Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Giới thiệu tổng quan về du lịch homestay tại xã Đông Hòa Hiệp

Xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nằm cách Tp Hồ Chí Minh khoảng 100km và cách Mỹ Tho trung tâm của tỉnh khoảng 30km về phía Tây. Dân số khoảng 14.500 người (3.621 hộ). Đông Hòa Hiệp có địa hình trải dài dọc sông Tiền. Nơi đây còn lưu giữ nhiều công trình kiến trúc thời Pháp thuộc, cảnh quang thiên nhiên tuyệt đẹp với những vườn cây ăn quả rộng lớn bao bọc xung quanh. Khu vườn rộng lớn của từng ngôi nhà cũng được trồng những vườn cây ăn trái với các loại trái cây miền Nam như nhãn, xoài, bưởi, cam, quýt, mận…

Hình 2.1: Bản đồ Tiền Giang – Cái Bè

2.1.1. Quá trình phát triển du lịch ở Đông Hòa Hiệp

Phát triển du lịch tại Đông Hòa Hiệp không thuận lợi theo như kế hoạch mà phải tiến hành từng giai đoạn vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Các bước phát triển đã thực hiện trong 3 giai đoạn thời gian. Đặc biệt, trên cơ sở dự án “Phát  triển bền vững địa phương thông qua du lịch di sản” được thực hiện từ năm 2021, điển hình giới thiệu phương pháp phát triển du lịch nâng cao giá trị di sản văn hóa và môi trường tự nhiên của xã Đông Hòa Hiệp.

Du lịch xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè phát triển từ sau nãm 1990, đến nay đã gần 20 năm. Quá trình phát triển được phân thành 3 thời kỳ sau:

Thời kì 1: Xuất hiện hoạt động tham quan du lịch tại huyện Cái Bè từ những năm 1990 đến đầu những năm 2010

Tour Mekong Cruise tham quan Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được bán ra bắt đầu từ những nãm 1990 và đa số khách du lịch tham quan Tp Chí Minh đã tham gia tour Mekong Cruise này.

Đến đầu những nãm 2010, chợ nổi Cái Bè và tour tham quan các biệt thự phong cách Tây Âu đã được dựa vào một phần của chương trình du lịch Mekong Cruise tham quan Mỹ Tho, làm tiền đề cho hoạt động du lịch tham quan môi trường thiên nhiên và di sản văn hóa các kiến trúc cổ cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Thời kỳ này, các công ty du lịch chủ động trong việc hình thành và phát triển các tour du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

Thời kì 2: Bắt đầu tổ chức hoạt động du lịch dựa vào nhà cổ làng Đông Hòa Hiệp nửa sau những năm 2010

Vào năm 2010, Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) đã thực hiện khảo sát các hộ gia đình trên toàn tỉnh Tiền Giang. Dựa vào kết quả khảo sát, một ngôi nhà cổ (nhà ông Kiệt) thuộc xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè đã được chọn để trùng tu từ năm 2013-2014 như là một phần dự án “Chuyển giao kỹ thuật bảo tồn, trùng tu kiến trúc gỗ di sản văn hóa”, chương trình đối tác phát triển của JICA và Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa. Sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa nhà ông Kiệt đã được UNESCO đánh giá cao, nhận được giải thưởng Bảo tồn Di sản Văn hóa của UNESCO – Châu Á Thái Bình Dương năm 2014.

Năm 2016, gia đình ông Kiệt đã sử dụng căn nhà cổ của mình để bắt đầu kinh doanh dịch vụ ăn uống cho khách du lịch. Từ 2018 trở đi, các công ty dịch vụ xúc tiến bán tour du lịch nên tour du lịch bao gồm dịch vụ ăn trưa, nghỉ đêm tại nhà ông Kiệt tăng vọt. Việc thưởng thức đặc sản của khu vực sông Cửu Long như cá tai tượng, các món đặc sản sông nước, cây nhà lá vườn trong không gian nhà cổ truyền thống rất được ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế.

Cũng trong thời gian này, gia đình ông Ba Đức cũng bắt đầu mở dịch vụ homestay tại nhà cổ phong cách Tây Âu. Nhà cổ được đưa vào du lịch, người dân địa phương tham gia ngày càng nhiều vào du lịch mang cơ hội cho khách du lịch tiếp xúc với đời sống và văn hóa ẩm thực của địa phương.

Thời kì 3: Mở rộng hoạt động du lịch từ hình thức đơn lẻ sang toàn diện tại địa phương từ năm 2020

Nhờ các dịch vụ tham quan, du lịch chợ nổi, vườn cây ăn quả, sau đó là tham quan nhà cổ ông Kiệt, nhà cổ ông Ba Đức mà khách du lịch đến thăm làng Đông Hòa Hiệp dần dần tăng lên, số lượt khách cả năm 2022 đạt đến 60.000 lượt. Tuy nhiên, các điểm tham quan còn rất ít và chỉ có một số bộ phận người dân được hưởng lợi ích từ du lịch. Chính vì vậy, cùng với việc gia tăng thêm lượng khách du lịch đến Đông Hòa Hiệp, cần tăng thêm số hộ dân tham gia làm du lịch trong làng, sao cho cơ hội hưởng lợi từ du lịch đến với nhiều người dân trong làng hơn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Kế hoạch phát triển du lịch Đông Hòa Hiệp khuôn khổ dự án “Phát triển bền vững địa phương thông qua du lịch di sản” 

Bảo tồn, tái sinh các vườn cây ăn quả truyền thống, hoạch định và thực thi các chương trình du lịch đường thủy tại xã Đông Hòa Hiệp. Bao gồm các hoạt động: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

  • Hình thành Ban quản lý Dự án và các nhóm đại diện người dân tham gia du lịch (dưới đây gọi là cộng đồng dân cư địa phương) để phát triển xã Đông Hòa Hiệp.
  • Cộng đồng cư dân địa phương là chủ thể tiến hành tính toán, xây dựng bản đồ, lập kế hoạch đánh giá lại các tài nguyên du lịch địa phương (thiên nhiên, văn hóa, lịch sử), bảo tồn và vận dụng các tài nguyên đó vào hoạt động khai thác du lịch.
  • Cộng đồng cư dân địa phương là chủ thể xây dựng các chương trình, dịch vụ du lịch bao gồm nhà hàng nông gia, homestay, gia công trái cây…
  • Cộng đồng cư dân địa phương và dự án (phía Nhật Bản) tiến hành trang bị cơ sở hạ tầng du lịch (bến thuyền…)
  • Dự án (phía Nhật Bản) tư vấn để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch (nhà hàng nông gia, homestay, bán sản vật địa phương…)
  • Cộng đồng cư dân địa phương và dự án (phía Nhật Bản) phối hợp phát triển công cụ du lịch (tờ rơi, bản đồ du lịch).
  • Toàn thể những người liên quan sẽ quảng bá cho các chương trình du lịch xã Đông Hòa Hiệp tại các lễ hội địa phương.
  • Cộng đồng cư dân địa phương làm trung tâm xúc tiến tiếp thị, quảng bá du lịch với các đơn vị tư nhân.

Dự án nêu trên chủ yếu là hỗ trợ kỹ thuật (hỗ trợ phần mềm) và trang bị cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ. Vì thế, JICA và Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch  đã xây dựng thêm kế hoạch thí điểm để đánh giá hiệu quả của việc trang bị cơ sở hạ tầng du lịch, cụ thể là trang bị để cải thiện môi trường đón tiếp khách du lịch và nâng cao tính tiện lợi trong việc đi lại ở vùng nông thôn

Mở rộng đường đi bộ dành cho khách du lịch, mở rộng đường đi bộ dọc 2 bờ kênh Bà Hợp chảy qua giữa xã Đông Hòa Hiệp (từ 1,5m mở rộng thành 3,0m).

  • Trang bị cầu đi bộ phục vụ hoạt động du lịch, xây dựng một cây cầu cho khách du lịch đi qua kênh Bà Hợp.
  • Trang bị bến thuyền, xây dựng một bến thuyền cho xã Đông Hòa Hiệp để nâng cao tính tiện lợi trong đi lại bằng thuyền du lịch.
  • Trang bị chòi nghỉ trên bến thuyền nhằm tạo không gian nghỉ ngơi để đón du khách.

2.1.3. Bộ máy tổ chức phát triển du lịch Đông Hòa Hiệp 

Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Cái Bè là cơ quan chịu trách nhiệm phát triển du lịch xã Đông Hòa Hiệp, cơ quan phối hợp là Ủy ban Nhân dân xã Đông Hòa Hiệp. Ngoài ra, Ban Quản lý Dự án (ProJect Managemt Unit – PMU) của dự án “Phát triển bền vững địa phương thông qua du lịch di sản” gồm các thành viên là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Cái Bè, Ủy ban nhân dân xã Đông Hòa Hiệp cùng nhau phụ trách các hoạt động.

Đối với các hộ gia đình, dự án hỗ trợ từng hộ dân tham gia phát triển du lịch. Đó là do tình hình của xã Đông Hòa Hiệp: mỗi hộ dân đều có khuôn viên rộng lớn nên ở giai đoạn ban đầu, người dân sẽ dễ dàng tham gia du lịch hơn nếu bắt đầu dịch vụ du lịch theo từng hộ thay vì phân thành nhóm.

Hơn nữa, trong năm 2023, xã Đông Hòa Hiệp đang xem xét việc đăng ký thành Di sản Văn hóa Quốc gia. Nếu được công nhận Di sản Văn hóa Quốc gia thì tại xã  Đông Hòa Hiệp cũng sẽ thành lập Ban Quản lý Di tích như làng Đường Lâm ở Hà Nội và làng Phước Tích ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

2.1.4. Sản phẩm du lịch

Tháng 4/2022, để chính thức phát triển du lịch tại Đông Hòa Hiệp, các nhân viên dự án đã tiến hành khảo sát tài nguyên du lịch nơi đây. Ngoài các ngôi nhà cổ nằm rải rác dọc theo kênh Bà Hợp còn có nhiều xưởng sản xuất các sản phẩm truyền thống địa phương nhý bánh tráng sữa, bánh tráng chuối, bánh tét, trái cây.

2.2. Thực trạng hoạt động du lịch homestay tại xã Đông Hòa Hiệp Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

2.2.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển các ngôi nhà cổ của nhà dân hoạt động du lịch homestay tại Đông Hòa Hiệp

2.2.1.1.  Nhà cổ Ông Kiệt 

Được xây dựng năm 1838 với diện tích gần 1.000m². Nhà có kiến trúc và kết cấu theo kiến trúc truyền thống đã tồn tại trên 100 năm và nằm ở vị trí trung tâm của rạch Bà Hợp, thuộc xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè. Vào năm 1923 ngôi nhà đã được tu sửa nhiều phần, trong đó phần mặt tiền đã chuyển sang kiểu kiến trúc phương Tây, bên trong nhà trên các bộ kèo, xiên, trính và trên các vách cửa, bao lam được chạm khắc, trang trí các hoa văn rất tinh xảo. Trải qua thời gian và chiến tranh nhưng hầu hết các vật dụng trang trí trong nhà như các bộ lam, hoành phi, liển đối đến nay vẫn còn lưu giữ nguyên vẹn. Độc đáo nhất là bộ bao lam được chạm lọng các loài cây tùng, cúc, trúc, mai được cách điệu hoài hòa, các họa tiết mềm mại, uyển chuyển đã thể hiện trình độ mỹ thuật rất cao của người xưa. Đặc biệt, trong nhà còn có 108 cây cột bằng gỗ căm xe núi, được các nhà khảo cổ Nhật Bản đánh giá cao và xếp vào nhóm “cửu đại mỹ gia” ở Việt Nam. Năm 2013, tổ chức của chính phủ Nhật Bản đã tài trợ để trùng tu, bảo tồn ngôi nhà này. Hiện nay, ngôi nhà cổ Ông Kiệt vẫn là nơi đón tiếp và phục vụ khách du lịch tham quan và lưu trú lại nơi này. Trung bình mỗi ngày, ở đây đón 100 khách du lịch.

2.2.1.2.  Nhà cổ Ông Ba Đức

Nhà cổ ông Ba Đức theo kiến trúc Đông Tây kết hợp. Nhà được xây dựng năm 1850 giữa khu vườn rộng hơn 2ha với nhãn, vú sữa, bưởi, cam quýt… Nhà cổ Ông Ba Đức nằm ở phía Bắc rạch Bà Hợp khoảng 500m, nằm dọc theo dòng sông Cái Bè. Nhà được xây dựng vào năm 1850, mặt tiền nhà hướng về phía sông và theo kiến trúc truyền thống nhưng sau đợt tu sửa năm 1938, phần cột bên trong nhà được nâng lên và phần mặt tiền nhà đã được sửa thành kiểu kiến trúc Pháp. Bên trong nhà cũng có nhiều bộ bao lam, hoành phi, liển đối được chạm trổ, khảm xà cừ rất công phu, ngoài ra còn có các vật dụng bằng gỗ, gốm sứ, đồng như: tủ thờ, bàn ghế, bình, đĩa, tách, lư hương, tượng rất thẩm mỹ và có giá trị quý hiếm được bảo tồn. Hiện nay, nhà cổ ông Ba Đức là nơi có nhiều lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và nghỉ dưỡng. Trung bình mỗi ngày nơi đây đón gần 100 lượt khách, ngày cao điểm có khi lên tới 500 lượt, là điểm du lịch homestay thu hút đông du khách quốc tế.

2.2.1.3. Nhà cổ Ông Xoát Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

Nhà cổ Ông Xoát nằm gần sông Cái Bè. Theo gia phả của gia đình, nhà chính được xây dựng từ nửa đầu thế kỷ 19, vào năm 1936 nhờ kinh doanh lúa gạo mà trở nên giàu có, người chủ lúc đó cho xây dựng mặt tiền rất đẹp có kiến trúc theo kiểu phương Tây. Không chỉ mặt tiền kiểu phương Tây của ngôi nhà rất bề thế mà trong nhà chính cũng còn lưu giữ các bức vách, hoành phi, liển đối, các bộ bàn ghế, tủ thờ, đặc biệt là bộ ván ngựa hai tấm bằng đá cẩm thạch… đây là những vật dụng kiến trúc rất đặc sắc, tinh sảo và có sức thu hút du khách.

2.2.1.4. Nhà cổ Ông Võ

Nhà cổ Ông Võ hình dáng của ngôi nhà cổ truyền thống. Nhà truyền thống về cơ bản xây bằng gỗ, gian nhà chính có quy mô lớn, rộng 5 gian, sâu khoảng 6 gian, mái nhà dốc 4 phía, lợp ngói, phần mặt tiền được xây mở phóng khoáng. Những nhà mặt tiền kiểu thượng song hạ bản thường không có cửa, khi ra vào phải bằng cách gỡ từng thanh song ra. Bên cạnh nhà kiểu truyền thống này, còn có những nhà xây theo phong cách phương Tây với đầu cột được trang trí hoa văn, tuy nhiên phong hướng này chỉ được khơi dậy lại vào những năm đầu của thế kỉ 20.

2.2.1.5. Nhà cổ Ông Liêm

Nhà cổ Ông Liêm ở xã Đông Hòa Hiệp cũng nằm trên rạch Bà Hợp, mặt tiền nhà theo kiến trúc phương Tây, không gian bên trong cũng theo kiến trúc phương Tây nên rất đơn giản, không có nhiều họa tiết trang trí như các ngôi nhà cổ Nam Bộ. Trong nhà chính có không gian rộng để thờ tổ tiên và dùng tiếp khách. Hiện nay, ngôi nhà được tận dụng không gian rộng để làm nơi tổ chức các hoạt động như hội họp, trưng bày các sản phẩm lưu niệm, đón khách du lịch tham quan, nghiên cứu.

2.2.1.6. Nhà cổ Ông Cai Huy Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

Nhà cổ Ông Cai Huy được xây dựng vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20, là công trình kiến trúc kiểu phương Tây ở xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè với phần mặt tiền có dán gạch men vân hoa. Trước khi nhà cổ Ông Kiệt trở thành điểm tham quan du lịch thành công, đây cũng là ngôi nhà cổ được khách du lịch quốc tế rất thích đến tham quan du lịch trải nghiệm. Bên trong nhà chính có nhiều bộ cột và xà nhà sử dụng vật liệu bằng gỗ quý rất tốt và bền chắc, giống như những ngôi nhà cổ ở Nam Bộ, nhà cổ Ông Cai Huy vẫn còn lưu giữ nhiều bộ lam, hoành phi, liển đối được trạm trổ rất công phi và tinh xảo.

2.2.2. Hoạt động du lịch homestay tại xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè

Bảng 2.1: Khách du lịch đến Tiền Giang giai đoạn 2019 – 2023

CHỈ TIÊU ĐVT THỰC HIỆN Tăng bq
2019 2020 2021 2022 2023
I. Tổng lượng khách DL Lượt 866.401 960.991 1.058.650 1.169.285 1.307.635 10,84%
– Khách quốc tế 410.756 472.839 525.000 542.692 567.686 8,43%
– Khách nội địa 455.645 488.152 533.650 626.593 739.949 12,89%
1. Lượng khách tham quan 537.740 640.699 692.325 757.664 873.029 12,88%
– Khách quốc tế 374.866 443.894 495.215 516.721 539.584 9,53%
– Khách nội địa 162.874 196.805 197.110 240.943 333.445 19,62%
2. Số khách lưu trú 308.077 299.698 343.918 392.772 416.161 7,81%
– Khách quốc tế 13.735 16.785 17.898 13.171 14.701 1,71%
– Khách nội địa 294.342 282.913 326.020 379.601 401.460 8,07%
3. Số khách vận chuyển 20.584 20.594 22.407 18.849 18.445 -2,71%
– Khách quốc tế 12.155 12.160 11.887 12.800 13.401 2,47%
– Khách nội địa 8.429 8.434 10.520 6.049 5.044 -12,05%
II. Doanh thu Triệu 184.965 211.092 237.164 278.601 327.130 15,32%
         – Lữ hành 32.806 35.215 40.854 105.626 125.506 39,85%
         – Khách sạn 24.065 32.101 36.524 40.543 46.215 17,72%
         – Ăn uống 85.692 97.902 110.508 85.213 106.369 5,55%
         – Vận chuyển 998 1.131 3.257 1.450 2.145 21,08%
  – Doanh thu khác 41.404 44.743 46.021 45.769 46.895 3,16%

Nguồn: Sở VHTDTT tỉnh Tiền Giang Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

Qua bảng số liệu khách du lịch đến tỉnh Tiền Giang từ năm 2019 – 2023, chúng ta thấy: lượng khách du lịch đến Tiền Giang tăng đều hàng năm, trung bình tăng khoảng 10.84%. Doanh thu hàng năm tăng khoảng 15.32%.

Bảng 2.2: Khách du lịch đến khu du lịch Cái Bè giai đoạn 2019-2023

CHỈ TIÊU ĐVT Lượt THỰC HIỆN Tăng  bq
2019 2020 2021 2022 2023
I Tổng lượt khách 89.500 107.545 76.230 94.122 122.500 8,16%
– Quốc tế 71.600 93.734 64.980 64.058 86.875 4,95%
– Nội địa 17.900 13.811 11.250 30.064 35.625 18,78%
II. Doanh thu Triệu 184.965 211.092 237.164 278.601 327.130 15,32%

Nguồn: Sở VHTDTT tỉnh Tiền Giang

Bảng 2.3: Khách du lịch đến xã Đông Hòa Hiệp giai đoạn 2019-2023

CHỈ TIÊU ĐVT   THỰC HIỆN
2019 2020 2021 2022 2023
I Tổng lượt khách lượt 40.27 5 48.39 4 34.303 42.354 55.124
– Quốc tế 32.22 0 42.18 0 29.241 28.826 39.093
+ Khách tham quan 20.94 3 27.41 7 19.007 18.737 25.410
+ Khách ở lại qua đêm tại nhà dân 11.27 7 14.76 3 10.234 10.089 13.683
– Nội địa 8.055 6.214 5.062 13.528 16.031
+ Khách tham quan 5.236 4.039 3.290 8.793 10.420
+ Khách ở lại qua đêm tại nhà dân 2.819 2.175 1.772 4.735 5.611
II. Doanh thu Triệu 83.23 4 94.99 1 106.72 4 125.37 0 147.20 9

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Qua kết bảng số liệu trên chúng ta thấy, mặc dù loại hình du lịch homestay đang được các ngành, các cấp quan tâm đầu tư phát triển nhưng lượng khách đến xã Đông Hòa Hiệp từ năm 2019 đến năm 2023 tăng không đều giữa các năm. Thành phần khách du lịch đến với làng cổ chủ yếu là khách quốc tế, chiếm khoảng 65% lượng khách đến du lịch Cái Bè. Do xã Đông Hòa Hiệp nằm gần Tp Hồ Chí Minh nên phần lớn khách du lịch đến tham quan đến đây để tham quan thắng cảnh kết hợp với du lịch Chợ nổi Cái Bè và các nơi khác và lưu trú tại Tp HCM. Lượng khách lưu trú, trải nghiệm cuộc sống tại xã chưa nhiều, vì vậy doanh thu từ du lịch chưa cao chủ yếu hoạt động tham quan. Thu nhập của người dân tham gia hoạt động du lịch chưa nhiều do sản phẩm du lịch chưa đa dạng và chưa thu hút được lượng khách lưu trú.

2.3. Thiết kế nghiên cứu Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

Để khảo sát, đánh giá khách du lịch các yếu tố tác động đến sự lựa chọn của họ khi lựa chọn homestay như đã trình bày ở chương 1. Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: định tính (sơ bộ) và định lượng (chính thức).

2.3.1 Nghiên cứu định tính  

Mục đích nhằm khẳng định và bổ sung chỉ tiêu đánh giá, điều chỉnh thang đo và xây dựng bảng câu hỏi. Nghiên cứu định tính dựa trên kỹ thuật phỏng vấn sâu, phỏng vấn trực tiếp 20 chuyên gia về lĩnh vực du lịch, gồm: 4 công chức ngành du lịch, 6 nhà quản lý các công ty du lịch lữ hành, 5 chủ homestay và 5 khách du lịch.

Nghiên cứu này được sử dụng để khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thang đo.

Nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật trao đổi, thảo luận trực tiếp với chuyên gia như đã nêu ở mục 3.5.2.1, mô hình được rút gọn lại gồm 6 biến quan sát, với 28 mục hỏi (Bảng 1.1) của Mô hình du lịch homestay và 3 mục hỏi của thang đo Đánh giá sự lựa chọn của khách du lịch về homestay. Tiếp theo, bảng câu hỏi sẽ được hiệu chỉnh, phát phiếu điều tra thử nghiệm, ghi nhận các phản hồi, hoàn chỉnh bảng câu hỏi lần cuối để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo là nghiên cứu chính thức.

2.3.2. Nghiên cứu định lượng 

Nghiên cứu định lượng là nghiên cứu chính thức để kết luận về các khía cạnh được khách du lịch hài lòng khi lựa chọn du lịch homestay, với kỹ thuật thu thập dữ liệu là phỏng vấn qua bảng câu hỏi.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn bằng bảng câu hỏi (Bảng 2b – Phụ lục 2) có được từ kết quả nghiên cứu định tính ở trên (bảng câu hỏi được gửi trực tiếp đến khách hàng đang sử dụng dịch vụ du lịch homestay tại xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang).

Nghiên cứu định lượng dùng phương pháp bằng bảng câu hỏi đã soạn sẵn với hệ thống các câu hỏi đóng để phục vụ cho xử lý dữ liệu thống kê. Trong bảng câu hỏi, ngoài phần thông tin cá nhân và đặc điểm của khách hàng, bảng câu hỏi được thiết kế gồm 28 biến tiêu chí đánh giá trong mô hình. Với cách thiết kế bảng câu hỏi như vậy, khách du lịch sẽ cho biết cảm nhận của họ về các tiêu chí mà họ cho là có giá trị, bằng cách khoanh tròn vào con số thích hợp. Cách này sẽ giúp lượng hóa được ý kiến của người được điều tra và sử dụng điểm số Likert để kiểm định thống kê và phân tích số liệu đa biến.

Nghiên cứu này chỉ lấy mẫu để khảo sát (nghiên cứu định hình) do đối tượng nghiên cứu (khách du lịch) đến tham quan tại huyện Cái Bè quá đông. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

Nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết, được thực hiện sau khi bảng câu hỏi ở bước nghiên cứu định tính được hiệu chỉnh lại với ngôn từ dễ hiểu, rơ ràng, có bổ sung và loại bớt ra các biến không phù hợp. Dữ liệu thu được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0, qua các phân tích sau:

  • Mã hóa dữ liệu
  • Kiểm định độ tin cậy và độ giá trị của các thang đo. Điều chỉnh thang đo.
  • Phân tích thống kê mô tả.
  • Điều chỉnh mô hình nghiên cứu.
  • Kiểm định sự phù hợp của mô hình bằng phân tích tương quan, hồi quy bội, phân tích phương sai (ANOVA).
  • Kiểm định các giả thuyết.
  • Kiến nghị cải tiến chất lượng dịch vụ.

2.3.3. Thiết kế mẫu 

  • Kích thước mẫu

Tổng thể nghiên cứu là khách du lịch đến tham quan, du lịch tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang từ tháng 10 – 12 năm 2024.

Kích thước mẫu được chọn dựa trên yêu cầu của kỹ thuật phân tích đa biến áp dụng trong nghiên cứu này là phân tích nhân tố và hồi quy bội. Trong EFA, kích thước mẫu thường được xác định dựa vào (1) kích thước tối thiểu và (2) số lượng biến đo lường đưa vào phân tích. Hair & cộng sự (2016) cho rằng để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ quan sát (observations)/biến đo lường (items) là 5:1, nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu là 5 quan sát [10, tr. 398]. Như vậy, trong mô hình nghiên cứu này số biến độc lập là 28, do đó kích thước mẫu dùng trong khảo sát là n = 144 (28*5) nên tính đại diện của mẫu được đảm bảo cho việc khảo sát. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

  • Cách lấy mẫu

Do điều kiện bị giới hạn về thời gian và chi phí thực hiện nghiên cứu nên mẫu nghiên cứu được lấy theo Phương pháp thuận tiện (convenience sampling): Có nghĩa là nhà nghiên cứu dựa trên sự thuận tiện cho chính họ để tiếp cận tổng thể nghiên cứu [4, tr. 207-298]. Trong phương pháp lấy mẫu thuận tiện, nhân viên điều tra có thể chặn bất cứ khách du lịch nào mà họ gặp ở điểm đến du lịch, khách sạn, nhà hàng… để xin thực hiện cuộc phỏng vấn. Nếu người được phỏng vấn không đồng ý thì họ chuyển sang đối tượng khác. Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu khám phá.

Trên cơ sở chọn mẫu thuận tiện, quy trình khảo sát được thực hiện qua các bước như sau:

  • Bước một: Tiếp cận khách du lịch tại điểm đến du lịch, xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè để tham gia khảo sát.
  • Bước hai: Gửi phiếu điều tra cho người trả lời.
  • Bước ba: Liên hệ người được khảo sát để nhận lại kết quả trả lời.

Qua khảo sát, tổng số phiếu khảo sát gởi đến khách du lịch là 160 phiếu, kết quả hồi đáp là 152 phiếu (tỷ lệ 95%). Trong 152 phiếu khảo sát nhận lại từ khách hàng, có 8 phiếu không hợp lệ (bỏ sót câu trả lời hoặc trả lời 2 đáp án trong cùng 1 câu hỏi…).

Như vậy, số mẫu được đưa vào phân tích là 144 mẫu, đạt tỷ lệ 90% (bảng 2.2).

Bảng 2.4: Thông tin mẫu nghiên cứu

Thông tin mẫu Số lượng Tỷ lệ %
Tổng mẫu 144 100
1. Giới tính    
– Nam 75 52,1
– Nữ 69 47,9
2. Độ tuổi    
– Dưới 20 tuổi 81 56,2
– Từ 21 – 40 21 14,6
– Từ 41 – 60 20 13,9
– Trên 60 tuổi 22 15,3
3. Tình trạng hôn nhân  
– Đã kết hôn 27 18,8
– Độc thân 46 31,2
– Ly dị 37 25,7
– Góa chồng/ vợ 35 24,3
4. Nghề nghiệp
– Công chức nhà nước 15 10,4
– Viên chức 45 31,2
– Kinh doanh 46 31,9
– Khác 38 26,4
5. Trình độ học vấn
– Tiểu học và THCS (cấp 1, cấp 2) 21 14,6
– Trung học phổ thông (cấp 3) 32 22,2
– Cao đẳng/ đại học 48 33,3
– Trên đại học 24 16,7
– Khác 19 13,2

2.3.4. Quy trình nghiên cứu  Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

Quy trình nghiên cứu được thực hiện theo trình tự sau:  Nhận diện vấn đề nghiên cứu  Cơ sở lý thuyết về:

  • Du lịch homestay o Mô hình du lịch homestay
  • Đánh giá sự hài lòng của khách du lịch khi tham gia du lịch homestay
  • Mô hình thang đo 1
  • Nghiên cứu sơ bộ (phỏng vấn tay đôi)
  • Điều chỉnh thang đo
  • Mô hình thang đo 2
  • Nghiên cứu chính thức thông qua bảng câu hỏi
  • Phân tích dữ liệu khảo sát (sau khi chạy SPSS):
  • Phân tích dữ liệu (thống kê mô tả) o Đánh giá thang đo (hệ số Cronbach Alpha) o Điều chỉnh mô hình
  • Phân tích hồi quy bội, phân tích ANOVA o Kiểm định các giả thuyết
  • Kết luận và kiến nghị

2.3.5. Mô tả thang đo

Bộ thang đo hoàn chỉnh đo lường hoạt động du lịch homestay có được sau khi tác giả thực hiện cuộc trao đổi, phỏng vấn các chuyên gia gồm: công chức ngành du lịch, nhà quản lý các công ty du lịch lữ hành, chủ các homestay và khách du lịch, những nội dung mà khách du lịch quan tâm. Cuối cùng, thang đo của đề tài được rút gọn lại với 28 mục hỏi.

Các thang đo sử dụng dạng Likert 5 điểm để đo lường, trong đó: 1. Rất không đồng ý, 2. Không đồng ý, 3. Tạm được, 4. Đồng ý, 5. Rất đồng ý.

Các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm/thuộc tính được tham khảo thông qua các nghiên cứu trước đó và dự kiến như sau:

(i) Thang đo hoạt động du lịch homestay

Như đã giới thiệu ở phần trên, thang đo hoạt động du lịch homestay gồm 6 thành phần: (1) Môi trường của homestay (MOITRUONG); (2) Chất lượng dịch vụ (PHUCVU); (3) An toàn (ANTOAN); (4) An ninh trật tự (ANNINH); (5) Dễ tiếp cận chương trình du lịch homestay (TIEPCAN); (6) Cơ sở vật chất (cơ sở lưu trú, nhà bếp) của homestay (VATCHAT).

Thang đo Mô hình du lịch homestay, khi được thực hiện nghiên cứu định tính qua việc trao đổi với các khách hàng, nhà quản lý, một số biến không phù hợp đã được loại ra và một số biến mới đã được thêm vào cho phù hợp với loại hình du lịch homestay mà khách du lịch và các chuyên gia cảm nhận đựợc.

Kết quả bảng câu hỏi thang đo Mô hình du lịch homestay chính thức để thực hiện nghiên cứu như sau:

Bảng 2.5: Điều kiện phát triển du lịch homestay Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

STT  Du lịch homestay
1 Tận dụng gió thiên nhiên, ánh sáng tự nhiên một cách đầy đủ (MOITRUONG1)
2 Kết hợp các di sản địa phương và các yếu tố cảnh quan địa phương vào thiết kế homestay (MOITRUONG2)
3 Cảnh đẹp và tính độc đáo của nội thất thiết kế (MOITRUONG3)
4 Chủ homestay thiết kế vườn cây có tính độc đáo (Có những thắng cảnh thiên nhiên và nhân tạo trong cộng đồng) (MOITRUONG4)
5 Nhà nghỉ được xây dựng vững chắc (MOITRUONG5)
6 Thái độ ân cần của người chủ/ nhân viên phục vụ (ví dụ: dịch vụ đưa đón khách chu đáo) (PHUCVU1)
7 Cung cấp đầy đủ các món ăn địa phương (PHUCVU2)
8 Dịch vụ ăn uống đảm bảo chất lượng, vệ sinh (PHUCVU3)
9 Người chủ/ nhân viên phục vụ biết ngoại ngữ, phải qua lớp tập huấn nghiệp (PHUCVU4)
10 Có phương tiện thông tin để báo động các nguy hiểm (ví dụ: khách bị đau ốm, bị thương tích có thể tiếp cận nhanh và thuận tiện với nơi cấp cứu) (ANTOAN1)
11 Có hộp thuốc y tế (ANTOAN2)
12 Đảm bảo an toàn cho khách lưu trú (ví dụ: mua bảo hiểm cho khách lưu trú, phòng trọ an toàn…) (ANTOAN3)
13 Thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường, an toàn, phòng chống cháy nổ và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm theo qui định (ANTOAN4)
14 Đảm bảo an ninh trật tự (ANNINH1)
15 Không có tệ nạn xã hội (ANNINH2)
16 Không có tình trạng cò mồi (ANNINH3)
17 Đảm bảo an ninh cho khách lưu trú (ANNINH4)
18 Vị trí dễ dàng, thuận tiện cho khách du lịch với cơ sở hạ tầng cơ bản (TIEPCAN1)
19 Bảng tên, bảng hướng dẫn đặt ở nơi dễ thấy (TIEPCAN2)
20 Có bãi đậu xe cho khách du lịch (TIEPCAN3)
21 Tạo ra bầu không khí thân thiện giữa người dân địa phương với khách du lịch (TIEPCAN4)
22 Nơi lưu trú sạch sẽ (VATCHAT1)
23 Trang thiết bị chất lượng khá, hoạt động tốt (VATCHAT2)
24 Đèn điện, quạt điện… công tắc bố trí thuận tiện (VATCHAT3)
25 Giường hoặc đệm ngủ đạt tiêu chuẩn (ví dụ: chăn, mền, gối và khăn phủ, giường sạch sẽ và được thay sau khi khách đi, có bộ mới cho khách mới) (VATCHAT4)
26 Sử dụng phương pháp truyền thống để chống muỗi (VATCHAT5)
27 Có phòng tắm sạch sẽ và các tiện nghi vệ sinh (VATCHAT6)
28 Bếp sạch sẽ và không có mùi ẩm mốc, hôi thối (ví dụ: dụng cụ nhà bếp sạch sẽ và vệ sinh, cung cấp đủ nước sạch 24/24 giờ) (VATCHAT7) Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

(ii) Thang đo đánh giá sự lựa chọn của khách du lịch về du lịch homestay Thang đo đánh giá sự lựa chọn của khách du lịch về du lịch homestay (LUACHON) sau khi hiệu chỉnh một số biến không phù hợp với loại hình du lịch homestay đã được loại ra và một số biến mới đã được thêm vào cho phù hợp.

Bảng 2.6: Thang đo sự hài lòng

STT Sự lựa chọn của khách du lịch (LUACHON)
1 Quý khách lựa chọn homestay này vì chất lượng dịch vụ (LUACHON1)
2 Quý khách lựa chọn homestay này vì sự đáp ứng đối với yêu cầu của quý khách (LUACHON2)
3 Quý khách lựa chọn homestay này vì cách phục vụ (LUACHON3)

Tiểu kết

Việc khảo sát thực tế lấy ý kiến đánh giá của khách du lịch về hoạt động du lịch homestay được thực hiện tại xã Đông Hòa Hiệp. Dữ liệu thu được, được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0, qua các phân tích để đưa ra kết quả nghiên cứu. Thực hiện thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS 16.0 cho thấy khách du lịch đánh giá về các yếu tố lựa chọn homestay của họ ở mức đồng ý (≈ 4 điểm).

Sau khi thực hiện kiểm định hệ số tương quan Pearson, kiểm định phương trình hồi quy đa biến cho các nhân tố vừa rút ra từ phân tích nhân tố, đề tài nghiên cứu có được mô hình homestay tại xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang như sau:

Sự lựa chọn của khách du lịch về homestay = 0.172 + 0.442*Cơ sở vật chất + 0.311*Quản lý homestay + 0.268*Dễ tiếp cận homestay + 0.215*Môi trường của homestay + 0.190*An ninh trật tự Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch homestay tại Cái Bè

One thought on “Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch homestay tại Cái Bè

  1. Pingback: Luận văn: Phát triển du lịch homestay tại xã Đông Hòa Hiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464