Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trên địa bàn Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Đặc điểm kinh tế, xã hội, dân cư trên địa bàn Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
Quận 4 là quận nội thành, có diện tích tự nhiên là 4,18km2, nằm phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh, 3 mặt giáp sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé, Kênh Tẻ. Cơ cấu tổ chức của Quận 4 có 13 phường (từ phường 1 đến phường 18 và không có phường 5,7,11,13,17); số lượng biên chế công chức Tư pháp – Hộ tịch được phân bổ cho mỗi phường là 02 Công chức. Những năm gần đây, sự phát triển hệ thống giao thông, trong đó có 7 cây cầu hiện đại và tương lai còn xây dựng nhiều cầu mới đã giúp quận 4 kết nối dễ dàng với:
- Quận 1 và quận 5: trung tâm hiện hữu thành phố.
- Quận 7 – Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng – Nam Sài gòn
- Thành phố Thủ Đức (trước đây là Quận 2) – Khu đô thị mới Thủ Thiêm
- Quận 8 – một địa phương cũng không ngừng đổi mới và phát triển. Và nhiều cơ quan hành chính, ngân hàng, trung tâm thương mại, khu dân cư, khu ẩm thực, khu chung cư cao cấp, khu phức hợp ga tàu…. Với vị trí địa lý đặc thù đó đã làm gia tăng tỷ lệ dân số của Quận 4 lên gần 200.000 người, góp phần thúc đẩy nhu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của người dân trên địa bàn Quận 4 với mục đích thực hiện các giao dịch dân sự như vay vốn ngân hàng để kinh doanh, mua xe, mua nhà… ngày càng nhiều.
Ngoài ra thực hiện phân cấp, phân quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài về cho Chủ tịch UBND Quận 4 thì nhu cầu cấp giấy XNTTHN với mục đích để đăng ký kết hôn với người nước ngoài cũng gia tăng.
2.2. Thực hiện pháp luật về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
2.2.1. Kết quả đạt được từ việc thực hiện pháp luật về cấp giấy XNTTHN trên địa bàn Quận 4
Trong tổ chức chỉ đạo, điều hành: Ngay từ khi Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành có hiệu lực thi hành, UBND Quận 4 chỉ đạo, triển khai thi hành một cách chính xác, kịp thời và đúng quy định. Lấy trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính trực tuyến mức độ toàn phần, một phần làm chủ đạo và thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân một trong các thủ tục hành chính trực tuyến mức độ toàn phần đang được thực hiện trên địa bàn Quận 4. UBND 13 phường thành lập tổ tình nguyện tư vấn dịch vụ công trực tuyến để hỗ trợ tổ chức, công dân khi thực hiện thủ tục cấp giấy XNTTHN trực tuyến mức độ toàn trình, 02 nhóm thủ tục hành chính thiết yếu, chứng thực điện tử tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Trong công tác thông tin, tuyên truyền luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành, các quy định pháp luật về thủ tục cấp giấy XNTTHN trực tiếp và trực tuyến; Nghị định số 45/2020/ND-CP; Công văn số 2084/VPCP-KSTT ngày 30/03/2023 của Văn phòng Chính phủ về thực hiện quy trình liên thông điện tử 02 nhóm thủ tục hành chính thiết yếu tại Đề án 06 đến nhân dân trên địa bàn Quận 4 với nhiều hình thức đa dạng, dễ hiểu, dễ thực hiện. Uỷ ban nhân dân Quận 4 tích hợp đầy đủ, kịp thời các dữ liệu thủ tục hành chính theo Quyết định công bố của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, được đăng tải công khai trên tin điện tử của Uỷ ban nhân dân Quận 4. Đồng thời thực hiện niêm yết công khai, đầy đủ thẩm quyền, thủ tục giải quyết về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trực tuyến mức độ toàn trình, quy trình liên thông điện tử 02 nhóm thủ tục hành chính thiết yếu tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Qua thực hiện thủ tục cấp giấy XNTTHN trực tuyến mức độ toàn trình có tăng tỷ lệ nộp hồ sơ đăng ký trực tuyến. Tại UBND 13 phường, thực hiện đánh giá khảo sát sự hài lòng của khách hàng qua phiếu thăm dò ý kiến của khác hàng hoặc thông qua hệ thống zalo quét mã code QR đối với thủ tục cấp giấy XNTTHN trực tuyến nhận được kết quả hài lòng cao. Chất lượng hoạt động và cung ứng dịch vụ công được nâng cao. 100% hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính cấp giấy XNTTHN trực tuyến mức độ toàn trình được gắn số định danh cá nhân, giảm số lượt tiếp nhận và hướng dẫn hồ sơ trực tiếp cho công chức, tiết kiệm thời gian đi lại của người dân, giảm khối lượng công việc cho đội ngũ công chức. Bên cạnh đó, còn giảm thời gian giải quyết việc cấp giấy XNTTHN đối với tất cả hồ sơ cấp giấy XNTTHN không phải xác minh và những hồ sơ đã có cơ sở dữ liệu Hộ tịch về tình trạng hôn nhân. Hàng năm Uỷ ban nhân dân Quận 4 thông qua Phòng Tư pháp Quận thực hiện việc kiểm tra Tư pháp, kiểm tra Iso và kiểm tra theo chuyên đề đối với các Uỷ ban nhân dân Phường nhằm phát hiện kịp thời các lỗi trong quá trình đăng ký Hộ tịch để kịp thời khắc phục. Việc số hoá sổ bộ hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân Phường cơ bản đã hoàn chỉnh. Kết quả giải quyết các việc hộ tịch trên địa bàn Quận 4 trong thời gian qua tương đối ổn định. Công chức Tư pháp – Hộ tịch luôn cố gắng giải quyết đúng thời gian, đúng quy định, thực hiện, giải quyết tốt các hồ sơ tiếp nhận từ người dân và không để phát sinh trả hồ sơ trễ hẹn cho dân, không để xảy ra tình trạng quá hạn khi không có lý do chính đáng và cố gắng hạn chế thấp nhất việc để xảy ra sai sót trong quá trình giải quyết và ghi chép các sổ hộ tịch. Thường xuyên rà soát và kiến nghị, đề xuất những khó khăn, vướng mắc có phát sinh để tìm hướng giải quyết hồ sơ cho người dân theo đúng quy định. Luôn tìm tòi, đăng ký sáng kiến, mô hình có lợi cho người dân như là mô hình trả xác nhận tình trạng hôn nhân qua đường bưu điện cho người dân sinh sống ngoài thành phố Hồ Chí Minh, rút ngắn thời gian cấp giấy XNTTHN. Công tác giải quyết các việc hộ tịch trên địa bàn Quận cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu mà các cấp, các ngành đề ra, cũng như các yêu cầu chính đáng của người dân.
Qua triển khai thực hiện Đề án 06, số lượng hồ sơ thực hiện cấp giấy XNTTHN tại UBND 13 phường được thống kê theo bảng số liệu như sau:
Bảng số liệu tổng hợp số lượng hồ sơ đăng ký cấp giấy XNTTHN trên địa bàn Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh:
2.2.2. Thực trạng thực thi pháp luật tại Quận 4 Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Theo quy định về quy trình “thời gian” giải quyết cấp giấy XNTTHN có xác minh” là 23 ngày. Điều 4 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định về giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh như sau:
Trường hợp việc đăng ký hộ tịch cần xác minh theo quy định tại Khoản 4 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 04/2020/TT-BTP; sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định. Đối với trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy XNTTHN có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
Tại Quyết định số 5511/QĐ-UBND ngày 24/11/2023 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về việc công bố danh mục thủ tục hành chính trong lĩnh vực hộ tịch thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Tư pháp thì thời gian giải quyết đối với cấp giấy XNTTHN có xác minh là “23 ngày”. Trước đây, thực hiện Luật Cư trú số 81/2006/QH11 người dân xuất trình hộ khẩu giấy để chứng minh qua nhiều nơi thường trú. Căn cứ vào những hộ khẩu do người dân cung cấp, Công chức Tư pháp – Hộ tịch xác định được những nơi thường trú trước đây và thực hiện ngay việc xác minh tình trạng hôn nhân của người dân đến UBND xã, phường, thị trấn thường trú trước đây, một cách đầy đủ, chính xác. UBND xã, phường, thị trấn thường trú trước đây cũng dễ dàng trong việc trả lời xác minh trong thời hạn 03 ngày làm việc mà không cần phải xác minh lại thời gian thường trú tại địa phương. Thực hiện Nghị định số 104/2022/NĐ-CP và Chỉ thị 05/CT-TTg ngày 23/02/2023, khi thực hiện thủ tục hành chính về cấp giấy XNTTHN thì người dân không phải xuất trình hộ khẩu, trách nhiệm của Công chức Tư pháp – Hộ tịch phải xác minh tình trạng thường trú của người dân đến Công an phường nơi thường trú hiện tại. Và thời gian quy định để Công an phường phối hợp trả lời xác minh thông tin cư trú theo quy định của Luật Cư trú; Thông tư số 55/2021/TT-BCA ngày 15/5/2021 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú (Thông tư số 55/2021/TT-BCA); Thông tư số 56/2021/TT-BCA ngày 15/5/2021 của Bộ Công an quy định về biểu mẫu trong đăng ký, quản lý cư trú (Thông tư số 56/2021/TT-BCA); Thông tư số 57/2021/TT-BCA ngày 15/5/2021 của Bộ Công an quy định về quy trình đăng ký cư trú (Thông tư số 57/2021/TT-BCA) không có quy định thời gian trả lời xác minh thông tin cư trú cho UBND Phường. Tại Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 63/2023/TT-BCA ngày 17/11/2023 của Bộ Công an quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 55/2021/TT-BCA ngày 15/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú; Thông tư số 56/2021/TT- BCA ngày 15/5/2021 của Bộ Công an quy định về biểu mẫu trong đăng ký, quản lý cư trú; Thông tư số 57/2021/TT-BCA ngày 15/5/2021 của Bộ Công an quy định về quy trình đăng ký cư trú (Thông tư số 66/2023/TT-BCA) chỉ quy định cấp xác nhận thông tin cư trú cho Công dân khi có yêu cầu và thời gian giải quyết là không quá 2 ngày làm việc. Do đó việc hỗ trợ xác minh thông tin cư trú và quá trình di biến động thường trú, cũng sẽ tùy vào khối lượng công việc của cảnh sát khu vực mà họ hỗ trợ xác minh sớm hay trễ. Về kết quả xác minh thông tin cư trú cũng chỉ nhận được 02 thông tin: Một là, thời gian thường trú tại địa phương; hai là, thông tin địa chỉ thường trú sau cùng trước khi chuyển đến nơi thường trú hiện tại. Đối với những trường hợp qua 3, 4 nơi thường trú khác nhau thì cảnh sát khu vực không thể xem được dữ liệu của tất cả 3, 4 nơi đó để trả lời xác minh đầy đủ. Trong khi để xác minh đầy đủ về tình trạng hôn nhân của người dân thì cơ quan đăng ký Hộ tịch cần phải biết rõ thông tin người dân đã từng qua những nơi thường trú nào và thời gian thường trú của họ, để gửi xác minh tình trạng hôn nhân cho chính xác và chặt chẽ. Bên cạnh đó, tra cứu Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư, công chức Tư pháp – Hộ tịch cũng chỉ thực hiện được việc tra cứu một số trường thông tin cơ bản của công dân như: tên; năm sinh; số căn cước công dân, số chứng minh nhân dân; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú; nơi tạm trú; tình trạng hôn nhân (tuy nhiên thông tin này chưa chính xác vẫn còn sai sót); thông tin cha, mẹ và in thông tin cư trú của người dân. Đối với các trường thông tin khác thì không được chia sẻ nên không thể tra cứu các trường thông tin về khoảng thời gian thường trú tại địa phương và quá trình di biến động qua nhiều nơi thường trú của người dân, do vậy Công chức Tư pháp – Hộ tịch không thể xác định chính xác người dân đã qua những nơi thường trú nào và cũng chưa nói đến trường hợp nơi thường trú trước đây bị chia, tách, sáp nhập địa giới hành chính. Ngoài ra việc tra cứu Dữ liệu Quốc gia về dân cư còn bị giới hạn theo số lần tra cứu trong ngày, Công chức Tư pháp – Hộ tịch sẽ không xem được nơi thường trú của người dân để xác định thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết cấp giấy XNTTHN. Trong những trường hợp cần phải giải quyết hồ sơ cấp bách cho người dân Công chức Tư pháp – Hộ tịch phải đợi thực hiện việc tra cứu vào ngày hôm sau hoặc thực hiện xác minh trực tiếp từ Công an phường để kịp thời tiếp nhận hồ sơ cho người dân trên môi trường điện tử. Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Sau khi có kết quả xác minh cư trú, công chức tham mưu Chủ tịch UBND phường ban hành văn bản xác minh tình trạng hôn nhân đến một UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú trước đây của người dân. Do không xác định được công dân đã qua những nơi thường trú nào nên kết quả phúc đáp xác minh tình trạng hôn nhân có khi chỉ nhận được kết quả trả lời trong 01 khoảng thời gian thường trú nhất định tại địa phương cũ và vẫn còn thiếu tình trạng hôn nhân của những nơi khác nữa. Tuy nhiên thời gian quy định cho việc tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả cấp giấy XNTTHN có xác minh là 23 ngày, UBND phường không thể gửi xác minh thêm mà phải thực hiện theo Điều 5 của Thông tư số 04/2020/TT-BTP cho phép người dân cam kết về TTHN của mình và cấp giấy XNTTHN cho người dân. Vì vậy, công chức Tư pháp Hộ tịch trong khi thực thi pháp luật vẫn còn lúng túng, không biết nên xử lý như thế nào. Nếu cho phép người dân cam kết về TTHN của mình thì sợ không đảm bảo tính chính xác về TTHN thực tế của người dân và có thể dẫn đến cấp sai TTHN, làm phát sinh tranh chấp nếu có. Còn nếu tiếp tục xác minh TTHN thì công chức đang thực thi công vụ đã làm sai quy định của pháp luật về thời gian giải quyết cấp giấy XNTTHN. Tuy với quy định của pháp luật về thời gian giải quyết cấp giấy XNTTHN này, có lợi cho người dân rất nhiều. Cũng thuận tiện cho người dân khi không phải đi lại những nơi thường trú trước đây để xin cấp giấy XNTTHN nhưng gây khó khăn cho cơ quan đăng ký Hộ tịch trong việc quản lý Hộ tịch về cấp giấy XNTTHN theo đúng thực tế TTHN. Cho nên với quy định về thời gian giải quyết cấp giấy XNTTHN có xác minh qua nhiều nơi thường trú và xác minh tình trạng hôn nhân ở những nơi khác, không đảm bảo về thời gian giải quyết cho việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có xác minh. Và cũng bất cập cho những trường hợp người dân có thường trú ở 01 nơi từ nhỏ cho đến nay cũng chịu cảnh chung về quy định xác minh này. Bên cạnh đó, việc người dân đề nghị yêu cầu cấp giấy XNTTHN trong những ngày cận ngày nghỉ lễ, Tết. Và ngày Lễ, Tết rơi vào những ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ bù thì thời gian giải quyết cấp giấy XNTTHN còn bị rút ngắn lại và còn chưa kể thời gian gửi bưu điện đến đơn vị nhận xác minh và thời gian chờ đơn vị xác minh phúc đáp văn bản trả lời.
Pháp luật về cấp giấy XNTTHN chưa quy định cụ thể về hồ sơ xuất trình để chứng minh có chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987. Hiện nay Luật Hộ tịch 2014 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có bất kỳ quy định hay định nghĩa như thế nào là hôn nhân thực tế. Trong quy trình thực hiện việc cấp giấy XNTTHN cho người chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 cũng không quy định về thành phần hồ sơ xuất trình để chứng minh việc sống chung. Hay điều kiện công nhận vợ chồng. Thực tế thực hiện pháp luật về cấp giấy XNTTHN cho những trường hợp chung sống như vợ chồng trước 03/01/1987 vẫn còn bất cập, do pháp luật không quy định về hồ sơ chứng minh có sự kiện chung sống như vợ chồng ví dụ như có sự kiện chung sống như vợ chồng từ năm 1971 đến năm 1999, từ năm 1999 đến năm 2010 người chồng đi định cư nước ngoài (việc chung sống như vợ chồng nó bị gián đoạn như vậy có được xem là liên tục hay không) đến năm 2010 thì có sự kiện chết ở nước ngoài của người chồng. Khoản 1 Điều 33 Thông tư số 04/2020/TT-BTP có nêu:
Nếu có chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987, nhưng vợ/ch Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.ồng đã chết (Giấy chứng tử/Trích lục khai tử/Bản án số:… do… cấp ngày… tháng… năm…); hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai.
Điểm b Khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định: “Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây “Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết”. Trước đây tại tại Điểm d Khoản 2 Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 có quy định đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003; do đó, cần phân biệt như sau:“Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Do đó khi căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành để cấp giấy XNTTHN với tình trạng hôn nhân là đang có “vợ hoặc chồng nhưng vợ/chồng đã chết là chưa phù hợp, gây khó khăn cho người dân. Ngoài ra hiện nay pháp luật cũng chưa quy định hướng dẫn cách ghi trong giấy XNTTHN đối với trường hợp “có chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 nhưng hiện tại không còn chung sống” thì sẽ ghi như thế nào. Ví dụ: chung sống như vợ chồng từ năm 1983 đến năm 2021 thì không còn chung sống nữa thì trên giấy XNTTHN sẽ được ghi như thế nào. Pháp luật chỉ quy định: Nếu chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) chết hoặc bị tuyên bố là đã chết thì ghi rõ là hiện tại đang có vợ/chồng là bà/ông…. Với những quy định pháp luật rõ ràng, cụ thể sẽ giúp cho cơ quan nhà nước quản lý Hộ tịch về cấp giấy XNTTHN chặt chẽ, tăng tính hiệu quả thực thi pháp luật của đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch.
- Ngoài ra đối với trường hợp:
“Người đã qua nhiều nơi thường trú khác nhau đề nghị xác nhận tình trạng hôn nhân tại nơi thường trú trước đây thì ghi rõ về tình trạng hôn nhân của người đó tương ứng với thời gian cư trú. Ví dụ: Không đăng ký kết hôn với ai trong thời gian cư trú tại xã Bồng Lai, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh từ ngày 20/11/1996 đến ngày 04/3/1998” (căn cứ Khoản 2 Điều 33 Thông tư số 04/2020/TT-BTP), tuy quy định này cơ bản là đúng nhưng chưa đủ nên cũng gây ra bất cập, khó khăn cho người dân. Vì trường hợp người dân tuy đã qua nhiều nơi thường trú và họ đã chứng minh tình trạng hôn của mình ở những nơi thường trú khác và đã được cơ quan đăng ký hộ tịch cập nhật toàn bộ quá trình tình trạng hôn nhân trước đây thì khi họ chuyển đi thường trú mới, cơ quan đăng ký hộ tịch cũ phải có trách nhiệm cấp xác nhận tình trạng hôn nhân đúng với tình trạng hôn nhân đã được cập nhật cho đến ngày chuyển đi. Đối với những trường hợp trong thời gian cư trú tại địa phương người dân không chứng minh tình trạng hôn nhân của mình ở những nơi thường trú trước thì mới thực hiện theo quy định Khoản 2 Điều 33 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
Hiện tại pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp người dân qua nhiều thường trú và đã chứng minh được tình trạng hôn nhân ở những nơi cũ hoặc đã có cam kết về tình trạng hôn nhân trước đó thì khi họ chuyển đi nơi cư trú mới, cơ quan đăng ký hộ tịch phải có trách nhiệm cấp giấy XNTTHN đã cập nhật đầy đủ về tình trạng hôn nhân ở những nơi trước cho đến ngày chuyển đi cho người dân. Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Với việc thực hiện quy định của pháp luật về cấp giấy XNTTHN như vậy vẫn sẽ gây khó khăn cho người dân khi phải chứng minh lại tình trạng hôn nhân qua những nơi thường trú trước đây nữa nếu như họ không còn lưu giữ những giấy XNTTHN ở nơi cũ hoặc họ phải đợi thêm 23 ngày để cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận yêu cầu cấp giấy XNTTHN gửi xác minh lại.
Quy trình cấp giấy XNTTHN trực tuyến rườm rà, nhiều bước. Trước đây việc đăng ký cấp giấy XNTTHN trực tuyến đòi hỏi người dân phải đăng ký tài khoản dịch vụ công Quốc gia. Trong khi đó tài khoản dịch vụ công Quốc gia muốn đăng ký được, người dân phải có sim chính chủ mà không phải tất cả người dân đều xài sim chính chủ. Hiện nay tài khoản dịch vụ công Quốc gia đã được tích hợp vào ứng dụng VNEID định danh điện tử cũng giảm được sự bất tiện cho người dân. Tuy nhiên vẫn còn một số bộ phận người dân vẫn chưa thật sự quan tâm và chưa đăng ký tài khoản định danh điện tử VNEID. Quy định về thành phần hồ sơ, tại điểm c, khoản 1, Điều 9 Nghị định số 45/2020/NĐ-CP quy định “Ký chữ ký số vào mẫu đơn, tờ khai, giấy tờ, tài liệu điện tử nếu có yêu cầu. Thành phần hồ sơ được ký chữ ký số có giá trị pháp lý như văn bản giấy được ký hợp lệ”. Tại điểm b, khoản 2, Điều 6 Nghị định số 45/2020/NĐ-CP quy định “không yêu cầu tổ chức, cá nhân nộp giấy tờ, tài liệu bằng văn bản giấy để xác minh, kiểm tra đối với các thành phần hồ sơ đã được ký số và ghi nhận tính pháp lý trong quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính”. Trong khi đó, người dân hiện chưa có chữ ký số. Do đó khi thực hiện thủ tục giấy XNTTHN trực tuyến, người dân vẫn phải viết thêm tờ khai, sau đó chụp lại tờ khai có chữ ký và đính kèm trong thành phần hồ sơ. Cho nên thủ tục cấp giấy XNTTHN trực tuyến này vẫn còn rườm rà, nhiều bước, chưa tạo động lực đáng kể để người dân thực hiện.
2.2.3. Thực trạng về nguồn nhân lực thực hiện pháp luật về cấp giấy XNTTHN
Trên địa bàn Quận 4 hiện có 13 phường, về chỉ tiêu chức danh công chức Tư pháp – Hộ tịch ở mỗi phường là 02 công chức. Về số lượng công chức cơ bản đầy đủ chỉ có 01 phường thiếu 01 công chức Tư pháp – Hộ tịch. Tuy nhiên về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưa đảm bảo thực hiện nhiệm vụ. Trong đó 06 phường: có Công chức Tư pháp – Hộ tịch mới được tuyển dụng trong tháng 12/2023 và chưa được đào tạo lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về Hộ tịch; và một số công chức từ bộ phận chuyên môn khác chuyển qua chức danh Tư pháp – Hộ tịch chỉ có trình độ Đại học Luật, chưa có kinh nghiệm, chưa qua đào tạo bồi dưỡng nghiệp về Hộ tịch. Bên cạnh đó còn có một số Công chức lớn tuổi, sắp về hưu không rành về công nghệ thông tin, không theo kịp chương trình CĐS Quốc gia. Nên cũng ảnh hưởng ít nhiều về việc thực hiện pháp luật về cấp giấy XNTTHN theo Đề án 06. Nguyên nhân xuất phát từ đội ngũ công chức làm công tác Tư pháp – Hộ tịch thường xuyên luân chuyển công tác theo quy định; kiêm nhiệm thêm các công việc khác; trình độ, năng lực còn chưa đáp ứng yêu cầu của công việc thực tế. Trình độ sử dụng công nghệ thông tin của đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch chưa đồng đều, nhất là trình độ sử dụng công nghệ của những công chức lớn tuổi. Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
2.2.4. Thực trạng về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ, cơ sở dữ liệu
Đẩy mạnh thực hiện Đề án 06 gắn với Chủ đề năm của Thành phố “Quyết tâm thực hiện hiệu quả CĐS và Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội”. Trong quá trình thực hiện còn gặp không ít khó khăn trong việc mua sắm trang thiết bị cần thiết; chưa có hướng dẫn cụ thể nguồn chi để mua trang thiết bị, nâng cấp cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, kỹ thuật phục vụ Đề án 06. Hiện tại các UBND phường trên địa bàn Quận 4 vẫn còn đang sử dụng cơ sở hạ tầng, kỹ thuật sẵn có tại đơn vị. Do nguồn ngân sách được phân bổ từ thành phố xuống cấp cơ sở phải qua nhiều lần thẩm duyệt, chưa có hướng dẫn cụ thể nguồn chi mua sắm, đầu tư trang thiết bị, nâng cấp cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin. Hệ thống tiếp nhận và giải quyết cấp giấy XNTTHN trên môi trường điện tử thường xuyên được nâng cấp dẫn đến bị lỗi hệ thống, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết thủ tục hành chính về cấp giấy XNTTHN trên môi trường điện tử. Hệ thống hướng dẫn để người dân đăng ký trên môi trường điện tử thường xuyên thay đổi, hoàn chỉnh hệ điều hành dẫn đến hệ thống bị lỗi và hồ sơ bị trễ hạn. Việc tuyên truyền, hướng dẫn cách thức thực hiện cho người dân phải thay đổi để theo kịp xu hướng CĐS; gây áp lực cho công chức trong việc hướng dẫn và nhận lại nhiều phản hồi không tích cực từ người dân.
Hệ thống các cơ sở dữ liệu về lĩnh vực Hộ tịch cơ bản đã thực hiện số hóa tất cả hồ sơ “đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử, đăng ký kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ con”. Tuy nhiên về số hóa hồ sơ cấp giấy XNTTHN hiện nay chưa thực hiện. Do đó chưa có Cơ sở dữ liệu số hóa Hộ tịch về “tình trạng hôn nhân”. Việc số hóa dữ liệu hồ sơ hộ tịch về “cấp giấy XNTTHN” được triển khai và chia sẻ thì công chức sẽ không cần phải gửi xác minh mà có thể tra cứu được tình trạng hôn nhân của người dân khi họ di chuyển qua nhiều nơi thường trú. Với cách thức thực hiện số hóa hồ sơ, tài liệu cũng sẽ giảm bớt khối lượng công việc cho đội ngũ công chức và giảm ngân sách Nhà nước cho việc chi trả chi phí gửi xác minh cho người dân. Do hiện nay pháp luật cũng không quy định trường hợp gửi xác minh qua nhiều nơi thường trú thì người dân phải thanh toán chi phí đó. Pháp luật chỉ quy định lệ phí cấp giấy XNTTHN là 3000 đồng. Bên cạnh đó Thành phố Hồ Chí Minh đang thực hiện thí điểm thủ tục “liên thông đăng ký kết hôn, XNTTHN” trong thời gian 5 ngày làm việc. Tại Quyết định 5511/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hồ Chí Minh quy định thời hạn cấp giấy xác nhận tình trạng có xác minh là 23 ngày. Việc rút ngắn thời gian giải quyết liên thông đăng ký kết hôn, XNTTHN, tạo động lực và điều kiện thuận lợi rất nhiều cho người dân. Tuy nhiên so sánh thời gian giải quyết của thủ tục “đăng ký kết hôn, XNTTHN” và thủ tục “cấp giấy XNTTHN có xác minh” thì thời gian giải quyết thủ tục “liên thông đăng ký kết hôn, XNTTHN” ngắn hơn nhưng chưa khả thi. Do dữ liệu Hộ tịch về tình trạng hôn nhân chưa có, chưa liên thông dễ dàng đến các tỉnh, thành khác, chưa đồng bộ dữ liệu quá trình qua nhiều nơi thường trú của người dân. Chưa có hướng giải quyết đối với trường hợp cả 2 bên nam nữ đều qua nhiều nơi thường trú thì mã hóa kết quả xác minh tình trạng hôn nhân như thế nào. Cho nên việc số hóa dữ liệu, hồ sơ, tài liệu cấp giấy XNTTHN sẽ giảm khối lượng công việc cho đội ngũ công chức, giảm thời gian giải quyết cấp giấy XNTTHN, tích hợp nhiều thủ tục hành chính lại với nhau như liên thông đăng ký kết hôn – XNTTHN được thực hiện dễ dàng, chặt chẽ. Việc quản lý Hộ tịch về cấp giấy XNTTHN khoa học, thống nhất, truy xuất, tra cứu dữ liệu nhanh, giảm chi phí cho ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, Luật Căn cước công dân cũng không có các quy định về việc khai thác, sử dụng thông tin trên thẻ; các quy định của Luật Căn cước công dân về việc quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu Căn cước công dân còn chưa được đầy đủ, bao quát, chủ yếu được quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật; trong khi đó, đây là vấn đề lớn, tác động rộng rãi đến nhiều chủ thể khác nhau bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức, doanh nghiệp được giao thực hiện một số dịch vụ công và tổ chức, cá nhân khác. Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Bên cạnh đó trình độ sử dụng công nghệ của người dân khi tham gia thực hiện cấp giấy XNTTHN trên môi trường điện tử cũng làm hạn chế quá trình thực thi pháp luật về cấp giấy XNTTH.
Trong quá trình triển khai thực hiện, vẫn còn một số bộ phận người dân không biết sử dụng công nghệ máy tính, điện thoại như: người lớn tuổi, người không biết chữ, người không am hiểu về công nghệ thông tin. Hoặc không thực hiện đăng ký tài khoản định danh điện tử mức độ 2 trên ứng dụng VNEID của Bộ Công an. Trong khi đó để thực hiện cấp giấy XNTTHN trên môi trường điện tử đòi hỏi người dân phải có tài khoản định danh điện tử. Do vậy khi được hướng dẫn, đăng ký tài khoản định danh điện tử trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả một cửa để thực hiện đăng ký cấp giấy XNTTHN trực tuyến luôn có thái độ khó chịu, bực bội. Một phần do người dân vẫn chưa thật sự nhận thức được giá trị và lợi ích của dịch vụ công mang lại. Hai là, nhu cầu sử dụng dịch vụ công trực tuyến về cấp giấy XNTTHN chưa cao.
2.2.5. Thực trạng về công tác tuyên truyền các chính sách, pháp luật
Căn cứ Điều 9 Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/04/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử quy định về chuẩn bị và nộp hồ sơ điện tử thực hiện thủ tục hành chính như sau:
“1. Tổ chức, cá nhân chuẩn bị hồ sơ điện tử, kê khai mẫu đơn, tờ khai điện tử theo yêu cầu của hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến như sau:
- Khai mẫu đơn, tờ khai trên các biểu mẫu điện tử được cung cấp sẵn;
- Đăng tải các giấy tờ, tài liệu điện tử hợp lệ hoặc dẫn nguồn tài liệu từ Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân;
- Ký chữ ký số vào mẫu đơn, tờ khai, giấy tờ, tài liệu điện tử nếu có yêu cầu. Việc yêu cầu ký số được công khai trước khi tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ điện tử. Thành phần hồ sơ được ký chữ ký số có giá trị pháp lý như văn bản giấy được ký hợp lệ.
- Sau khi hoàn thành chuẩn bị hồ sơ, mẫu đơn, tờ khai điện tử, tổ chức, cá nhân gửi đến cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận. Các thông tin, dữ liệu sau khi được ghi nhận nếu được tổ chức, cá nhân đồng ý sẽ được hệ thống thông tin lưu giữ và điền tự động trong các biểu mẫu điện tử, hồ sơ điện tử khi thực hiện các thủ tục hành chính lần sau theo nhu cầu của tổ chức, cá nhân”.
Hiện nay khi người dân thực hiện cấp giấy XNTTHN trên môi trường điện tử người dân không biết về “ Ký chữ ký số vào mẫu đơn, tờ khai, giấy tờ, tài liệu điện tử nếu có yêu cầu. Việc yêu cầu ký số được công khai trước khi tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ điện tử. Thành phần hồ sơ được ký chữ ký số có giá trị pháp lý như văn bản giấy được ký hợp lệ”.
Thực hiện công tác tuyên truyền về “chữ ký số” chỉ mang tính hình thức, chưa thật sự sâu rộng. Thứ nhất, do người dân hiện nay chưa có nhu cầu đăng ký “chữ ký số”. Thứ hai, khi đăng ký sử dụng “chữ ký số” người dân phải trả 01 khoản phí theo năm. Cần có chính sách hỗ trợ miễn phí 2 năm sử dụng đăng ký sử dụng “chữ ký số” cho người dân, từ đó mới thúc đẩy hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật. Ngoài ra, một số người dân còn chưa biết đầy đủ pháp luật quy định về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, điều kiện… cấp giấy XNTTHN.
2.2.6. Thực trạng về công tác phối hợp Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Trong công tác xác minh cư trú và xác minh tình trạng hôn nhân chưa được chú trọng và quan tâm của các đơn vị được phối hợp. Thực hiện xác minh tình trạng hôn nhân của người yêu cầu qua nhiều nơi thường trú là điều hết sức quan trọng. Nhằm đảm bảo cho nhà nước quản lý hộ tịch về cấp giấy XNTTHN được chặt chẽ. Tránh phát sinh trong chấp trong các giao dịch dân sự. Tuy nhiên trong quá trình gửi xác minh tình trạng cư trú của người yêu cầu qua nhiều nơi thường trú tại Công an phường, vẫn còn tình trạng trả lời kết quả xác minh chậm trễ, dẫn đến bị trễ hạn thời gian giải quyết thủ tục cấp giấy XNTTHN có xác minh, ảnh hưởng đến quá trình gửi xác minh tình trạng hôn nhân đến các đơn vị khác. Do trong các quy định của Luật Cư trú; Thông tư số 55/2021/TT-BCA; Thông tư số 56/2021/TT-BCA; Thông tư số 66/2023/TT-BCA không có quy định thời gian cho đơn vị quản lý cư trú phải trả lời kết quả xác minh cho đơn vị hành chính nhà nước. Mà việc trả lời xác minh sớm hay trễ tùy thuộc vào khối lượng công việc của cảnh sát khu vực. Bên cạnh đó việc xác minh tình trạng hôn nhân của người yêu cầu qua nhiều nơi thường trú cũng vẫn còn tình trạng các đơn vị không trả lời kết quả xác minh hoặc trả lời kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân trễ hơn so với thời gian quy định về cấp giấy XNTTHN có xác minh là 23 ngày. Do cơ sở Dữ liệu cư trú của Công an chưa thực hiện đồng bộ Dữ liệu số hóa về quá trình di chuyển qua nhiều nơi thường trú của công dân; chưa cung cấp, chia sẻ các trường thông tin cần thiết cho quá trình thường trú ở nhiều nơi. Giúp cho các cơ quan đăng ký Hộ tịch quản lý về “cấp giấy XNTTHN” có thể trích xuất dữ liệu quá trình di, biến động cư trú của công dân để phục vụ trong công tác xác minh tình trạng hôn nhân của công dân qua nhiều nơi thường trú khi thực hiện quy định tại Nghị định số 104/2022/NĐ-CP về việc không xuất trình hộ khẩu khi thực hiện các thủ tục hành chính. Và thực hiện Đề án CĐS Quốc gia, số lượng công việc của cảnh sát khu vực và công chức Tư pháp – Hộ tịch ngày càng nhiều. Do vậy trong công tác phối hợp xác minh chưa thật sự được quan tâm, hỗ trợ.
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trên địa bàn Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Thực thi pháp luật về cấp giấy XNTTHN trên địa bàn Quận 4 cơ bản đã thực sự đi vào cuộc sống xã hội, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối với việc đăng ký, quản lý hộ tịch, sự kiện hộ tịch cá nhân được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác; Việc thực thi pháp luật cũng tương đối ổn định; công chức Tư pháp hộ tịch tuân thủ trình tự, thủ tục của Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2.3.1. Một số hạn chế trong thực thi pháp luật về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
Nhìn chung trước khi Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành thì việc thực hiện quy định về việc cấp giấy XNTTHN theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý Hộ tịch, cũng gây khó khăn cho người dân, họ không biết phải đến những nơi nào để được cấp XNTTHN khi đã từng qua nhiều nơi thường trú. Từ ngày Luật Hộ tịch, các văn bản pháp luật khác có liên quan đến việc cấp giấy XNTTHN có hiệu lực và triển khai đồng bộ thực hiện trên địa bàn Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; Quận 4 luôn chú trọng chỉ đạo công chức Tư pháp – Hộ tịch phải thực thi pháp luật một cách chính xác, kịp thời và đúng quy định. Đồng thời, trong công tác kiểm tra, giám sát; tuyên truyền, phổ biến Luật Hộ tịch và các văn bản pháp luật có liên quan đến việc cấp giấy XNTTHN thông qua các tờ tin, tờ bướm hàng tháng, hội thị, tiểu phẩm… tại địa phương đã kịp thời, đầy đủ đạt được những kết quả nhất định; giúp cho người dân có thể nắm, biết về quy trình, trình tự, thủ tục, điều kiện… về cấp giấy XNTTHN; giúp cho các quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến việc cấp giấy XNTTHN thực sự đi vào cuộc sống của người dân, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối với việc đăng ký, quản lý hộ tịch; sự kiện hộ tịch của cá nhân được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác, bảo đảm ngày một tốt hơn quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của cá nhân, góp phần đảm bảo quản lý nhà nước và xã hội. Bên cạnh đó thực hiện Cải cách hành chính về cấp giấy XNTTHN cũng góp phần giảm thời gian giải quyết việc cấp giấy XNTTHN cho người dân từ 03 ngày làm việc xuống 01 ngày làm việc đối với những hồ sơ đã có dữ liệu hộ tịch về cấp giấy XNTTHN hoặc những hồ sơ không có xác minh.
Mặc dù Luật Hộ tịch và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến việc cấp giấy XNTTHN đã nhanh chóng được triển khai, áp dụng đồng bộ, thống nhất và thực tế đã đạt được những kết quả tích cực. Ngoài các mặt đạt được thì vẫn còn những hạn chế trong quá trình thực thi pháp luật về cấp giấy XNTTHN như pháp luật chưa rõ ràng, cụ thể, khả thi, quy trình rườm rà nhiều bước, chưa tạo động lực đáng kể để người dân thực hiện. Quy định pháp luật về “thời gian” giải quyết thủ tục cấp giấy XNTTHN có xác minh” chưa được khả thi. Pháp luật chưa quy định cụ thể giấy tờ phải nộp, xuất trình đối trường hợp chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987. Ngoài ra pháp luật cũng chưa quy định hướng dẫn cách ghi trong giấy XNTTHN đối với trường hợp “có chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 nhưng hiện tại không còn chung sống” thì sẽ ghi như thế nào. Quy trình cấp giấy XNTTHN trực tuyến còn rườm rà, nhiều bước. Pháp luật chưa quy định cụ thể trường hợp người dân đã qua nhiều nơi thường trú và đã chứng minh tình trạng hôn nhân của mình thì cơ quan đăng ký hộ tịch trước khi chuyển đi nơi mới phải cấp giấy XNTTHN đầy đủ tình trạng hôn nhân mà người dân đã chứng minh cho đến ngày chuyển đi và chưa quy định về thời gian trả lời xác minh thông tin cư trú. Cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ gặp khó khăn trong việc mua sắm trang thiết bị, vẫn còn đang sử dụng cơ sở hạ tầng, kỹ thuật sẵn có, lạc hậu. Hệ thống tiếp nhận và giải quyết thủ tục cấp giấy XNTTHN trên môi trường điện tử thường xuyên được nâng cấp, lỗi hệ thống dẫn đến hồ sơ trễ hạn. Nguồn nhân lực thực hiện pháp luật về cấp giấy XNTTHN hạn chế về trình độ nghiệp vụ chưa đảm bảo thực hiện nhiệm vụ; một số công chức từ bộ phận chuyên môn khác chuyển qua chức danh Tư pháp – Hộ tịch chưa có kinh nghiệm, chưa qua đào tạo nghiệp Hộ tịch; kỹ thuật sử dụng công nghệ thông tin điện tử của đội ngũ công chức lớn tuổi còn hạn chế. Cơ sở dữ liệu số hóa Hộ tịch chưa số hóa hồ sơ, tài liệu về “tình trạng hôn nhân”; cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư chưa được chia sẻ các trường thông tin cần thiết về di biến động cư trú, Luật Căn cước công dân chưa quy định về vận hành, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Việc tra cứu Dữ liệu Quốc gia về dân cư bị giới hạn theo số lần tra cứu trong ngày. Công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật chưa thực sự sâu rộng. Trình độ sử dụng công nghệ điện tử của người dân chưa cao. Công tác phối hợp chưa được quan tâm đúng mức để cho công tác phối hợp được đồng bộ, nhịp nhàng.
2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế thực hiện pháp luật về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Một là, Hệ thống pháp luật về cấp giấy XNTTHN chưa quy định cụ thể rõ ràng về thành phần hồ sơ, điều kiện trong trường hợp chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987; Thông tư số 04/2020/TT-BTP chưa quy định hướng dẫn cách ghi trên giấy XNTTHN cho trường hợp chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 nhưng hiện nay không còn chung sống; quy định thời gian giải quyết cấp giấy XNTTHN có xác minh chưa đảm bảo tính khả thi; chưa có quy định cơ quan đăng ký hộ tịch đã cập nhật tình trạng hôn nhân của người dân qua nhiều nơi thường trú thì khi họ chuyển về nơi cư trú mới thì phải cấp xác nhận tình trạng hôn nhân theo tình trạng hôn nhân đã được cập nhật cho đến ngày chuyển đi. Thông tư số 63/2023/TT-BCA chưa bổ sung quy định về thời gian trả lời xác minh thông tin cư trú cho các cơ quan hành chính nhà nước khi có yêu cầu
Hai là, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ công chức thực thi pháp luật tuy đã đạt chuẩn theo yêu cầu của Luật Hộ tịch, tuy nhiên còn hạn chế về kinh nghiệm thực tế thực hiện phát sinh cho từng trường hợp cụ thể, chưa có tổ chức các buổi giao lưu, chia sẻ, kinh nghiệm trong quá trình thực hiện pháp luật giữa các Quận, huyện, phường với nhau. Trình độ sử dụng công nghệ thông tin của đội ngũ thực thi pháp luật về cấp giấy XNTTHN chưa đồng đều.
Ba là nguồn ngân sách chi đầu tư, mua sắm trang thiết bị được phân bổ từ thành phố xuống cấp cơ sở qua nhiều lần thẩm duyệt, chưa có hướng dẫn cụ thể nguồn chi mua sắm, đầu tư trang thiết bị. Cở sở hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ thông tin còn lạc hậu, thiếu đồng bộ; hệ thống xử lý, kết nối dữ liệu tại trang: motcua.tphcm.gov.vn chưa ổn định, thường xuyên nâng cấp.
Cơ sở Dữ liệu quốc gia về dân cư của Công an chưa được chia sẻ, đồng bộ các trường thông tin cần thiết về quá trình di chuyển qua nhiều nơi thường trú của công dân do vướng quy định bảo mật thông tin cá nhân. Cơ sở số hóa hồ sơ, tài liệu Hộ tịch về cấp giấy XNTTHN do chưa thực hiện dự án số hóa; các quy định về Luật Căn cước công dân chưa quy định đầy đủ về khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Việc truy cập, tra cứu dữ liệu Quốc gia về dân cư bị hạn chế số lần tra cứu. Trình độ sử dụng công nghệ điện tử của người dân chưa đồng đều còn hạn chế do độ tuổi và do tình hình sử dụng công nghệ điện tử ngày nay có xu hướng phát triển ngày càng hiện đại đòi hỏi trình độ tiếp thu và cập nhật sử dụng công nghệ điện tử của người dân càng cao. Nhu cầu thực hiện dịch vụ công của người dân chưa nhiều, chưa có chính sách hỗ trợ để tạo động lực cho người dân thực hiện dịch vụ công. Chưa có kế hoạch hỗ trợ người dân đăng ký tài khoản dịch vụ công.
Bốn là, trong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đến nhân dân về việc thực hiện Đề án CĐS liên quan đến thực hiện việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trên môi trường điện tử chưa đạt được hiệu quả cao; công tác tuyên truyền về vai trò, chức năng, lợi ích của chữ ký số đến người dân chưa sâu rộng. Đặc biệt là thiếu chính sách hỗ trợ người dân trong việc đăng ký sử dụng chữ ký số, do đó công tác tuyên truyền chưa đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó người dân hiện tại chưa nhu cầu sử dụng chữ ký số. Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Năm là, công tác phối hợp chưa được nhịp nhàng, đồng bộ do khối lượng công việc của cảnh sát khu vực quá nhiều.
Kết luận chương 2
Trước những tồn tại của thực trạng thực hiện pháp luật và những nguyên nhân, hạn chế của việc thực hiện pháp luật về cấp giấy XNTTHN, đã phần nào làm giảm hiệu quả thực thi pháp luật về cấp giấy XNTTHN. Ngoài ra thực hiện quy định của Nghị định số 104/2022/NĐ-CP cũng góp phần làm giảm thêm hiệu quả thực hiện pháp luật về cấp giấy XNTTHN. Và những thực trạng, hạn chế đó xuất phát từ một số quy định chưa cụ thể, còn bỏ sót mà pháp luật chưa hướng tới; nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ về Hộ tịch 03 năm phải thay đổi vị trí công tác, còn kiêm nhiệm thêm công việc khác; cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ thông tin điện tử xuống cấp chưa theo kịp xu hướng công nghệ hiện đại; cơ sở dữ liệu về dân cư còn mang tính bảo mật do vướng quy định của Luật tiếp cận thông tin; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thật sự đi sâu vào phân tích và giải thích một cách cụ thể các nội dung chủ yếu mà người dân cần tìm hiểu, chưa xuất phát từ nhu cầu bức xúc của người dân, nội dung hướng dẫn bị hạn chế nên công tác tuyên truyền chưa đạt hiệu quả cao; trình độ sử dụng công nghệ điện tử của người dân không đồng đều; công tác phối hợp bị chi phối bởi khối lượng công việc của cảnh sát khu vực; Luật Căn cước công dân chưa quy định về khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư. Từ những thực trạng, nguyên nhân, hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật tại Quận 4, đã góp phần đưa ra đề xuất những giải pháp đảm bảo thực thi pháp luật về cấp giấy XNTTHN và lộ trình thực hiện giải pháp đó. Luận văn: Thực trạng PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
