Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Thực trạng công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn quận Gò Vấp, TP.HCM dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát đặc điểm một số trường THCS tại Quận Gò Vấp mà đề tài đã khảo sát
Trong phạm vi giới hạn của đề tài, tác giả đã tiến hành khảo sát, phỏng vấn và quan sát công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại một số trường THCS trên địa bàn Quận Gò Vấp – TP.Hồ Chí Minh, đó là: Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi, Trường THCS Gò Vấp, Trường THCS Nguyễn Văn Nghi và Trường THCS Trường Sơn.
2.1.1. Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi
Trường Nguyễn Văn Trỗi, nằm trên địa bàn Phường 3, Quận Gò Vấp, được thành lập từ năm 1995 sau khi tách ra từ Trường Cấp I,II Nguyễn Văn Trỗi. Ngay từ ngày mới thành lập, trường đã được bố trí trên một ngôi trường mới xây dựng, môi trường sư phạm tương đối khang trang. Trong năm học 2011 – 2012, trường có 45 lớp với 2173 học sinh và 104 CB- GV – CNV.
Trong những năm qua, đội ngũ giáo viên trường Nguyễn Văn Trỗi hầu hết là giáo viên trẻ, nhiệt tình, năng động, có tinh thần trách nhiệm trong công việc. Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng được một tập thể sư phạm đoàn kết, cha mẹ học sinh nhiệt tình hỗ trợ các hoạt động của nhà trường và các em học sinh luôn chăm ngoan, lễ phép, có ý thức học tập tốt, tích cực tham gia các hoạt động. Tuy nhiên bên cạnh đó nhà trường cũng gặp những khó khăn như: sân trường chật hẹp, sĩ số đông,…
Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng trong những năm qua, bên cạnh giáo dục tri thức cho học sinh, đội ngũ CB – GV – CNV nhà trường luôn cố gắng giáo dục truyền thống cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp,…Từ khi thành lập đến nay, trường Nguyễn Văn Trỗi đã có nhiều thành tích đáng tự hào:
- Trường nhận Huân chương lao động Hạng Nhất, Nhì, Ba. (Hạng Nhất: Năm 2003);
- Trường nhận Bằng khen của Chính phủ năm 2009;
- Đạt Danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc cấp Thành phố nhiều năm liền;
- Là đơn vị đầu tiên trong ngành Giáo dục – Đào tạo Quận Gò Vấp nhận Giấy chứng nhận Kiểm định chất lượng giáo dục – Năm 2012; Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
- Chi bộ đạt danh hiệu “Trong sạch vững mạnh” liên tục nhiều năm liền từ năm 1995; Chi đoàn, Liên đội được xếp loại xuất sắc nhiều năm liền.
Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi luôn nỗ lực không ngừng trong việc tạo môi trường sư phạm thân thiện, tạo điều kiện phát huy trí lực cho học sinh, chú trọng công tác giáo dục toàn diện, góp phần vào thành quả chung của ngành Giáo dục-Đào tạo Quận Gò Vấp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục
2.1.2. Trường THCS Gò Vấp
Đây là một trong những ngôi trường lâu đời ở Quận Gò Vấp được thành lập năm 1920. Sau nhiều lần đổi tên, nay trường mang tên Trường THCS Gò Vấp. Trường THCS Gò Vấp nằm trên địa bàn Phường 7 – Q.GV tiếp nhận học sinh phường 7, một số ít học sinh thuộc phường 01, 04, 05, 06 và 17. Hiện nay trường có tổng số 77 CB–GV–CNV với 1500 học sinh được chia thành 31 lớp.
Nhà trường luôn được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo các cấp và sự hỗ trợ của các đoàn thể địa phương, đơn vị kết nghĩa, của PHHS trong hoạt động giáo dục. Tập thể sư phạm nhà trường luôn đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm. Nhiều năm qua, nhà trường có truyền thống dạy tốt – học tốt. Kết quả thi đua:
- Trường đón nhận Huân chương lao động Hạng 3 – Năm 2005
- Nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ là đơn vị có nhiều thành tích trong công tác giáo dục ba năm liên tục (NH 2007 – 2008 đến NH 2009 – 2010)
- Liên tục nhiều năm nhà trường đạt danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc.
- Chi bộ đạt danh hiệu “Trong sạch vững mạnh” liên tục nhiều năm liền từ năm 1995; Chi đoàn, Liên đội được xếp loại xuất sắc nhiều năm liền. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Để đạt được những thành tích đáng tự hào trên, tập thể sư phạm nhà trường đã phải cố gắng vượt qua nhiều khó khăn như cơ sở vật chất chật hẹp, không đủ phòng chức năng, phòng bộ môn gần như không có để phục vụ giảng dạy, nhất là các môn năng khiếu,…hay như trường gần chợ nên hiệu quả giáo dục đạo đức phần nào bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài….
Tuy nhiên, mặc dù đa số phụ huynh thuộc thành phần lao động phổ thông, một số ít là gia đình công chức – viên chức nhưng hầu hết phụ huynh đều quan tâm việc học tập, sinh hoạt của con em mình. Học sinh đa phần có ý thức học tập tốt, ngoài ra các em còn bíết rèn luyện kỹ năng giao tiếp khá tốt.
2.1.3. Trường THCS Nguyễn Văn Nghi
Trường THCS Nguyễn Văn Nghi được thành lập năm 2001 nằm trên địa bàn Phường 5 Quận Gò Vấp, môi trường dân cư xung quanh trường đông, phức tạp, đa số là dân tạm trú. Vào những ngày đầu thành lập, thầy và trò trường THCS Nguyễn Văn Nghi đã gặp nhiều khó khăn khi chưa có trường lớp ổn định, phải đi học nhờ ở trường Biên phòng hoặc trường tiểu học Hanh Thông với điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn. Đến năm 2005, Trường Nguyễn Văn Nghi được xây dựng xong trên vị trí cũ của Trường tiểu học Nguyễn Viết Xuân. Từ đó đến nay, tập thể CB – GV – CNV và học sinh Trường Nguyễn Văn Nghi luôn nỗ lực không ngừng trong việc xây dựng môi trường xanh – sạch – đẹp góp phần từng bước hướng đến xây dựng thành công môi trường thân thiện, học sinh tích cực.
Bên cạnh những thuận lợi của một ngôi trường mới xây, trường Nguyễn Văn Nghi cũng có những khó khăn, như: khuôn viên trường nhỏ hẹp, trường nằm trong hẻm, lối vào trường nhỏ; Số lượng học sinh quá đông so với khuôn viên trường; cơ sở vật chất một số đã xuống cấp; phần đông bố mẹ còn thiếu quan tâm trong việc học tập và rèn đạo đức cho con em; ý thức học tập của học sinh chưa cao…Thế nhưng tập thể thầy và trò nhà trường đã nỗ lực không ngừng để đạt được những thành tích đáng tự hào:
- Chi bộ đạt danh hiệu “Trong sạch vững mạnh” nhiều năm liền
- Trường đạt danh hiệu : Tập thể lao động tiên tiến năm học 2009 – 2010, 2010-2011 và đạt Tập thể lao động xuất sắc năm học 2011-2012.
- Liên đội được đánh giá tốt nhiều năm liền.
Tổ chức được nhiều buổi giao lưu chuyên đề “kỹ năng sống”: giao lưu với thạc sĩ Hà Trung Thành thuộc Công ty đầu tư & phát triển giáo dục Sài Gòn TP.HCM, chuyên đề “kỹ năng giao tiếp học đường” và chuyên đề “Gia đình và chữ Hiếu” do thạc sĩ tâm lý học Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu trường ĐHSP TP.HCM báo cáo trong CB – GV – CNV và học sinh.; Tổ chức tốt hộp thư ”Điều em muốn nói”, “Tâm sự tuổi teen”,…và nhiều phong trào bổ ích khác.
2.1.4. Trường THCS Trường Sơn Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Trường THCS Trường Sơn tọa lạc tại số 43 Đường Nguyễn Văn Bảo, Phường 04, Quận Gò Vấp TP Hồ Chí Minh đối diện Trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh. Trường được chuyển từ hệ Bán công sang hệ Công lập từ năm học 2006-2007 nên năng lực học sinh ở đầu vào tương đối tốt hơn khi trường còn thuộc hệ Bán công.
Trường THCS Trường Sơn có tổng cộng 20 phòng học và phòng chức năng với tổng số học sinh là 742 em được xếp vào 17 lớp. Trong năm học 2011 – 2012 , nhà trường có tổng số CB – GV – CNV là 46, trong đó:
Tập thể Ban giám hiệu đoàn kết, thống nhất về mục tiêu kế hoạch giáo dục của nhà trường, có phân công, phân việc rõ ràng, có tinh thần trách nhiệm, có năng lực có kinh nghiệm trong quản lý và điều hành công việc. Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, có trình độ đạt và trên chuẩn, luôn học hỏi và có sự hợp tác giữa đồng nghiệp và tổ trưởng chuyên môn về đổi mới phương pháp và xây dựng nếp học tích cực cho học sinh. Nhìn chung, tập thể giáo viên là đội ngũ sư phạm khá vững vàng về chuyên môn, có ý thức trách nhiệm với bản thân và với cộng đồng. Tổng phụ trách có ý thức trách nhiệm, luôn quan tâm đến việc giáo dục đạo đức hình thành nhân cách cho học sinh thông qua các hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh. Trong những năm qua, nề nếp học tập, sinh hoạt của học sinh từng bước ổn định, lễ phép biết vâng lời thầy cô, có ý thức thực hiện nội quy của nhà trường.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, trường THCS Trường Sơn vẫn có những khó khăn như:
- Năng lực chuyên môn và quản lý lớp của giáo viên chưa đồng đều cho tất cả các bộ môn trong nhà trường;
- Do nhà trường có nhiều năm thuộc hệ bán công, đầu vào có chất lượng văn hoá thấp nên giáo viên chưa mạnh dạn trong việc phát huy trí lực và tư duy độc lập của học sinh;
- Đối tượng học sinh từ các nơi chuyển đến do đó trình độ không đồng đều, phụ huynh chưa quan tâm đến việc giáo dục con em mình…
- Diện tích trường nhỏ, sân trường chật hẹp, không đủ sân chơi cho học sinh nên có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng học tập, sinh họat của học sinh;
- Đối diện trường là Trường ĐH Công nghiệp với một lực lượng sinh viên quá tải, đủ mọi trình độ, chưa được quản lý chặt chẽ, chưa tạo được môi trường sư phạm và tính an toàn trước cổng trường… làm hạn chế hiệu quả công tác chống tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường, làm ảnh hưởng rất lớn đến công tác giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách cho học sinh.
Dù còn nhiều khó khăn, tập thể CB – GV – CNV trường THCS Trường Sơn vẫn luôn phấn đấu không ngừng để đưa chất lượng giáo dục nhà trường ngày càng đi lên. Kết quả: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
- Trường đạt danh hiệu Lao động tiên tiến cấp Quận Năm học 2008 – 2009, 2010 – 2011, 2011 – 2012.
- Chi bộ đạt danh hiệu “ Trong sạch vững mạnh” nhiều năm liền.
- Công đoàn nhận Bằng khen Công đoàn vững mạnh xuất sắc của Liên đoàn lao động Thành phố.
- Chi đoàn nhận Bằng khen của Thành đoàn.
- Liên đội nhận Bằng khen của Trung ương Đoàn.
Trường THCS Trường Sơn với mục tiêu chiến lược là “Nâng cao chất lượng dạy và học, đẩy mạnh phát triển giáo dục toàn diện, xây dựng môi trường thân thiện; Nâng cao năng lực cho Cán bộ quản lý cũng như năng lực sư phạm của giáo viên; Phát huy tối đa tính tích cực chủ động của học sinh” mang sứ mạng “Thực hiện tốt, thường xuyên và liên tục việc xây dựng Trường học thân thiện – Học sinh tích cực, tạo môi trường thuận lợi cho học sinh học tập, vui chơi tích cực, góp phần hình thành nhân cách con người mới năng động, sáng tạo.”
2.2. Tổ chức nghiên cứu: Chọn mẫu – Dụng cụ – Cách tiến hành
2.2.1. Chọn mẫu
Trên địa bàn Quận Gò Vấp có 13 trường THCS, tác giả nhận thấy 4 trường: Nguyễn Văn Trỗi, Gò Vấp, Nguyễn Văn Nghi và Trường Sơn thể hiện khá rõ nét sự khác biệt về điều kiện cơ sở vật chất, môi trường,… Điều này sẽ giúp việc nhận định về thực trạng được khái quát hơn.
Tác giả chọn mẫu khảo sát từ 30 đến 60 giáo viên và 100 học sinh ở mỗi trường.
2.2.2. Dụng cụ
Để tiến hành khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của một số trường THCS trên địa bàn Quận Gò Vấp, tác giả đã sử dụng ba phiếu khảo sát dành cho ba đối tượng: Hiệu trưởng – Phó hiệu trưởng và Giáo viên – Học sinh.
2.2.3. Cách tiến hành
- Tiến hành điều tra qua phiếu khảo sát dành cho ba đối tượng nói trên.
- Thực hiện phỏng vấn trực tiếp.
- Tham dự buổi sinh hoạt chuyên đề.
2.3. Kết quả khảo sát Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
2.3.1. Kết quả tổng quát các tham số nghiên cứu của CB–GV–CNV và học sinh
- Tổng số phiếu phát ra: 580 phiếu
- Giáo viên: 190 phiếu
- Học sinh: 390 phiếu
- Tổng số phiếu thu về:
- Giáo viên: 178 phiếu , trong đó:
- Trình độ thạc sỹ: 03 phiếu
- Trình độ cử nhân đại học: 155 phiếu
- Trình độ cử nhân cao đẳng: 20 phiếu
- Học sinh: 367 phiếu, trong đó:
- Lớp 8: 81 phiếu
- Lớp 7: 139 phiếu
- Lớp 6: 145 phiếu
Ghi chú:
Một số từ viết tắt trong các bảng:
- ĐLTC: độ lệch tiêu chuẩn
- TB: trung bình
- N:số khách thể tham gia nghiên cứu
- Tùy theo thang đo, điểm trung bình cộng sẽ thay đổi. Theo kết quả này, có thể quy định về các mức như sau:
Thang 5 mức:
- Trung bình cộng từ 4,5 đến 5,0: mức cao
- Trung bình cộng từ 3,50 đến 4,49: mức khá cao
- Trung bình cộng từ 2,50 đến 3,49: mức trung bình
- Trung bình cộng dưới 2,49: mức kém Thang 3 mức
- trung bình cộng từ 2,5 đến 3,0: mức cao/tốt
- trung bình cộng từ 2,0 đến 2,49: mức khá cao/khá tốt
- trung bình cộng từ 1,50 đến 2,49: mức trung bình
- trung bình cộng dưới 1,50: mức kém
2.3.2. Thực trạng quản lý nhận thức về hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong mục tiêu giáo dục của nhà trường THCS
Như phần tác giả trình bày phía trên, hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần được các nhà giáo dục chú trọng và phải được tổ chức một cách khoa học và có hiệu quả. Để làm được như thế, đòi hỏi người giáo viên phải có nhận thức sâu sắc về khái niệm kỹ năng sống, vị trí, vai trò và mục tiêu của hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong mục tiêu giáo dục của nhà trường; bên cạnh đó, học sinh phải nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống để từ đó có thái độ học tập, rèn luyện tích cực nhằm tăng cường kỹ năng sống cho bản thân. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
2.3.2.1. Quản lý nhận thức về khái niệm kỹ năng sống của giáo viên và học sinh
Ý kiến chọn lựa của giáo viên và học sinh đối với các nội dung liên quan đến khái niệm kỹ năng sống trong phiếu khảo sát thể hiện nhận thức của giáo viên và học sinh trong trường THCS về kỹ năng sống.
- Bảng 2.1. Kết quả khảo sát nhận thức về khái niệm kỹ năng sống của giáo viên
- Bảng 2.2. Kết quả khảo sát nhận thức về khái niệm kỹ năng sống của học sinh
Căn cứ vào bảng 2.1 ta nhận thấy: Tỷ lệ giáo viên có nhận thức đúng về kỹ năng sống là 71.9 %, đây là một kết quả khá cao, chứng tỏ hiện nay đa số giáo viên đã có sự quan tâm đến hoạt động này. Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn một số ý kiến lựa chọn những nội dung không phải là định nghĩa chính xác của kỹ năng sống, chiếm tỷ lệ 27%. Khi giáo viên là người “dẫn đường” cho trẻ nhưng vẫn chưa hiểu đầy đủ về hoạt động này sẽ khiến cho hiệu quả giáo dục bị ảnh hưởng. Đặc biệt nghiêm trọng hơn, theo khảo sát, có hai giáo viên chưa tìm hiểu về kỹ năng sống. Kết quả trên cho thấy, giáo viên có nhận thức về kỹ năng sống khá cao nhưng nhận thức vẫn ở một chừng mực nhất định.
Đối với học sinh THCS, căn cứ vào bảng 2.2, có 84.5% cho ý kiến đúng, còn lại 13.3% học sinh chưa có nhận thức đúng đắn về kỹ năng sống. Ngoài ra, vẫn còn 1.9% học sinh không trả lời và 0.3% học sinh không biết gì về kỹ năng sống. Điều này chứng tỏ vẫn còn một số học sinh chưa quan tâm đến kỹ năng sống.
2.3.2.2. Quản lý nhận thức về sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
Khảo sát ý kiến của giáo viên đối với sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS trên bốn mức độ là rất cần thiết, cần thiết, không cần, không quan tâm. Kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Khảo sát ý kiến của học sinh đối với mức độ quân tâm đến giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường THCS trên bốn mức độ là rất quan tâm, quan tâm, ít quan tâm, không quan tâm. Kết quả thu được như sau:
Với tỷ lệ 86% ý kiến giáo viên cho rằng việc giáo dục kỹ năng sống là rất cần thiết. Điều này chứng tỏ, giáo viên đã nhận thức được vị trí, vai trò có ích của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong quá trình học tập và sinh hoạt hàng ngày. Cùng với tỷ lệ 6.7% ý kiến giáo viên nhận định việc giáo dục kỹ năng sống là cần thiết, ta có hầu hết giáo viên (92.7%) nhận thấy việc giáo dục kỹ năng sống đóng vai trò quan trọng trong trường THCS , vì khi được trang bị đầy đủ kỹ năng sống các em sẽ hình thành lý tưởng và động cơ học tập đúng đắn, đạt hiệu quả cao trong học tập và sẽ tự tin giải quyết các vấn đề mà các em phải đối mặt một cách tích cực. Ngoài ra, với chủ trương tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào từng bộ môn văn hóa của Bộ giáo dục và đào tạo đã tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngay trong quá trình giảng dạy. Thông qua việc phỏng vấn trực tiếp giáo viên, tác giả nhận thấy vẫn còn trường hợp giáo viên chưa quan tâm đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống, vì họ cho rằng cần dành thời gian để giải quyết kiến thức trong nội dung bài dạy theo yêu cầu chương trình vì đây là điều cần thiết để các em đạt điểm số cao trong các kỳ kiểm tra.
Đối với học sinh, mức độ quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường được thể hiện qua Biểu đồ 2.2. Kết quả thu được cho thấy, đa số các em không còn thờ ơ với hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường vì tính giá trị và tính cấp thiết của hoạt động này đối với các em.
Thế nhưng vẫn còn trường hợp giáo viên chưa quan tâm đến hoạt động này (chiếm 7.3%) vì cho rằng hiện nay cách đánh giá kết quả học tập của học sinh còn dựa nhiều vào kiến thức hàn lâm, chưa chú trọng yếu tố thực hành nên nếu dành thời gian để giáo dục kỹ năng sống sẽ làm ảnh hưởng đến điểm số môn văn hóa của học sinh.
Đối với học sinh cũng vậy, vẫn còn một số học sinh ít quan tâm (chiếm tỷ lệ 5.2%) hoặc không quan tâm (chiếm tỷ lệ 3.2%) đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường. Với suy nghĩ của một bộ phận không nhỏ giáo viên, học sinh như thế cho nên hiện tượng học từ chương, áp đặt, chạy theo thành tích vẫn còn diễn ra khiến cho học sinh không thể phát huy tính tư duy sáng tạo, kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng phân tích,… và các kỹ năng quan trọng khác.
Đi sâu vào tìm hiểu mức độ cần thiết của 14 kỹ năng sống mà tác giả đã trình bày ở phần cơ sở lý luận. Kết quả như trong bảng 2.3.
Bảng 2.3. Đánh giá mức độ cần thiết của việc rèn luyện các kỹ năng sống trong nhà trường của giáo viên và học sinh
Kết quả cho thấy đánh giá của giáo viên về mức độ cần thiết của kỹ năng sống đối với học sinh THCS theo thứ bậc từ cao xuống thấp như sau: Kỹ năng tự nhận thức (thứ bậc 1); Kỹ năng giao tiếp (thứ bậc 2); Kỹ năng tư duy sáng tạo (thứ bậc 3); Kỹ năng lắng nghe tích cực (thứ bậc 4); Kỹ năng thể hiện sự tự tin (thứ bậc 5); Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm (thứ bậc 6); Kỹ năng hợp tác (thứ bậc 7); Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn (thứ bậc 8); Kỹ năng thể hiện sự cảm thông (thứ bậc 9); Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin (thứ bậc 10); Kỹ năng quản lý thời gian (thứ bậc; Kỹ năng ra quyết định (thứ bậc 12); Kỹ năng xác định giá trị (thứ bậc 13) và Kỹ năng kiên định (thứ bậc 14). Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Như vậy giáo viên đánh giá các kỹ năng liên quan đến học tập và giao tiếp của học sinh như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng lắng nghe tích cực, kỹ năng thể hiện sự tự tin, kỹ năng đảm nhận trách nhiệm, kỹ năng hợp tác là những kỹ năng rất cần thiết cho học sinh. Các kỹ năng này rất cần thiết trong quá trình học tập của học sinh, giúp các em từng bước hình thành được tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong mọi hoạt động. Các kỹ năng còn lại cũng được đánh giá là cần thiết đối với học sinh. Điều này phản ánh rõ nét nhận thức đúng đắn của giáo viên về việc giáo dục các kỹ năng sống đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành nhân cách cho học sinh THCS.
Đối với học sinh, mức độ cần thiết đối với việc rèn luyện các kỹ năng sống theo các thứ bậc từ cao xuống thấp như sau: Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn (thứ bậc 1); Kỹ năng tự nhận thức (thứ bậc 2); Kỹ năng giao tiếp (thứ bậc 3); Kỹ năng xác định giá trị (thứ bậc 4); Kỹ năng lắng nghe tích cực (thứ bậc 5); Kỹ năng hợp tác (thứ bậc 6); Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin (thứ bậc 7); Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm (thứ bậc 8); Kỹ năng tư duy sáng tạo (thứ bậc 9); Kỹ năng thể hiện sự cảm thông (thứ bậc 10); Kỹ năng thể hiện sự tự tin (thứ bậc 11) ; Kỹ năng kiên định (thứ bậc 12); Kỹ năng ra quyết định (thứ bậc 13) và Kỹ năng quản lý thời gian (thứ bậc 14).
Cũng tương tự giáo viên, học sinh xác định các kỹ năng học tập và giao tiếp là những kỹ năng rất cần thiết, như: Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng lắng nghe tích cực, kỹ năng hợp tác. Tuy nhiên việc các em chọn kỹ năng giải quyết mâu thuẫn và kỹ năng xác định giá trị là 2 trong 6 kỹ năng rất cần thiết thể hiện nhu cầu được giải quyết các mâu thuẫn thường ngày một cách tích cực và nhu cầu đánh giá đúng bản thân mình là cấp thiết.
Mặc dù nhận thức của giáo viên và học sinh về sự cần thiết của từng kỹ năng sống chưa thật sự tương đồng nhưng nhìn chung cả giáo viên và học sinh đều đánh giá vị trí và vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường THCS từ mức khá cao (trung bình cộng từ 3,50 đến 4,49) đến mức cao (trung bình cộng từ 4,5 đến 5,0). Kết quả thể hiện cụ thể trong bảng 2.3.
Kết quả trên đã thể hiện nhận thức đúng đắn của đội ngũ giáo viên và học sinh của một số trường THCS tại Quận Gò Vấp đối với vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường THCS.
2.3.2.3. Quản lý nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục KNS
Các hoạt động giáo dục và lực lượng tham gia giáo dục đóng vai trò quan trọng vào kết quả giáo dục, do đó nếu người hiệu trưởng định hướng được cho giáo viên xác định đúng các yếu tố này sẽ tạo được hiệu quả tích cực trong công tác giáo dục, nhất là trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống . Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Thực hiện khảo sát trên giáo viên về lực lượng thực hiện hiệu quả việc giáo dục kỹ năng sống, tác giả thu nhận được kết quả như trong bảng 2.4.
Bảng 2.4. Đánh giá của giáo viên về bộ phận (lực lượng) nào trong nhà trường thực hiện việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở là hiệu quả
Thông qua kết quả được ghi nhận tại Bảng 2.4, quan sát cột trung bình cộng, ta dễ dàng nhận ra giáo viên đã có nhận thức rất đầy đủ về lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường. Các lực lượng từ GVCN, GVBM, Đoàn thể, Phụ huynh đến Hiệu trưởng đều được đánh giá ở mức khá cao trong việc tham gia vào hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường. Tuy nhiên, việc giáo viên chỉ xếp Hiệu trưởng ở vị trí thứ 6 là vị trí cuối cùng trong 6 thứ bậc là một điều đáng suy ngẫm. Điều này chứng tỏ vẫn còn tình trạng ở vào một số trường hợp người hiệu trưởng chưa thể hiện tốt vai trò chỉ đạo, định hướng, còn giao khoán GVCN, tổ chức Đoàn – Đội trong nhà trường.
Theo nhận định của học sinh về lực lượng tham gia thực hiện việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở là hiệu quả thì có đến 85% học sinh (312/367 phiếu) đều xác định Gia đình, Nhà trường và các tổ chức đoàn thể xã hội đều là các lực lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hiệu quả, không chỉ có đơn phương bất kỳ một lực lượng nào. (Biểu đồ 2.3)
Biểu đồ 2.3. Nhận thức của học sinh về lực lượng giáo dục kỹ năng sống
Qua kết quả trên, chứng tỏ học sinh cần được giáo dục kỹ năng sống ngay trong môi trường mà các em đang vui chơi, sinh sống. Tất cả các lực lượng có mặt trong môi trường sinh hoạt hàng ngày của các em cần có sự phối hợp chặt chẽ, hài hòa trong việc giáo dục kỹ năng sống cho các em, từng bước giáo dục cho các em phát triển toàn diện.
Về các hoạt động giáo dục, như trên đã trình bày, đây là một yếu tố quan trọng nên nhận thức của giáo viên về vấn đề này cần phải được rõ ràng để giáo viên thấy được vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Sau đây là Bảng 2.5 – Bảng đánh giá mức độ góp phần vào việc giáo dục kỹ năng sống của các hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Bảng 2.5. Đánh giá của giáo viên về hoạt động nào có thể góp phần vào việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
Kết quả cho thấy đánh giá của giáo viên về hoạt động nào có thể góp phần vào việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh theo thứ bậc từ cao xuống thấp như sau: Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp (thứ bậc 1); Phong trào Đoàn Đội (thứ bậc 2); Hoạt động xã hội ngoài giờ lên lớp (thứ bậc 3); Sinh hoạt chủ nhiệm (thứ bậc 4); Hoạt đông vui chơi (thứ bậc 5); Hoạt động từ thiện (thứ bậc 6); Hoạt động hình thành kĩ năng giao tiếp (thứ bậc 7); Lồng ghép kĩ năng vào việc dạy kiến thức (thứ bậc 8); Giáo dục hướng nghiệp (thứ bậc 9); Hoạt động hình thành kĩ năng suy luận, phán đoán (thứ bậc 10); Hoạt động văn nghệ (thứ bậc 11) và Nội dung mỗi môn học đều có khả năng dạy kĩ năng sống (thứ bậc 12).
Tất cả các hoạt động đều được đánh giá giữ vai trò ở mức khá cao (mức TB từ 2.7 đến 2.8) trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống. Giáo viên đặc biệt chú trọng đến các hoạt động ngoài giờ lên lớp, họat động văn nghệ, phong trào Đoàn – Đội và họ đánh giá cao tác động của những hoạt động này đến chất lượng của hoạt động giáo dục kỹ năng sống . Vì thông qua các hoạt động này, các em luôn cảm thấy hứng thú trong học tập, thêm vào đó các em có cơ hội hòa mình vào các sinh hoạt nhóm, tập thể, có điều kiện thể hiện năng lực bản thân. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Tuy nhiên, trong khi các hoạt động như Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Phong trào Đoàn Đội, Hoạt động xã hội ngoài giờ lên lớp, Sinh hoạt chủ nhiệm, Hoạt đông vui chơi được xếp từ bậc 1 đến bậc 5, thì việc lồng ghép kỹ năng vào việc dạy kiến thức và hoạt động Giáo dục hướng nghiệp chỉ được xếp thứ bậc 8 và Điều này chứng tỏ còn một bộ phận không nhỏ giáo viên quan niệm rằng việc Lồng ghép kĩ năng vào việc dạy kiến thức và Giáo dục hướng nghiệp chưa thể hiện vai trò quan trọng trong công tác giáo dục kỹ năng sống.
Đi sâu vào phân tích sự góp phần của các môn học văn hóa trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, tác giả thu được kết quả sau. (Bảng 2.6)
Bảng 2.6. Đánh giá của giáo viên về các môn học góp phần vào việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
Kết quả trên cho thấy giáo viên vẫn nhận thức được rằng tất cả các môn văn hóa đều đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục kỹ năng sống. Các môn năng khiếu đóng vai trò quan trọng, cụ thể và luôn có tác động nhanh chóng đến kết quả giáo dục kỹ năng sống nhưng với kết quả khảo sát các môn năng khiếu có chỉ số TB đạt 2.06 là chưa cao. So sánh giữa các môn Khoa học Xã hội với các môn Khoa học Tự nhiên thì có một sự cách biệt không nhỏ, nếu như kết quả đánh giá các môn Khoa học Xã hội ở mức độ khá cao thì các môn Khoa học Tự nhiên được đánh giá ở mức trung bình trong việc góp phần vào hoạt động giáo dục kỹ năng sống. Đó là một nhận thức chưa đầy đủ.
2.3.3. Thực trạng quản lý việc xác định mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
Bất kỳ một hoạt động nào, muốn thành công thì người tham gia phải xác định rõ mục đích của hoạt động đó. Có như thế thì kết quả hoạt động mới cao được. Đối với hoạt động giáo dục kỹ năng sống cũng không ngoại lệ, điều này đòi hỏi người hiệu trưởng cần định hướng cho giáo viên và học sinh nhà trường hiểu rõ mục đích của hoạt động nhằm làm tăng tính hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng sống.
Khảo sát nhận thức của giáo viên và học sinh về mục đích giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS, tác giả thu nhận được kết quả ở Bảng 2.7 và Bảng 2.8 Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
- Bảng 2.7. Đánh giá của giáo viên về mục đích giáo dục kỹ năng sống cho HS THCS
- Bảng 2.8. Ý kiến của học sinh về mục đích giáo dục kỹ năng sống
Căn cứ vào kết quả trên, tác giả nhận thấy rằng đa số giáo viên (58.4%) và học sinh (76.8%) đều xác định mục đích của giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh biết cách giải quyết các vấn đề trong cuộc sống một cách tích cực và có hiệu quả. Sở dĩ có sự chênh lệch tỷ lệ giữa giáo viên và học sinh trong việc xác định mục đích như trên là vì trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống, học sinh không chỉ tiếp cận kỹ năng sống thông qua nhà trường mà các em còn được tiếp cận thông tin qua rất nhiều môi trường và kênh thông tin khác nhau. Đối với các mục đích khác thì nhận định của giáo viên và học sinh gần tương đồng với nhau. Chứng tỏ đa số giáo viên và học sinh xác định rõ mục đích của giáo dục kỹ năng sống. Điều này thể hiện người hiệu trưởng đã bước đầu có sự định hướng đúng đắn về mục đích giáo dục kỹ năng sống đến toàn thể CB – GV và học sinh. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn 3.9% giáo viên cho rằng mục đích giáo dục kỹ năng sống để thực hiện chính sách giáo dục, thêm vào đó 3.3% học sinh không trả lời hoặc cho rằng bị bắt buộc học. Chính những đều này khiến cho giáo viên lẫn học sinh không thấy hứng thú trong quá trình học tập cũng như rèn luyện kỹ năng sống.
2.3.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại một số trường THCS Quận Gò Vấp
Như các phần trên đã trình bày, nhận thức của đội ngũ giáo viên – học sinh về hoạt động giáo dục kỹ năng sống tương đối đồng đều và đầy đủ. Để biết rõ thêm thực trạng của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại một số trường THCS trong Quận Gò Vấp, tác giả tiến hành khảo sát về những kỹ năng mà học sinh đã đạt được thông qua quá trình giáo dục và lý do học sinh không hình thành được những kỹ năng thiết yếu trong cuộc sống.
Nhận định của giáo viên về những kỹ năng sống mà học sinh một số trường THCS Quận Gò Vấp đã đạt được thông qua quá trình quản lý của người Hiệu trưởng
Bảng 2.9. Đánh giá của giáo viên và học sinh về những kỹ năng sống mà học sinh THCS đã đạt được
Kết quả cho thấy đánh giá của giáo viên về việc đạt được kỹ năng sống đối với học sinh THCS theo thứ bậc từ cao xuống thấp như sau: Kỹ năng tự nhận thức (thứ bậc 1); Kỹ năng hợp tác (thứ bậc 2); Kỹ năng thể hiện sự tự tin (thứ bậc 3); Kỹ năng giao tiếp (thứ bậc 4); Kỹ năng tư duy sáng tạo (thứ bậc 5); Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm (thứ bậc 6); Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin (thứ bậc 7); Kỹ năng thể hiện sự cảm thông (thứ bậc 8); Kỹ năng lắng nghe tích cực (thứ bậc 9); Kỹ năng quản lý thời gian (thứ bậc 10); Kỹ năng ra quyết định (thứ bậc 11) ; Kỹ năng xác định giá trị (thứ bậc 12); Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn (thứ bậc 13) và Kỹ năng kiên định (thứ bậc 14). Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Theo nhận định của giáo viên, các kỹ năng như Kỹ năng tự nhận thức, Kỹ năng hợp tác, Kỹ năng thể hiện sự tự tin, Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng tư duy sáng tạo, Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm được ánh giá với tỷ lệ khá cao ( trên 50%). Tuy nhiên có một vấn đề đáng ngại là Kỹ năng kiên định và đặc biệt là Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn được đánh giá thấp, chỉ chiếm 19.7%. Điều này cho thấy hiện nay các em học sinh rất hạn chế trong việc giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày một cách tích cực.
Nhận định của học sinh về những kỹ năng sống mà học sinh một số trường THCS Quận Gò Vấp đã đạt được thông qua quá trình quản lý của người Hiệu trưởng
Xem xét ý kiến đánh giá của học sinh, ta nhận thấy mức độ đánh giá của học sinh tương tự của giáo viên ở một số kỹ năng như Kỹ năng tự nhận thức, Kỹ năng giao tiếp được sắp xếp ở bậc rất cao. Các kỹ năng khác như Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm, Kỹ năng quản lý thời gian được đánh giá ở mức độ gần giống nhau giữa giáo viên và học sinh. Và đặc biệt hơn cả là chính các em cũng cùng một quan điểm là Kỹ năng kiên định và kỹ năng giải quyết vấn đề của học sinh chỉ đạt mức rất thấp. Ngoài ra, kỹ năng thể hiện sự tự tin được học sinh đánh giá thấp nhất.
Qua kết quả cho thấy học sinh THCS hiện nay đã bước đầu có được những kỹ năng cần thiết cho việc học tập và sinh hoạt. Thế nhưng vấn đề học sinh chưa được hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề là một vấn đề rất đáng lo ngại, chỉ ra cho chúng ta thấy một phần nguyên nhân của bạo lực học đường, tình trạng nghỉ bỏ học cao làm cho tệ nạn xã hội ở tuổi thanh thiếu niên tăng. Đây là vấn đề mà toàn xã hội đã gióng hồi chuông báo động.
Tiến hành khảo sát trên giáo viên và học sinh để tìm hiểu nguyên nhân của việc học sinh chưa đạt được một số kỹ năng cần thiết trong cuộc sống. Kết quả được thể hiện qua Bảng 2.10 – Phụ lục 1. Nhận thức của giáo viên và học sinh chưa có sự đồng nhất, nếu như giáo viên cho rằng nguyên nhân của việc học sinh chưa hình thành được các kỹ năng sống cần thiết là Do các em chưa ý thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống (thứ bậc 1) và Do các em chưa nhận thức được sự cần thiết của kỹ năng sống (thứ bậc 2) thì các em chỉ xếp những nguyên nhân đó ở vị trí thứ 4, 5 và cho rằng nguyên nhân chính là Do thời gian học tập của các em chiếm quá nhiều, có ít điều kiện luyện tập, thực hành (thứ bậc 1) và Do các em ít có điều kiện giao tiếp ngoài xã hội (thứ bậc 2). Hay khi giáo viên xếp nguyên nhân Do phụ huynh chưa ý thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống (thứ bậc 3); Do phụ huynh nuông chiều (thứ bậc 4); Do các em còn ỷ lại gia đình (thứ bậc 5) thì học sinh lại xếp Do các em thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa dạng (thứ bậc 3); Do các em chưa nhận thức được sự cần thiết của kỹ năng sống (thứ bậc 4); Do các em chưa ý thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống (thứ bậc 5);
Với kết quả như trên, ta thấy sở dĩ các em học sinh chưa hình thành được những kỹ năng cần thiết là do các em chưa nhận thức đúng đắn về vị trí và vai trò của kỹ năng sống nhưng bên cạnh đó do các điều kiện khách quan chưa hỗ trợ cho hoạt động này. Qua yêu cầu dạy và học của giáo viên – học sinh chưa thống nhất, cụ thể như việc học tập của các em bị chiếm nhiều thời gian, kiến thức học tập quá nhiều, mang nặng tính hàn lâm, ít gắn liền với thực tiễn,… trong khi đó các em có ít cơ hội giao tiếp, thiếu các sinh hoạt ngoại khóa lành mạnh… Thực tế cho thấy học sinh hiện nay thiếu thời gian và không gian vui chơi bổ ích, các em chỉ mê mải trong những trò chơi trên máy tính, các thần tượng âm nhạc trên truyền hình, “chat” trên mạng,… các em không có những buổi sinh hoạt ngoại khóa bổ ích, giao tiếp với nhiều người. Về phía gia đình các em do chưa ý thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống cùng với sự nuông chiều đã không tạo cơ hội cho các em cơ hội để thực hành, từ đó vô tình khiến các em hình thành thói ỷ lại. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Kết quả khảo sát thể hiện trong Bảng 2.10 – Phụ lục 1 cho thấy hạn chế của Hiệu trưởng trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong thời gian qua.
Thực trạng việc hiệu trưởng thực hiện các chức năng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Để thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong trường THCS thì ngoài việc nhận định về mặt nhận thức của học sinh và đội ngũ giáo viên, người hiệu trưởng cần phải thực hiện tốt các nội dung quản lý như: công tác phân công, thực hiện kế hoạch, công tác phối hợp,….
Tiến hành khảo sát trong đội ngũ giáo viên về mức độ thực hiện các nội dung quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của Hiệu trưởng trường THCS. Kết quả khảo sát thể hiện trong Bảng 2.11.
Bảng 2.11. Đánh giá của giáo viên về mức độ đạt nội dung quản lý việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh của Hiệu trưởng trường THCS (thang 4 mức)
Kết quả cho thấy đánh giá của giáo viên về mức độ đạt nội dung quản lý việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện theo thứ bậc từ cao xuống thấp như sau: Quản lý việc thực hiện kế hoạch và nội dung giáo dục (thứ bậc 1); Quản lý việc phân công cho giáo viên thực hiện mục tiêu giáo dục kĩ năng sống qua việc giảng dạy các bộ môn (thứ bậc 2); Quản lý việc tổ chức tốt các hoạt động trường, lớp (thứ bậc 3); Quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên (thứ bậc 4); Quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường (thứ bậc 5) và Quản lý phương tiện, môi trường giáo dục và điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục kỹ năng sống (thứ bậc 6).
Các hoạt động quản lý được người hiệu trưởng thực hiện khá tốt, thể hiện ở mức đánh giá của giáo viên về mức độ đạt nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện ở mức khá cao. Mức đánh giá các mặt chênh lệch nhau không nhiều chúng tỏ hiệu trưởng đã thực hiện khá tốt các nội dung quản lý trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường.
2.3.5. Thực trạng quản lý việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng một số trường THCS Quận Gò Vấp
Trong bốn trường tác giả khảo sát thì có một trường đã được xây dựng từ năm 1963 (Trường THCS Trường Sơn), hai trường được xây dựng gần hai mươi năm (Trường Nguyễn Văn Trỗi, Trường Gò Vấp), duy chỉ có Trường Nguyễn Văn Nghi vừa mới xây dựng dưới 10 năm nhưng khuôn viên không rộng lại nằm trong hẻm nhỏ ngoằn ngoèo. Bốn trường nói trên đều có khuôn viên chật hẹp, nhất là Trường THCS Trường Sơn sân chơi quá chật hẹp, nên ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Để khắc phục tình trạng trên, hiệu trưởng đã linh động bố trí sao cho trong điều kiện cơ sở vật chất còn khó khăn nhưng học sinh vẫn có điều kiện tối thiểu để rèn luyện kỹ năng sống. Đầu tiên hiệu trưởng các trường nói trên đã chỉ đạo tập thể nhà trường chăm sóc giữ gìn những cây xanh có bóng mát, tạo thêm những mảng xanh trong nhà trường như giàn hoa lan, chậu kiểng, hoặc bố trí những hồ cá dọc theo các hanh lang nhằm tạo một môi trường thoáng mát, xanh tươi qua đó cho các em có điều kiện hòa mình vào thiên nhiên, từng bước giáo dục cho các em ý thức bảo vệ môi trường.(Hình 3.1, 3.2, 3.2 – Phụ lục 3)
Đứng trước tình hình hiện nay các em phải học tập nhiều, kiến thức nặng tính hàn lâm, ít tiếp cận thực tiễn, các hiệu trưởng đã phối hợp với Ban đại diện Cha mẹ học sinh vận động phụ huynh hỗ trợ trang bị các màn hình LCD tại tất cả các lớp (Trường Nguyễn Văn Trỗi, Gò Vấp, Nguyễn Văn Nghi) hoặc máy chiếu Overhead Projector, máy cassette, laptop (Trường Trường Sơn), nhằm giúp các em có điều kiện tiếp cận với các thông tin học tập của các bộ môn văn hóa một cách cụ thể rõ ràng, không mơ hồ. Chính nhờ các hình ảnh minh họa sinh động đã giúp cho tiết dạy của các thầy cô giáo thêm phong phú, giúp học sinh có được hứng thú trong học tập.
Ngoài ra, nhận thấy tình hình học sinh không có các sân chơi bổ ích, có nhiều em mải mê với những trò chơi vô bổ, thiếu tính giáo dục trên mạng Internet, hiệu trưởng đã bố trí sân trường thành sân chơi bóng rỗ (Trường Nguyễn Văn Trỗi) hay sân chơi cầu lông, bóng chuyền (Trường Trường Sơn) để các em có điều kiện vui chơi sau giờ học hoặc vào những ngày cuối tuần. (Hình 3.4 – Phụ lục 3)
Bên cạnh đó, hiệu trưởng còn cố gắng tạo điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của các câu lạc bộ đội nhóm trong nhà trường như câu lạc bộ “kèn nhí”, câu lạc bộ cờ tướng, cờ vua…(Hình 3.5 – Phụ lục 3). Đặc biệt, thư viện nhà trường luôn được cải thiện cơ sở vật chất nhằm cung cấp cho các em một món ăn tinh thần phong phú: phong đọc thoáng mát, sách truyện đủ các thể loại, tủ sách lưu động để phục vụ học sinh trong giờ ra chơi,…
Người hiệu trưởng đã thực hiện đầy đủ các nội dung quản lý trong việc trang bị và bảo quản cơ sở vật chất, từ công tác xây dựng kế hoạch đến khi triển khai, phân công thực hiện, kiểm tra đánh giá,… nhằm phát huy tính tích cực, hiệu quả của các trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống.
Mặc dù các trường đều có những điều kiện khó khăn nhất định về cơ sở vật chất nhưng nhìn chung người hiệu trưởng luôn vận dụng mọi khả năng có thể để trang bị cho học sinh những điều kiện cơ sở vật chất cần thiết phục vụ cho công tác “dạy chữ – dạy người”. Điều này thể hiện tâm huyết của người hiệu trưởng trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THCS, góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
2.3.6. Những biện pháp cải tiến hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng một số trường THCS Q. Gò Vấp
Như trên đã trình bày, các trường đều có khuôn viên chật hẹp, sân chơi rất nhỏ nên ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động ngoại khóa. Qua trao đổi với các hiệu trưởng, tác giả nhận thấy để khắc phục tình trạng này các hiệu trưởng xây dựng nội dung chủ điểm hoạt động từng tháng, tuần và triển khai đến các khối chủ nhiệm. Các khối trưởng chủ nhiệm có trách nhiệm triển khai đến các GVCN trong khối và cùng phối hợp tổ chức. Các khối sẽ đăng ký lịch tổ chức cụ thể với thầy Tổng phụ trách. Đối với các khối còn lại, do sân trường hẹp không thể tổ chức chung toàn trường, sẽ tự tổ chức tại lớp. Chính nhờ vào việc bố trí như thế mà họat động giáo dục kỹ năng sống được thực hiện đều khắp và đảm bảo đầy đủ nội dung theo yêu cầu chung. Thêm vào đó, GVCN có điều kiện phát huy năng lực của học sinh và học sinh có cơ hội tự nhận biết về khả năng của mình, sở trường cũng như sở đoản.
Riêng đối với việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong từng bộ môn văn hóa, hiệu trưởng chỉ đạo bộ phận chuyên môn triển khai đến từng giáo viên trong hội nghị chuyên môn đầu năm, yêu cầu giáo viên soạn nội dung tích hợp vào giáo án bài giảng. Tuy nhiên nhằm tránh tạo áp lực cho giáo viên, hiệu trưởng cho phép GVBM điền bổ sung phần tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào giáo án nếu giáo án đó có chất lượng và được bộ phận chuyên môn chấp thuận cho sử dụng lại, không phải soạn mới.
Ngoài việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, các tiết văn hóa, người hiệu trưởng tại các trường mà tác giả khảo sát còn chú ý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua các buổi sinh hoạt giao lưu, cụ thể như: buổi sinh hoạt chuyên đề “kỹ năng sống” với thạc sĩ Hà Trung Thành thuộc Công ty đầu tư & phát triển giáo dục Sài Gòn TP.HCM; Chuyên đề “kỹ năng giao tiếp học đường” do thạc sĩ tâm lý học Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu trường ĐHSP TP.HCM; Chuyên đề “gia đình và chữ hiếu” thạc sĩ Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu báo cáo trong cán bộ – giáo viên – công nhân viên, phụ huynh học sinh và học sinh….
Tổ chức cho GV và học sinh tham gia các hoạt động từ thiện như đi thăm và tặng quà cho trẻ em khuyết tật, trẻ mồ côi ; tạo cơ hội cho học sinh được bày tỏ ý kiến thông qua hộp thư “Điều em muốn nói” , “Tâm sự tuổi teen”; phân công học sinh chăm sóc các bồn hoa, chậu kiểng trong nhà trường; động viên các em tích cực tham gia các câu lạc bộ đội nhóm trong trường (Câu lạc bộ Hoa Hướng Dương) hoặc do Thành đoàn tổ chức (Câu lạc bộ Sao Bắc Đẩu),..và có chế độ khen thưởng cho những em có thành tích tốt trong các hoạt động phong trào. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Với những biện pháp tưởng chừng như đơn giản trên nhưng để thực hiện liên tục và xuyên suốt, đòi hỏi người hiệu trưởng phải thật sự tâm huyết với hoạt động giáo dục kỹ năng sống cùng với một tập thể giáo viên thấm nhuần quan điểm “dạy chữ – dạy người” thì hoạt động giáo dục kỹ năng sống mới gặt hái được kết quả tốt. Những biện pháp này giúp cho quá trình giáo dục kỹ năng sống không khô khan, giáo điều mà sẽ giúp học sinh hình thành kỹ năng sống một cách rất tự nhiên, không gượng ép.
2.3.7. Thực trạng quản lý các biện pháp kiểm tra, đánh giá giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng một số trường THCS Q. Gò Vấp
Để đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng, tác giả tiến hành khảo sát trên giáo viên. Kết quả thể hiện trong Bảng 2.12.
Bảng 2.12. Đánh giá của giáo viên về mức độ đạt các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được Hiệu trưởng thực hiện (Thang 4 mức)
Kết quả cho thấy đánh giá của giáo viên về đạt mức độ các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được hiệu trưởng thực hiện theo thứ bậc từ cao xuống thấp như sau: Quản lý mục tiêu, kế hoạch (thứ bậc 1); Nhắc nhở, động viên thúc đẩy đối với đội ngũ giáo viên (thứ bậc 1) và Quản lý công tác kiểm tra đánh giá (thứ bậc 3). Mặc dù việc công tác kiểm tra đánh giá của hiệu trưởng không được đánh giá ngang bằng với công tác quản lý mục tiêu kế hoạch và công tác nhắc nhở, động viên thúc đẩy đối với đội ngũ giáo viên nhưng cả 3 mặt công tác của hiệu trưởng đều được giáo viên đánh giá ở mức độ cao.
Tuy nhiên kết quả cho thấy công tác kiểm tra đánh giá của Hiệu trưởng trong thời gian qua còn hạn chế, chưa thật chặt chẽ, đôi khi còn giao khoán cho các bộ phận đoàn thể. Hiệu trưởng cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm tra đánh giá vì đây là một hoạt động quan trọng trong công tác quản lý. “Các nhà nghiên cứu và các nhà lãnh đạo đã từng khẳng định: lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo” [39, 111].
2.3.8. Nhận xét chung về việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng một số trường THCS Quận Gò Vấp
- Ưu điểm:
Công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của hiệu trường các trường THCS mà đề tài nghiên cứu được thực hiện đúng quy định. Quy trình tổ chức và các biện pháp tổ chức giáo dục kỹ năng sống được thực hiện đồng bộ mang tính khả thi cao, phù hợp với tình hình thực tế từng đơn vị. Để làm được như vậy là nhờ nhận thức về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của đội ngũ nhà giáo từng bước được nâng lên, bên cạnh đó người hiệu trưởng luôn tâm huyết thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần hình thành nhân cách con người mới năng động, sáng tạo cho các em học sinh.
- Tồn tại:
Công tác kiểm tra đánh giá còn thiếu chặt chẽ do hiệu trưởng chưa nhận thức rõ vai trò chỉ đạo của bản thân trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống, còn giao khoán cho GVCN hoặc Tổng phụ trách
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Qua khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của hiệu trưởng một số trường THCS Quận Gò Vấp, tác giả nhận thấy như sau:
Kết quả khảo sát về thực trạng nhận thức về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống của giáo viên và học sinh tương đối cao; đa số các đối tượng khảo sát đều nhận thấy sự cần thiết của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; việc xác định mục tiêu giáo dục kỹ năng sống của giáo viên và học sinh tương đối chính xác; tuy nhiên vẫn còn trường hợp chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động này .
Thực trạng giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường THCS được thực hiện đúng yêu cầu chung thông qua các hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, các bộ môn năng khiếu và việc tích hợp các nội dung giáo dục kỹ năng sống thông qua các bộ môn văn hóa. Tuy nhiên công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường vẫn còn hạn chế, chưa xây dựng được nếp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống lồng ghép vào việc giảng dạy bộ môn văn hóa, chưa tạo nhiều cơ hội cho các em rèn luyện kỹ năng sống, đặc biệt là kỹ năng giải quyết mâu thuẫn. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Nhìn chung Hiệu trưởng đã có nhiều cố gắng trong việc khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất, có những biện pháp giáo dục kỹ năng sống mang tính tích cực tạo được hiệu quả nhất định trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Tuy nhiên, công tác kiểm tra đánh giá của Hiệu trưởng đối với hoạt động giáo dục kỹ năng sống còn hạn chế, chưa tạo được hiệu quả cao trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
