Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phân tích thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1  Giới thiệu tổng quan ngành du lịch tỉnh TTH.

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Tỉnh Thừa Thiên Huế là tỉnh thuộc vùng Bắc trung bộ của Việt Nam mà trung tâm là thành phố Huế, cách thủ đô Hà Nội 650 km và thành phố Hồ Chí Minh 1080km, vị trí này tương đối bất lợi vì xa các trung tâm kinh tế lớn của đất nước như các tỉnh ở phía nam, Hà Nội, Hải Phòng. Tỉnh có 9 đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Huế, các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới, với phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp thành phố Đà Nẵng với ranh giới là đèo Hải Vân, phía tây là dãy Trường Sơn chạy dọc miền Trung và phía đông tiếp giáp với biển Đông với đường bờ biển dài khoảng 120 Km, có cảng Thuận An và vịnh chân Mây có độ sâu 18 – 20m có khả năng xây dựng cảng nước sâu.

Về khí hậu, Thừa Thiên Huế nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa mang tính chất chuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, không có mùa đông và mùa khô rõ rệt. Chỉ khi có những đợt không khí lạnh tràn về thì thời tiết lạnh, thời tiết khô khi có ảnh hưởng của gió Lào thổi về. Do nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên lượng bức xạ khá lớn, lượng bức xạ cao dẫn đến nhiệt độ tăng. Ở Huế nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 đến tháng 8 trung bình 29 – 29,5oC, tháng 12 đến tháng 1 là những tháng có nhiệt độ thấp 19 – 20oC, có thời điểm thấp nhất là 10 – 14oC. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25oC, số giờ nắng trung bình ở Huế là 2015 giờ. Lượng mưa trung bình hàng năm tại Huế là 2.740mm, mùa mưa chủ yếu từ tháng 9 đến tháng 12, độ ẩm dao động từ 72 – 90%. Số lượng bão ở Thừa Thiên Huế khá nhiều thường bắt đầu từ tháng 6 và nhiều nhất là tháng 9, tháng 10 hàng năm. Ngoài ra, Tỉnh còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Điều kiện khí hậu như vậy gây ra rất nhiều khó khăn cho việc phát triển các ngành kinh tế của tỉnh, kể cả du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2 Đặc điểm văn hóa, xã hội tỉnh TTH:

Từ năm 179 trước Công nguyên đến cuối thế kỷ thứ II sau Công nguyên, Huế là vùng đất thuộc quận Nhật Nam dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc. Sau đó, trong suốt thời gian dài gần 12 thế kỷ, vùng đất Thừa Thiên Huế thuộc địa đầu phương bắc của Vương quốc Chămpa. Năm 1306, vua Chăm là Chế Mân đã dâng vùng đất châu Ô và châu Lý (gồm Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và một phần của bắc Quảng Nam ngày nay) làm sính lễ để cưới công chúa Huyền Trân. Năm sau, vua Trần đổi tên hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa, và đặt chức quan cai trị. Về sau, hai châu được gộp lại, lấy tên là Thuận Hóa. Vào nửa cuối thế kỷ XV, thời vua Lê Thánh Tông, địa danh Huế lần đầu tiên xuất hiện.

Với lời sấm truyền “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một dải Hoành Sơn, có thể yên thân muôn đời), năm 1558 Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hóa mở đầu cho cơ nghiệp của các chúa Nguyễn. Sự nghiệp mở mang của 9 đời chúa Nguyễn ở “Ðàng Trong” đã gắn liền với quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hóa – Phú Xuân.

Năm 1636 phủ chúa Nguyễn đặt ở Kim Long (Huế), tới năm 1687 dời về Phú Xuân – Thành nội Huế ngày nay. Vào những năm đầu của thế kỷ XVIII, Phú Xuân là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của xứ “Đàng Trong” và từ năm 1788 đến 1801, Phú Xuân trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn thống nhất.

Từ năm 1802 đến năm 1945, Huế là kinh đô của nước Việt Nam dưới sự trị vì của các vua nhà Nguyễn. Cũng trong thời gian này, nơi đây đã hình thành các công trình kiến trúc lịch sử văn hóa có giá trị mà tiêu biểu là kinh thành Huế và Đại Nội (253 công trình) cùng các lăng tẩm của 7 đời vua Nguyễn và nhiều di tích quan trọng khác như Đàn Nam Giao, Hổ Quyền, Điện Hòn Chén

Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã chấm dứt triều đại nhà Nguyễn nhưng không lâu sau đó thì Thành phố lại nằm trong vùng Mỹ – Ngụy quản lý. Nhiều công trình văn hóa trong thời kỳ này không được tôn tạo mà còn bị xâm phạm do xây dựng các công trình quân sự. Đến năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, thành phố Huế từng bước được khôi phục phát triển kinh tế – xã hội và văn hóa.

Người dân Thừa Thiên Huế văn minh, lịch thiệp, có truyền thống hiếu học bao đời nay và trong mỗi con người đều chứa đựng nét đặc thù sâu sắc văn hoá Huế. Đại học Huế gồm 7 trường Đại học thành viên (Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học, Đại học Y khoa, Đại học Nông lâm, Đại học Nghệ thuật, Đại học Kinh tế, Đại học Ngoại Ngữ), cùng với Trường Đại học dân lập Phú Xuân và hệ thống các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

2.1.3 Tài nguyên du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Hệ thống đầm phá: Đây là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch sinh thái cũng như văn hoá, hệ thống đầm phá của Thừa Thiên Huế gồm:

  • Phá Tam Giang: kéo dài từ cửa sông Ô Lâu đến cầu Thuận An, thông với biển Đông qua cửa Thuận An, chiều dài 25 km, chiều rộng từ 0,5 – 4 km, chiều sâu phá vào mùa cạn phổ biến từ 1 – 1,5 m và gần cửa Thuận An lên đến 4 – 6 m, diện tích mặt nước khoảng 52 km2.
  • Đầm Thủy Tú: gồm các đầm An Truyền, Thanh Lam (Sam), Hà Trung và Thuỷ Tú tạo thành, kéo dài từ cầu Thuận An đến Cồn Trai trên chiều dài 33 km, chiều rộng đầm biến đổi từ 0,5 – 5,5 km, chiều sâu đầm phổ biến từ 1,5 – 2 m, diện tích mặt nước khoảng 60 km2.
  • Đầm Cầu Hai: kéo dài từ Cồn Trai đến cửa sông Rui với chiều dài 9 km và từ cửa sông Truồi đến núi Vinh Phong gần 13 km, chiều sâu trung bình khoảng 1,4 km, diện tích mặt nước khoảng 104 km2. Đầm Cầu Hai thông với biển Đông qua cửa Tư Hiền.
  • Đầm An Cư: là thuỷ vực biệt lập, kéo dài theo hướng Bắc – Nam, chiều dài tư 5 – 6 km, chiều rộng từ 2 – 4 km, diện tích mặt nước 15 km2, chiều sau phổ biến từ 1 – 3 m. Đầm An Cư thông với biển Đông qua cửa Lăng Cô.

Hệ sinh thái:

Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của biển Đông, có kiểu khí hậu chuyển tiếp bắc – nam Việt Nam, do đó hệ sinh thái của Thừa Thiên Huế rất đa dạng phản ánh sự giao thoa nhiều luồng sinh vât thuộc khu hệ phương Bắc và khu hệ phương Nam Việt Nam. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bên cạnh đó, với chiều dài bờ biển trên 120km, Thừa Thiên Huế có nguồn hải sản phong phú đảm bảo cung cấp đặc sản cho du khách và tạo điều kiện tổ chức các loại hình du lịch như câu cá, tôm, mực, lăn biển…

Sự đa dạng của hệ sinh thái Thừa Thiên Huế tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch gắn liền với môi trường thiên nhiên như du lịch sinh thái, du lịch giáo dục môi trường…

Tài nguyên du lịch tự nhiên nỗi bật

Các tài nguyên du lịch tự nhiên nổi bật của Thừa Thiên Huế bao gồm:

  • Tài nguyên du lịch biển với các bãi biển Cảnh Dương; Thuận An; Lăng Cô; bãi Cả; bãi Chuối (Lăng Cô), Đông Dương, Hàm Rồng (huyện Phú Lộc), Quảng Ngạn (Quảng Điền), Phong Hải – Điền Lộc (Phong Điền), Vinh Thanh – Tư Hiền, Ngũ Điền, đảo Sơn Chà….
  • Các điểm thắng cảnh với đèo Hải Vân; núi Ngự Bình; Đồi Vọng Cảnh; đồi Thiên An và hồ Thuỷ Tiên; núi Ngọc Trản; núi Thiên Thai…
  • Các nguồn nước khoáng như nguồn Thanh Tân; nguồn Hương Bình; nguồn A Roàng; nguồn Pahy; Mỹ An; nguồn Thanh Phước và nguồn Tân Mỹ.
  • Các điểm du lịch sinh thái như Vườn Quốc gia Bạch Mã; thác Phướn; thác Mơ; thác Trượt; thác Kazan, Khu bảo tồn tự nhiên Phong Điền, Khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước tràm chim Bắc Biên (Quảng Điền), các điểm du lịch sinh thái khu vực Nam Đông…
  • Các điểm du lịch sông nước, đầm phá, sinh thái hồ như Sông Hương; Phá

Tam Giang; Hồ Truồi; đầm Lập An; cồn Dã Viên; cồn Hến…  Tài nguyên du lịch nhân văn:

  • Hệ thống di tích lịch sử quan trọng có giá trị phục vụ du lịch.

Nổi bật nhất trong hệ thống các di tích lịch sử của Thừa Thiên Huế là quần thể di tích cố đô Huế với hệ thống lăng tẩm, cung điện, các công trình kiến trúc tôn giáo, kiến trúc dân dụng… thể hiện sự kế thừa, phát huy, đan xen giữa nghệ thuật Champa, Việt, Trung Hoa và phương Tây tạo thành sức hấp dẫn lớn đối với du khách. Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Ngoài quần thể di tích Huế, còn có 34 di tích đã được nhà nước xếp hạng. Trong số đó nhiều di tích được coi là có giá trị đặc biệt quan trọng cần tập trung đầu tư tôn tạo, bảo vệ và tổ chức khai thác tốt phục vụ phát triển du lịch. Tiêu biểu là khu di tích kiến trúc triều Nguyễn, nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu địa đạo huyện Phú Lộc, khu vực A Lưới với đường mòn Hồ Chí Minh… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • Các lễ hội.

Như bao miền quê khác trên dải đất Việt Nam, các lễ hội dân gian ở Huế thường gắn với tín ngưỡng, tôn giáo, tinh thần thượng võ và khát vọng cuộc sống. Bên cạnh những nét chung của lễ hội Việt, các lễ hội ở Huế còn mang những nét riêng của vùng ven biển. Các lễ hội dân gian nổi bật ở Thừa Thiên Huế là lễ hội Cầu Ngư, giống như lễ hội cầu mùa màng bội thu của cư dân nông nghiệp; lễ hội Điện Hòn Chén, tế lễ thánh mẫu Ponaga diễn ra vào dịp thanh minh trong các ngày 2 tháng 3 và từ ngày 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch); các lễ hội Phật giáo có lễ hội Phật Đản (15/4), Vu Lan (15/7)… thu hút đông đảo nhất người dân xứ Huế và các tỉnh lân cận.

Bên cạnh lễ hội dân gian một trong những nét đặc trưng của lễ hội Thừa Thiên Huế là các lễ hội cung đình như lễ tế giao, lễ đại triều, lễ đăng quang v.v… Các lễ hội này có thể khôi phục, khai thác như một loại hình sản phẩm du lịch độc đáo.

  • Nghệ thuật truyền thống.

Ca nhạc Huế là sự thể hiện phong phú nhiều thể loại. Ta có thể tìm thấy ở đây vẻ trang trọng kiêu sa của nhạc cung đình như giao nhạc, yến nhạc, tế nhạc…, vẻ bình dị sâu lắng của dân gian như các làn điệu dân ca.

Các làn điệu dân ca của Huế có nét đặc trưng riêng biệt. Nó mang chất trữ tình, ngọt ngào, hiền dịu và sâu lắng, tươi vui mà không náo loạn, u buồn nhưng không bi lụy. Tiêu biểu là các điệu hò như hò mái đẩy, mái nhì, hò nện, hò giã gạo, giã vôi, giã điệp…, các điệu lý như lý Con Sáo, lý Hoài Xuân, lý Hoài Nam, lý Tình Tang… mà mỗi khi thoáng nghe ta đã liên tưởng ngay tới Huế.

Với giá trị đặc sắc về văn hoá, ca múa nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của thế giới tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch.

  • Nghệ thuật ẩm thực.

Nghệ thuật ẩm thực của Thừa Thiên Huế, đặc biệt là thành phố Huế rất phong phú, độc đáo, mang bản sắc độc đáo địa phương. Nó được hình thành qua một quá trình lịch sử lâu dài chủ yếu là giai đoạn Huế đóng vai trò kinh đô của đất nước dưới thời Nguyễn. Nghệ thuật ẩm thực của Huế vừa mang phong cách sang trọng, cung đình (với các các món ăn trong cung đình) vừa mang phong cách giản dị, dân dã (với các món ăn bình dân) nhưng đều có màu sắc, hương vị rất hấp dẫn và thể hiện sự khéo léo của người dân Huế. Nghệ thuận ẩm thực của Huế được xem là một nguồn tài nguyên du lịch và là nội dung của hầu hết các tour du lịch đến Huế.. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

2.1.4 Làng nghề và các sản phẩm thủ công truyền thống

Huế là một trong những địa phương có hệ thống làng nghề đa dạng. Làng nghề và nghề thủ công truyền thống của Huế vốn có từ lâu đời, hình thành từ nhu cầu phục vụ công việc xây dựng và sửa sang cung điện và nhu cầu trao đổi buôn bán cũng như sản xuất, sinh hoạt. Nhiều làng nghề nổi tiếng từ xưa đến nay vẫn còn tồn tại như Phường Đúc (hiện nay là 5 dãy thợ đúc nằm dọc theo đường Bùi Thị Xuân, cách trung tâm thành phố Huế 3 km về phía Tây Nam), nghề sơn son Tiên Nộn… Các làng nghề này là một nguồn tài nguyên du lịch quý giá có khả năng phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với văn hoá như du lịch làng nghề, các loại hàng hoá lưu niệm.

2.1.5 Các loại hình du lịch chủ yếu của Thừa Thiên Huế

  • Du lịch văn hóa: Khai thác tiềm năng văn hoá đặc biệt là các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của di sản văn hoá cố đô Huế.
  • Du lịch sinh thái: Vườn quốc gia Bạch Mã (Phú Lộc), thác Ka Giang (Nam Đông), du lịch nước khoáng nóng Thanh Tân (Phong Điền); Chuỗi thác A Nôr (xã Hồng Kim), suối nước nóng Tôm Trung, thác Pông Chất, hang động Kềnh Crâm (xã A Roàng), hồ mặt nước ngầm A Co (xã Phú Vinh, Hồng Thượng), đèo Pê Ke (xã Hồng Vân, Hồng Thuỷ), hầm A Roàng (xã A Roàng).
  • Du lịch nghỉ dưỡng:Với lợi thế về vị trí địa lý và là bãi biễn đẹp của thế giới, Lăng Cô đang là nơi đã và đang được đầu tư trở thành khu nghĩ dưỡng thu hút du khách lớn của Huế.
  • Du lịch biển: Phát triển ở các khu vực dọc theo bờ biển phía Đông tại các bãi tắm đẹp như Lăng Cô, Thuận An, Cảnh Dương với các sản phẩm chính như tắm biển, thể thao trên biển như lặn biển, dù bay, xuồng máy tốc độ cao.
  • Du lịch nhà Vườn: Là loại hình du lịch mà du khách đến Huế rất ưa thích. Loại hình du lịch này ngày càng thu hút những lọai du khách hướng về làng quê, thích khám phá những nét văn hóa trong đời sống thật của người dân.

2.2 Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian qua Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

2.2.1 Phân tích tác động của các yếu tố bên ngoài:

2.2.1.1 Môi trường kinh tế chính trị thế giới và trong khu vực.

  • Về tình hình kinh tế:

Trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, kinh tế công nghiệp trên thế giới chuyển dần sang kinh tế tri thức với các. đặc trưng như lấy tri thức làm cơ sở, trong đó nhân tố con người là quyết định; công nghệ thông tin đóng vai trò chủ đạo; thị trường toàn cầu; nền kinh tế phát triển bền vững, thân thiện với môi trường.

Với bối cảnh kinh tế như trên, trong các năm qua kinh tế thế giới tiếp tục có tốc độ tăng trưởng ổn định  và xu hướng toàn cầu hóa kinh tế thế giới đã trở thành một xu hướng tất yếu khách quan mà các quốc gia muốn phát triển nền kinh tế của mình đều phải tham gia vào. Các Hiệp định Thương mại Tự do theo từng khu vực và toàn thế giới ngày càng được nhiều quốc gia tham gia, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã kết nạp thêm được nhiều thành viên mới, trong đó có Việt Nam.

Toàn cầu hóa đã dẫn đến mức độ cạnh tranh của các quốc gia ngày càng cao hơn, không chỉ đơn thuần như trước đây là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau mà là sự cạnh tranh của các quốc gia, các nhóm quốc gia và ngay cả của các châu lục với nhau.

Tuy nhiên, Năm 2023 và những tháng đầu năm 2024 vừa qua là giai đoạn đầy khó khăn của nền kinh tế thế giới nhất là các nền kinh tế phát triển, với một loạt cú sốc lớn, như khủng hoảng tín dụng và cho vay thế chấp, đang khiến kinh tế nhiều nước lâm vào tình trạng điêu đứng và buộc các nhà phân tích phải đưa ra những dự báo u ám về bức tranh kinh tế toàn cầu. Việc suy thoái kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu du lịch khi người dân thắt chặt chi tiêu. Trong năm 2023, tăng trưởng của ngành du lịch thế giới giảm xuống mức 2%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • Về chính trị:

Về chính trị, an ninh thì trong vài năm trở lại đây, thế giới đã đối diện với những thách thức vô cùng to lớn, đó là nạn khủng bố quốc tế, một nguy cơ đe dọa đến an ninh của nhiều quốc gia trên tất cả các châu lục. Cho đến nay, thách đố của cuộc chiến chống khủng bố từ sau vụ 11/9 là một vấn đề nan giải của các quốc gia để đảm bảo việc gìn giữ hòa bình, ổn định chính trị. Với danh nghĩa tiêu diệt khủng bố, Mỹ và một số nước đã gây ra cuộc chiến ở Afganistan, Irắc  và tài trợ giúp đỡ cho một số nước chống khủng bố. Tuy nhiên, trái với những gì người ta mong đợi về kết quả của các hoạt động chống khủng bố, chủ nghĩa khủng bố vẫn tiến hành những vụ đánh bom lớn ở Châu Âu (Tây Ban Nha) và Châu Á (Philippin, Indonesia, Thái Lan), tạo tâm lý lo ngại cho khách khi muốn đi du lịch.

2.2.1.2 Tình hình kinh tế chính trị của Việt nam – Về tình hình kinh tế:

Trong những năm đầu thế kỷ 21, kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, nhất là trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo đã đạt được những chuyển biến tích cực; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện. Tình hình chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy.

Với sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế, chúng ta tiếp tục thu hút các luồng đầu tư của các quốc gia cũng như các tổ chức kinh tế trên thế giới. Đặc biệt, sự kiện ngày 07/11/2021 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã thúc đẩy tốc độ đầu tư của các quốc gia khác vào Việt Nam nhiều hơn.

Tuy nhiên, đến năm 2023, Cơn bão suy thoái kinh tế thế giới đã tác động rõ nét tới nền kinh tế nước ta. Chúng ta đã phải đối mặt với những khó khăn về vấn đề thanh khoản của hệ thống tín dụng, lãi suất ngân hàng cao, những cơn sốt giá lương thực và năng lượng, thị trường chứng khoán tiếp tục bị sụt giảm. Những tác động này đã kéo theo mức sống của người dân ngày càng khó khăn hơn, đồng tiền giảm giá. Tăng trưởng giảm từ mức trung bình 7,5% những năm trước xuống còn 6,2 % năm 2023.

  • Về chính trị: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trong vài năm gần đây, do tình hình bạo động và bất ổn chính trị tại một số nước như Phillipines và Thái Lan, nên Việt Nam đã được chọn là điểm đến an toàn của các du khách quốc tế. Vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế ngày càng được nâng cao; hình ảnh một Việt Nam hòa bình, ổn định và mến khách được tạo lập, được dư luận quốc tế bình chọn là điểm đến an toàn – thân thiện. Lượng khách quốc tế tìm đến Việt Nam ngày một nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng do ảnh hưởng chung về sự suy thoái kinh tế toàn cầu nên trong năm 2023 và đầu năm 2024, lượng khách du lịch không gia tăng mạnh như chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

2.2.1.3 Tình hình phát triển du lịch trên thế giới và khu vực

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, du lịch là một trong những ngành công nghiệp có mức tăng trưởng nhanh nhất trong nửa sau của thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21. Du lịch được xem như ngành chủ lực để phát triển kinh tế ở cả quốc gia đã phát triển cũng như quốc gia đang phát triển và là giải pháp nhanh nhất và dễ dàng nhất trong việc chống lại sự suy yếu của nền kinh tế. Ngày càng có nhiều quốc gia lựa chọn phát triển và xúc tiến các nguồn lực của mình để thu hút khách du lịch nhiều hơn. Điều này tạo nên sự cạnh tranh và thách thức mới cho các quốc gia để đạt được mục tiêu của mình trong thời gian tới.

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), du lịch là ngành tạo ra nhiều việc làm nhất trên thế giới, với 207 triệu việc làm trực tiếp hoặc gián tiếp; 75% hành khách của ngành hàng không quốc tế là du khách; du lịch toàn cầu mỗi năm mang lại thu nhập hơn 514 tỉ USD; tại 83% nước trên thế giới, du lịch là một trong năm nguồn thu ngoại tệ lớn nhất, riêng tại các nước vùng Caribê, 50% GDP là từ du lịch.

Du lịch là phương tiện chuyển giao của cải tự nguyện lớn nhất từ các nước giàu sang các nước nghèo; khoản tiền do du khách mang lại cho các khu vực nghèo khổ trên thế giới còn lớn hơn viện trợ chính thức của các chính phủ.

Tuy nhiên, tính từ đầu năm 2023 đến nay, sự suy thoái của kinh tế đã làm cho ngành du lịch của nhiều nước trên thế giới giảm sút đáng kể. Trong bản báo cáo, các nhà chức trách của Tổ chức Du lịch Thế giới đánh rằng, ngành Du lịch thế giới năm 2023 này đã gặp nhiều khó khăn và trong năm tới cũng có ít triển vọng sáng sủa. Các nhà chức trách của Tổ chức Du lịch Thế giới nhận định, tăng trưởng của ngành du lịch thế giới sẽ không thể tăng, thậm chí chỉ đạt mức trên dưới 0% trong năm 2024. Các số liệu tổng kết công bố ngày 8/12 của Tổ chức Du lịch Thế giới cho thấy, trong năm nay, tăng trưởng của ngành Du lịch thế giới đã xuống mức khoảng 2%.  Và trong tình hình kinh tế khó khăn đó , một số nước  trong khu vực đã đẩy mạnh các chương trình khuyến mãi như: Thái Lan, vừa kết thúc chương trình “Thailand sorry”, ngành du lịch nước bạn đã có ngay chương trình khuyến mãi giá tour và mua sắm chi tiết cho suốt năm 2024, đi cùng là ngân sách gần 30 triệu USD để đẩy mạnh quảng bá tại 20 thị trường trọng điểm. Chính phủ Thái Lan cũng vừa đồng ý miễn thị thực cho công dân của 62 quốc gia trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm nay. Tổng cục Du lịch Singapore cũng đã có 60 triệu USD cùng kế hoạch cụ thể cho hoạt động quảng bá trong năm nay. Còn Malaysia sau khi đạt được những thành công đáng kể trong việc thu hút khách gần đã lên kế hoạch tập trung vào những thị trường xa hơn. Trong năm 2023, mức tăng du khách của Singapore tăng 4.8%, Malaysia và Indonesia tăng trên 13%, Campuchia cũng tăng được 6%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

2.2.1.4 Tình hình phát triển du lịch của Việt Nam

Theo kết quả khảo sát thường niên về “Dự định du lịch châu Á năm 2022” do tổ chức Visa International khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Hiệp hội Du lịch châu Á Thái Bình Dương (PATA) phối hợp thực hiện cho thấy sự hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến được ưa thích trên toàn cầu đã tăng. Theo đó, 31% số người được phỏng vấn cho biết Việt Nam có thể là điểm đến tiếp theo trong vòng 2 năm tới. Trong đó, xu hướng nổi bật là du khách lựa chọn kiểu du lịch thân thiện với môi trường và du lịch văn hóa. Gần 9/10 người cho biết sẽ chọn sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa địa phương và bảo vệ môi trường tự nhiên, sẵn sàng trả thêm 10% chi phí chuyến đi để giúp môi trường và nền văn hóa địa phương không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các hoạt động du lịch.

Ngoài ra, theo kết quả nghiên cứu của Hội đồng du lịch và lữ hành Thế giới (WTTC) phối hợp với Oxford Economic Forecasting (OEF) thì dự báo Việt Nam xếp hạng 6 trong top 10 các nước phát triển du lịch và lữ hành tốt nhất trong thời gian từ 2022 đến 2016  .

Như vậy, từ chỗ đứng ở nhóm các nước kém phát triển nhất, ngành du lịch Việt Nam đã từng bước vươn lên hàng trung bình trong khu vực, vượt qua Philippines, chỉ còn sau 4 nước phát triển du lịch hàng đầu trong khu vực là Thái Lan, Singapore, Malaysia và Indonesia. Du khách đến Việt Nam từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ Thống kê lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2023: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bảng 2.1:  Lượng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2011 – 2023

Tổng cục du lịch cho biết số liệu gia tăng khách du lịch ở một số nước khác như: Singapo tăng 14,6%, Malaysia tăng 13 ,4%, Trung Quốc tăng 13,1%, Thái Lan tăng 9,6%, Úc tăng 4,5 %, Mỹ tăng 2,2% so với năm 2022. Như vậy, Với bối cảnh kinh tế hiện nay, suy thoái kinh tế đã làm ảnh hưởng tức thời đến ngành du lịch Việt Nam. Trong năm 2023, du lịch Việt Nam đón gần 4,3 triệu lượt khách quốc tế, chỉ tăng 0,6% so với năm 2022 và thấp hơn so với mục tiêu đề ra là 5 triệu lượt khách quốc tế. Mặc dù không đạt được mục tiêu ban đầu đặt ra, nhưng năm 2023 Việt Nam cũng đã đạt được những nỗ lực đáng kể, bởi đây là một năm tất bật với các hoạt động giao lưu văn hóa đối ngoại được tổ chức thành công, tạo tiếng vang và để lại ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè quốc tế như Ngày văn hóa Việt Nam tại liên bang Nga, Nhật Bản, tuần văn hóa du lịch Việt Nam tại Campuchia, Hà Lan… Những chương trình biểu diễn  văn nghệ, trưng bày sản phẩm mang đậm nét dân tộc đã không chỉ lôi kéo, thu hút được sự chú ý của đông đảo bạn bè quốc tế mà còn tạo tiền đề cho những kế hoạch xúc tiến thương mại, đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam. Đi cùng là các chương trình Festival, đặc biệt là Festival Huế năm 2023 và các chương trình văn hóa nhân Đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc năm 2023…

2.2.1.5 Bản sắc văn hóa người Huế

Lịch sử hình thành văn hóa Huế đi song song với lịch sử “Chín Chúa mười ba Vua” kéo dài từ 1558 đến 1945 của Nguyễn Triều. Suốt 387 năm để hình thành một nền văn hóa cung đình Triều Nguyễn, kết hợp với văn hóa dân gian mà tạo thành văn hóa Huế. Bản sắc của nền văn hóa Huế mang đậm nét văn hóa cung đình và văn hóa đại chúng bình dân Việt Nam. Chính đây là nguồn gốc sâu xa của một trạng thái tâm lý mâu thuẫn đi tìm cái không bao giờ có của Huế. Tâm lý Huế là nghèo mà sang, vui mà vẫn man mác buồn, sống hiện tại mà vẫn thiết tha về quá khứ nên hiện tượng “Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” rất phổ biến trong tâm tình người Huế. Và cũng cái tâm lý ấy tạo nên tính cách con người Huế. Theo kết quả khảo sát của một nhóm nghiên cứu của Sở Du lịch Huế thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn sâu với các chuyên gia, các nhà quản lý tại các sở, ban ngành và các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực khách sạn, lữ hành của tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy về bản chất và tính cách của con người Huế có ảnh hưởng đến hoạt động du lịch như sau: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • Con người của Huế chậm, không năng động, có thể do nguồn gốc của người Huế vốn thâm trầm, dịu dàng, chưa hội  nhập được với tác phong công nghiệp, ảnh hưởng phần nào đến việc phát triển du lịch. Đây là tính cách của mỗi vùng miền, do đó nếu khi bước vào WTO mà không xoay chuyển được tính cách này cũng ảnh hưởng đến phong cách phục vụ du khách.
  • Con người Huế thường thích sống về văn hóa nghệ thuật, đạo đức hơn là làm giàu bằng kinh tế thị trường. Người Huế rất khó chấp nhận những thử nghiệm đổi mới trong lối sống và cả trong ý thức văn hoá của mình
  • Người Huế ít đầu tư vào việc sáng tạo ra các sản phẩm do sợ bị mất nghề, bị ăn cắp mẫu mã. Có những sản phẩm du lịch đặc trưng của Huế nhưng lại được sản xuất từ những địa phương khác, thậm chí có những sản phẩm lưu niệm được sản xuất từ Trung Quốc.
  • Người Huế thường sống bằng quá khứ và hình thành chủ nghĩa cục bộ, tâm trạng, không thích thể hiện cảm xúc ra bên ngoài; không tạo được niềm tin khi tiếp xúc, từ đó dẫn đến việc các đối tác có thể cảm thấy bất an khi giao dịch với người Huế.
  • Chưa tạo được sự chuyển động chung của cộng đồng trong việc tạo nên sức bật cho du lịch TTH. Con người Huế sống khép kín, không cởi mở và ngại ngùng khi tiếp xúc với các vấn đề mới.

2.2.1.6 Áp lực cạnh tranh.

Cạnh tranh du lịch trong khu vực và thế giới ngày càng gay gắt, nhất là trong tình hình kinh tế như hiện nay, các chiến lược tiếp thị và nâng cao dịch vụ ngày càng được nâng lên một tầm cao hơn, quy mô hơn. Trong khi đó, khả năng cạnh tranh của Việt nam, trong đó có Thừa Thiên Huế còn rất hạn chế.

Đối với trong nước, sự xuất hiện và ngày càng phát triển của các điểm đến có khả năng cạnh tranh cao như: Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Nẵng, Quãng Nam, Bình Thuận …với những sản phẩm du lịch đa dạng, có chất lượng cao hấp dẫn đối với khách du lịch Quốc tế là một yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành du lịch Huế. Cụ thể:

  • a) Thành phố Hồ Chí Minh:

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế của cả nước, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tỷ trọng GDP của Thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ đông sang tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Thành phố có nhiều danh lam thắng cảnh, địa danh – di tích lịch sử – văn hóa như: Thảo Cầm Viên, Đầm Sen, Suối Tiên, Hồ Kỳ Hoà, Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, địa đạo Củ Chi, đền tưởng niệm Bến Dược Củ Chi, chiến khu An Phú Đông, 18 thôn Vườn Trầu, Hóc Môn Bà Điểm, Láng Le Bàu Cò, vườn thơm Bưng Sáu, “Căn cứ nổi” rừng Sác, khu du lịch sinh thái Cần Giờ với nhiều hệ sinh thái có nhiều chủng loại động thực vật.

Trong năm 2023, ngành du lịch TPHCM đón được 2,8 triệu lượt khách, tăng 3,7% so với năm 2022, nhưng chỉ đạt 93% kế hoạch năm.

Với sự quan tâm của chính quyền Thành phố trong việc phát triển du lịch, ngành du lịch Thành phố đã chủ động tìm kiếm thị trường, xây dựng – làm mới thêm nhiều sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp ngày càng thể hiện vai trò, sự năng động của mình; xu hướng liên kết doanh nghiệp trong ngành để cộng đồng sức mạnh, phát huy lợi thế cạnh tranh đang phát triển mạnh không chỉ giữa các doanh nghiệp lớn mà còn khá phổ biến ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp du lịch còn chủ động bắt tay liên kết với các tập đoàn doanh nghiệp lớn, có thương hiệu mạnh như  trên thế giới để hỗ trợ nhau phát triển, khai thác thị trường hai bên, tạo nguồn khách ổn định.

Về cơ sở vật chất phục vụ du lịch, hệ thống cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố tiếp tục khẳng định vị thế hàng đầu trong cả nước, trong đó các khách sạn từ 3 đến 5 sao có khả năng cạnh tranh được với khách sạn các nước trong khu vực về giá cả và chất lượng. Toàn ngành du lịch thành phố có 452 doanh nghiệp lữ hành (215 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, 237 doanh nghiệp lữ hành nội địa); 171  khách sạn với 11.028  phòng được xếp hạng 1 – 5 sao (riêng từ 3-5 sao có 38 khách sạn với 6.447 phòng); 630 cơ sở lưu trú với 9.954  phòng được công nhận đạt tiêu chuẩn tối thiểu của ngành.

Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh việc quảng bá chương trình dịch vụ du lịch đạt chuẩn trên tạp chí Heritage (VietNam Airlines), xuất bản bản đồ mua sắm đạt chuẩn, đăng định kỳ trên Tạp chí Du lịch, báo Sài Gòn Giải Phóng (báo viết và trang online) những điểm mua sắm đạt chuẩn cũng như các chương trình khuyến mãi của thành phố. Đến nay đã có 50 điểm mua sắm và 13 điểm ăn uống đạt chuẩn du lịch trên địa bàn thành phố. Ngoài ra, để thu hút khách du lịch, Sở Du lịch đã phối hợp với Sở Thương Mại cùng các ngành liên quan thực hiện các tháng bán hàng khuyến mại.

  • b) Quãng Nam: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Là tỉnh có nhiều lợi thế về du lịch, nhất là việc sở hữu hai di sản văn hoá thế giới là Phố cổ Hội An và khu di tích Mỹ Sơn, Quảng Nam đã trở thành cái tên khá quen thuộc với nhiều du khách quốc tế. Với 125km bờ biển sạch đẹp, hoang sơ và một tiềm năng du lịch sinh thái đa dạng, phong phú trải đều ở các địa phương là những thế mạnh của Quảng Nam.  Bên cạnh đó, Quảng Nam còn có những điểm nhấn nổi bật hấp dẫn du khách đến là đảo Cù Lao Chàm, khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, thác Grăng, suối nước Lang.

Về cơ sở hạ tầng, Quảng Nam có hệ thống cơ sở lưu trú tương đối hoàn chỉnh với 3.500 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế, 24 khu du lịch cao cấp dọc tuyến đường ven biển từ khu công nghiệp Điện Ngọc đến khu kinh tế mở Chu Lai đang được triển khai xây dựng.

Trong những năm gần đây, một trong những việc làm nổi bật của ngành du lịch Quảng Nam là đã thực hiện quảng bá, giới thiệu được các sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương cũng như đẩy mạnh du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề truyền thống của mình đến khách du lịch, thu hút khá nhiều khách du lịch tìm đến với Quảng Nam. Và, Quảng Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn với việc tổ chức thành công nhiều sự kiện du lịch lớn như Lễ hội Quảng Nam – Hành trình Di sản, Năm du lịch Quảng Nam…Kết quả là, ngành du lịch Quảng Nam những năm gần đây luôn đạt mức tăng trưởng đáng kể về lượng khách đến cũng như thu nhập xã hội từ du lịch.

Ngày 2/4/2023, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, tỉnh Quảng Nam đặt mục tiêu từ nay đến năm 2030 ngành Du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, phát triển nhanh và bền vững, góp phần tăng thu nhập cho xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, tăng tiềm lực kinh tế – quốc phòng – an ninh của tỉnh, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế – xã hội phát triển. Đồng thời, phát triển du lịch góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa, cải tạo cảnh quan môi trường, nâng cao trình độ dân trí, thúc đẩy tiêu dùng và phát triển nhiều dịch vụ trở thành “đầu tàu” lôi kéo nhiều ngành kinh tế khác phát triển, tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo ở các vùng còn nhiều khó khăn.

Theo thống kê của Trung tâm Xúc tiến du lịch Quảng Nam, năm 2023 tỉnh đã đón 2,3 triệu lượt khách tham quan và lưu trú, tăng 7,9 % so với năm 2022 và vượt 8% so với kế hoạch. Doanh thu đạt 769 tỷ, tăng 28,4% so với năm 2022 và vượt 45% kế hoạch.

  • c) Đà Nẵng: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đà Nẵng với thế mạnh của bờ biển dài hàng chục cây số, thắng cảnh Bà Nà với bốn mùa trong ngày, Ngũ Hành Sơn huyền bí… đã được nhiều du khách biết đến. Hơn nữa, với hai resort đạt tiêu chuẩn quốc tế là Furama Đà Nẵng Resort và Sandy Beach Resort càng làm tăng thêm vẻ quyến rũ, hấp dẫn của du lịch nghĩ dưỡng biển tại đây.

Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều khách du lịch cũng như nhà nghiên cứu thì Đà Nẵng chưa khai thác hết lợi thế mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho mình mà chỉ mới đóng vai trò là trạm trung chuyển du lịch giữa Quảng Nam và Thừa Thiên Huế, là trạm dừng chân của du khách trong hành trình tham quan hai địa phương nói trên.

Theo số liệu của Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng, tổng lượng khách du lịch đến Đà Nẵng cả năm 2023 đạt 1.2 triệu khách, tăng 18% so với năm 2022. Trong đó số lượng khách quốc tế tăng 40%, khách nội địa tăng 9%; tổng doanh thu chuyên ngành du lịch đạt 810.9 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2022 và vượt 8% kế hoạch 2023.

Trong những năm qua, tuy mức độ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì nhiều nhưng Đà Nẵng lại đang rất nghèo các sản phẩm du lịch. Từ hơn mười năm qua, Đà Nẵng cũng chỉ quanh quẩn với các sản phẩm du lịch như Bảo tàng Chăm, Ngũ Hành Sơn, Khu du lịch Bà Nà mà chưa khai thác hết lợi thế về du lịch biển nơi đây. Du lịch Đà Nẵng đang sống chủ yếu dựa vào sản phẩm du lịch của các địa phương lân cận như Quảng Nam (Hội An, Mỹ Sơn), Huế, Quảng Trị (Vịnh Mốc), Quảng Bình (Động Phong Nha), còn sản phẩm du lịch tại địa phương chưa được đầu tư nghiên cứu để xây dựng phát triển.

Do sản phẩm du lịch của Tỉnh chưa phong phú, đa dạng nên chính quyền cũng như ngành Du lịch Đà Nẵng cũng chưa thực hiện những chương trình quảng bá du lịch rộng rãi để thu hút du khách từ các nơi, đặc biệt là du khách quốc tế

Nhìn chung, mỗi tỉnh một đặc thù riêng, tạo nên lợi thế cạnh tranh cho mình. Vì vậy, sự phát triển của tỉnh này là áp lực cạnh tranh đối với các tỉnh còn lại nói chung mà không phải riêng gì của ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế.

2.2.1.7 Dân cư địa phương Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Theo Diaz, D. (2016) và Gossling, S. (2018) thì người dân địa phương lo sợ việc phát triển du lịch nếu không được quản lý tốt sẽ tác động xấu đến môi trường vật chất xã hội. Việc quản lý du lịch yếu kém sẽ dẫn đến nạn phá rừng, sự sói mòn, sự xuống cấp, suy yếu tính đa dạng của hệ sinh vật học, phá vỡ môi trường sống; việc sử dụng quá liều các nguồn tài nguyên như nước sạch và năng lượng. Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch nếu không có sự kiểm soát tốt thì cũng gây tác động xấu đến văn hóa, phá vỡ các hoạt động kinh tế truyền thống thông qua tiền lương và lợi nhuận biên tế cao hơn trong du lịch, làm tăng giá và thực phẩm tại địa phương. Ngoài ra, phát triển du lịch cũng mang đến sự lây bệnh nhanh hơn, các hoạt động mại dâm phát triển bên cạnh các tệ nạn xã hội khác. Hơn thế nữa, với tính cách người Huế như đã nói trên thì rào cản này càng lớn hơn. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây loại hình du lịch Homestayed đã được Huế khởi động (Từ năm 2017) để xây dựng hình ảnh gần gũi thân thiện giữa dân bản địa và khách du lịch để thu hút những khách thích khám phá những cảm xúc mới tại vùng đất này. Sống gần gũi người dân chính là trong cái thường nhật không bày biện vẽ vời, với những con người, những cảnh vật, những tiếp xúc không mang màu sắc “sân khấu hóa” như những gì vốn là của nó.

Như vậy, rõ ràng cộng đồng địa phương tại Huế có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển du lịch, thể hiện ở việc tham gia vào toàn bộ quá trình phát triển du lịch của tỉnh nhà, và đây là một nhu cầu tất yếu. Hiểu được nguyên lý này, thêm vào đó tiềm năng có, nhu cầu cao, cả ở người cung cấp và người sử dụng dịch vụ (theo đánh giá, hiện tại Huế có khoảng hơn 1.000 nhà dân đạt tiêu chuẩn phục vụ du khách), nhưng cái thiếu nhất đối với home stayed ở Huế vẫn là cơ chế và nổ lực của các ngành liên quan của địa phương nhằm làm gia tăng tính bền vững cho hoạt động này.

2.2.2 Phân tích tác động của các yếu tố bên trong:

2.2.2.1  Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của ngành

Cơ sở vật chất

  • Hoạt động lưu trú:

Tính đến nay toàn tỉnh có 280 cơ sở lưu trú, trong đó 149 khách sạn với 5.172 phòng, tăng 13 khách sạn so với năm 2022 và 131 nhà khách, nhà nghỉ với 1.144 phòng. Hiện nay có 37 cơ sở lưu trú được công nhận hạng từ 1-5 sao và 52 cơ sở lưu trú đạt chuẩn, chiếm 71,5% tổng số phòng. Năm nay, làng Hành Hương được TCDL công nhận hạng 5 sao, là đơn vị thứ hai có chất lượng 5 sao trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Hiện một số KS được xây dựng theo tiêu chuẩn cao sao đang tích cực hoàn thiện để đưa vào hoạt động trong quý I năm 2024, đó là KS Hùng Vương (tiêu chuẩn 5 sao); Mercure Hue Gerbera (tiêu chuẩn 4 sao); Mondial, KS Ngọc Hương (tiêu chuẩn 3 sao) và một số KS đã đi vào hoạt động đang trình hồ sơ thẩm định hạng 2-3 sao như: New Star, River View, Song Cầm, Xanh Lăng Cô,… Tổng số vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở lưu trú năm 2023 ước tính đạt 1500 tỷ đồng.

Trong 8 tháng đầu năm 2023 hoạt động kinh doanh lưu trú tăng mạnh cả về lượt khách và doanh thu, tốc độ tăng so với cùng kỳ lần lượt là 29 và 32%. Do ảnh hưởng chung của tình hình kinh tế thế giới, từ tháng 8/2023 tốc độ tăng số lượng khách đến Việt Nam nói chung và đến TTH nói riêng giảm mạnh, nên kết quả cả năm chỉ còn tăng 11%, hoạt động kinh doanh của các khách sạn vì vậy bị ảnh hưởng nhiều, tuy nhiên với sự năng động của từng đơn vị, từng nhóm KS đã có những giải pháp kịp thời nhằm hoàn thành kế hoạch đề ra trong năm, cụ thể:

Nhóm KS chất lượng 3-5 sao, mặc dù nằm trong tình trạng khó khăn chung nhưng một số đơn vị vẫn có kết quả kinh doanh tốt, vượt chỉ tiêu năm 2022 cả về lượt khách và doanh thu (Làng Hành Hương, KS Asia, Kinh Thành, Festival Huế,…). Còn một số KS khác tuy bị giảm về số lượng khách (bình quân chỉ bằng 95% so với năm 2022) nhưng do luôn quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng và số lượng các loại hình dịch vụ nên đã tăng được doanh thu (chủ yếu do tăng gía phòng và tăng doanh thu ăn uống), tăng lợi nhuận.

Nhóm KS từ 1-2 sao lại không bị ảnh hưởng nhiều, lượt khách tăng bình quân 78%, đặc biệt có đơn vị tăng 15-20%, tuy nhiên cũng có một số đơn vị kinh doanh không bằng năm 2022.

Nhóm khó khăn nhất là nhóm các khách sạn nhỏ và đạt tiêu chuẩn có lượt khách không tăng và đang có xu hướng giảm dần cả về số lượng khách, ngày khách và doanh thu, chứng tỏ nhu cầu của du khách ngày càng cao, vì vậy các khách sạn nhỏ, đạt chuẩn cần phải quan tâm nhiều hơn và có giải pháp nâng cấp chất lượng dịch vụ tại đơn vị.

  • Hoạt động lữ hành:

Hiện trên địa bàn toàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 40 đơn vị lữ hành tăng 06 đơn vị so với năm 2022, trong đó có 23 đơn vị lữ hành quốc tế, tăng 04 đơn vị so với năm 2022.

  • Lượng khách: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trong năm 2023, các công ty lữ hành đã đón và phục vụ ước đạt 47.850 lượt khách, tăng 23,5% so với năm 2022. Trong đó, khách quốc tế ước đạt 43.210 lượt, tăng 41,6% so với cùng kỳ. Lượng khách do các công ty lữ hành trực tiếp tổ chức từ nước ngoài vào Việt Nam đạt 10.240 lượt khách giảm 54% vo với cùng kỳ năm 2022. Năm 2023, do rất nhiều khó khăn và yếu tố tác động nên lượng khách du lịch nội địa giảm. Năm 2023, lượng khách đạt 4.580 lượt, giảm 34,3% so với cùng kỳ 2022.

Khách du lịch đến bằng đường biển năm 2023 tăng mạnh, đã đón và phục vụ 23.411 lượt khách quốc tế đến từ 8 hãng tàu lớn (Queen Victoria, Costa Allegre, Rhapsody of the Seas,…), tăng 83,7% so với năm 2022. Chủ yếu là các đến từ các nước Ý, Đức, Anh, Úc, Tây Ban Nha, Mỹ. Trong đó, trực tiếp qua cảng Chân Mây là 18 tàu biển với 18.480 khách. Đặc biệt, tháng 3/2023 cảng Chân Mây đã đón tàu Queen Victoria với 2.000 khách, đây là một trong những tàu lớn nhất thế giới.

  • Thị trường:

Thị trường khách quốc tế đến Huế năm 2023 không có thay đổi nhiều so với năm 2022, thị trường khách truyền thống hầu hết khách du lịch từ Châu Âu, trong đó chủ yếu là khách Pháp, Đức, Anh, Úc, Ý…  từ thị trường Châu Á, Đông Bắc Á như Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore… từ Châu Mỹ như Mỹ, Canada…và lượng khách Việt kiều. Trong đó: 5 thị trường khách chính vẫn là Thái Lan, Pháp, Đức, Mỹ và Úc, đây là các thị trường có lượng khách ổn định nhưng tốc độ tăng không đáng kể so với cùng kỳ năm 2022, quý IV/2023 có một số thị trường lại có xu hướng giảm như Trung Quốc, Nhật, Úc, thị trường chính có xu hướng giảm mạnh Pháp. Năm 2023, các thị trường khách Nga, Singapore, Malaysia… bắt đầu đến Huế tuy lượng khách chiếm tỷ trọng không đáng kể, nhưng mức chi tiêu của thị trường khách này tương đối cao, chủ yếu lưu trú trong các khách sạn 4 – 5 sao, cần quan tâm và quảng bá mạnh về thị trường này. Thị trường khách ASEAN: Khách Thái Lan đứng trong top 5 cơ cấu khách đến Thừa Thiên Huế, thời gian lưu trú bình quân đã tăng từ 1,14 ngày/ năm 2022 lên 2 ngày cho năm 2023, thị trường này đã tăng mạnh, đây là thị trường đang phát triển tốt và ổn định. Điều này chứng tỏ việc định hướng phát triển du lịch của tỉnh về tăng cường xúc tiến khai thác nguồn khách qua tuyến Hành lang kinh tế Đông- Tây đã đem lại hiệu quả cao. Trước tình hình như hiện nay, cần phải chuyển hướng khai thác thị trường ASEAN, Đông Bắc Á là thị trường trọng tâm; tích cực tiếp cận và tranh thủ khai thác các quốc gia và vùng lãnh thổ mới, tiềm năng như Nga, Nhật, Hàn Quốc, Singapore,…

  • Sản phẩm du lịch

Các sản phẩm du lịch mang nét đặc trưng của Huế như: Chùa chiền, lăng tẩm, nhà vườn, du lịch sinh thái ( Rừng quốc gia Bạch Mã), du lịch biển ( Bãi biển Cảnh dương), sản phẩm nghệ thuật ( ca Huế trên Sông hương):

  • Sông Hương: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thành phố Huế là nơi hình thành du lịch sông sớm nhất. Ở nơi đây đã tổ chức du lịch trên sông Hương, từ trung tâm thành phố Huế du khách được đưa đến gần chùa Thiên Mụ, lên khu lăng các triều nhà Nguyễn. Trên dòng sông êm ả, trong lành du khách vừa thưởng ngoạn cảnh quan tự nhiên, cùng với những khu dân cư ven sông, những cảnh đền, chùa nổi tiếng.

  • Chùa chiền:

Huế và các vùng phụ cận có khoảng trên 100 cảnh chùa, nhưng nổi tiếng nhất và thuận lợi cho sự giao thông thủy bộ là các chùa Linh Mụ, Bảo Quốc, Từ Đàm, Từ Hiếu.

  • Lăng tẩm:

Khu Cố Đô chính là khu Hoàng Thành hay còn gọi là Đại Nội gồm quần thể lâu đài, đền miếu được xây dựng từ thế kỷ XIX, nhưng trải qua các cuộc chiến tranh cùng với sự tàn phá của thời gian và sự bỏ mặc của con người đã tàn phá làm cho Hoàng thành vốn có sự hài hòa đậm nét giữa nền nghệ thuật dân gian với nền văn hóa cung đình bị phá vỡ. Ngoài ra lăng tẩm ở Huế là một trong những kỳ quan của thế giới, vì kiến trúc mỹ quan, vì khung cảnh trang nghiêm hùng vĩ, cũng như vì quan điểm triết học đối với sự chết của các bậc Vua chúa ngày xưa. Các lăng tẩm đều xây ở phía tây kinh đô Huế, hai bên bờ sông Hương, bao gồm các lăng: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định.

  • Nhà vườn:

Ở Huế có nhiều nhà vườn được kiến tạo từ các đời Vua trước. Nhà vườn ở Huế có nét văn hóa khác biệt đối với các nhà vườn Nam Bộ, nó thể hiện tình yêu thiên nhiên, lòng khao khát của con người bằng cách thâu tóm không gian rộng lớn, đất trời mênh mông vào trong khuôn viên sân vườn. Nhiều khu nhà vườn đã được đưa vào tuyến du lịch, cho khách đến thưởng ngoạn và tìm hiểu nếp sống của người dân Huế trong những khu vườn.

  • Rừng quốc gia Bạch Mã

Rừng quốc gia Bạch Mã nằm ở phía nam tỉnh Thừa Thiên Huế. Khí hậu của Bạch Mã – theo khẳng định của các chuyên gia nước ngoài, là một trong những khu vực khí hậu tốt của những vùng nghỉ núi ở Đông Dương. Hệ sinh vật ở đây hết sức đa dạng và phong phú, rất hấp dẫn đối với loại hình du lịch sinh thái và nghiên cứu. Ngoài ra, Bạch Mã còn là nơi nghỉ núi lý tưởng với những cảnh quan tuyệt vời.

  • Bãi biển Cảnh Dương: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Là bãi biển đẹp nhất ở Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế chừng 60km về phía đông nam và cách đường quốc lộ 1A khoảng 4km. Bãi biển Cảnh Dương dài 8km, rộng 200m, có hình vòng cung, được giới hạn bởi các mũi Chân Mây Tây và Chân Mây Đông nên phong cảnh rất hấp dẫn. Với độ dốc thoai thoải, cát mịn trắng, nước biển trong xanh và tương đối kín gió, bãi biển Cảnh Dương thật sự là một bãi tắm tuyệt vời.

  • Đèo Hải Vân

Nằm giữa Huế và Đà Nẵng, được mệnh danh là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” nằm ở độ cao 496m, đoạn quốc lộ 1A qua đèo Hải Vân dài 20km. Đèo Hải Vân là một thắng cảnh tuyệt đẹp, đường đèo uốn lượn giữa thảm thực vật xanh mướt, núi chập chùng trong mây, biển xanh xa xa. Đèo lại nằm trên tuyến du lịch hấp dẫn nhất miền Trung mà trục chính đi qua năm di sản văn hóa và thiên nhiên của thế giới: Mỹ Sơn, Hội An, Huế, Phong Nha và tour du lịch DMZ (du lịch vùng phi quân sự) ở Quảng Trị.

  • Ca Huế trên sông Hương:

Ca Huế là một trong những loại hình  nghệ thuật truyền thống tiêu biểu của Huế. Hoạt động biểu diễn ca Huế hiện nay ngoài mục đích bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống nghệ thuật còn phải phục vụ yêu cầu phát triển du lịch nhằm giao lưu văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của du khách và góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách của địa phương.

Trong thời gian gần đây, các sản phẩm du lịch được các công ty lữ hành tổ chức khai thác chủ yếu là tua du lịch nhà vườn Kim Long, du lịch sinh thái, lịch sử cách mạng, du lịch biển và đầm phá, các tua vùng cao A Lưới – Nam Đông, Bạch Mã – Lăng cô, Thiền Viện Trúc Lâm, làng nghề truyền thống,… Bên cạnh các tua du lịch khu vực miền Trung, các đơn vị cũng đã tổ chức các tua đi các tỉnh trong nước như Phong Nha – Kẻ Bàng, Hội An, Nha Trang, Đà Lạt, Phú Quốc, Sa Pa, Hạ Long – Móng Cái, Hà Nội; các tua đi du lịch nước ngoài như Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Singapore…

Một số đơn vị lữ hành đang khai thác sản phẩm du lịch mới như: chương trình xem biểu diễn võ thuật truyền thống, du lịch đồng quê, vùng đầm phá Tam Giang, tháp chăm Phú Diên, làng cổ Phước Tích, cầu ngói Thanh Toàn, du lịch văn hoá và tâm linh cũng được khai thác, tuy lượng khách chưa nhiều nhưng cũng góp phần làm phong phú thêm cho sản phẩm du lịch của địa phương.

Ngoài ra, các đơn vị cũng giới thiệu các tua, điểm tham quan mới cho khách như trung tâm trưng bày nghệ thuật Lê Bá Đảng, nhà trưng bày Điềm Phùng Thị, Đền Huyền Trân, Đền Trần Nhân Tông, khu di tích Chín Hầm, Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã…

Sản phẩm du lịch Huế nhiều là như vậy, nhưng  giá trị gia tăng trong sản phẩm còn thua kém xa với các nước trên thế giới. Đó là vì chúng ta chỉ dựa vào yếu tố tự nhiên, khai thác những cái có sẵn, không thể hiện ưu thế trên thị trường. Điều này thể hiện qua năm 2023, trong khi cả nước ổn định và giảm nhẹ khách Mỹ, Anh, Pháp thì ngược lại, TT-Huế là điểm đến truyền thống của các nước đó lại giảm lớn. Điều này cho thấy sản phẩm và dịch vụ du lịch TT-Huế đã bị bão hoà đối với nhóm này

  • Cơ sở hạ tầng Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất một số ngành dịch vụ như bưu chính viễn thông, ngân hàng, du lịch, bảo hiểm, vận tải, y tế, giáo dục… được Tỉnh đầu tư ngày càng hiện đại, mở rộng quy mô, nhiều loại hình dịch vụ mới tăng dần.

Về giao thông, có tuyến đường sắt đi qua 10 ga của tỉnh trong đó có ga chính là ga Huế, vì vậy tương đối thuận tiện cho vận chuyển hành khách và hàng hoá; hàng không có sân bay Phú Bài cách thành phố 18km về phía nam với công suất 1 triệu khách/năm, hoạt động 24 giờ trong ngày và có thể phục vụ cho các máy bay có trọng tải lớn; đường thủy có cảng biển Chân Mây và cảng nhỏ Thuận An phục vụ chủ yếu cho tàu chở hàng có trọng tải nhỏ.

Các loại hình vận chuyển khách từng bước được đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Đến nay, số đầu xe trong các doanh nghiệp du lịch khoảng 80 xe chất lượng tốt với năng lực vận chuyển khoảng 1.200 chỗ; các phương tiện vận chuyển công cộng phát triển mạnh. Sân bay Phú Bài được cải tạo nâng cấp đủ khả năng tiếp nhận các loại máy bay cỡ lớn. Cảng Chân Mây hoạt động khá ổn định.

Để phục vụ cho các hình thức nghệ thuật trên sông Hương như hò huế, ẩm thực và vận chuyển khách du lịch đến các di tích hai bên sông, Huế có đội thuyền rồng 125 chiếc, có đầy đủ tiện nghi trị giá khoảng 40 – 50 triệu đồng mỗi chiếc.

2.2.2.2  Nguồn nhân lực

Nhân lực là tâm điểm trong quá trình phát triển ngành du lịch. Vì vậy trong thời gian qua, Lãnh đạo ngành du lịch tỉnh đã đưa ra nhiều chiến lược để đào tạo cho cán bộ nội bộ và nhân lực của các doanh nghiệp du lịch. Kết quả của chính sách đó trong thời gian qua là: (1) tỷ lệ cán bộ nhân viên đã qua đào tạo chuyên môn du lịch khoảng 60 – 70% (trừ lao động giản đơn). Hiện nay, hầu như số lao động có bậc nghề cao đều làm việc tại các doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hoá, DN liên doanh nước ngoài và liên doanh trong nước với nhiều hình thức đào tạo khác nhau; ngoài ra, qua cuộc thi nâng bậc nghề cho cán bộ nhân viên khách sạn do Sở tổ chức cho thấy các doanh nghiệp rất chú trọng đến trình độ tay nghề của nhân viên nhằm tạo ra không khí học tập, thi đua cho lực lượng lao động trong ngành với mục đích ngày càng có nhiều lao động giỏi để nâng cao chất lượng dịch vụ.(2) Cán bộ chuyên trách ở các phòng ban của sở đã được cử đi học các lớp chuyên đề như Nâng cao năng lực quản lý về môi trường du lịch, Sở cũng đã cử cán bộ theo học các lớp đào tạo về du lịch tại Malaysia và Singapore do TCDL tổ chức. Ngoài ra, một số cán bộ Sở được học tập, bồi dưỡng về công tác Đảng, đoàn thể.

Trong năm 2023, Sở du lịch phối hợp với dự án EU tổ chức các khoá tập huấn nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ trong ngành như: công tác quản lý khách sạn vừa và nhỏ, công tác quản lý nhân sự và áp dụng tiêu chuẩn nghề VTOS (kỹ năng nghề du lịch) trong khách sạn, kiến thức đánh giá tác động kinh tế về du lịch, kiến thức về phát triển bền vững, kiến thức điều hành tua,…

Các doanh nghiệp đã chủ động trong công tác đào tạo nguồn nhân lực bằng cách cử cán bộ tham dự các khoá tập huấn của dự án EU để đào tạo lại cho nhân viên, bên cạnh đó, còn tổ chức đào tạo tại chỗ do các chuyên gia trong hệ thống hoặc mời thỉnh giảng. Tạo điều kiện cho nhân viên nâng cao trình độ ngoại ngữ bằng cách học đại học bằng 2, thuê giáo viên tiếng Anh về bồi dưỡng ngoài giờ, hoặc lưu hành cẩm nang ngoại ngữ sử dụng riêng của từng khách sạn, …

Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát của một nhóm nghiên cứu thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm “khám phá mức độ quan tâm của Lãnh đạo Tỉnh và Doanh nghiệp đối với ngành du lịch và việc phát triển du lịch cũng như các chương trình hành động của Tỉnh để phát triển du lịch”. Thực hiện với số mẫu khảo sát là 146 chuyên gia trong các Sở Ban Ngành, nhà quản lý các điểm du lịch và 200 lãnh đạo Doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch, cho thấy các vấn đề về chiến lược phát triển nguồn nhân lực; chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp du lịch trong đào tạo nhân lực; và chính sách thu hút nguồn nhân lực trên  địa bàn tỉnh thì có khoảng 15%-17% tỷ lệ người không quan tâm đến các vấn đề này. Điều này có thể phản ánh: (1) các kênh thông tin từ người ban hành chính sách đến thực thi chính sách bị gián đoạn; (2) các chính sách này chưa thật sự gắn với nhu cầu nên không góp phần hỗ trợ cho việc phát triển nguồn nhân lực tại các tổ chức hoạt động du lịch.

Tỷ lệ không ý kiến các doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước khác nhau, chứng tỏ có sự mất cân đối trong kênh thông tin, có thể phản ánh thực trạng là các doanh nghiệp nhà nước được ưu tiên hơn, như thế dẫn đến dễ đánh mất niềm tin của doanh nghiệp ngoài quốc doanh về tính bình đẳng trong thực thi chính sách.

Hệ quả của những vấn đề trên là sẽ dẫn đến tình trạng các DN tự đưa ra chính sách đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp mình mà không theo một quy định chung, nghĩa là đào tạo mang tính tự phát. Đồng thời, các cơ quan quản lý nhà nước cũng khó có cơ hội nhận được những thông tin phản hồi từ doanh nghiệp về các chính sách phát triển nguồn nhân lực của mình để làm cơ sở cho việc nâng cao năng lực hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực.

Như vậy, do chính sách và sự phát triển nguồn nhân lực không đáp ứng được tốc độ phát triển của doanh nghiệp nên đã và đang xảy ra tình trạng dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các đơn vị, gây nên sự xáo trộn nhân sự, ảnh hưởng phần nào đến chất lượng dịch vụ. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

2.2.2.3  Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch

Doanh thu du lịch

Bảng 2.2 Tổng hợp doanh thu du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế  giai đoạn  20062023

Nhìn vào bảng doanh thu, ta có thể nhận thấy, Huế có một quá trình phát triển tăng đều trong các năm. Duy chỉ có năm 2018 là tốc độ tăng trưởng của doanh thu âm, do dịch SARS trên thế giới. Và trong năm 2023 tuy có giảm so với năm 2022 do sự suy thoái của kinh tế toàn cầu nhưng mức giảm không cao.

  • Lượng khách du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bảng 2.3 Lượng khách du lịch đến Huế giai đoạn 2006-2023:

Năm Khách  quốc tế Khách nội địa Tổng cộng Tốc độ  tăng trưởng
2006 14,814 104,674 119,488
2007 29,606 140,259 169,865 42.2 %
2008 73,992 136,653 210,645 24.0 %
2009 128,035 159,115 287,150 36.3 %
2010 134,470 142,880 277,350 -3.4 %
2011 145,556 149,260 294,816 6.3 %
2012 145,000 182,900 327,900 11.2 %
2013 150,000 210,000 360,000 9.8 %
2014 156,205 231,165 387,370 7.6 %
2015 195,000 275,000 470,000 21.3 %
2016 232,500 328,000 560,500 19.3 %
2017 272,000 391,000 663,000 18.3 %
2018 210,000 400,000 610,000 -8.0 %
2019 260,000 500,000 760,000 24.6 %
2020 369,000 681,000 1,050,000 38.2 %
2021 436,000 794,000 1,230,000 17.1 %
2022 666,600 851,400 1,518,000 23.4 %
2023 790,750 889,250 1,680,000 11 %
TC: 4,409,528 6,566,556 10,976,084 18 %

Nguồn: Tổng cục du lịch sở Thừa Thiên Huế.

Bảng: 2.4 Lượng khách Quốc tế đến Huế so với cả nước giai đoạn 2011- 2023

Năm Đến Việt Nam Đến Huế Tỉ lệ khách đến Huế so với cả nước
2011 1,607,200 145,556 9.1 %
2012 1,715,600 145,000 8.5 %
2013 1,520,100 150,000 9.9 %
2014 1,781,800 156,205 8.8 %
2015 2,140,100 195,000 9.1 %
2016 2,330,800 232,500 10.0 %
2017 2,628,200 272,000 10.3 %
2018 2,429,600 210,000 8.6 %
2019 2,927,876 260,000 8.9 %
2020 3,467,757 369,000 10.6 %
2021 3,583,486 436,000 12.2 %
2022 4,171,564 666,600 16.0 %
2023 4,225,000 790,750 19.0 %
Tổng cộng: 34,529,083 4,028,611 10.8 %

Nguồn:Sở  du lịch tỉnh  Thừa Thiên Huế. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lượng khách đến Huế thể hiện trong hai bảng 2.3 và 2.4 cho thấy có tăng so với vài năm trước nhưng không đáng kể, nhất là so với năm 2022, luợng khách  năm 2023 tăng chưa đạt một nữa mức tăng của năm 2022 so với năm trước.

Lượng ngày khách lưu trú tại Huế.

Bảng 2.5 Lượng ngày khách lưu trú tại Huế

Nhìn vào bảng 2.5, ta thấy số ngày lưư trú của khách trong vài năm gần đây có tăng lên (được trên 2 ngày), đây là tín hiệu để chúng ta có quyền hy vọng, nhưng bên cạnh đó cũng đặt ra cho chúng ta một thách thức để giữ chân khách lưu lại dài hơn.

2.2.2.4  Hoạt động Makerting du lịch.

Nhận thức được tầm quang trọng của Marketing trong dịch vụ du lịch, các nước trên thế giới, mỗi nước một lối đi riêng, đưa ra các chiến lược tiếp thị riêng cho mình. Huế cũng không loại trừ, và điều đó thể hiện qua các hoạt dộng quảng bá du lịch tỉnh nhà trong vài năm gần đây trở nên mạnh hơn. Cụ thể:

  • Tổ chức một số chương trình hợp tác du lịch với các địa phương như Mucdahan-Thai Lan, Savanakhet-Lào, Vân Nam, Quảng Tây -Trung Quốc, Hà Nội, Quảng Ninh, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam.
  • Tham gia nhiều Hội chợ du lịch trong nước và quốc tế: Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Đà Nẵng, ITE TP HCM, Thái Lan, Lào,…
  • Phối hợp với Trung tâm truyền hình VN tại Huế xây dựng chuyên mục “Ống kính du lịch” định kỳ hàng tuần để tuyên truyền rộng rãi mọi chủ trương, chính sách về phát triển du lịch
  • Trong năm 2023 Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã tổ chức thành công chương trình khảo sát các danh thắng và một số điểm du lịch gắn với Festival Huế 2023 tại tỉnh Thừa Thiên Huế cho 26 công ty lữ hành quốc tế Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Trị, thành phố Hồ Chí Minh và các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh nhằm giới thiệu, quảng bá cho sự kiện Festival Huế 2023.
  • Giữa tháng 3/2023, đã tổ chức đoàn Farmtrip các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn sang làm việc và học tập kinh nghiệm đón khách du lịch tàu biển tại thành phố Bắc Hải-Quảng Tây (Trung Quốc), tham gia quảng bá các sản phẩm du lịch tại Triển lãm quốc tế ITE HCM 2023.
  • Tháng 10 năm 2023, nhằm có giải pháp kịp thời cho du lịch trong lúc khó khăn, Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức tốt Hội nghị Bàn các giải pháp nhằm phát triển du lịch Thừa Thiên Huế và khu vực miền Trung với sự tham gia của Hiệp hội Du lịch Việt Nam; lãnh đạo Sở VH, TT, DL các tỉnh Miền Trung, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; các doanh nghiệp Lữ hành quốc tế lớn của cả nước. Hội nghị đã được nghe nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các đại biểu nhằm giúp cho du lịch Thừa Thiên Huế phát triển. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Sở đã phối hợp với các ngành, địa phương tổ chức tốt Festival Huế 2023, các lễ hội truyền thống như vật làng Sình, vật làng Thủ Lễ, Cầu ngư Thuận An; các lễ hội mới như lễ hội Đền Huyền Trân, lễ khánh thành Đền Trần Nhân Tông, kỷ niệm sự kiện 15 Quần thể di tích cố đô Huế, 5 năm Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận di sản văn hoá thế giới, lễ hội Thuận An Biển Gọi, Hương xưa làng cổ,… Chỉ đạo các doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành xây dựng tua du lịch gắn với các lễ hội để tổ chức đưa khách về tham gia lễ hội.
  • Tham gia tuần lễ Việt Nam 2023 tại Nhật Bản nhằm trưng bày giới thiệu về thành tựu, tiềm năng, triển vọng, cơ hội hợp tác đầu tư và phát triển của tỉnh, trong đó tập trung giới thiệu và văn hoá Huế, du lịch TTH.
  • Phối hợp với Hiệp hội du lịch tỉnh tham gia Hội chợ du lịch quốc tế ITE tại TP HCM, do Bộ VH, TT và DL đứng ra tổ chức, một số đơn vị đã ký kết được hợp đồng với các đối tác trong và ngoài nước

Kết quả của các hoạt động makerting này đã mang lại cho tỉnh lượng khách quốc tế tăng lên trong vài năm gần đây và nâng cao vị thế du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế trên thế giới và các địa phương trong nước. Tuy nhiên, cho đến ngày 01/01/2024 Quyết định thành lập Trung tâm xúc tiến du lịch Huế mới có hiệu lực nên về chức năng và nhiệm vụ cũng chưa được thống nhất dẫn đến  chưa có sự theo dõi, giám sát thường xuyên, làm hạn chế tính hiệu quả và liên tục trong quảng bá. Đồng thời, các chiến lược quảng bá chưa gắn kết nhiều với cộng đồng dân cư. Hơn nữa kinh phí còn hạn chế nên hoạt động quảng bá chưa dám nhân rộng và kéo dài thời gian hơn.

2.2.2.5 Quy hoạch, đầu tư và nghiên cứu khoa học ngành du lịch

a) Quy hoạch: Hiện nay ngành du lịch Huế đã xây dựng được :

  • Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch (QHTT PTDL) Thừa Thiên Huế (TTH) đến năm 2010 và định hướng đến năm 2030 do Viện Nghiên cứu phát triển du lịch thuộc Tổng cục Du lịch thực hiện đang trình UBND tỉnh phê duyệt.
  • Dự án QHTT PTDL tỉnh TTH đến năm 2025 và định hướng đến 2025 thuê Singapore lập đã được Uỷ ban Nhân (UBND) dân tỉnh phê duyệt điều chỉnh đề cương và khái toán tổng kinh phí. Hiện đang tiếp tục triển khai.
  • Dự án xây dựng quy hoạch phát triển du lịch TP Huế do Chính phủ Tây Ban Nha tài trợ đã triển khai, hiện nay Ban quản lý dự án đang phối hợp với các đơn vị và chuyên gia để thực hiện dự án.

Tính đến nay đã có 2 huyện là Phú Vang, A Lưới đã phê duyệt và đang triển khai  Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của địa phương. Huyện Phú Lộc tiếp tục xây dựng và triển khai quy hoạch các điểm du lịch trên địa bàn huyện. Huyện Phong Điền cũng đang gấp rút hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của huyện.

Việc xây dựng và thực thi đồng bộ giữa quy hoạch du lịch với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đóng vai trò quang trọng. Nội dung quy hoạch du lịch được xây dựng dựa trên ý kiến đóng góp của những cá nhân, tổ chức hoạt động trong ngành thì sẽ mang lại hiệu quả thiết thực hơn. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát của Sở du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế về mức độ quan tâm của “ những người trong cuộc” có phản ứng như thế nào về vấn đề quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh thì cho thấy tỷ lệ nắm bắt thông tin rất thấp. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thật vậy, trong số khảo sát 200 người, là lãnh đạo các Doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch, thì có trên 20% – 30%  trong số đó hoàn toàn không biết gì về quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh nhà là như thế nào có phù hợp với tiềm năng không, có tập trung không hay dàn trãi, có quy hoạch với các ngành khác tốt không….

Điều này cho thấy tính khả thi của Quy hoạch sẽ bị hạn chế, bởi vì bản thân các doanh nghiệp là người trực tiếp ảnh hưởng đến việc quy hoạch thì một lượng lớn hoàn tòan không biết đến. Thêm vào đó, kết quả khảo sát cũng thể hiện được chất lượng quy hoạch của Huế thấp. Vì với các cá nhân và tổ chức tâm đến vấn đề này thì đều cho rằng, quy hoạch còn quá dàn trãi, không tập trung, không chi tiết.

b) Về nghiên cứu khoa học ngành du lịch:

Phối hợp với TCDL, một số ngành, địa phương liên quan thực hiện một số đề tài nghiên cứu khoa học: xây dựng kế hoạch Marketing du lịch VN; giải pháp khai thác tiềm năng du lịch trên tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây; điều tra tài nguyên du lịch; điều tra, khảo sát xây dựng chương trình tăng cường năng lực kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động du lịch; cung cấp thông tin du lịch cho đề tài GISHuế,…

Phối hợp sở KH-CN tỉnh hỗ trợ và chọn:

Công ty TNHH Saigon-Morin Huế làm điểm xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 14.000 về môi trường. Hiện công ty đã và đang thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường như: lắp ráp 30 giàn năng lượng mặt trời, cung cấp nhiệt cho bình nước nóng của 120 phòng; lắp 20 đồng hồ điện nhánh nhằm quản lý việc sử dụng điện của từng bộ phận; tổ chức phân loại rác theo tiêu chí 3R;… Đặc biệt, đã có 19 cán bộ chủ chốt được cấp chứng chỉ chuyên gia đánh giá nội bộ, là nguồn đào tạo lại cho CB-NV trong KS nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ. Sau khi hoàn thiện, KS sẽ được cấp Nhãn hiệu môi trường, một trong những tiêu chí thu hút khách du lịch.

Công ty CP DL Hương Giang xây dựng thương hiệu cho nhóm dịch vụ ẩm thực Cung đình Huế nhằm xác định quyền sở hữu cho thương hiệu này, một trong những công việc hết sức cần thiết trong giai đoạn hội nhập hiện nay.

Chọn doanh nghiệp có đủ điều kiện phối hợp thực hiện đề tài Nghiên cứu và xây dựng mô hình thử nghiệm du lịch đầm phá dựa vào cộng đồng, tạo tiền đề cho việc khai thác du lịch đầm phá, tài nguyên đặc trưng, riêng có của TTH.

c) Đầu tư:

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có khoảng 39 dự án đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, với tổng vốn đầu tư khoảng 34.990 tỷ đồng, trong đó có 19 dự án đang khởi công xây dựng với số vốn đăng ký khoảng hơn 3.000 tỷ đồng, 12 dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư và chuẩn bị khởi công với số vốn đăng ký là 31.278 tỷ đồng, 8 dự án còn lại đã có chủ trương của UBND tỉnh cho phép nghiên cứu đầu tư với vốn đăng ký khoảng 2.802 tỷ đồng.

Công tác đầu tư đang được triển khai mạnh, tại TP Huế, một số khách sạn tiếp tục xây dựng như KS Duy Tân 2, Hùng Vương, Mondial, Sky Gardan,…; một số khách sạn khác đang hoàn thành thủ tục đầu tư để triển khai xây dựng như KS Petrolimex, Thuận Phú,… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tại Khu kinh tế Chân mây – Lăng Cô đã có gần 20 dự án đầu tư về du lịch đang triển khai. Trong năm 2024 sẽ có hàng loạt dự án được động thổ, trong đó có 3 dự án nước ngoài với giá trị đầu tư 1,3 tỷ USD như khu Laguna Huế với số vốn 875 triệu USD, khu du lịch Bãi Chuối của công ty Cattigana 102 triệu USD, khu du lịch nghĩ dưỡng Dream Palace 640 tỷ VNĐ, khu resort Thuận An với vốn 300 tỷ VNĐ.

Dự án ADB thông qua TCDL về phát triển du lịch cộng đồng tại A Lưới, đã thành lập ban quản lý dự án của ngành, chọn vị trí cụ thể tại A Lưới để triển khai dự án trong năm 2024.

Tuy nhiên, việc thu hút đầu tư vào ngành du lịch yếu, chưa đủ sức hấp dẫn, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển du lịch của Tỉnh trong thời gian qua. Các khu du lịch tuy đã được quy hoạch tổng thể nhưng đầu tư manh mún nên chưa phát huy được hiệu quả thu hút du khách. Vấn đề đầu tư phát triển nhà vườn còn mang tính tự phát, chưa có một chính sách thống nhất, việc ràng buộc người chủ vườn vào quy chế trước khi đầu tư đã làm người dân ngần ngại, không dám tham gia.

Công tác phục hồi các công trình kiến trúc còn chậm, công nghệ trùng tu và kỹ thuật còn yếu kém, còn nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể chưa được nghiên cứu. Những giá trị văn hóa này để lâu có thể bị mất đi hay bị thiên nhiên tàn phá.

2.2.2.6  Công tác quản lý nhà nước về du lịch.

Có thể nói, du lịch đã được lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế xác định là ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế của Tỉnh. Chương trình phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh đến năm 2010 là từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng lấy du lịch – dịch vụ làm ngành kinh tế mũi nhọn để khai thác lợi thế và tạo động lực cho phát triển kinh tế.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên – Huế lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2021-2010) đã xác định tập trung phát triển, nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ, với mức tăng trưởng bình quân trên 15%/năm. Trong đó, Tỉnh ưu tiên phát triển các nhóm ngành: Tài chính, tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại; vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng; bưu chính viễn thông – công nghệ thông tin; bất động sản; dịch vụ y tế, giáo dục, nhất là dịch vụ du lịch.

Để thực hiện được mục tiêu Đại Hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên – Huế lần thứ XIII, Tỉnh dự tính huy động tổng mức vốn toàn xã hội từ 40.000 đến 45.000 tỉ đồng để đầu tư phát triển, tăng từ 3 đến 4 lần so với nhiệm kỳ trước. Trên cơ sở đó, tỉnh Thừa Thiên Huế tiến tới hình thành các trung tâm thông tin quốc tế, hệ thống dịch vụ trình độ cao ở khu vực kinh tế Chân Mây – Lăng Cô. Tỉnh sẽ đầu tư nâng cấp cửa khẩu A Đớt, Hồng Vân nối với Lào, gắn xây dựng trung tâm giao dịch ngoại thương để khai thác tốt trục hành lang kinh tế Đông – Tây, và tuyến đường Hồ Chí Minh qua A Lưới.

Ngoài ra, Tỉnh cũng có chính sách khuyến khích việc liên doanh liên kết đầu tư trong nước và nước ngoài để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành du lịch và thiết lập thêm các tour mới thu hút khách du lịch đến với Cố đô Huế.

Về việc phát triển các ngành nghề liên quan đến du lịch thì những năm trở lại đây, các ngành nghề thủ công truyền thống ở Huế từng bước được vực dậy nhờ vào sự quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ của các cấp chính quyền. Một số chính sách ưu đãi đầu tư và hỗ trợ sản xuất kinh doanh, khuyến khích và hỗ trợ xuất khẩu trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cho các làng nghề, ưu đãi về thuế đất, ưu đãi về thuế, chính sách một giá đã được áp dụng. Đặc biệt, từ năm 2017, Tỉnh và Thành phố đã đề ra chương trình phát triển sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp, trong đó tập trung phát triển hàng thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm phục vụ cho du lịch và xuất khẩu.

2.3 Nhận xét thực trạng phát triển du lịch của tỉnh trong thời gian qua. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

2.3.1 Những cơ hội và thách thức của du lịch Huế

Cơ hội:

  • Các chính sách thông thoáng mở cửa của Việt nam sau khi gia nhập WTO.
  • Tình hình bạo loạn, mất an ninh của thế giới sẽ hướng khách du lịch tìm đến nơi an toàn tốt.
  • Có nền văn hóa đặc sắc đa dạng.
  • Được nhà nước hỗ trợ, quan tâm phát triển (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án xây dựng Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam).

Thách thức:

  • Nền kinh tế đang bị suy thoái nặng. Việc chi tiêu cho du lịch giảm.
  • Du lịch Việt Nam chậm chuyển hướng sang thị trường mới.
  • Cộng đồng dân cư còn chưa mạnh dạn tham gia vào phát triển du lịch vì cơ chế chính sách không rõ ràng của các cấp quản lý.
  • Công nghệ du lịch còn yếu, chưa khai thác mạnh kênh thông tin internet. Hiện nay, theo thống kê của Tổ chức du lịch Thế giới thì 78% du khách Mỹ, 50% du khách Pháp và khoảng 10% du khách Trung Quốc tìm kiếm thông tin du lịch qua mạng.
  • Sự cạnh tranh của các địa phương trong tỉnh và các nước trong khu vực

2.3.2 Những kết quả đạt được Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • Về quy hoạch: Đã được góp ý của Lãnh đạo tỉnh và hiện đang điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030, bên cạnh là dự án Quy hoạch do Sigapore lập và nhiều quy hoạch chi tiết khác.
  • Tài nguyên du lịch từng bước được khai thác có hiệu quả, hệ thống cơ sở vật chất từng bước được phát triển, các dự án đầu tư phát triển du lịch tăng nhanh về số lượng, quy mô và chất lượng, nhiều loại hình du lịch đa dạng như du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch lễ hội hình thành và phát triển mạnh, xu hướng xã hội hoá các hoạt động du lịch ngày càng tăng…
  • Vị trí vai trò của du lịch trong nhận thức của các cấp chính quyền và nhân dân được nâng cao tạo là một điều kiện thuận lợi giúp quá trình phát triển du lịch ngày càng nhận được sự quan tâm, ủng hộ và có môi trường xã hội thích hợp với quá trình phát triển.
  • Tổ chức kinh doanh du lịch ở Thừa Thiên Huế khá phát triển, số lượng doanh nghiệp khá lớn; loại hình doanh nghiệp đa dạng về cả hình thức sở hữu lẫn hình thức tổ chức; đa dạng về các loại hình dịch vụ như khách sạn, vận chuyển, nhà nghỉ, nhà khách, khu nghỉ dưỡng, khu du lịch, khu vui chơi giải trí, lữ hành…
  • Hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch và kết cấu hạ tầng xã hội được đầu tư phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đầu tư phát triển du lịch.
  • Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch được tiến hành dưới nhiều hình thức, trên nhiều phương tiện đã góp phần quan trọng trong việc thu hút khách du lịch, các nhà đầu tư, bước đầu tạo lập được thương hiệu du lịch của Thừa Thiên Huế.
  • Đội ngũ lao động du lịch Thừa Thiên Huế tăng trưởng mạnh tích cực về trình độ và năng lực ngày càng đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch; Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo nguồn nhân lực được đầu tư nâng cấp phát triển đảm bảo phục vụ tốt hơn cho công tác đào tạo. Tỉnh đã có kế hoạch đào tạo nhân lực hàng năm, được báo cáo vào tháng 10 hàng năm về kết quả đào tạo trong năm và kế hoạch cho năm sau.
  • Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch được củng cố, kiện toàn, ngày càng nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý du lịch tạo điều kiện thuận lợi hoạt động kinh doanh và đầu tư của các thành phần kinh tế. Đặc biệt là việc ra đời của cổng thông tin điện tử Huế với nhiều tiện ích đã giúp mọi cá nhân, tổ chức có thể nắm bắt thông tin kịp thời về các kế hoạch cũng như các hoạt động trọng điểm khác trong tỉnh nói chung và ngành du lịch nói riêng
  • Thừa Thiên Huế đang dần trở thành thành phố Festival và là một trong những điểm đến độc đáo của văn hoá, lễ hội hấp dẫn khách du lịch quốc tế.

2.3.3 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân

  • Hạn chế: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

QH 2010 tuy đã góp phần đạt được những kết quả khả quan nhưng tồn tại một số hạn chế:

Các chỉ tiêu dự báo làm cơ sở xây dựng định hướng phát triển và các giải pháp của QH 2010 không còn phù hợp với thực tế do những biến động của tình hình thế giới và trong nước.

QH 2010 chưa đánh giá được toàn bộ tiềm năng du lịch của tỉnh, dẫn đến việc khai thác mới chỉ tập trung chủ yếu vào di tích văn hoá lịch sử, các tiềm năng du lịch khác như biển, đầm phá, giá trị văn hoá dân tộc thiểu số, di tích lịch sử cách mạng chưa được quan tâm khai thác.

Về định hướng phát triển du lịch, QH 2010 mới chỉ đề cập đến: Định hướng về tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch; Định hướng tổ chức không gian; Định hướng các dự án ưu tiên đầu tư trong khi chưa đề cập đến một số định hướng có vai trò quan trọng như: Định hướng phát triển thị trường khách du lịch; Định hướng phát triển loại hình và sản phẩm du lịch; Định hướng quảng bá xúc tiến du lịch, Định hướng đào tạo nguồn nhân lực…

Hiện nay đang có quy hoạch tổng thể cho việc phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng tất cả vẫn còn đang trong giai đoạn hiệu chỉnh, còn nằm trên giấy. Để đem vào áp dụng thực tế các quy hoạch này, phải mất rất nhiều thời gian cho sự chờ đợi báo cáo, xét duyệt ..và nhiều bước kiểm tra khác.

Sản phẩm du lịch chưa đa dạng, chủ yếu là các sản phẩm gắn liền với di sản văn hoá thế giới cố đô Huế; Chưa có nhiều nghiên cứu xây dựng sản phẩm mới. Các sản phẩm gắn với các tiềm năng du lịch khác như các bãi biển, hệ thống đầm phá, hệ thống di tích lịch sử cách mạng… chưa được quan tâm phát triển. Việc trùng tu di tích chưa đạt chất lượng cao.Các dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp, các dịch vụ bổ trợ, hàng hoá lưu niệm chưa phong phú, chất lượng chưa tương xứng với giá cả… Hiện nay, Huế chỉ làm du lịch từ sáng đến tối chứ chưa khai thác du lịch từ đêm đến sáng, lúc mà khách cần giải trí chi tiêu nhất. Do đó mức chi tiêu của khách du lịch đặc biệt là khách quốc tế còn thấp so với tiềm năng. Ngày lưu trú của khách còn quá thấp so với các khu vực lân cận.

Môi trường đầu tư khuyến khích phát triển du lịch tuy đã có những biến đổi theo hướng thông thoáng, hấp dẫn nhưng chưa có các giải pháp đồng bộ nên chưa thúc đẩy mạnh đầu tư phát triển du lịch.

Việc đầu tư hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu tập trung ở khu vực thành phố Huế và phụ cận, các khu vực khác đặc biệt khu vực A Lưới hầu như chưa được quan tâm đầu tư nhiều.

Hoạt động xúc tiến, tìm kiếm khai thác thị trường mới chưa được thực hiện chủ động do đó chưa phát triển được các thị trường mới. Với tình hình kinh tế như hiện nay, xu hướng khách du lịch cũ cần được duy trì, nhưng chuyển đổi thị trường là một việc làm cần thiết và cấp bách, nhưng dường như chưa thấy có động thái gì rõ ràng cho xu hướng này, chậm hơn so với các khu vực lân cận. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đào tạo nguồn nhân lực tuy có kế hoạch hàng năm nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của tỉnh. Thừa lao động nhưng thiếu lao động có chất lượng.

Để phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách, hiện trên địa bàn Huế chỉ có vài siêu thị cỡ nhỏ và chợ Đông Ba. Còn lại là hằng hà sa số những cửa hàng đồ lưu niệm có chủng loại hàng hóa tương tự nhau. Huế quả rất khó để tìm hàng hiệu, mua sắm “đã tay” như các nước lân cận Thái Lan, Singapore và các thành phố lớn trong nước. Đó quả là một sự lãng phí đối với mảnh đất mỗi năm thu hút trên 1,5 triệu lượt khách.

Quản lý nhà nước về du lịch hiện vẫn còn nhiều khó khăn trong việc kết nối các ngành lại với nhau thành một chuỗi cung cấp dịch vụ hoàn chỉnh.

  • Hạn chế về kinh phí.

Những nguyên nhân

a/ Nguyên nhân khách quan. 

  • Tình hình an ninh, chính trị, kinh tế trên thế giới ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển du lịch Việt Nam như chiến tranh Iraq, khủng hoảng tài chính toàn cầu, các vụ khủng bố ở Mỹ, Ba li, Thái Lan, dịch Sars, cúm gà, bò điên…
  • Các địa phương tổ chức hàng loạt lễ hội, ít nhiều mang tính trùng lắp và kéo đi phần lớn du khách.
  • Sự xuất hiện các điểm đến có khả năng cạnh tranh như Nha Trang, Đà Nẵng, Hội An, Bình Thuận… với những sản phẩm du lịch đa dạng, có chất lượng cao, hấp dẫn đối với khách du lịch quốc tế.

b/Nguyên nhân chủ quan.

  • Quy hoạch 2010 xây dựng trên cơ Sở Du lịch Thừa Thiên Huế đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển với xuất phát điểm thấp, tốc độ tăng trưởng đạt tỷ lệ cao. Vì vậy, tốc độ tăng trưởng các chỉ tiêu của quy hoạch 2010 cao hơn so với tốc độ tăng trưởng thực tế là nguyên nhân các chỉ tiêu du lịch Thừa Thiên Huế đạt tỷ lệ thấp so với Quy hoạch 2010.
  • Công tác xây dựng chiến lược phát triển du lịch và quản lý phát triển du lịch thông qua hệ thống quy hoạch du lịch từ tổng thể đến chi tiết còn thiếu đồng bộ và thiếu sự liên hệ chặt chẽ, bất cập, chồng chéo, thiếu sự phối hợp giữa các ngành trong quy hoạch phát triển du lịch, quy hoạch phát triển ngành phát triển lãnh thổ ở tỉnh nên gây ra sự phát triển lệch hướng tại một số điểm du lịch, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp
  • Năng lực của nguồn lực quản lý nhà nước còn thấp. Chưa linh hoạt, sáng tạo, chưa nắm được sự biến đổi, nhu cầu thị trường, và có hiểu thì cũng chỉ làm du lịch ở dạng cung cấp những cái Huế sẵn có chứ chưa cung cấp cái khách hàng cần. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gặp nhiều khó khăn do việc huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển còn khó khăn. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chưa cao; tình trạng dàn trải trong bố trí kế hoạch chưa được khắc phực triệt để; việc lựa chọn ưu tiên đầu tư ở một số dự án, công trình chưa hợp lý. Công tác quản lý đầu tư và xây dựng còn chậm về thủ tục đền bù giải toả, giao đất… Chất lượng tư vấn lập dự án, thiết kế, giám sát chưa cao, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Môi trường đầu tư vẫn còn nhiều vướng mắc, thu hút đầu tư hạn chế, nhất là các nguồn lực đầu tư nước ngoài.
  • Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển, huy động nguồn vốn từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh còn hạn chế.
  • Cải cách thủ tục hành chính chưa đồng bộ, chưa thật sự là cơ chế “một cửa”, tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư và kinh doanh; một số cơ chế, chính sách du lịch triển khai thiếu đồng đồng bộ, chưa được kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời.
  • Hệ thống khách sạn có sự tăng trưởng khá nhanh so với cả nước tuy nhiên chủ yếu tập trung tăng trưởng ở khu vực tư nhân do đó chưa tạo ra sự đột biến trong chất lượng dịch vụ lưu trú của tỉnh đồng thời cạnh tranh gay gắt làm giảm chất lượng dịch vụ..
  • Nhận thức của các cấp, các ngành về phát triển du lịch, coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh chưa thật đúng mức, đầy đủ và nhất quán; trách nhiệm của các ngành, các cấp tổ chức quán triệt Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ chưa sâu, mới được tổ chức ở cán bộ chủ chốt, còn triển khai quán triệt từng ngành, từng địa phương và nhân dân chưa được quan tâm đầy đủ, việc cụ thể hoá Nghị quyết của ngành và địa phương còn lúng túng, do đó Nghị quyết vào cuộc sống có phần hạn chế.
  • Việc phối hợp các ngành chưa đồng bộ, việc chủ động của ngành thương mại – du lịch tham mưu cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh chỉ đạo Chương trình phát triển du lịch còn lúng túng, hiệu quả chưa cao.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.

Trong chương này, chúng tôi đã khái quát được bức tranh tổng thể về tình hình phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế qua việc phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch của tỉnh. Thực trạng của ngành du lịch thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp của các cơ quan, đơn vị liên quan đã phản ảnh được những mặt mạnh, mặt yếu về quy hoạch, về cơ sở hạ tầng, cơ sở kỹ thuật, về nguồn nhân lực, về xúc tiến quảng bá, hoạt động các doanh nghiệp và sự phối hợp liên ngành…Cùng với những thách thức và cơ hội hiện tại mà ngành du lịch tỉnh đang đối diện.

Kết quả có được từ chương II là những điểm mấu chốt để chúng ta có thể hình thành nên các hướng giải pháp nhằm khắc phục được hạn chế đang tồn tại và giúp du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có của mình. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

One thought on “Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế

  1. Pingback: Luận văn: Phát triển hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464