáo của các nhà tu hành, vận động quần chúng tin đồ thông qua chức sắc và những người có uy tín, có ảnh hưởng lớn trong quần chúng tín đồ; vận động thông qua các phong trào phát triển kinh tế trong các vùng giáo như: phong trào giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; sản xuất giỏi; chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi.

Vận động thông qua các phong trào mang tính chính trị xã hội trong vùng giáo như: thanh niên học tập rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp; tuổi trẻ giữa nước, xây dựng xư, họ đạo tiên tiến; gia đình công giáo gương mẫu, gia đình văn hóa..vv

Vận động thông qua các phong trào thi đua yêu nước mang tính chất cộng đồng, dân tộc thể hiện sự đoàn kết Lương giáo, đoàn kết dân tộc như: hướng về cội nguồn, từ thiện nhân đạo, đèn ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồng bào bị thiên tai lũ lụt..vv.

2.3.3. Phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào tôn giáo dân tộc

Bằng sự uy tín và sự ảnh hưởng của mình người có uy tín đã phát huy vai trò hết sức quan trọng trong việc gương mẫu thực hiện và tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời nắm bắt tình hình, phát hiện cung cấp nhiều thông tin có giá trị giúp các ngành chức năng và chính quyền địa phương đấu tranh, ngăn chặn nhiều hành động trái phát luật; tham gia giải quyết các vụ mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, cùng với các cấp ủy Đảng, chính quyền tham gia giải quyết ổn thỏa nhiều khiếu kiện, tranh chấp đất đai, không để các phần tử xấu tuyên truyền, kích động, gây rối mất trật tự an ninh ở cơ sở, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; cảm hóa, giáo dục đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật. Chính vì vậy đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được quan tâm, triển khai thực hiện, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số được quan tâm chú trọng; trong những năm qua, tổ chức cử nhiều lượt cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ.

2.3.4. Công tác chống địch lợi dụng tôn giáo dân tộc Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Bình Phước là địa bàn mà địch và bọn phản động từ nước ngoài, từ các tỉnh Tây Nguyên và thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên đẩy mạnh các hoạt động móc nối để chống phá. Việc phòng ngừa và đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo đã được quan tâm ở việc củng cố phong trào tại các vùng trọng điểm tôn giáo; nội dung và phương pháp vận động quần chúng trong vùng đồng bào có đạo tham gia phong trào bảo vệ An ninh tổ quốc được chú ý đẩy mạnh và tập trung hơn, gắn với việc phát triển kinh tế và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo.

Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các ngành, đoàn thể đã có sự phối hợp chặt chẽ hơn trong thực hiện các chủ trương, biện pháp xây dựng, củng cố phong trào quần chúng bảo vệ An ninh tổ quốc ở các vùng tập trung đồng bào có đạo. Qua đó, huy động được sự tham gia tích cực của các tổ chức tôn giáo và đông đảo đồng bào tín đồ vào công cuộc giữ gìn An ninh trật tự, An ninh biên giới trên địa bàn, đấu tranh với các biểu hiện lợi dụng tôn giáo, dân tộc.

Chú trọng công tác xây dựng lực lượng chính trị, cơ sở cốt cán trong tôn giáo; làm tốt công tác phát triển đảng viên, đoàn viên, hội viên trong tín đồ tôn giáo nhằm phát huy tác dụng làm “hạt nhân” trong phong trào cách mạng của quần chúng ở địa phương, cơ sở. Kiện toàn bộ máy tuyên truyền nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng; đặc biệt là ở những vùng có đông đồng bào theo đạo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung tuyên truyền tập trung vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo để quần chúng tín đồ hiểu rõ và chấp hành nghiêm túc; khai thác các giá trị nhân văn, đạo đức tiến bộ trong giáo lý tôn giáo để vận động, thu hút, tập hợp quần chúng tín đồ tham gia các phong trào thi đua yêu nước.

Đẩy mạnh công tác phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; thực hiện tốt chính sách đoàn kết Lương – giáo; tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, làm cho cộng đồng ổn định, buôn làng phát triển, gia đình ấm no… Bên cạnh đó, phải kịp thời vạch trần mọi âm mưu, phương thức, thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ dân tộc, chống phá cách mạng nước ta; vạch trần bộ mặt phản động, đội lốt tôn giáo để phá hoại cách mạng từ đó nâng cao trình độ nhận thức, giác ngộ, ý thức cách giác cách mạng trong quần chúng tín đồ.

2.3.5. Tổ chức bộ máy Quản lý Nhà nước đối với Công giáo trên địa bàn Tỉnh

Công tác tổ chức, bộ máy, biên chế làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo được củng cố, kiện toàn theo đúng quy định; cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo cơ bản nắm vững được quy định pháp luật và tham mưu kịp thời, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở địa phương.

Hiện nay, bộ máy quản lý Nhà nước về tín ngương, tôn giáo ở địa phương nhìn chung cơ bản được kiện toàn từ cấp tỉnh đến cơ sở, tổng cộng có 149 cán bộ gồm: Cấp tỉnh gồm 16 cán bộ, công chức; cấp huyện (11 huyện, thị xã) gồm 22 cán bộ, công chức; cấp xã (111 xã, phường, thị trấn) có 99 cán bộ Dân tộc – Tôn giáo và 12 cán bộ kiêm nhiệm công tác Dân tộc – Tôn giáo. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo được tr  hóa, từng bước trưởng thành, được tập huấn, bồi dưỡng, rèn luyện. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo đối với cán bộ, công chức được quan tâm, thực hiện tốt. Trong những năm qua UBND tỉnh đã tổ chức tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo, phụ trách công tác tôn giáo ở các sở, ban, ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang ở cấp tỉnh, huyện, thị xã và cấp xã, phường, thị trấn; cán bộ thôn, ấp, khu phố khoảng 66 lớp, 7.365 lượt cán bộ tham dự.

Nhằm thống nhất trong hệ thống chính trị và tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý về lĩnh vực công tác tôn giáo; hiện nay, cấp tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo công tác Tôn giáo; đối với cấp huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo Công tác Dân tộc – Tôn giáo.

2.3.6. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm quản lý đối với Công giáo trên địa bàn Tỉnh Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Trong những năm qua, UBND tỉnh đã tổ chức tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo, phụ trách công tác tôn giáo ở các sở, ban, ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang ở cấp tỉnh, huyện, thị xã và cấp xã, phường, thị trấn; cán bộ thôn, ấp.

Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo được tr  hóa, từng bước trưởng thành, được tập huấn, bồi dưỡng, rèn luyện. Cho đến nay, đã có 02 cán bộ làm công tác tôn giáo của tỉnh đã học xong chương trì thạc sĩ tôn giáo học và 03 người học xong chương trình cử nhân chính trị chuyên ngành công tác tôn giáo do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo đối với cán bộ, công chức được quan tâm, thực hiện tốt.

Thường  xuyên cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo, đào tạo lại và các lớp bồi dưỡng, cập nhật thông tin, kiến thức liên quan đến tôn giáo do các trường đại học, học viện và các cơ quan chuyên môn thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, Học viện Hành chính quốc gia tổ chức.

Cần xây dựng kế hoạch tổng thể về đào tạo, bồi dưỡng các ngành học, trong đó có môn thần học của các tôn giáo, bằng nhiều hình thức, kể cả gửi ra nước ngoài đào tạo hoặc bồi dưỡng ngắn hạn để qua đó học hỏi kinh nghiệm làm công tác tôn giáo, đồng thời tìm hiểu về cách ứng xử đối với tôn giáo ở một số nước trên thế giới.

Có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo theo hướng thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức, theo đó, động viên được cả về phương diện vật chất (thông qua cơ chế đặc thù về tiền lương, phụ cấp…) và phương diện tinh thần (quan tâm tới các chế độ, như khen thưởng, nghỉ dưỡng, các hoạt động giao lưu, học hỏi kinh nghiệm làm công tác tôn giáo giữa các địa phương..vv).

2.3.7. Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước

UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo các sở, ngành chức năng và UBND các huyện, thị xã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật về tôn giáo và những quy định pháp luật có liên quan đối với chính quyền cấp huyện, cấp xã và các tổ chức tôn giáo cơ sở để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những hạn chế trong công tác quản lý của chính quyền cơ sở, cũng như các hoạt động tôn giáo không đúng quy định của pháp luật của cá nhân, tổ chức tôn giáo. Qua công tác thanh tra, đã phát hiện một số hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo của chính quyền cơ sở và những vi phạm của các tổ chức tôn giáo. UBND tỉnh đã chỉ đạo UBND huyện chấn chỉnh những hạn chế và xử lý những vi phạm theo thẩm quyền.

Kết quả xử lý những vi phạm như sau:

UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với 02 UBND huyện (Bù Đốp, Lộc Ninh), 05 UBND xã (Hưng Phước, Đăk Ơ, Bù Gia Mập, Lộc Thiện, Lộc Thịnh) và xử lý kỷ luật đối với 03 cán bộ, rút kinh nghiệm đối với 02 cán bộ vi phạm để xảy ra các hoạt động tôn giáo trái pháp luật và buông lỏng trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn.

UBND tỉnh đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo 01 chức sắc, kiểm điểm rút kinh nghiệm 02 chức sắc và 07 trưởng nhóm Tin lành do có những vi phạm trong hoạt động tôn giáo; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đối với 01 cơ sở tôn giáo.

Đối với những vụ việc mới manh nha phát sinh, vi phạm lần đầu với mức độ nhẹ hoặc có dấu hiệu vi phạm chính quyền địa phương đã lập biên bản vi phạm, tổ chức tuyên truyền, vận động, thuyết phục tổ chức, cá nhân vi phạm hiểu rõ những quy định của pháp luật về tôn giáo từ đó chấp hành và viết cam kết không tái phạm.

2.4. Nhận xét thực trạng Quản lý Nhà nước đối với công giáo ở tỉnh Bình Phước Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

2.4.1. Kết quả đạt được

Công tác thể chế hóa chủ trương, chính sách chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về tín ngương, tôn giáo nói chung và công giáo nói riêng. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về tín ngương, tôn giáo và công giáo. UBND tỉnh đã ban hành một số văn bản quản lý Nhà nước như:  ban hành Quyết định số 69/2005/QĐ-UB ngày 20/7/2005 Ban hành Quy định phân cấp quản lý và giải quyết các vấn đề tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước; Quyết định số 01/2007/QĐ-UBND ngày 15/01/2007 Quy định hạn mức đất tôn giáo khi Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 99/2005/ngày 24/8/2005 Quy định cấp Giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện Nghị định số 92 của Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 22/8/2013 Quy định tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước và Quyết định số 51/2013/QĐ-UBND ngày 28/11/2013 Ban hành

Quy định phân cấp quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

Thực hiện Luật Đất đai năm 2013, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 30/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 Ban hành Quy định hạn mức đất tôn giáo trên địa bàn tỉnh. Thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 46/2017/QĐ-UBND ngày 02/11/2017 Ban hành quy định cấp Giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

UBND tỉnh đã ban hành các Kế hoạch để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật Nhà nước về tín ngương, tôn giáo nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo như: Kế hoạch số 33/KH-UB ngày 19/5/2005 V/v tiếp tục thực hiện các chủ trương, chính sách về tôn giáo; Kế hoạch số 52/KH-UBND ngày 12/6/2006 về việc tổ chức điều tra, thống kê các hệ phái Tin lành chưa được công nhận về mặt tổ chức; Kế hoạch số 77/KH-UBND ngày 21/6/2011 về việc triển khai thực hiện Kế hoạch số 09 của Tỉnh ủy; Kế hoạch số 61/KH-UB ngày 21/8/2012 về việc triển khai công tác đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2012-2015; Công văn số 01/UBND-NC ngày 21/01/2014 về triển khai thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TU ngày 08/01/2014 của Tỉnh ủy về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tôn giáo trong tình hình mới; Công văn số 06/UBND-NC ngày 19/02/2014 v/v triển khai thực hiện Thông báo số 49/TB-TGCP ngày 10/12/2013 của Ban Tôn giáo Chính phủ; Công văn số 12/UBND-NC ngày 10/4/2014 hướng dẫn về hoạt động dòng tu, hội đoàn, lập quỹ và hoạt động tài chính, hoạt động nhân đạo, từ thiện… của các tôn giáo; việc sử dụng đất đai, xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự và các hoạt động khác của tôn giáo.

Công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo cho cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBMTTQVN) và các đoàn thể chính trị, xã hội của tỉnh và các huyện, thị đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, tranh thủ chức sắc, xây dựng cốt cán trong tôn giáo, giữ vững mối đoàn kết, ổn định tình hình. Quan tâm vấn đề nhân sự của giáo hội ở tất cả các cấp, vì đường hướng hoạt động của tổ chức tôn giáo phụ thuộc rất lớn vào lập truờng quan điểm, tư tưởng, phẩm hạnh của đội ngũ này. Mặt khác phải chủ động trong việc hướng dẫn tổ chức tôn giáo bồi dưỡng nhân sự cho chính họ. Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy và sự giúp đỡ hướng dẫn về chuyên môn của Ban Tôn giáo Chính phủ, trong những năm qua, UBND tỉnh đã giao Sở Nội vụ (Ban Tôn giáo) tỉnh tham mưu xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cụ thể: Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Trong giai đoạn từ 2011 đến nay, chính quyền địa phương đã tổ chức tuyên truyền phổ biến pháp luật cho chức sắc, nhà tu hành, chức việc các tôn giáo 27 lớp với số lượng 5.428 lượt người tham dự. Trong đó có khoảng hơn 2000 lượt chức sắc, chức việc, tu sỹ đạo công giáo tham dự [8]. Ban Tôn giáo tỉnh đã phối hợp với Vụ Pháp chế – Thanh tra Ban Tôn giáo Chính phủ tổ chức hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo cho 235 chức sắc, chức việc các tôn giáo [8]. Thông tư số 01/2013/TTBNV ngày 25/3/2013 của Bộ Nội vụ ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo cho 228 chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo trên địa bàn tỉnh [8]. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Tổ chức 01 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo cho 140 cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo các cấp trên địa bàn tỉnh; phối hợp với phòng Nội vụ huyện Bù Gia Mập và huyện Chơn Thành tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo cho 197 cán bộ thôn, ấp, khu phố [8], tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức năm 2015, trong đó có 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo cho 222 cán bộ chủ chốt các xã, phường, thị trấn và đã thông báo đến các sở, ngành, huyện, thị xã cử trên 30 cán bộ, công chức đăng ký tham gia các lớp cập nhật thông tin về tôn giáo do Ban Tôn giáo Chính phủ tổ chức [8].

Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) còn phối hợp với UBND các huyện, thị, Ban Dân tộc, UBMTTQ, các tổ chức chính trị, xã hội tổ chức tuyên truyền đến các hội viên, các tín đồ tôn giáo ở các địa bàn dân cư vùng xâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc với khoảng 710 lớp, tổng số 71.796 lượt người tham dự. Trong đó đạo Công giáo có khoảng hơn 25.000 lượt người tham dự [8].

 Qua công tác tuyên truyền, quán triệt giúp đội ngũ cán bộ, công chức các cấp chính quyền trong quá trình thực hiện công tác tôn giáo đảm bảo đúng chính sách của Đảng, nhà nước và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào theo đạo và tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào có đạo được sinh hoạt tôn giáo bình thường, đúng pháp luật, giúp giáo dân, giáo sĩ, tu sĩ hiểu rõ và chấp hành pháp luật trong sinh hoạt tôn giáo, góp phần đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh để phát triển kinh tế – xã hội.

Công tác xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Bộ máy quản lý Nhà nước về tôn giáo ở địa phương nhìn chung cơ bản được kiện toàn từ cấp tỉnh đến cơ sở. Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có tổng cộng có 149 cán bộ làm công tác tôn giáo, trong đó cấp tỉnh 16 cán bộ, công chức; cấp huyện (11 huyện, thị xã) 22 cán bộ, công chức; cấp xã (111 xã, phường, thị trấn) có 99 cán bộ Dân tộc – Tôn giáo và 12 cán bộ kiêm nhiệm công tác Dân tộc – Tôn giáo. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo được tr hóa, từng bước trưởng thành, được tập huấn, bồi dưỡng, rèn luyện. Cho đến nay, đã có 02 cán bộ làm công tác tôn giáo của tỉnh đã học xong chương trì thạc sĩ tôn giáo học và 03 người học xong chương trình cử nhân chính trị chuyên ngành công tác tôn giáo do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo đối với cán bộ, công chức được quan tâm, thực hiện tốt. Trong những năm qua, UBND tỉnh đã tổ chức tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo, phụ trách công tác tôn giáo ở các sở, ban, ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang ở cấp tỉnh, huyện, thị xã và cấp xã, phường, thị trấn; cán bộ thôn, ấp, khu phố khoảng 66 lớp, 7.365 lượt cán bộ tham dự [8].

Nhằm thống nhất trong hệ thống chính trị và tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý về lĩnh vực công tác tôn giáo; hiện nay, cấp tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo, do đồng chí Bí Thư tỉnh ủy làm trưởng ban, phó ban chỉ đạo do các đồng chí Trưởng ban Dân vận, Tuyên giáo, Công an, quân đội, UBMTTQ tỉnh đảm nhiệm; đối với cấp huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo Công tác Dân tộc – Tôn giáo. Các xã, phường, cũng thành lập Ban Chỉ đạo Công tác tôn giáo. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Quản lý đăng ký chương trình hoạt động hàng năm và các chương trình hoạt động của tổ chức tôn giáo đạo Công giáo. Ban Tôn giáo chính quyền, Phòng tôn giáo Ban dân vận và UBMTTQ tỉnh thường xuyên đôn đốc nhắc nhở các cơ sở đăng ký chương trình hoạt động hằng năm của các cơ sở tôn giáo, cơ bản các cơ sở chấp hành nghiêm túc, đảm bảo thời gian, nội dung chương trình đã đăng ký. Hàng năm, Ban Tôn giáo chỉ đạo các huyện và UBND các xã, phường về việc hướng dẫn các xứ, họ đạo, cơ sở tu trì đăng ký chương trình sinh hoạt hàng năm và những hoạt động khác theo đúng quy định của pháp luật. Trong thời gian qua vấn đề sinh hoạt trong và ngoài cơ sở tôn giáo của đạo Công giáo, đã được các ngành các cấp tạo điều kiện thuận lợi giúp cho chức sắc, nhà tu hành tổ chức hoạt động bình thường, tổ chức các cuộc lễ nghi truyền thống tôn giáo. Sở Nội vụ cho phép tổ chức nhiều lễ hội, như: lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh, Lễ Đức Mẹ Hồn xác lên trời, lễ làm Phép dầu, lễ thêm sức, lễ khánh thành, lễ đặt viên đá khởi công xây dựng,… với quy mô lớn, đảm bảo an ninh trật tự.  

Quản lý các cuộc lễ của tổ chức tôn giáo diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo: Ban Tôn giáo tỉnh còn tham mưu cho UBND tỉnh và các huyện, thị tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tổ chức cuộc lễ diễn ra ngoài chương trình đăng kí, như tổ chức Năm Thánh 2010, Lễ kính Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội, Lễ Kính lòng thương xót Chúa; Lễ cầu nguyện nhớ ơn tiền nhân, Lễ đón linh mục, Lễ tạ ơn mừng tân linh mục,… Các hoạt động tôn giáo nêu trên được các cấp chính quyền tạo điều kiện tổ chức trọng thể, đảm an ninh, trật tự và tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

Quản lý các hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo cơ sở. Ban Tôn giáo tỉnh chỉ đạo các huyện tiếp xúc với các chức sắc để hướng dẫn tổ chức các Đại hội, hội nghị, các hoạt động theo quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và gắn trách nhiệm giữ gìn an ninh trật tự trong suốt thời gian các cơ sở tôn giáo tổ chức. Chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn 57 Hội đồng Mục vụ (HĐMV) giáo xứ và 40 Ban Mục vụ giáo họ tổ chức đại hội kiện toàn nhân sự, đúng pháp luật với 485 chức việc [8].

Quản lý thuyên chuyển chức sắc, nhà tu hành. Từ năm 2011 đến nay, trên địa bàn tỉnh Bình Phước, Tòa Giám mục Phú Cường và Buôn Mê Thuật đã ra quyết định thuyên chuyển trên 200 lượt linh mục tu sĩ và bổ nhiệm trên 100 linh mục về nhiệm sở mới. Riêng năm 2012, chính quyền địa phương đã tiếp nhận thông báo và đăng ký thuyên chuyển, bổ nhiệm 10 linh mục: Linh mục Lưu Thanh Kỳ – Quản xứ Giáo xứ Phước Long làm Quản hạt Phước Long thay Linh mục Lê Trần Bảo – Quản xứ Giáo xứ Đồng Xoài vì tuổi cao và đảm nhận chức vụ đã lâu năm; Linh mục Nguyễn Ngọc Hạnh, Phó xứ Giáo xứ Đồng Xoài, phường Tân Đồng, thị xã Đồng Xoài; Linh mục Phan Văn Phúc, Phó xứ Giáo xứ Bù Nho, xã Bù Nho, huyện Bù Gia Mập; Linh mục Ngô Hồng Phúc, Phó xứ Giáo xứ Đức Hạnh, xã Đức Hạnh, huyện Bù Gia Mập; Linh mục Ngô Hồng Tú, Phó xứ Giáo xứ Thuận Lợi, xã Thuận Lợi, huyện Đồng Phú. Linh mục Nguyễn Bùi Ngọc Liêm, làm Phó xứ Giáo xứ Bình Long, phường An Lộc, thị xã Bình Long; Linh mục Nguyễn Viết Anh Dũng, Chánh xứ Giáo xứ Thanh An, xã Thanh An, huyện Hớn Quản; Linh mục Đinh Quang Dũng, Chánh xứ Giáo xứ Nha Bích, xã Nha Bích, huyện Chơn Thành; Linh mục Trần Thái Phong, Phó xứ Giáo xứ Lộc Quang, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh;Linh mục Lê Văn Đức, Phó xứ Giáo xứ Châu Ninh, xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp[8].  

Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng chức sắc. Hàng năm, các cấp chính quyền đều tạo điều kiện cho các chủng sinh dự học Đại Chủng viện Thánh Giuse Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Đại chủng viện Xuân Lộc. Mỗi năm đưa từ 5 – 7 chủng sinh dự học Đại Chủng viện. Từ năm 2000 đến năm 2015, chính quyền địa phương đã tạo điều kiện cho 43 chủng sinh đi học tại các đại chủng viện Xuân Lộc, Thành phố Hồ Chí Minh và đại chủng viện Sao Biển Nha Trang. Trong đó, có 19 chủng sinh đã hoàn thành chương trình đào tại Đại chủng viện được UBND tỉnh chấp thuận phong chức linh mục hiện đang là quản xứ, phó xứ tại các cơ sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh [24]. Đăng ký chấp thuận cho 03 ứng sinh được nhập trường tu học tại Đại Chủng viện Sao Biển Nha Trang, khóa XIII (2012 – 2019), gồm: Nguyễn Quốc Khánh, xã Đồng Tiến và Vũ Văn Dũng, xã Tân Lập, huyện Đồng Phú; Vũ Văn Tiệp, thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng [24]. Hàng năm, chính quyền tỉnh và các huyện thị tạo điều kiện cho giáo hội tổ chức các cuộc tĩnh tâm cho đội ngũ chức sắc, nhà tu hành chức việc. Trong những năm gần đây đạo Công giáo đã đẩy mạnh đào tạo chức sắc, tu sĩ, cũng cố hành chánh đạo ở các nhà thờ, nhà nguyện (Ban, hội); xây dựng cơ sở vật chất, làm công tác từ thiện,… nhằm mục đích phát triển tín đồ phục vụ cho trước mắt và lâu dài. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Đối với hoạt động quản lý việc đăng ký của các dòng tu, người vào tu.Từ năm 2006 đến năm 2012, Ban Tôn giáo tỉnh đã cấp giấy hoạt động cho 08 cộng đoàn thuộc 04 dòng tu gồm: dòng Nữ La San có hai cộng đoàn (Cộng đoàn Lasan nữ – Tích Thiện, Cộng đoàn nữ – Lộc Thiện), dòng Nữ Vương Hòa Bình có 04 cộng đoàn (Cộng đoàn Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình Đồng Xoài, Cộng đoàn Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình Long Điền, Cộng đoàn Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình Phước Long, Cộng đoàn Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình Đăk Ân, dòng Đức Bà Truyền giáo có 01 cộng đoàn (cộng đoàn Đức bà Truyền Giáo Long Điền), dòng Nữ tử Bác Vinh Sơn có 01 công đoàn (Cộng đoàn Nữ tử Bác Vinh Sơn xã Đồng Tiến) để làm cơ sở cho Ban Tôn giáo Chính Phủ cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 04 dòng tu trên theo quy định [7].

Công tác quản lý nhà nước được chính quyền từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở quan tâm giải quyết đúng theo quy định như việc chấp thuận cho thuyên chuyển tu sĩ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất cho 01 một cộng đoàn tại thị xã Phước Long với 47.000m²; tạo điều kiện cho các cộng đoàn tham gia các hoạt động tôn giáo, xã hội hóa giáo dục nhân đạo, từ thiện, cho mở các trường mầm non tư thục và nuôi dưỡng tr  em mồ côi không nơi nương tựa…theo đúng quy định của pháp luật[7].

Đối với quản lý người vào tu tại các dòng tu, cộng đoàn: Do trên địa bàn tỉnh không có trụ sở của các dòng tu nên những người vào tu tại các dòng không có đăng ký với chính quyền tỉnh theo quy định; các dòng tu chỉ đăng ký với chính quyền nơi có trụ sở dòng, sau khi người vào tu đã khấn trọn và phục vụ cho dòng thì dòng tu sẽ cử các tu sỹ về hoạt động tại các cộng đoàn thuộc dòng. Do vậy việc quản lý tu sỹ tại tỉnh Bình Phước được thực hiện theo quy định về thuyên chuyển nơi hoạt động của nhà tu hành. Tuy nhiên hoạt động của các tu sỹ sau khi thuyên chuyển về các cộng đoàn rất khó quản lý do không đăng ký với chính quyền, một số tu sỹ mang danh nghĩa làm kinh tế nhưng lại hoạt động tôn giáo. Đây là vấn đề khó khăn đặt ra cho công tác quản lý đối với hoạt động của các cơ sở, tu sỹ thuộc dòng tu.

Bên cạnh đó, chính quyền các cấp, các ngành chức năng liên quan của tỉnh cũng tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động và việc đăng ký thuyên chuyển tu sĩ, hoạt động quản lý đất đai, các hoạt động từ thiện, nhân đạo, hoạt động tôn giáo tại các cộng đoàn cũng như những quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động của các Cộng đoàn dòng tu.

Quản lý Nhà nước đối với các hội đoàn. Chính quyền địa phương luôn tạo thuận lợi cho các hội đoàn, dòng tu tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội và nhiều hoạt động khác trên địa bàn tỉnh. Từ năm 2010 đến nay đã có 10 hội đoàn hoạt động xã hội được đăng ký hoạt động [8].

Quản lý việc sửa chữa, xây mới cơ sở thờ tự của các tôn giáo. Hiện nay đối với 10 cơ sở nhà, đất liên quan đến tôn giáo trên địa bàn tỉnh do Nhà nước đang quản lý và sử dụng (trong đó có 06 cơ sở của đạo Công giáo) không có tình trạng các tổ chức tôn giáo có văn bản xin lại, đòi lại. Lý do là những cơ sở này được Nhà nước bố trí sử dụng đúng mục đích, sử dụng có hiệu quả vào các công trình phúc lợi công cộng của địa phương như: Trường học, trụ sở cơ quan, nhà văn hóa…

Quản lý việc hoạt động giáo dục, y tế, xã hội của tổ chức Công giáo. Các dòng tu duy trì trường, lớp dạy mẫu giáo, mở thêm nhiều phòng giúp học sinh (thôn quê) ra tạm trú để học, tổ chức đưa rước học sinh miễn phí, tham gia đóng góp giúp đỡ người nghèo, xây dựng nhiều cầu, đường nông thôn, đóng cây nước ở địa phương. Đến năm 2015, đã có 07 cộng đoàn dòng tu được cấp đăng ký hoạt động thành lập được 07 Trường giáo dục mầm non, mở khoảng 10 nhóm tr mầm non và nuôi dạy tr  khuyết tật mồ côi, như gồm Dòng tu Nữ Lasan Lộc Thiện, xã Lộc Thiện, huyện Lộc Ninh; cộng đoàn Nữ vương Hòa Bình – Giáo xứ Long Điền, Giáo xứ Phước Long, thị xã Phước Long; cộng đoàn Nữ Vương Hòa Bình tại huyện Bù Đăng. Đặc biệt dòng Nữ Vương Hòa Bình Giáo xứ Đồng Xoài, phường Tân Đồng, thị xã Đồng Xoài đã được UBND tỉnh chấp thuận thành lập Trường chuyên biệt Bình Minh nhằm tiếp nhận và giáo dục hòa nhập cho các tr  em khuyết tật với tổng kinh phí đầu tư trên 04 tỷ đồng [6].

Quản lý các hoạt động từ thiện: Bình Phước là nơi có rất nhiều dòng tu đang hoạt động, trong đó hoạt động từ thiện nhân đạo của các dòng tu rất sôi động, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các khu công nghiệp tập trung nhiều lao động. Quản lý nhà nước đối với việc tổ chức quyên góp và hoạt động từ thiện xã hội của giáo hội cơ sở.

Quản lý Nhà nước đối với hoạt động đối ngoại. Những năm qua được chính quyền tỉnh quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đúng theo quy định của pháp luật như: chấp thuận cho 03 linh mục, tu sỹ đi du học đào tạo ở nước ngoài, 15 lượt chức sắc đi thăm thân tham gia các hoạt động tôn giáo; tạo điều kiện cho Tổng Giám mục Leopoldo Gire thăm viếng mục vụ 02 lần tại các giáo xứ trên địa bàn tỉnh [37]. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Công tác vận động quần chúng. Tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở cơ sở). UBMTTQ, các đoàn thể chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội tỉnh và các huyện thị đẩy mạng công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong đồng bào Công giáo, tích cực phát triển đoàn viên, hội viên, tăng cường xây dựng lực lượng nòng cốt cho phong trào quần chúng ở địa phương, vận động đồng bào các tôn giáo thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia phát triển kinh tế – xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, tốt đời đẹp đạo”, phong trào xây dựng “xứ, họ đạo tiên tiến, gia đình giáo dân gương mẫu”, xây dựng thôn, ấp văn hóa, khu dân cư, gia đình văn hóa, phong trào “nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”, phong trào “toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc”….

2.4.2. Hạn chế

Bên cạnh những thành tựu trên, trong quản lý nhà nước đối với công giáo ở tỉnh Bình Phước còn những hạn chế nhất định.

Công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo của các cấp, các ngành với cơ sở chưa đồng bộ, thiếu sự trao đổi thông tin nên hiệu quả phòng ngừa vi phạm còn thấp, xử lý bị động, dẫn đến gây khó khăn cho công việc xử lý.

Hoạt động tôn giáo của Công giáo trên địa bàn tỉnh Bình Phước có nhiều diễn biến phức tạp, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Việc thành lập, chia tách giáo xứ, giáo họ, các cơ sở dòng tu không xin phép chính quyền địa phương diễn ra khác phổ biến. Các dòng tu phát triển mạnh mẽ, có xu hướng chia nhỏ cơ sở, tách dòng, đưa tu sĩ về cơ sở không đăng ký với chính quyền địa phương. Tính đến thời điểm năm 2015, vẫn còn 29 cộng đoàn dòng tu có cơ sở tại Bình Phước nhưng không đăng kỷ hoạt động. [phụ lục 4].

Giáo hạt Bình Long có 13 cộng đoàn và tu sĩ không đăng ký hoạt động, gồm: cộng đoàn Con Đức Mẹ Bình Long, hội dòng Con Đức Mẹ Nam Vang; cộng đoàn Mến Thánh giá Chợ Quán, Tân Hiệp; cộng đoàn Nữ tử Bác ái thánh Vinh Sơn, Tân Hiệp; cộng đoàn Lộc Ninh, hội dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm; cộng đoàn Tích Thiện, dòng Thánh Phaolô; Cộng đoàn Thừa sai Thánh Mẫu Bình Long; cộng đoàn Thừa sai Thánh Mẫu, Chơn Thành; cộng đoàn Mẹ Lộ Đức, dòng Nữ Tỳ Chúa Giêssu linh mục; cộng đoàn Con Đức Mẹ Mỹ Hưng, dòng Con Đức Mẹ Nam Vang; Cộng đoàn Phú Lương, dòng Chúa Quan Phòng; cộng đoàn Mẹ Nhân Ái Lộc Thạnh; cộng đoàn Minh Lập dòng Mến Thánh giá Chợ Quán và cộng đoàn Thánh Tâm Huế [phụ lục 5].

Tình trạng mua bán đất đai, xây dựng, sửa nơi thờ tự không xin phép hoặc làm không đúng nội dung xin phép diễn ra khá phổ biến và phức tạp. Khi chính quyền biết thì sự đó rồi, hoặc lợi dụng quần chúng tín đồ để gây sức ép buộc chính quyền phải đồng ý. Những vi phạm loại này diễn ra ở hầu hết các địa phương trong tỉnh.

Sự phát triển của các hội đoàn công giáo có nhiều diễn biến phức tạp, hầu hết các hội đoàn thành lập các hội đoàn trái phép. Nhà nước chỉ cho thành lập các hội đoàn tôn giáo đơn thuần phục vụ cho lễ nghi tôn giáo, song trong thực tế, nhiều hội đoàn mang tính xã hội, không trực tiếp phục vụ cho lễ nghi tôn giáo đã được thành lập và hoạt động thường xuyên nhưng không đăng ký với chính quyền địa phương (năm 2014 có 32 hội đoàn hoạt động).

Việc xử lý các khiếu tố, khiếu nại liên quan đến tôn giáo và vi phạm chính sách tôn giáo đang là một vấn đề bức xúc đặt ra cho công tác quản lý nhà nước. Trong thời gian qua, các khiếu tố, khiếu nại diễn ra ở nhiều nơi, chủ yếu tập trung vào việc tranh chấp đất đai, cơ sở thờ tự giữa Giáo hội các tôn giáo với nhân dân. Hiện nay, chính quyền các cấp cơ sở giải quyết không đúng thẩm quyền, còn đùn đẩy giữa cấp trên với cấp dưới. Nhiều vụ, việc đơn giản trở thành phức tạp. ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan chức năng của tỉnh, như Ban Tôn giáo, Công an, Sở Xây dựng, Sở Địa chính (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường)… chưa phối hợp đồng bộ, thống nhất chủ trương để giải quyết. Do không xử lý đúng pháp luật nên có nhiều đơn, thư khiếu tố, khiếu nại vượt cấp, nhiều lúc vi phạm pháp lệnh khiếu tố, khiếu nại của Nhà nước. Điển hình là vụ tranh chấp đất đai giữa Hội đồng giáo xứ Tân Châu với Trường tiểu học Thành Tâm, huyện Chơn Thành. UBND tỉnh đó chỉ đạo các ngành của tỉnh và giao cho UBND huyện giải quyết, nhưng sau 10 năm các cơ này mới giải quyết xong. Mặc dù các ngành chức năng của tỉnh đó nhận được đơn thư khiếu nại của quần chúng về việc Vừ Hồng Xuân lợi dụng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan lấn chiếm đất rừng, nhưng chính quyền để 10 năm sau mới giải quyết. Việc xử lý tín đồ, chức sắc và cán bộ vi phạm chính sách tôn giáo chưa nghiêm minh, chưa đúng người, đúng tội và kịp thời. Từ đó gây nên sự bất bình của quần chúng tín đồ và chức sắc, làm giảm niềm tin của nhân dân vào pháp luật và hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Công tác Quản lý nhà nước đối với Công giáo chưa kết hợp chặt chẽ với việc phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng đồng bào có đạo. Công tác vận động tín đồ, chức sắc thụng qua cácc chính sách tôn giáo, các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố an ninh – quốc phòng… chưa được chú ý thường xuyên, đúng mức đó làm hạn chế việc tranh thủ, nắm bắc thông tin quần chúng tín đồ. Việc xử lý không ít vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ở các vùng đồng bào có đạo còn lúng túng và chậm trễ, kém hiệu quả.

Những thiếu sót trên đây đã gây nên tình trạng hoài nghi trong nội bộ quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành đối với những chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; làm ảnh hưởng tới việc tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; tạo kẽ hở để bọn xấu và k  địch lợi dụng xuyên tạc, kích động, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo.

2.4.3. Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

2.4.3.1. Nguyên nhân của  kết quả

Một là, Đảng và Nhà nước ta đã sớm có chủ trương, chính sách đổi mới về công tác tôn giáo đúng đắn và toàn diện. Ngay từ năm 1990, nghĩa là chỉ sau bốn năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước (1986), Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về tăng cương công tác tôn giáo trong tình hình mới xác định rõ quan điểm nhận thức về vấn đề tôn giáo với việc khẳng định: tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; tín ngưỡng tôn giáo nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Đồng thời khẳng định: công tác tôn giáo vừa phải đáp ứng nhu cầu của nhân dân vừa phải kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo; nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng; làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Từ đó đề gia giải pháp đối với công tác tôn giáo xác định rõ “Các giáo hội và các hệ phái tôn giáo có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ, mục đích, điều lệ phù hợp với pháp luật Nhà nước, có tổ chức thích hợp và có bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về hai mặt đạo, đời, được nhà nước xem xét trong từng trường hợp cụ thể để cho phép hoạt động”. Những quan điểm đổi mới có tính “đột phá” nêu trên đã được các chỉ thị, Nghị quyết tiếp theo của Đảng ta từng bước bổ sung, hoàn thiện. Đặc biệt Nghị quyết số 25, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy (khóa IX) khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội” và “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Các quan điểm chỉ đạo nêu trên đã được Nhà nước thể chế hóa thành các văn bản chính sách, pháp luật, nhấp là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ra đời năm 2004 và Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua tháng 11 năm 2016 đã tạo thành lang pháp lý cho công tác quản lý hoạt động tôn giáo nói chung, đối với hoạt động của đạo Công giáo nói riêng.

Đường lối đổi mới của Đảng chẳng những phản ánh đúng đắn lợi ích, nguyện vọng, sáng kiến của nhân dân ta nói chung, của quần chúng tín đồ nói riêng. Đảng và Nhà nước đó sớm đưa ra các chủ trương, chính sách tôn giáo theo tinh thần đổi mới, đúng đắn và kịp thời; đồng thời, đó chủ động sáng tạo trong quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện, kiên quyết thực hiện các chủ trương, chính sách đó trên thực tiễn. Chính sách đó đã tạo nên niềm tin tưởng, phấn khởi cho đại đa số giáo sĩ, tu sĩ và đồng bào giáo dân.

Hai là, Quán triệt quan điểm của Đảng, chính ách pháp luật của Nhà nước, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Bình Phước đã kịp thời ban hành các văn bản pháp quy hướng dẫn các cấp chính quyền tăng cường quản lý nhà nước đối với tôn giáo.

Bên cạnh việc phổ biến, tuyên truyền chính sách tôn giáo và thể chế hoá nó bằng các văn bản cấp tỉnh, Tỉnh ủy đã thường xuyên quan tâm, đôn đốc các ngành, các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tôn giáo theo thẩm quyền của cơ quan mình; tích cực xây dựng, củng cố kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, nhất là Ban tôn giáo tỉnh; thành lập Ban chỉ đạo công tác tôn giáo của tỉnh, thành lập Ban chỉ đạo công tác tôn giáo của 11 huyện, thị xã để kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở cơ sở. Vì vậy, đã khắc phục được tình trạng thiếu tập trung, thống nhất trong chỉ đạo, đó cú sự phối hợp đồng bộ và chặt chẽ hơn trước, đảm bảo sự lónh đạo của cấp ủy đảng về công tác tôn giáo và Quản lý nhà nước của chính quyền.

Ba là, Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) và các ngành hữu quan đã làm tốt công tác tham mưu, đề xuất biện pháp, kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo, củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở vùng có đông đồng bào theo đạo.

Các cấp ủy Đảng trong tỉnh đó quan tâm chỉ đạo xây dựng, củng cố thực lực chính trị, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, phát triển đảng viên, nhiều tổ chức cơ sở đảng từ chỗ chỉ có 1 đến 2 đảng viên. Đến nay công tác phát triển đảng đảng trong vùng Công giáo đã có bước chuyển biến tích cực, nhiều đảng viên đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của đảng ở địa phương (cả tỉnh hiện có 26 tổ chức cơ sở đảng ở địa bàn trọng điểm tôn giáo và vùng Công giáo là đảng bộ cơ sở), nhiều cơ sở đã được củng cố, xây dựng từ yếu kém vươn lên loại khá và trong sạch, vững mạnh, chất lượng tổ chức cơ sở đảng vùng trọng điểm tôn giáo được nâng cao. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Bốn là, Mặt trận và các đoàn thể tích cực triển khai công tác tôn giáo đưa vào nội dung tập huấn đẩy mạnh công tác vận động đồng bào có đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, văn hoá nâng cao trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật cho tín đồ. Đồng thời tăng cường công tác vận động tập hợp tín đồ, chức sắc, tu sĩ tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các tổ chức chính trị-xã hội.

2.4.3.2. Nguyên nhân của hạn chế

Một là, sự phân công, phân cấp giữa các sở, ban, ngành của tỉnh cũng như thẩm quyền giữa Ban tôn giáo với UBND các huyện, thị, thành chưa rõ ràng. Hoạt động tôn giáo có liên quan đến các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị trong tỉnh, cho nên Ban Tôn giáo tỉnh không thể là cơ quan hành chính duy nhất đảm đương mọi nhiệm vụ quản lý trên tất cả các lĩnh vực. Từ đó, một yêu cầu tất yếu đặt ra là phải có sự phân công, phân cấp quản lý, trên cơ sở xác định rõ vị trí pháp lý và thẩm quyền pháp lý của từng cơ quan hành chính nhà nước. Tình trạng vừa chồng chéo, lấn sân, vừa buông lỏng và thả nổi quản lý; việc thực thi công vụ quản lý không đúng quyền hạn, đùn đẩy cho nhau giữa các cơ quan cùng chung hệ thống ngang, hoặc hệ thống dọc, trong quá trình xử lý các tình huống quản lý đang được đặt ra và yêu cầu phải cần được chấn chỉnh ngay.

Hai là, công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước cho tín đồ, chức sắc, nhà tu hành và cán bộ, đảng viên còn chậm, chưa thường xuyên; nội dung, hình thức chưa phù hợp, thậm chí không chuyển tải đầy đủ. Qua khảo sát thực tế trong tỉnh cho thấy, có đến 45% thanh niên chưa biết Pháp lệch tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 92 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệch tín ngưỡng, tôn giáo, 8% phỏng đoán sai lệch nội dung. Nhận thức của một số cán bộ, đảng viên cũng như các ngành, các cấp về chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ; chưa thấy được tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới [14].

Ba là, bộ máy và cán bộ làm công tác tôn giáo nói chung và công tác

Quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng, từ tỉnh đến cơ sở còn thiếu và yếu, trong đó, đáng kể là số cán bộ người dân tộc thiểu số. Ở tỉnh Bình Phước, cán bộ làm công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo còn yếu về năng lực và trình độ.

Nhiều cán bộ chưa được đào tạo cơ bản, chưa có trình độ nghiệp vụ quản lý và kinh nghiệm quản lý tôn giáo. Có người chậm đổi mới tư duy, ít am hiểu pháp luật nên còn lúng túng trong thực thi nhiệm vụ, nhất là giải quyết những vấn đề tranh chấp, giải quyết thủ tục cũng như xử lý vi phạm. Do đó, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo bị suy giảm.

Toàn tỉnh có 11 huyện, thị xã nhưng cán bộ làm công tác tôn giáo vẫn còn một số chưa được đào tạo về chuyên môn. Ngay ở các xã, phường có tỷ lệ dân số theo đạo từ 35% trở lên cũng không có cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo. Trong khi đó, cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện những quy định về pháp luật của Nhà nước về các hoạt động tôn giáo, đồng thời cũng là nơi đầu tiên phát hiện, tiếp cận và xử lý những vấn đề phát sinh qua thực tế thực hành tín ngưỡng, tôn giáo.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

Ở Chương 2 tác giả tiếp tục đi vào nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề trọng tâm của đề tài.

Tác giả đã giới thiệu một cách khái quát về vị trí địa lý, các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên như: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, các yếu tố kinh tế, văn hóa – xã hội có ảnh hưởng và tác động đến quản lý các hoạt động tôn giáo của tỉnh Bình Phước, qua đó nhận thức được những thuận lợi và khó khăn trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với Công giáo nói riêng.

Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời đổi mới chính sách và công tác tôn giáo. Các quan điểm đổi mới công tác tôn giáo của Đảng đã được thể chế hóa bằng các văn bản chính sách, pháp luật của nhà nước, tạo thành cơ sở pháp lý cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, trong đó có quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo của đạo Công giáo ở Bình Phước. Các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo đã được các cấp ủy đảng, chính quyền địa cụ thể hóa để đi vào cuộc sống.

Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của Công giáo ở Bình Phước thời gian qua đã được được những kết quả bước đầu quan trọng. Công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chính sách pháp luật về tôn giáo đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đẩy mạnh nhằm làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chức sắc, nhà tu hành, giáo dân hiểu ro và nghiêm chỉnh thực hiện. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo được củng cố, kiện toàn một bước. Công tác quản lý đối với các hoạt động của Công giáo từng bước đi vào nền nếp tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành diễn ra bình thường, đúng pháp luật. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của Công giáo ở Bình Phước cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần được khắc phục, tháo gỡLuận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước

One thought on “Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước công giáo ở Bình Phước

  1. Pingback: Luận văn: Quản lý Nhà nước đối với Công giáo ở tỉnh Bình Phước

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464