Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2023 – 2025 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tiềm năng, các nguồn lực và tình hình phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Ninh Bình có diện tích 1.390,11 km², nằm ở cực nam Đồng bằng Bắc Bộ, có tọa độ địa lý từ 19050’ đến 20027’ vĩ độ Bắc và 105032’ đến 106033 kinh độ Đông. Về mặt hành chính, Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Ninh Bình – là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh; thị xã Tam Điệp và 6 huyện: Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn, Gia Viễn, Hoa Lư và Nho Quan. Ninh Bình cách Hà Nội 93 km về phía Nam trên trục quốc lộ 1A và đường sắt xuyên suốt Bắc – Nam, cả hai trục đường ôtô và đường sắt chạy xuyên suốt Bắc – Nam đều qua đây (với hai nút giao thông chính là thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp).

Hình 2.1: Bản đồ du lịch tỉnh Ninh Bình

Địa hình: Ninh Bình có địa hình đa dạng, vừa có đồng bằng, đồi núi, nửa đồi núi và vùng ven biển. Sự phân hóa về địa hình, đặc biệt là sự xuất hiện của dạng địa hình đặc biệt là hiện tượng phong hóa đặc trưng của những miền núi đá vôi bị nước chảy xói mòn đã làm cho địa hình trở thành tài nguyên quan trọng cho Ninh Bình trong phát triển các loại hình du lịch. Điển hình trong số đó phải kể đến khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, khu du lịch sinh thái Tràng An…

Khí hậu: Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng, ngoài ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam, còn chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển, khí hậu rừng núi và nửa rừng núi. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa khá rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 – 12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 – tháng 10. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,20 Số giờ nắng trung bình mỗi tháng là 117,3 giờ. Tổng nhiệt độ năm đạt tới trị số trên 8.5000C. Độ ẩm trung bình hàng năm là 83% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm: tháng 2 cao nhất là 89%, tháng 11 thấp nhất là 75%; giữa các vùng chênh lệch nhau trên dưới 1%. Lượng mưa rơi trung bình toàn tỉnh đạt từ 1.860 – 1.950 mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của tỉnh. Trung bình một năm có 125 – 127 ngày mưa. Lượng mưa trung bình mỗi tháng là 238,8 mm; tháng 9 cao nhất là 816 mm, tháng 1 thấp nhất là 8,5 mm. Lượng mưa phân bổ không đều trong năm, thường tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm từ 86 – 91% tổng lượng mưa trong năm. Như vậy có thể thấy, thời gian thuận lợi nhất cho hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh kéo dài từ tháng 2 đến tháng 5 và từ tháng 8 đến tháng 12 hàng năm. Đây là thời gian không quá khô nóng, cũng như không có mưa nhiều. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Thuỷ văn: Ninh Bình có nhiều sông và đầm hồ. Hàng năm, hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình được nuôi dưỡng bằng nguồn nước mưa dồi dào, tạo nên lượng dòng chảy tương đối phong phú (khoảng 30l/s/km2). Mật độ mạng lưới sông ngòi khoảng 0,6-0,9 km/km2.

Sinh vật: Thảm thực vật rừng phong phú, tập trung ở Vườn quốc gia Cúc Phương. Rừng Cúc Phương thuộc loại rừng mưa nhiệt đới điển hình với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng (tới 5 tầng, tầng vượt tán có những cây cao 40-50m), phong phú về thành phần loài. Đây còn là nơi gặp gỡ của các loài thực vật dễ di thực từ vùng nhiệt đới khô như Ấn Độ, Miến Điện tới. Một số loài thực vật điển hình là chò xanh (Terminalia Mgriocarpa), cây lê (brassaiopsis cucphalobgensis thuộc họ Araliacsae), cây chân chim (Schefflera globulihera thuộc họ Araliacsae). Động vật ở Cúc Phương cũng rất phong phú. Hiện đã phát hiện được 233 loài động vật có xương sống, nhiều loài chim và 24 bộ côn trùng trong số 30 bộ côn trùng thường gặp ở nước ta. Đặc biệt có những loại quý hiếm như Phượng hoàng đất ở Tràng An, Vọoc mông trắng ở Vân Long…

Đất đai: Ninh Bình có tổng diện tích tự nhiên là 139.011 ha, trong đó đất cho sản xuất nông nghiệp là 61.959 ha (chiếm 44,57% diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp 27.644 ha (chiếm 19,89% diện tích tự nhiên), đất chuyên dùng 15.197 ha (chiếm 10,93% diện tích tự nhiên), đất khu dân cư 5.346 ha (chiếm 3,85% diện tích tự nhiên) và đất chưa sử dụng 17.094 ha (chiếm 12,3% diện tích tự nhiên).

Tài nguyên khoáng sản: Đá vôi với trữ lượng hàng chục tỉ m3, chất lượng tốt, đất sét, tài nguyên nước khoáng,… các tài nguyên khác như cát xây dựng, sét gốm sứ, sét xi măng, gạch ngói trữ lượng nhỏ, phân bố rải rác ven vùng đồi núi thấp ven thị xã Tam Điệp, Gia Viễn, Yên Mô. Bên cạnh đó, Ninh Bình còn nằm gần các nguồn năng lượng lớn của quốc gia ở miền Bắc như: bể than Quảng Ninh; thuỷ điện Hoà Bình; Nhiệt điện Phả Lại… giúp cho Ninh Bình thoả mãn các nhu cầu về than, điện phục vụ cho phát triển sản xuất cũng như nhu cầu dân sinh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Điều kiện dân cư, kinh tế – xã hội Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Đặc điểm dân cư, dân tộc: Dân số Ninh Bình hiện có 926.995 người (năm 2024), chiếm 4,54% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và 1,03% dân số của cả nước. Trong tổng dân số của tỉnh có 49,9% là nam, 50,1% là nữ; dân số thành thị chiếm 19,48%, dân số nông thôn chiếm 80,52%. Mật độ dân số chung toàn tỉnh là 673 người/km2, cao nhất là TP. Ninh Bình 2.467 người/km2 và huyện Yên Khánh 987 người/km2; thấp nhấp là huyện Nho Quan 331 người/km2. tỉ lệ tăng dân số tự nhiên những năm gần đây có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao, năm 2000 là 1,02% đến năm 2024 giảm xuống còn 0,672% (mức bình quân cả nước là 1,2%).

Cộng đồng các dân tộc đang sống trong tỉnh gồm có: dân tộc Kinh trên 98,2% ; dân tộc Mường chiếm 1,7% ; các dân tộc như Tày, Nùng, Thái, Hoa, Hmong, Dao,… mỗi dân tộc có từ trên một chục đến hơn một trăm người.

Điều kiện kinh tế – xã hội : Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số, năm 2023 xếp thứ 11/63, năm 2024 xếp thứ 21/63, năm 2025 xếp thứ 28/63. Ninh Bình là một trong những tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam; thu ngân sách năm 2024 đạt 2.825 tỉ đồng, là tỉnh thứ 26/64 đạt mức thu trên 1000 tỷ.

Trong khi diện tích và dân số tỉnh chỉ đứng thứ 56/64 và 43/64.

Ninh Bình có tiềm năng và thế mạnh phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng với số lượng nhà máy sản xuất xi măng nhiều trong đó nổi bật là các doanh nghiệp xi măng The Vissai, xi măng Hệ Dưỡng (công suất 3,6 triệu tấn/năm), xi măng Tam Điệp, xi măng Phú Sơn, xi măng Duyên Hà (công suất 0,6 triệu tấn/năm), xi măng Hướng Dương (công suất 2 triệu tấn/năm).v.v. Sản phẩm chủ lực của địa phương là xi măng, đá, thép, vôi, gạch,…

Tính đến năm 2025, Ninh Bình có 7 khu công nghiệp, gồm: Gián Khẩu, Ninh Phúc, Tam Điệp, Phúc Sơn, Sơn Hà, Xích Thổ và Khánh Cư, 22 cụm công nghiệp với diện tích 880 ha. Nghề thủ công truyền thống địa phương có: thêu ren ở Hoa Lư, dệt chiếu và làm hàng cói mỹ nghệ ở Kim Sơn, Yên Khánh…, đan lát mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan, sản xuất đồ đá mỹ nghệ ở Ninh Vân (Hoa Lư). Về thu hút đầu tư, tỉnh hiện có những dự án công nghiệp với mức đầu tư lớn đang được triển khai xây dựng như: Nhà  máy phân đạm công suất 56 vạn tấn/năm, nhà máy sản xuất phụ tùng động cơ tàu thuỷ Vinashin với vốn đầu tư 1.200 tỉ đồng, nhà máy sản xuất sô đa đầu tư 1.300 tỉ, nhà máy sản xuất phôi thép Ninh Bình đầu tư 560 tỉ đồng.

Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều thành phần. Các vùng chuyên canh nông nghiệp chính của tỉnh: vùng Đồng Giao Tam Điệp chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa thơm; vùng Kim Sơn trồng cây cói làm chiếu, hàng mỹ nghệ, nuôi tôm sú, hải sản; vùng Ninh Phúc, Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch. Lĩnh vực nuôi thuỷ sản phát triển khá ổn định, nhất là ở khu vực nuôi thả thuỷ sản nước ngọt. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Nguồn lao động của Ninh Bình khá đông đảo, được đào tạo tương đối cơ bản; ngày càng được bổ sung lực lượng lao động trẻ có kiến thức văn hoá và trình độ chuyên môn, có khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế – xã hội trên địa bàn của tỉnh.

Giáo dục và đào tạo đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS từ tháng 12/2002; 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh có trường học cao tầng, kiên cố.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và khối đại đoàn kết dân tộc được giữ vững và ổn định; hệ thống Đảng, Chính quyền, các Đoàn thể nhân dân tiếp tục được xây dựng và hoạt động có hiệu quả.

2.1.3. Tài nguyên du lịch tự nhiên

Khó có nơi nào được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho nhiều thắng cảnh hữu tình như Ninh Bình. Đặc điểm về địa hình kết hợp với các thành phần tự nhiên khác như hệ thống thủy văn, lớp phủ thực vật… đã tạo cho Ninh Bình tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú. Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, nhiều hang động nổi tiếng: Quần thể danh thắng Tràng An đã được UNESSCO công nhận là Di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới, đây là di sản hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam và cả Đông nam Á; Vườn quốc gia Cúc Phương với hệ động thực vật phong phú; Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long với đa dạng sinh học, nhiều loài động thực vật được ghi vào Sách đỏ Việt Nam; khu du lịch sinh thái hồ Yên Thắng – Yên Đồng – động Mã Tiên với cảnh quan đặc sắc; Vùng ven biển Kim Sơn – một bộ phận của Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng chứa đựng những hoạt động kiến tạo địa chất và đa dạng sinh học có giá trị nổi bật toàn cầu… Đây là tiền đề quan trọng cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như du lịch sinh thái, du lịch vui chơi giải trí, du lịch chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch tham quan… Một số tài nguyên du lịch tự nhiên tiêu biểu như:

Quần thể hang động Tràng An: Nằm ở thôn Tràng An, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, cách cố đô Hoa Lư khoảng 4km về phía Nam, diện tích trên 1.961 ha, với những dải đá vôi, các thung lũng và những dòng sông ngòi đan xen vào nhau tạo nên một không gian huyền ảo và thơ mộng. Với 48 hang xuyên thuỷ động, đây là quần thể hang động có một không hai ở Việt Nam.

Vườn quốc gia Cúc Phương (huyện Nho Quan): Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập vào 7/7/1962, có diện tích 22.200 ha, trong đó 1/2 là núi đá vôi cao từ 300 đến 648m so với mặt biển. Đây là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Vườn có hệ động thực vật phong phú, đa dạng. Hiện nay, vườn quốc gia Cúc Phương đã trở thành một trung tâm cung cấp các loài thực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế cao phục vụ cho các chương trình trồng rừng trong khu vực và trên cả nước. Đến Cúc Phương đẹp nhất vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Một khu rừng nguyên sinh với hệ sinh thái rừng nhiệt đới đa dạng, phong phú được bảo vệ nghiêm ngặt. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long: Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long là khu bảo tồn sinh cảnh đặc trưng cho hệ sinh thái núi đá ngập nước có diện tích lớn nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng (khoảng 2.643 ha). Đây cũng là nơi khoanh vùng bảo vệ loài Voọc quần đùi trắng – một loài linh trưởng quý hiếm đã được ghi trong Sách đỏ thế giới. Vân Long là một vùng đất còn ít được khám phá với cảnh quan đặc biệt hấp dẫn.

Tam Cốc: Tam Cốc nghĩa là ba hang: hang Cả, hang Hai và hang Ba ở thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Du khách vào thăm Tam Cốc chỉ có một con đường thủy duy nhất, vào ra mất khoảng hơn 1 giờ đồng hồ. Lúc thuyền luồn vào ba hang, du khách sẽ cảm nhận được làn không khí trong lành, mát lạnh của hương đồng gió nội. Thạch nhũ từ trần hang rủ xuống lô nhô óng ánh như những khối châu ngọc kỳ ảo.

Động Địch Lộng: Động thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, được nhân dân phát hiện từ năm 1739. Động Địch Lộng còn có tên khác là động Nham Sơn. Cảnh đẹp của Địch Lộng được vua Minh Mạng ban tặng cho 5 chữ khi đến thăm nơi đây – “Nam thiên đệ tam động” (Động đẹp thứ 3 trời Nam).

Động Tiên: Động Tiên còn có tên gọi khác là động Móc, ở thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách Bích Động gần 1km. Động gồm có ba hang lớn, rộng, và cao vời vợi. Đến thăm động Tiên, du khách sẽ như lạc bước vào chốn bồng lai, tiên cảnh, được khám phá và hoà mình vào khung cảnh tự nhiên kỳ thú.

Đèo Tam Điệp: Đèo Tam Điệp còn có tên là đèo Ba Dội đã đi vào trong thơ ca của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Đèo thuộc thị xã Tam Điệp. Nơi đây có 3 dãy núi đá vôi chạy suốt từ Hòa Bình về, ăn ra biển Đông theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Chỗ núi đá hạ thấp xuống gọi là Đèo. Vì có ba đèo liền nhau nên gọi là Tam Điệp. Đèo Tam Điệp không chỉ là một thắng cảnh mà còn là một di tích lịch sử nổi tiếng đã đi vào lịch sử, đi vào thơ văn của các thi nhân xưa và nay.

Suối nước nóng Kênh Gà: Suối nước nóng mặn Kênh Gà thuộc thôn Kênh Gà, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn. Núi Kênh Gà trông xa như hình một con lạc đà đang đi, nơi đây có một nguồn nước suối nóng mặn, vì thế suối có tên là Kênh Gà. Nước khoáng Kênh Gà là một trong số rất ít mỏ nước khoáng lộ thiên ở nước ta có giá trị to lớn trong y học để phòng và chữa bệnh.

Động Vân Trình: Động Vân Trình rộng gần 3.500m2, là một động lớn nhất và đẹp nhất của tỉnh Ninh Bình, sánh ngang với động Thiên Cung ở Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh). Động Vân Trình còn giữ nguyên được nét đẹp trinh nguyên, tinh khiết của đá. Du khách đến đây không cần phải tưởng tượng về chốn bồng lai tiên cảnh, mà chính hang đã là cảnh thần tiên hiện giữa cõi trần.

Động Sinh Dược (thuộc thôn Xuân Trì, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn): Đây là một động xuyên thủy dài gần 2km. Du khách sẽ bị cuốn hút bởi vẻ đẹp kỳ ảo của động và không thể khám phá hết cái thế giới kỳ thú này chỉ thông qua một chuyến đi.

Động Hoa Lư: Động Hoa Lư còn gọi là Thung Lau, thuộc thôn Mai Phương xã Gia Hưng huyện Gia Viễn. Đây là căn cứ ban đầu của Đinh Bộ Lĩnh. Khi theo mẹ về quê, lúc đầu ở cạnh đền Sơn Thần (Gia Thủy, Nho Quan gần đó) Đinh Bộ Lĩnh đã cùng lũ trẻ chăn trâu lấy hoa lau làm cờ tập trận cờ lau tại động Hoa Lư.

Hồ Đồng Chương: Một hồ nước trong nằm giữa hai xã Phú Lộc và Phú Long, huyện Nho Quan có tên gọi là Đồng Chương. Du khách đến đây sẽ thấy được vẻ đẹp hòa quyện của thiên nhiên và con người nơi đây, vì thế Đồng Chương được ví như “Đà Lạt” của Ninh Bình. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Hồ Đồng Thái: Hồ Đồng Thái thuộc địa bàn hai xã Đông Sơn (Thị xã Tam Điệp) và Yên Đồng (huyện Yên Mô) có diện tích rộng hơn 380ha được bao bọc bởi dãy núi Tam Điệp hùng vĩ và con đê trải dài hơn 10 km. Hồ có trữ lượng hơn 8.000.000m3 nước với không chỉ phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà còn là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng.

Núi chùa Bái Đính (xã Gia Sinh, huyện Gia viễn): Núi Bái Đính hiện còn giữ được nét nguyên sơ của núi rừng xa xưa, cây cối tươi tốt, có nhiều cây cao to bao phủ núi non, xanh mướt một màu dịu mát. Hiện nay khu núi chùa Bái Đính được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch 390 ha. Đây là ngôi chùa nổi tiếng với nhiều kỷ lục châu Á và khu vực: Tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất châu Á; Tượng Phật Di lặc bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á; Chuông đồng lớn nhất Việt Nam; Khu chùa rộng nhất Việt Nam; Khu chùa có hành lang La Hán dài nhất châu Á; Khu chùa có nhiều tượng La Hán nhất Việt Nam; Khu chùa có Giếng Ngọc lớn nhất Việt Nam; Khu chùa có số cây bồ đề nhiều nhất Việt Nam.

Núi Dục Thúy (núi Non Nước): Núi Dục Thúy (hay còn gọi là núi Non Nước), tạo nên vẻ huyền diệu, sơn thủy hữu tình ngay tại trung tâm thành phố Ninh Bình. Núi cao khoảng gần 70m, đỉnh tương đối bằng phẳng. Thế núi như muốn nhô ra để soi trọn mình trên dòng sông Đáy, tạo thành một mái hiên hình vòm cuốn, đổ bóng che rợp một khoảng sông có chiều dài gần 50m. Núi còn có một số tên gọi khác như Băng Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Sơn Thủy, Hộ Thành Sơn, Thanh Hoa Ngoại Trấn Sơn, Trấn Hải Đài, Dục Thúy Sơn Hải Khẩu…

Hệ sinh thái vùng ven biển Kim Sơn: Với 18 km đường bờ biển nơi có cửa sông đổ ra với sự hình thành cồn nổi rộng khoảng gần 1.000ha cách bờ biển khoảng 8km, thảm thực vật ngập mặn đã hình thành tạo thành nơi cư trú của nhiều loài sinh vật, đặc biệt là một số loài chim di cư quý hiếm như Cò Thìa… Đây cũng là một dạng tài nguyên du lịch tự nhiên có bãi tắm biển rất có ý nghĩa đối với sự phát triển du lịch biển của Ninh Bình.

Hệ thống sông Ninh Bình: Các sông lớn ở Ninh Bình bao gồm sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vân, sông Vạc, sông Lạng… chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam đổ ra biển. Đặc biệt cảnh quan ở ven sông Hoàng Long có sự thay đổi theo mùa (mùa nước và mùa khô), vì vậy du khách sẽ có được những cảm xúc khác nhau về cảnh quan, về những sinh hoạt truyền thống của người dân ở làng quê tiêu biểu cho đồng bằng sông Hồng.

Ngoài ra, Ninh Bình còn có nhiều vùng cảnh quan khác có giá trị, đặc biệt là hệ thống các hang động karst nằm trải dài dọc theo lãnh thổ của tỉnh như : Hệ thống hang động Tràng An, động Mã Tiên, động Hang Mát, động Trà Tu, động Hang Dơi, hang Bụt,.. đều là những tài nguyên du lịch có giá trị.

2.1.4. Tài nguyên du lịch nhân văn Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị vật chất cũng như tinh thần do bàn tay và khối óc của sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc anh em cùng chung sống ở Ninh Bình sáng tạo và gìn giữ trong dòng chảy của cuộc sống. Các tài nguyên này bao gồm những di tích lịch sử – văn hóa, di tích lịch sử – cách mạng, các làng nghề thủ công truyền thống, những giá trị văn hóa phi vật thể như văn nghệ dân gian, lễ hội… thể hiện bản sắc văn hóa hết sức đa dạng của nhân dân Ninh Bình và là nguồn lực thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau:

(1) Nhóm các di tích lịch sử – văn hóa: Ninh Bình có 1.499 di tích, trong đó có 79 di tích cấp quốc gia (trong đó có 2 di tích cấp quốc gia đặc biệt đó là: Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư và Danh lam thắng cảnh Tràng An – Tam Cốc – Bích Động) và 235 di tích cấp tỉnh.

Cố đô Hoa Lư: Là kinh đô của nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở nước ta, thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, nằm trên một diện tích trải rộng khoảng 400ha.

Đền vua Đinh (làng Trường Yên Thượng, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư): Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng. Đền Đinh Tiên Hoàng là một kiến trúc độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc gỗ và đá của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam ở thế kỷ 17 – 19.

Đền vua Lê (làng Trường Yên Hạ, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư): Đền thờ vua Lê Đại Hành cách đền vua Đinh chừng 300m. Trước mặt đền là núi Đèn, sau lưng là núi Đìa. Điều đặc biệt ở đền thờ vua Lê Đại Hành là nghệ thuật chạm khắc gỗ ở thế kỷ 17 đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo.

Chùa Bích Động (thôn Đam Khê trong, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư): Chùa Bích Động là một công trình kiến trúc cổ được xây dựng trên sườn núi Bích Động. Điều độc đáo là chùa được xây cất ở sườn núi cao, dựa vào thế núi. Toàn công trình chùa Bích Động bao gồm 3 ngôi chùa: chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng.

Đền Thái Vy (thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư): Đền thờ Trần Thái Tông, Đền thờ Trần Nhân Tông, hoàng hậu Thuận Thiên và Trần Thánh Tôn. Đền Thái Vy được xây dựng theo kiểu “nội công, ngoại quốc”. Trước đền có giếng Ngọc xây bằng đá xanh. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Đền Vua Đinh Tiên Hoàng (thôn Văn Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn): thôn Văn Bòng là quê hương của Đinh Tiên Hoàng đế, vì vậy người dân nơi đây đã lập đền thờ ông. Đền có quy mô nhỏ, tuy nhiên du khách đến thăm nơi đây như được trở về thăm quê hương của người anh hùng thế kỷ thứ X với nhiều huyền thoại về một thời thơ ấu của Đinh Bộ Lĩnh cùng với những người bạn thủa ấu thơ đã từng chăn trâu cắt cỏ như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ… và nuôi chí lớn dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước.

Chùa Địch Lộng (thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn): Địch Lộng nghĩa là tiếng sáo thổi, khi đứng ở cửa động, gió thổi vào cửa động, nghe có tiếng vi vu như tiếng sáo. Vì làng có tên là Địch Lộng nên chùa cũng được gọi theo tên làng. Chùa Địch Lộng là một cụm kiến trúc chùa và đình.

Nhà thờ đá Phát Diệm (thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn): cách Hà Nội 120 km về phía Nam, được xây dựng từ năm 1875 đến năm 1898.

Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp. Đây là một quần thể kiến trúc gồm có: Ao hồ, Phương Đình, Nhà thờ lớn với bốn nhà thờ cạnh ở hai bên, ba hang đá nhân tạo, nhà thờ đá. Nhà thờ Phát Diệm, một công trình kiến trúc độc đáo có một không hai ở Việt Nam. Các công trình kiến trúc nguy nga, tráng lệ nhưng hài hòa với cảnh vật thiên nhiên, sự hài hòa của nghệ thuật kiến trúc á Đông và Âu Châu.

Đền đức Thánh Nguyễn (đền Nguyễn Minh Không): tọa lạc tại xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn, thờ quốc sư Nguyễn Minh Không.

(2) Nhóm các lễ hội: Tính đến hết năm 2024, toàn tỉnh có 242 lễ hội truyền thống và nhiều hội làng mang đậm yếu tố dân gian, đậm đà văn hoá vùng đất châu thổ sông Hồng. Những lễ hội lớn như:

  • Lễ hội đền Đinh – Lê (lễ hội Trường Yên): Hội được tổ chức vào ngày mồng 10 đến 13 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã Trường Yên, Huyện Hoa Lư (Cố đô Hoa Lư) để tưởng nhớ công đức vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành, bao gồm hai phần lễ và hội.
  • Lễ hội đền Thái Vi: Hội được tổ chức hàng năm từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 3 âm lịch tại thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Đây là dịp để nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ công lao các vua Trần – những người có công lớn với dân với nước.
  • Lễ hội chùa Địch Lộng: Lễ hội được tổ chức vào hai ngày: mùng 6 và mùng 7 tháng 3 (âm lịch) tại chùa Địch Lộng thuộc huyện Gia Thanh, huyện Gia Viễn.
  • Lễ hội chùa Bái Đính: được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng giêng hàng năm tại thôn Sinh Dược xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn. Cũng như các lễ hội khác, hội gồm có hai phần là phần lễ và phần hội.
  • Lễ hội Báo bản Nộn Khê: Lễ hội được tổ chức vào ngày 14 tháng giêng (âm lịch) hàng năm tại đình làng Nộn Khê, xã Yên Từ, huyện Yên Mô.
  • Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ: tổ chức vào 3 ngày, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 11 (âm lịch) tại đền Nguyễn Công Trứ thuộc xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn.
  • Các làng nghề truyền thống: Những nghề truyền thống tiêu biểu ở Ninh Bình hiện nay là: Nghề chạm khắc đá (tập trung ở xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư); nghề thêu ren (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư); nghề làm hàng cói (ở huyện Kim Sơn, Yên Khánh); nghề mộc (tập trung nhiều ở phường Ninh Phong, thành phố Ninh Bình); nghề đan lát (ở Gia Viễn, Nho Quan)…
  • Ẩm thực Ninh Bình: Về văn hoá ẩm thực, từ lâu, Ninh Bình đã nổi tiếng với bún mọc Kim Sơn, rượu Lai Thành, tái dê, ngọc dương tửu, cá rô Tổng Trường (Hoa Lư), nem chua Yên Mạc, mắm tép Gia Viễn, cá chuối nướng Vân Long, nhất hưởng thiên kim (cơm cháy), rượu cần Nho Quan… Các món ăn đặc sản trên cũng là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị. Hay nói một cách hình tượng, thì văn hoá ẩm thực như cái duyên, tô điểm cho môi trường du lịch hấp dẫn.

2.2. Phân tích chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

2.2.1 Đánh giá mô hình chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau để phân tích chuỗi giá trị. Trong để tài nghiên cứu này, tác giả kết hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau như cách tiếp cận của Micheal Porter (1985), Kaplinsky and Morris (2001), phương pháp phân tích chuỗi giá trị của dự án MP4, GTZ để lập mô hình chuỗi giá trị du lịch của tỉnh Ninh Bình.

Hình 2.2: Mô hình chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình

Quan sát sơ đồ chuỗi giá trị du lịch này, chúng ta thấy ngoài những hoạt động chính trong chuỗi có ảnh hưởng đến ngành du lịch tỉnh Ninh Bình còn có các hoạt động hỗ trợ và các yếu tố bên ngoài có thể làm gia tăng hay giảm hiệu quả hoạt động của các tác nhân tham gia trong hoạt động chính của chuỗi. Các thị trường khách nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả, kịp thời cho du lịch tỉnh Khánh Hòa, chúng ta sẽ tiến hành phân tích chuỗi để hiểu rõ và có cái nhìn toàn diện hơn về những mặt mạnh và những trở ngại trong chuỗi giá trị du lịch này.

2.2.2 Phân tích chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình

2.2.2.1. Thị trường khách

Trong lĩnh vực du lịch, Ninh Bình là tỉnh phát triển muộn hơn so với các tỉnh, thành phố trong cả nước bởi vốn là tỉnh thuần nông. Tuy nhiên, sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền cùng với doanh nghiệp đã tạo nên các chuyển biến tích cực giúp xây dựng và phát triển “ngành công nghiệp không khói”.

Bảng 2.1: Khách du lịch đến tỉnh Ninh Bình từ năm 2023 – 2025

TT Khách du lịch 2023 2024 2025
Số lượt (khách) Số lượt (khách) 2024/2023 (%) Số lượt (khách) 2025/2024 (%)
1 Trong nước 3,074,430 3,877,219 126.11 3,799,160 97.99
2 Quốc tế 675,570 521,548 77.20 502,409 96.33
3 Tổng lượt khách 3,750,000 4,398,767 117.30 4,301,569 97.79

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình) Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Năm 2023, tỉnh đã đón 3,7 triệu lượt khách, trong đó có hơn 675 nghìn lượt khách quốc tế. Năm 2024 tỉnh đã đón hơn 4,3 triệu lượt khách (tăng 17.30% so với 2023). Trong đó, khách du lịch trong nước đạt hơn 3,8 triệu lượt khách (tăng 26.11% so với 2023) nhưng số lượt khách quốc tế là 521,548 lượt khách (giảm 22,80% so với 2023). Sang đến năm 2025 số lượt khách đến Ninh Bình tiếp tục giảm, cụ thể, tổng số lượt khách đến Ninh Bình là 4,3 triệu lượt khách (bằng 97,79% so với năm 2024), trong đó, số lượt khách trong nước là gần 3,8 triệu lượt khách (bằng 97,99% so với năm 2024), số lượt khách quốc tế là hơn 502 nghìn lượt khách (bằng 96.33% năm 2024). Để đánh giá tác động của môi trường kinh doanh đến nỗ lực thu hút khách du lịch của tỉnh Ninh Bình, tác giả có xem xét sự biến động khách du lịch ở các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, thành phố Hà Nội và tổng thể ngành du lịch thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.2: Biến động khách du lịch quốc tế đến Ninh Bình, Quảng Ninh, Hà Nội và ngành du lịch Việt Nam từ năm 2023 – 2025

Năm Ninh Bình Quảng Ninh Hà Nội Việt Nam
Số lượt (khách) So với năm trước (%) Số lượt (khách) So với năm trước (%) Số lượt (khách) So với năm trước (%) Số lượt (khách) So với năm trước (%)
2023 675,570 2,400,000 2,100,000 6,847,678
2024 521,548 77.20 2,601,000 108.38 2,580,000 122.86 7,572,352 111
2025 502,409 96.33 2,550,000 98.04 3,000,000 116.28 7,874,312 104

(Nguồn: Tổng cục du lịch, Sở văn hóa, thể thao và du lịch Ninh Bình, Quảng Ninh, Hà Nội)

Đối với khách du lịch quốc tế, mặc dù kết quả trên chỉ mang tính tham chiếu bởi vì Hà Nội là 1 trong 2 cửa ngõ chính để khách quốc tế đến Việt Nam và Quảng Ninh có đường biên giới dài, rộng cả trên đất liền cũng như trên biển. Nhưng với số liệu đó tác giả cũng cho rằng, việc thu hút khách du lịch quốc tế đến với Ninh Bình chưa thực sự tốt, bởi vì tổng số lượt khách quốc tế đến với Việt Nam vẫn tăng qua các năm (năm 2024 tăng 11% so với 2023, năm 2025 tăng 0,4% so với 2024) nhưng khách quốc tế đến Ninh Bình lại có xu hướng giảm (năm 2024 chỉ bằng 77.20% năm 2023, năm 2025 chỉ bằng 96,33% năm 2024).

Đối với khách du lịch nội địa đến Ninh Bình, theo bảng 2.1 năm 2024 lượt khách du lịch tăng 26,11% so với năm 2023, tuy nhiên năm 2025 lượng khách bằng 98% so với năm 2024 trong khi đó tốc độ trong ngành du lịch vẫn có sự tăng trưởng qua các năm 2024 và 2025. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Bảng 2.3: Khách du lịch đến Ninh Bình và Việt Nam

TT Năm Khách quốc tế đến Khách nội địa đến
Ninh Bình (lượt khách) Việt Nam

(lượt khách)

(3)/(4) (%) Ninh Bình

(lượt khách)

Việt Nam

(lượt khách)

 (6)/(7) (%)
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8)
1 2023 675,570 6,847,678 9.87 3,074,430 32,500,000 9.46
2 2024 521,548 7,572,352 6.89 3,877,219 35,000,000 11.08
3 2025 502,409 7,874,312 6.38 3,799,160 38,500,000 9.87

(Nguồn: Tổng cục du lịch, Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)

Như vậy, năm 2023 số lượt khách quốc tế đến Ninh Bình chiếm 9.87% trong tổng số lượt khách đến Việt Nam. Năm 2024 số lượt khách đến Ninh Bình chiếm 6.89% trong tổng số lượt khách đến Việt Nam. Năm 2025 số lượt khách đến Ninh Bình chiếm 6.38% trong tổng số lượt khách đến Việt Nam. Như vậy, chúng ta thấy rằng tỉ lệ khách quốc tế đến Ninh Bình đang có xu hướng giảm. Đối với khách nội địa, tỉ lệ khách nội địa đến Ninh Bình năm 2024 có tăng so với năm 2023 nhưng năm 2025 tỉ lệ này lại giảm. Điều này cho thấy khách du lịch nội địa đến Ninh Bình đang có sự biến động, chưa ổn định.

Xét về cơ cấu thị trường khách du lịch đến Ninh Bình, đối với khách nội địa hiện nay chưa có số liệu thống kê. Đối với khách quốc tế đến Ninh Bình được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.4: Khách quốc tế đến Ninh Bình từ năm 2023 đến 2025

Thị trường 2023 2024 2025
Số lượt (khách) So với tổng lượt khách (%) Số lượt (khách) So với tổng lượt khách (%) So với 2023 Số lượt (khách) So với tổng lượt khách (%) So với 2024
Đức 10518 1.56 6728 1.29 63.97 9082 1.81 135
Hồng Kông 1320 0.20 705 0.14 53.38 932 0.19 132
Tây Ban Nha 3088 0.46 2286 0.44 74.01 2598 0.52 114
Singapore 17195 2.55 20536 3.94 119.44 23280 4.63 113
Canada 32748 4.85 23583 4.52 72.01 25787 5.13 109
Italy 3092 0.46 2214 0.42 71.62 2324 0.46 105
Hàn Quốc 69150 10.24 51576 9.89 74.59 54103 10.77 105
Lào 14865 2.20 8461 1.62 56.92 8718 1.74 103
Anh 16806 2.49 12721 2.44 75.69 12905 2.57 101
Bỉ 1866 0.28 1486 0.28 79.64 1482 0.29 100
Na Uy 1966 0.29 1457 0.28 74.13 1449 0.29 99
Nhật 56864 8.42 41610 7.98 73.17 41342 8.23 99
Niuzilan 2626 0.39 2132 0.41 81.20 2113 0.42 99
Đan Mạch 2759 0.41 1767 0.34 64.03 1725 0.34 98
Thụy Sỹ 2835 0.42 1958 0.38 69.05 1897 0.38 97
Hà Lan 4525 0.67 3266 0.63 72.18 3134 0.62 96
Nga 19359 2.87 13485 2.59 69.66 12916 2.57 96
Thụy Điển 3525 0.52 2169 0.42 61.53 2071 0.41 95
Philippin 9786 1.45 6923 1.33 70.74 6597 1.31 95
Mỹ 43786 6.48 29774 5.71 68.00 28314 5.64 95
Trung Quốc 140950 20.86 131419 25.20 93.24 124241 24.73 95
Pháp 21677 3.21 14462 2.77 66.72 13638 2.71 94
Úc 28595 4.23 22038 4.22 77.00 20487 4.08 93
Campuchia 11204 1.66 7231 1.39 64.54 6654 1.32 92
Malaysia 29502 4.37 23387 4.48 79.27 21246 4.23 91
Indonesia 6004 0.89 4849 0.93 80.76 4379 0.87 90
Đài Loan 40389 5.98 27485 5.27 68.05 24819 4.94 90
Phần Lan 1599 0.24 1010 0.19 63.17 882 0.18 87
Thái Lan 22283 3.30 18528 3.55 83.15 15751 3.14 85
Khác 54686 8.09 36321 6.96 66.42 27542 5.48 76
Tổng cộng 675570 100 521548 100 77 502409 100 96

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình) Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Có thể thấy rõ nhất số lượt khách Trung Quốc và một số thị trường khác đến du lịch Ninh Bình chiếm tỉ trọng áp đảo trong tổng số khách quốc tế. Để có con số chi tiết, tác giả đã thống kê 10 quốc gia có lượt khách cao nhất đến Ninh Bình thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.5: 10 thị trường có lượt khách đến Ninh Bình cao nhất từ năm 2023 – 2025

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)

Như vậy, hầu hết khách quốc tế đến từ các quốc gia Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, Đài Loan, Canada, Malaysia, Úc, Thái Lan, Pháp, Singapore. Chỉ tính riêng lượt khách từ 10 quốc gia này đến Ninh Bình đã chiếm hơn 70% số lượt khách quốc tế đến Ninh Bình (năm 2023 là 71.93%, năm 2024 là 74.76%, năm 2025 là 5.51% lượt khách). Đặc biệt là khách Trung Quốc luôn duy trì ở mức độ cao (trên 20% lượt khách), tuy nhiên năm 2025 du khách quốc tế đến Ninh Bình giảm. Theo tác giả nguyên nhân chính là do hành động Trung Quốc đơn phương hạ đặt trái phép giàn khoan 981 trên vùng biển Việt Nam từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2025 dẫn đến căng thẳng trong khu vực nói chung và căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc nói riêng làm cho khách quốc tế có tâm lý lo ngại khi đến Việt nam.

Căn cứ vào số liệu thống kê cho thấy, năm 2024 chỉ có duy nhất thị trường Singapore là có sự tăng trưởng. Năm 2025, du lịch Ninh Bình đã có những tín hiệu tích cực từ các thị trường Đức, Hồng Kông, Tây Ban Nha, Singapore, Canada, Italy, Hàn quốc, Lào, Anh so với năm 2024 được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.6:  Thị trường khách quốc tế đến Ninh Bình năm 2025 tăng so với năm 2024

Thị trường 2023 2024 2025
Số lượt (khách) Số lượt (khách) 2024/2023 (%) Số lượt (khách) 2024/2023 (%)
Đức 10,518 6,728 63.97 9,082 135
Hồng Kông 1,320 705 53.38 932 132
Tây Ban Nha 3,088 2,286 74.01 2,598 114
Singapore 17,195 20,536 119.44 23,280 113
Canada 32,748 23,583 72.01 25,787 109
Italy 3,092 2,214 71.62 2,324 105
Hàn Quốc 69,150 51,576 74.59 54,103 105
Lào 14,865 8,461 56.92 8,718 103
Anh 16,806 12,721 75.69 12,905 101

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình) Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Tóm lại, từ chỗ năm 2018 mới chỉ có khoảng gần một triệu lượt du khách, năm 2025, Ninh Bình đã đón được hơn 4,3 triệu lượt du khách đến với Ninh Bình đây là con số thật đáng ghi nhận cho du lịch tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, trái với những năm trước đó, kể từ năm 2023 trở lại đây, khách du lịch đến với Ninh Bình có xu hướng giảm. Theo tác giả, có một số nguyên nhân như sau: Thứ nhất, tốc độ thu hút khách du lịch đến với Ninh Bình trong những năm trước đó (trước năm 2023) cao hơn năng lực dịch vụ du lịch Ninh Bình tại thời điểm đó. Vì vậy, chất lượng dịch vụ chưa cao dẫn đến sụt giảm khách du lịch trong những năm gần đây (năm 2024, 2025). Thứ hai, thị trường khách quốc tế bị ảnh hưởng bởi hành động Trung Quốc đơn phương hạ đặt giàn khoan 981 trên vùng biển Việt Nam dẫn đến căng thẳng giữa hai nước cũng như trong khu vực. Điều này làm cho tâm lý khách quốc tế e ngại khi vào du lịch Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng đặc biệt là từ thị trường Trung Quốc luôn chiếm 1/4 tổng lượng khách quốc tế.

2.2.2.2. Dịch vụ vận chuyển

Các điểm du lịch Ninh Bình trong thời gian gần đây đã được Sở Giao thông Vận tải Ninh Bình lắp đặt trong hệ thống trục đường chính. Dịch vụ vận chuyển có sự đóng góp của các phương tiện vận chuyển cả về chủng loại, về số lượng và chất lượng, đó là:

Về vận chuyển đường bộ: Phát triển nhanh cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Hầu hết các công ty vận chuyển khách du lịch đã đầu tư mới hàng loạt xe, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch.

Về vận chuyển đường sắt: Ninh Bình là địa phương nằm trên tuyến đường sắt quốc gia Bắc – Nam, đây là tuyến đường sắt đóng góp một phần rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh với các địa phương khác trong vùng và trên toàn quốc. Toàn tỉnh Ninh Bình có 4 ga là: ga Ghềnh, ga Đồng Dao, ga Cầu Yên và ga Ninh Bình.

Về vận chuyển đường thuỷ: Ninh Bình có 22 sông, kênh có thể khai thác vận tải thủy với tổng chiều dài 387,3 km. Mật độ sông là 27,3 km/km2.

Phát triển và đổi mới chậm hơn so với các loại hình vận chuyển khác, do đó việc vận chuyển khách du lịch bằng đường thuỷ còn rất hạn chế. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Về vận chuyển bên trong điểm du lịch: Tính đến hết năm 2025, với khu vực Tràng An – Bái Đính đã đưa vào sử dụng hơn 200 xe điện và hàng nghìn đò đưa đón khách du lịch do vậy các địa điểm này không bị ảnh hưởng bởi tình trạng đón trả khách nhốn nháo và không còn dịch vụ xe ôm bắt khách dọc đường như thời gian trước đây.

Tóm lại, khách du lịch đến Ninh Bình chủ yếu di chuyển theo đường bộ. Năm 2025 nhìn chung chất lượng dịch vụ vận chuyển đáp ứng được các yêu cầu của khách du lịch đặc biệt không còn hiện tượng đón trả khách nhốn nháo. Phương tiện vận chuyển tại các điểm du lịch được tổ chức tốt cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch.

2.2.2.3. Dịch vụ tại điểm đến

  • a) Cơ sở lưu trú

Trong điều kiện vốn ngân sách còn khó khăn, tỉnh đang thực hiện từng bước xã hội hóa trong phát triển du lịch, tập trung nâng cấp hạ tầng kỹ thuật các tuyến giao thông và khu nghỉ dưỡng. Đến nay, cơ sở hạ tầng tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh cơ bản được hình thành như sau:

Bảng 2.7: Cơ sở lưu trú tỉnh Ninh Bình từ năm 2023 đến năm 2025

Cơ sở lưu trú ĐVT 2023 2024 2025
Số lượng Số lượng 2024/2023 Số lượng 2025/2024
Tổng số cơ sở lưu trú DL trong đó: Cơ sở 235 273 116% 286 105%
+ Khách sạn từ 1-4 sao Khách sạn 33 38 115% 42 111%
+ Tổng số phòng ngủ Phòng 3,628 4,102 113% 4,508 110%
+ Tổng số giường ngủ Giường 5,230 5,787 111% 7,227 125%

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)

Như vậy, tính đến 31/12/2025, toàn tỉnh có 286 cơ sở lưu trú, trong đó có 42 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 4 sao, tổng số phòng ngủ là 4,508 phòng, tổng số giường là 7227 giường. Cơ sở lưu trú chủ yếu tập trung ở thành phố Ninh Bình (127 cơ sở), huyện Hoa Lư (24 cơ sở), thị xã Tam Điệp, huyện Nho Quan, Gia Viễn (18 cơ sở)… là những khu vực có tiềm năng và hoạt động du lịch tương đối phát triển. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Bảng 2.8: Số lượng khách lưu trú qua đêm ở Ninh Bình từ năm 2023 đến năm 2025

Thị trường Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Lượt khách đến Ninh Bình  và lưu trú qua đêm Lượt khách đến Ninh Bình (2)/(3) Lượt khách đến Ninh Bình và lưu trú qua đêm Lượt khách đến  Ninh Bình (5)/6) Lượt khách đến Ninh Bình  và lưu trú qua đêm Lượt khách đến Ninh Bình (8)/(9)
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10)
Quốc tế 96,490 675,570 14% 132,852 521,548 25% 128,488 502,409 26%
Nội địa 312,388 3,074,430 10% 260,645 3,877,219 7% 306,395 3,799,160 8%
Cộng 408,878 3,750,000 24% 393,497 4,398,767 32% 434,883 4,301,569 34%

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)

Bảng số liệu trên cho thấy, số lượng khách quốc tế lưu trú qua đêm ở Ninh Bình năm 2023 là 96,490 lượt khách (chiếm 14%), năm 2024 là 132,852 lượt khách (chiếm 25%), năm 2025 là 128,488 lượt khách (chiếm 26%) các con số này là quá bé so với công bố của Tổng cục du lịch về cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam có nghỉ qua đêm tại các cơ sở lưu trú du lịch chiếm 95,09%.

Đối với khách nội địa, phần đông khách du lịch đi về trong ngày, tỉ lệ khách lưu trú qua đêm rất thấp hoặc không đáng kể. Số khách lưu trú qua đêm phần lớn là khách quốc tế nhưng số lượng này cũng chỉ chiếm 14% (năm 2023), 25% (năm 2024), 26% (năm 2025) tổng lượng khách đến Ninh Bình. Để đánh giá số lượng phòng có đáp ứng được nhu cầu lưu trú hay không cần phải xem xét đến yếu tố mùa vụ trong du lịch do vậy tác giả có thống kê số lượng khách du lịch theo tháng tỉnh Ninh Bình như sau:

Bảng 2.9: Số lượng khách nội địa đến Ninh Bình theo tháng từ năm 2023 đến 2025

Năm Tiêu chí Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
2023 Số  lượt khách (nghìn) Tỉ lệ (%) 133 4% 878 23% 1,185 32% 630 17% 204 5% 137 4% 127 3% 115 3% 105 3% 91 2% 88 2% 57 2%
2024 Số  lượt khách (nghìn) Tỉ lệ (%) 142 3% 874 20% 1,282 29% 653 15% 281 6% 195 4% 181 4% 171 4% 159 4% 165 4% 181 4% 114 3%
2025 Số  lượt khách (nghìn) Tỉ lệ (%) 241 6% 891 21% 1,083 25% 732 17% 270 6% 182 4% 170 4% 165 4% 157 4% 154 4% 145 3% 111 3%

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình) Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Như vậy, số lượng khách đến Ninh Bình thường rơi vào tháng 2, cao nhất vào tháng 3 và bắt đầu giảm vào tháng 4. Đây là dịp cuối năm cũ và đón năm mới theo phong tục người Việt và số khách du lịch này chủ yếu là đi về trong ngày và thường đến các địa điểm Bái Đính, Tam Cốc – Bích Động, Cố Đô Hoa Lư do vậy số lượng khách lưu trú qua đêm là không đáng kể. Số lượng khách quốc tế lưu trú qua đêm ở Ninh Bình được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.10: Số lượng khách quốc tế lưu trú qua đêm ở Ninh Bình

Năm Tháng (Số lượt khách)
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
2023 Số khách/phòng 6,651 8,884 11,627 7,823 6,623 6,668 4,975 8,518 8,842 9,430 8,710 8,629
1.83 2.45 3.20 2.16 1.83 1.84 1.37 2.35 2.44 2.60 2.40 2.38
2024 Số khách/phòng 8,743 12,147 14,562 12,748 13,112 9,493 8,836 9,206 9,089 11,101 12,523 8,828
2.13 2.96 3.55 3.11 3.20 2.31 2.15 2.24 2.22 2.71 3.05 2.15
2025 Số khách/phòng 11,941 14,265 14,518 10,445 9,690 6,374 9,113 10,663 8,309 11,103 11,911 7,272
2.65 3.16 3.22 2.32 2.15 1.41 2.02 2.37 1.84 2.46 2.64 1.61

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)

Nhìn chung, số lượng khách quốc tế đến Ninh Bình trải đều trong năm, riêng tháng 2 và tháng 3 có sự tăng trưởng hơn những tháng khác trong năm theo tác giả là do một lượng lớn khách Trung Quốc có nét tương đồng về tín ngưỡng du xuân đầu năm. Vào thời gian cao điểm tháng 2, tháng 3 số phòng được khai thác tối đa công suất (hơn 3 khách/phòng), các thời điểm còn lại tháng 1, tháng 4, tháng 5, tháng 7, tháng 8, tháng 11 công suất phòng đạt từ 56% – 70% công suất (2 khách/phòng đến 3 khách/phòng). Các thời điểm còn lại gồm 3 tháng là tháng 6, tháng 9, tháng 12 công suất khai thác thấp (nhỏ hơn 2 khách/phòng). Như vậy, tính về số lượng, du lịch Ninh Bình đang có số lượng phòng hợp lý. Tuy nhiên, xét về chất lượng dịch vụ thì cần phải xem lại vì thực chất chỉ có chưa đến 15% số cơ sở đã được thẩm định xếp hạng.

Tóm lại, nhìn chung cơ sở lưu trú trên địa bàn còn có quy mô nhỏ, dịch vụ và chất lượng phục vụ còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ và đa dạng bởi vì số cơ sở được thẩm định xếp hạng mới chỉ chiếm 14,3%. Nguyên nhân chính ở đây là do Ninh Bình chưa có những điểm vui chơi giải trí hay các dịch vụ vào buổi tối, ban đêm để giữ chân khách du lịch trong khi đó chỉ cần 1 giờ đồng hồ đi ô tô là du khách đã về đến Hà Nội, bởi vậy, rất khó thu hút được khách du lịch lưu trú qua đêm ở Ninh Bình.

  • Cơ sở ăn uống Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Hiện chưa có con số thống nhất về hệ thống các cơ sở kinh doanh ăn uống phục vụ du lịch. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng nhanh của khách du lịch cũng như các cơ sở kinh doanh lưu trú, hệ thống các cơ sở ăn uống ở các địa phương trong cả nước cũng phát triển nhanh. Hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ đều có các phòng ăn không những chỉ phục vụ cho khách nghỉ tại khách sạn mà còn phục vụ cả khách bên ngoài. Giá cả ở đây thường cao hơn từ 2 -3 lần so với các nơi khác, nên đối tượng khách của các cơ sở này thường là người có thu nhập cao, hoặc khách đi du lịch theo tour trọn gói. Ngoài các cơ sở ăn uống nằm trong các khách sạn ra, các cơ sở ăn uống nằm ngoài khách sạn cũng phát triển mạnh và hầu như các thành phần kinh tế đều tham gia kinh doanh dịch vụ này. Chủng loại đồ ăn – thức uống ở đây cũng phong phú, chất lượng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu không những cho nhiều loại đối tượng khách du lịch khác nhau mà còn cho cả nhân dân địa phương.

Về vấn đề an toàn thực phẩm và đồ uống ở các cơ sở ăn uống, từ năm 2023 đến 2025 chưa nghi nhận trường hợp nào liên quan đến mất an toàn thực phẩm. Tính đến hết 31/12/2025, có 144 cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống do Chi cục Quản lý và 928 cơ sở do tuyến huyện quản lý. Hàng năm, chi cục đã phối hợp với các ngành, địa phương chú trọng triển khai công tác đảm bảo VSATTP, trong đó tập trung vào 3 địa phương có hoạt động du lịch, lễ hội nhiều là: thành phố Ninh Bình, huyện Hoa Lư và Gia Viễn. Qua công tác kiểm tra, ưu điểm nổi bật là các cơ sở đã chấp hành tốt các thủ tục hành chính về ATTP, đáp ứng được các điều kiện về trang thiết bị, lao động tham gia chế biến thực phẩm, nguyên liệu, phụ gia thực phẩm nằm trong danh mục cho phép của Bộ Y tế, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, đảm bảo không có các chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Một số cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống có vùng nuôi trồng nguyên liệu thực phẩm riêng để chế biến như: Nhà hàng Thiên Nga, nhà hàng Hà Tú, khu du lịch sinh thái Thung Nham, Nhà hàng Thanh Xuân…

  • Cơ sở vui chơi, giải trí, mua sắm

Ninh Bình là tỉnh có thế mạnh về du lịch tâm linh, văn hóa, cũng như nhiều địa phương khác, thách thức lớn nhất của du lịch Ninh Bình vẫn là chưa kéo dài được thời gian lưu trú của du khách, sản phẩm lưu niệm còn đơn điệu nhàm chán, rẻ tiền, dẫn đến nguồn doanh thu tại các điểm du lịch tâm linh còn rất khiêm tốn, không đáng kể. Đặc biệt là các dịch vụ về buổi tối và đêm, đây cũng là nguyên nhân khách du lịch chỉ đến và về Ninh Bình trong ngày và doanh thu từ du lịch chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Nguyên nhân ở đây một phần là do du lịch Ninh Bình phát triển chậm hơn các tỉnh thành khác trong cả nước, do vậy mới chỉ tập trung khai thác tài nguyên hiện có, chưa có nghiên cứu cụ thể để hình thành các sản phẩm đáp ứng yêu cầu vui chơi, giải trí, mua sắm của khách du lịch

2.2.2.4. Điểm tham quan

Quần thể danh thắng Tràng An có diện tích khoảng 12.000ha, là tổ hợp của các điểm du lịch trọng điểm của tỉnh như: Khu du lịch sinh thái Tràng An, Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư, Khu tâm linh núi-chùa Bái Đính, Khu du lịch Tam Cốc- Bích Động. Mỗi khu, điểm du lịch ở đây có những thế mạnh, sản phẩm du lịch riêng, do đó đã có sức hút rất lớn đối với khách du lịch trong thời gian qua. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Do đó, Ninh Bình luôn là lựa chọn hàng đầu của những du khách muốn hành hương trong dịp đầu năm và cuối năm. Hiện nay, hầu hết khách du lịch Ninh Bình đều tập trung đến chùa Bái Đính, Tràng An, Cố đô Hoa Lư… không chỉ đông khách vào mùa cao điểm lễ hội mà còn hút khách ở nhiều thời điểm trong năm.

Bảng 2.11: Cơ cấu khách đến các địa điểm du lịch tỉnh Ninh Bình

Năm Tiêu chí Bái Đính Cố đô Hoa Lư Tràng An Khác Tổng cộng
2023 Số lượt khách 2,132,524 603,200 829,400 204,876 3,770,000
Tỉ lệ (%) 57% 16% 22% 5% 100%
2024 Số lượt khách 2,639,260 615,827 791,778 351,901 4,398,767
Tỉ lệ (%) 60% 14% 18% 8% 100%
2025 Số lượt khách 2,709,988 559,204 731,267 301,110 4,301,569
Tỉ lệ (%) 63% 13% 17% 7% 100%

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)

Theo bảng trên cho thấy phần lớn du khách đến chùa Bái Đính tăng đều qua các năm 2023 lần lượt là 2,132,524 lượt khách (chiếm 57% tổng lượt khách). Năm 2024 là 2,639,260 lượt khách (chiếm 60% tổng lượt khách), năm 2025 là 2,709,988 lượt khách (chiếm 63% tổng số lượt khách). Để có được thành công ngày theo tác giả là do chủ trương xã hội hóa đã kêu gọi các doanh nghiệp cùng tham gia đầu tư cho hoạt động du lịch. Cụ thể như ở Bái Đính, tính đến hết năm 2025, doanh nghiệp Xuân Trường đã hoàn thiện, đưa vào hoạt động hệ thống đường dẫn, bến xe rộng hơn 200 ha, trang bị thêm 100 xe điện phục vụ du khách,… Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Công tác bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch, các cơ sở kinh doanh du lịch được coi trọng. UBND tỉnh Ninh Bình đã ban hành nhiều văn bản, quy định về bảo vệ, khai thác có hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch. Vệ sinh môi trường tại các khu, điểm du lịch ngày càng tốt hơn, rác thải cơ bản được thu gom và xử lý đúng nơi quy định. Hệ thống nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn được xây dựng ở các khu, điểm du lịch như: Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư, khu du lịch sinh thái Tràng An, Tam Cốc- Bích Động, khu tâm linh núi chùa Bái Đính, Nhà thờ đá Phát Diệm, Vườn quốc gia Cúc Phương,… Đến nay, đã có 38 nhà vệ sinh đạt chuẩn phục vụ du khách trong nước và quốc tế. Tỉnh Ninh Bình được Tổng cục Du lịch đánh giá là một trong những địa phương có hệ thống nhà vệ sinh công cộng tại các khu, điểm du lịch tốt nhất trong cả nước.

Tóm lại, đến năm 2025, nhận thức rõ được tầm quan trọng của phát triển bền vững các điểm du lịch. Do vậy, các cấp chính quyền cũng cùng vào cuộc và có chuyển biến rõ nét đặc biệt xóa bỏ hoàn toàn nạn chèo kéo, ăn xin, tăng cường vệ sinh môi trường, an ninh trật tự. Đặc biệt là việc tuyên truyền nâng cao ý thức người dân sống trong các khu du lịch cũng như các vùng phụ cận.

2.2.2.5. Tư vấn khách du lịch

Để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, ngành Du lịch đã tư vấn trực tuyến và cung cấp thông tin du lịch Ninh Bình cho du khách và các công ty lữ hành. Quý IV – 2025 ước tính có 1.800 lượt khách xin tư vấn du lịch thông qua điện thoại và hộp thư điện tử. Đặc biệt vừa qua, UBND tỉnh vừa quyết định thành lập Trung tâm hỗ trợ khách du lịch trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Trung tâm có chức năng tham mưu về đầu mối kết nối thông tin giữa khách du lịch với các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến du lịch, chính quyền các cấp và đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch tại địa phương nhằm đảm bảo khách du lịch được hỗ trợ về thông tin, sử dụng dịch vụ du lịch thuận tiện, có chất lượng tương xứng với nhu cầu và đảm bảo an ninh, an toàn. Các bộ phận chuyên môn của Trung tâm gồm: Trạm hỗ trợ khách du lịch tại bến thuyền khu Tam Cốc – Bích Động; Trạm hỗ trợ khách du lịch tại Trung tâm bến thuyền Tràng An; Trạm hỗ trợ khách du lịch tại khu núi chùa Bái Đính – Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Hoa Lư.

2.2.2.6. Quản lý nguồn nhân lực

Bảng 2.12: Số lượng lao động DL tỉnh Ninh Bình từ năm 2023 đến năm 2025

Lao động ĐVT 2023 2024 2025
Lao động trong lĩnh vực du lịch Người 11,000 12,000 15,500
Tổng số lao động tỉnh Ninh Bình Người 479,366 485,694 508,221
Lao động trong lĩnh vực du lịch Ninh Bình so với tổng số lao động tỉnh Ninh Bình % 2.29 2.47 3.05

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình) Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Số lượng lao động tham gia hoạt động du lịch nhìn chung phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2021, định hướng đến năm 2026. Theo đó, đến năm 2026 có 15.900 lao động, trong đó có 5.485 lao động qua đào tạo. Hiện nay, số lượng lao động tham gia lĩnh vực này năm 2023 có 11 nghìn lao động (chiếm 2.29% lao động trong toàn tỉnh), năm 2024 có 12 nghìn lao động (chiếm 2.47% lao động trong toàn tỉnh), năm 2025 có 15,5 nghìn lao động (chiếm 3.05% lao động trong toàn tỉnh).

Bảng 2.13: Chất lượng lao động DL tỉnh Ninh Bình từ năm 2023 đến năm 2025

Chất lượng lao động Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Số lượng (người) Tỉ lệ  (%) Số lượng (người) Tỉ lệ (%) Số lượng (người) Tỉ lệ  (%)
Chưa qua đào tạo 3,740 34 3,360 28 4,030 26
Sơ cấp 4,400 40 4,440 37 5,580 36
Cao Đẳng, Trung cấp 2,750 25 3,960 33 5,270 34
Đại học, trên đại học 110 1 240 2 620 4
Tổng cộng 11,000 100 12,000 100 15,500 100

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)

Như vậy, chất lượng lao động tham gia hoạt động du lịch ở Ninh Bình vẫn còn yếu kém, chưa tương đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Cụ thể lực lượng lao động chưa qua đào tạo là 4,030 lao động bằng 73% quy hoạch (theo quy hoạch là phải có 5.485 lao động qua đào tạo), chất lượng lao động qua đào tạo có sự cải thiện nhưng tốc độ còn tăng còn rất chậm (tăng khoảng 2 – 3% mỗi năm).

Tóm lại, từ năm 2023 trở lại đây mặc dù du lịch luôn chiếm hơn 30% tổng thu toàn tỉnh nhưng chất lượng nguồn nhân lực tham gia hoạt động du lịch của Ninh Bình chưa được quan tâm đúng mức. Theo tác giả, một trong những vấn đề cấp thiết đối với Ninh Bình cần giành sự quan tâm đặc biệt để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tạo nền tảng, lợi thế cạnh tranh du lịch.

2.2.2.7. Quản lý các sản phẩm và dịch vụ du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Với vai trò là cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các ngành liên quan, các địa phương nơi tổ chức lễ hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm… Do đó, năm 2025 công tác tổ chức và quản lý lễ hội trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực.

Công tác quản lý lễ hội đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Công an tỉnh, các ngành liên quan, chính quyền địa phương, Doanh nghiệp Xuân Trường triển khai thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, nếp sống văn minh tại lễ hội và khu núi chùa Bái Đính. Về dự lễ hội, nhiều người dân, du khách đã bày tỏ sự hài lòng về công tác tổ chức và quản lý lễ hội năm nay đã có nhiều tiến bộ, dần đi vào nền nếp. Lễ hội được tổ chức trang trọng cả phần lễ và phần hội với việc kết hợp hài hòa các nghi lễ truyền thống và hiện đại, lồng ghép hoạt động tâm linh với hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao phong phú, đa dạng, tạo không khí vui tươi, sôi nổi phục vụ nhu cầu tham quan, chiêm bái của nhân dân trong suốt thời gian mở hội. Thông qua lễ hội đã góp phần tuyên truyền, giới thiệu cho người dân và du khách về truyền thống, lịch sử của vùng đất Cố đô Hoa Lư. Qua đó đẩy mạnh hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch để giới thiệu về vùng đất, con người Ninh Bình. Tham dự lễ hội, du khách không phải phiền hà, lo lắng về công tác an ninh trật tự khi các hoạt động mê tín dị đoan, dịch vụ văn hóa trái quy định, các vi phạm di tích, ăn xin, chèo kéo khách, trộm cắp… đã được phát hiện, giải quyết kịp thời, dần hạn chế. Bên cạnh đó, ý thức của du khách về dự lễ hội cũng có nhiều tiến bộ so với các năm trước khi hiện tượng cài tiền lẻ vào tay tượng, ném tiền xuống giếng, xả rác bừa bãi… dần được khắc phục. ấn tượng đẹp từ việc tổ chức lễ hội đầu tiên của năm 2026 trên địa bàn tỉnh không phải được xây dựng trong “ngày một, ngày hai”, mà là cả quá trình và sự nỗ lực, kiên quyết của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các địa phương cùng các ngành liên quan trong việc đưa hoạt động lễ hội vào nền nếp, xây dựng hình ảnh đẹp cho du khách khi đến tham quan, chiêm bái các di tích, khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các cấp, các ngành, các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền việc thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội, du lịch để mọi tổ chức, cá nhân biết, tích cực tham gia thực hiện Luật Di sản văn hóa, các quy định của Nhà nước về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh, thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội. Sở còn phối hợp với các đoàn thể, các địa phương có khu, điểm du lịch, lễ hội tổ chức họp dân và những người trực tiếp làm dịch vụ du lịch để tuyên truyền, vận động, phổ biến các văn bản, quy định của Nhà nước. Từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong thực hiện các quy định về nếp sống văn minh, nhất là những người trực tiếp tham gia làm công tác du lịch, dịch vụ như: các hướng dẫn viên, thuyết minh viên, thợ chụp ảnh, chèo đò, bán hàng… Đồng thời, trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về tăng cường công tác quản lý hoạt động lễ hội, Sở đã chủ trì thành lập đoàn kiểm tra, phối hợp với các ngành, các địa phương tiến hành thanh, kiểm tra, chấn chỉnh, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện xâm phạm di tích, danh lam thắng cảnh như: mê tín dị đoan, đồng bóng, việc đặt hòm công đức, đặt lễ, đặt tiền giọt dầu tùy tiện, các hành vi lưu hành văn hóa phẩm trái phép, ăn xin, chèo kéo khách, xe ôm, bán hàng rong, đổi tiền lẻ… để nghiêm khắc xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, năm 2025 là năm đầu tiên thực hiện Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 13-2-2025 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội trên địa bàn tỉnh, cùng với nỗ lực của Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các địa phương trong việc đưa hoạt động quản lý và tổ chức lễ hội vào nền nếp, lực lượng công an đã vào cuộc tích cực, thực hiện quyết liệt các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, giảm thiểu tai nạn và ùn tắc giao thông, đảm bảo an ninh trật tự. Các đối tượng ăn xin, tâm thần tại các lễ hội, các điểm du lịch đã được đưa về Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh chăm sóc theo quy định. Công tác kiểm tra về giá cả, hàng hóa, dịch vụ trong lễ hội được tăng cường. Đã ngăn chặn kịp thời các hành vi thu phí, nâng giá tùy tiện, bán hàng giả, hàng kém chất lượng tại các khu, điểm du lịch, Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

các lễ hội. Có sự quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm việc tổ chức các trò chơi dễ biến tướng sang đánh bạc, kinh doanh văn hóa phẩm đồi trụy. Tại các khu, điểm du lịch, lễ hội, Ban quản lý còn phối hợp với các ngành chức năng làm tốt công tác hỗ trợ du khách, kịp thời giải quyết các vụ việc phát sinh. Vì vậy, tình hình an ninh trật tự, văn minh du lịch được đảm bảo, tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho du khách khi đến tham quan, chiêm bái.

2.2.2.8. Hệ thống bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin

Hệ thống bưu chính viễn thông: Mạng lưới thông tin liên lạc đã phủ kín cả tỉnh với hệ thống tổng đài điện tử số hiện đại của bưu điện trung tâm tỉnh và bưu điện của tất cả huyện thị xã, hệ thống thông tin viễn thông vi ba, cáp quang Bắc – Nam chạy qua đảm bảo cho liên lạc nhanh chóng, thuận tiện giữa Ninh Bình với các địa phương, các vùng trong nước và liên lạc quốc tế.

Hệ thống công nghệ thông tin : Ninh Bình là một trong những điểm du lịch đã năng động sáng tạo ứng dụng công nghệ thông tin trong du lịch, đặc biệt là công tác quảng bá xúc tiến trên Website, phát hành đĩa CD – ROM và các ấn phẩm quảng bá du lịch khác do Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch Ninh Bình quản lý được xây dựng một cách khá chuyên nghiệp, cập nhập thông tin thường xuyên, phát hành rộng rãi, nhanh chóng và đã thực sự trở thành cầu nối giữa ngành du lịch Ninh Bình với các đối tượng khách du lịch, các nhà đầu tư và các tổ chức cá nhân quan tâm khác. Các doanh nghiệp du lịch cũng đã triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tuyên truyền giới thiệu sản phẩm của mình. Ngoài ra, những ứng dụng mới như hệ thống đặt buồng trung tâm (CRS) kết nối với các cơ sở dữ liệu của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch tại địa phương và tích hợp với các hệ thống phân phối toàn cầu (GDS), thương mại điện tử,…cũng đã được các doanh nghiệp du lịch ứng dụng trong hoạt động kinh doanh của mình.

2.2.2.9. Công tác quản lý Nhà nước về du lịch

Quán triệt và thực hiện chủ trương phát triển du lịch của Tỉnh ủy, theo từng giai đoạn các cấp, các ngành và các địa phương trong tỉnh đã từng bước xây dựng và triển khai thực hiện chương trình hành động, dự án về phát triển du lịch; quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2021, định hướng đến năm 2026; xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch đối với các khu du lịch trong tỉnh, đồng thời tiến hành đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch; xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Ninh Bình. Tranh thủ sự quan tâm của các bộ, ngành T.Ư, đã có nhiều dự án, công trình văn hóa phục vụ phát triển du lịch được Nhà nước đầu tư trên địa bàn, như: Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái Tràng An; Dự án tu bổ, tôn tạo di tích Cố đô Hoa Lư; Dự án xây dựng quảng trường và sân lễ hội phía trước đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành,… với tổng kinh phí dự toán trên 9 nghìn tỷ đồng. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong thời gian qua luôn được ngành du lịch Ninh Bình đẩy mạnh trên các phương tiện thông tin đại chúng, các hội chợ, hội thảo, Internet, phát hành ấn phẩm. Trong đó chú trọng công tác cập nhật tin, bài giới thiệu tiềm năng du lịch và phản ánh hoạt động của ngành VHTTDL trên các Website của ngành; xây dựng phiên bản ngôn ngữ tiếng Nhật trên Website Du lịch Ninh Bình. Duy trì, cập nhật đầy đủ tin, bài và đăng tải Banner phản ánh các hoạt động của ngành VHTTDL, thông tin tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp và các thông tin nổi bật khác trên trang Thông tin điện tử tổng hợp Du lịch Ninh Bình, chuyên trang quảng bá sản phẩm, dịch vụ du lịch Ninh Bình. Trung tâm Xúc tiến du lịch đã duy trì tốt hoạt động trang thông tin quảng bá Du lịch Ninh Bình trên mạng xã hội Facebook ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Tiếp tục hoàn thành xây dựng phiên bản ngôn ngữ tiếng Nhật trên trang Thông tin điện tử tổng hợp (Website) Du lịch Ninh Bình.

Trong 2025 đã thu hút trên 2.4 triệu lượt truy cập, tăng 31,5% so với cùng kỳ năm 2024; Biên tập, xuất bản 7.600 ấn phẩm quảng bá du lịch; cung cấp trên 6.000 tài liệu quảng bá du lịch tại các lễ hội, hội chợ, hội thảo, các sự kiện du lịch trong và ngoài nước…

Sở đã phối hợp với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tổ chức tham gia quảng bá, xúc tiến điểm đến du lịch Ninh Bình tại 7 lễ hội, hội chợ, tọa đàm quảng bá xúc tiến du lịch như: Ngày hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh năm 2026 với chủ đề “ấn tượng di sản thế giới tại Việt Nam”; Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam VITM Hà Nội 2026; Hội chợ Triển lãm Du lịch – Lữ hành Hoa phượng đỏ Hải Phòng 2026,… Đặc biệt, sự kiện Quần thể Danh thắng Tràng An trở thành Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới đã thúc đẩy ngành du lịch Ninh Bình có sự tăng trưởng mạnh.

Ngoài ra, ngành du lịch Ninh Bình đang từng bước hoàn thiện nội dung Album ảnh điện tử (video clip) quảng bá điểm đến Di sản Văn hóa, Thiên nhiên thế giới Quần thể Danh thắng Tràng An. Hoàn thành maket, biên tập nội dung tập gấp quảng bá Du lịch Ninh Bình song ngữ Việt – Anh. Phối hợp với các công ty lữ hành, phóng viên báo, đài về khảo sát xây dựng tour tuyến, sản phẩm du lịch và các bài viết quảng bá về di sản. Xây dựng kế hoạch tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về du lịch và lớp bồi dưỡng kiến thức du lịch bền vững năm 2025. Tư vấn trực tuyến và cung cấp thông tin du lịch Ninh Bình cho 400 lượt khách và công ty lữ hành qua điện thoại và hộp thư điện tử.

Với việc tăng cường các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong những tháng cuối năm, hứa hẹn sẽ đón nhiều lượt khách tham quan du lịch đến từ trong và ngoài nước, góp phần đưa ngành du lịch Ninh Bình ngày càng phát triển.

2.2.2.10. Liên kết Nhà nước và tư nhân:

Trong điều kiện vốn ngân sách còn khó khăn, tỉnh đang thực hiện từng bước xã hội hóa trong phát triển du lịch, tập trung nâng cấp hạ tầng kỹ thuật các tuyến giao thông và khu nghỉ dưỡng. Đến nay, cơ sở hạ tầng tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh cơ bản được đầu tư. Từ năm 2020 đến năm 2025, tỉnh thu hút 33 dự án đầu tư vào cơ sở vật chất du lịch với số vốn đăng ký gần 13 nghìn tỉ đồng. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Đáng kể nhất, là doanh nghiệp Xuân Trường đã tham gia đầu tư hàng nghìn tỉ vào khu Du lịch Tràng An – chùa Bái Đính cùng với việc xây dựng khách sạn Hoa Lư Ninh Bình. Năm 2025, doanh nghiệp tiếp tục đầu tư 200 tỉ trên diện tích 20.000m2 để xây dựng khách sạn hạng sang theo phóng cách Á Đông cổ điển, với nguyên vật liệu chính là các loại gỗ quý hiếm như trắc, cẩm lai, gỗ đỏ, phòng họp hội nghị cấp cao và phòng ăn uống có sức chứa 1000 khách, với thiết kế tương đồng nhà khách Tràng An, một công trình nổi tiếng khác của Ninh Bình. Doanh nghiệp Xuân Trường cũng đã được tỉnh Ninh Bình tin tưởng cho phép quản lý khu du lịch Bái Đính, khách sạn Hoa Lư. Thực tế cho thấy, dưới sự quản lý của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đã được tăng lên đáng kể so với thời gian trước đó.

Không chỉ dừng ở đó, tỉnh vẫn đang thực hiện tìm kiếm, kêu gọi các nhà đầu tư vào các dự án như sau:

Bảng 2.14: Danh mục các dự án đang kêu gọi đầu tư

TT Tên dự án Vốn đầu tư dự kiến Địa điểm
1 Công viên động vật hoang dã quốc gia 100 triệu USD Thuộc 03 xã Cúc Phương, Kỳ Phú và Phú Long, huyện Nho Quan ( diện tích khoảng 2.000 ha )

Đá Hàn, Vân Long, huyện Gia Viễn (diện tích khoảng 400 ha)

2 Khu vui chơi giải trí, nhà hàng, khách sạn, siêu thị, trung tâm thương mại và các dịch vụ khác. 150 – 200 triệu USD Xã Yên Đồng, huyện Yên Mô và xã Đông Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
3 Khu du lịch sinh thái tâm linh, văn hoá, khu bảo tồn thiên nhiên 100 triệu USD Khu du lịch sinh thái hồ Yên Quang
4 Khu du lịch cao cấp nhằm phục vụ khách du lịch Quốc tế và trong nước 100 triệu USD Phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

(Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Ninh Bình)

Bên cạnh đó, Trung tâm Xúc tiến du lịch đã liên kết các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh cùng chung tay góp sức với Nhà nước làm tốt công tác quảng bá du lịch. Kết quả, nhiều doanh nghiệp đã nhiệt tình cùng đóng góp kinh phí để mở rộng thuê thêm dung lượng sử dụng trên trang website, đóng góp kinh phí in ấn thêm nhiều ấn phẩm du lịch, sự cộng tác của các đơn vị, doanh nghiệp làm du lịch trong việc tiếp đón các đoàn làm phim tuyên truyền, quảng bá về du lịch. Đặc biệt, các doanh nghiệp làm du lịch trên địa bàn tỉnh luôn nhiệt tình phối hợp cùng trung tâm tham gia tuyên truyền, quảng bá tại các hội chợ du lịch tại các địa phương trên toàn quốc.

2.3. Tổ chức vận hành thị trường Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

2.3.1. Phương thức giao dịch

Mọi giao dịch giữa các tác nhân trong chuỗi diễn ra dưới hình thức: các công ty cung cấp dịch vụ: vận chuyển, khách sạn, nhà hàng,.. sẽ báo giá bằng miệng hoặc từ các hợp đồng hợp tác dịch vụ du lịch. Các công ty sẽ căn cứ vào những thông tin đó sẽ gửi bảng hợp đồng kinh tế để đặt dịch vụ theo giá được cung cấp.

2.3.2. Phương thức thanh toán

Phương thức thanh toán của các tác nhân như: vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, công ty du lịch sẽ theo quy định từng doanh nghiệp. Thông thường, khi đặt dịch vụ phải thanh toán trước 50% giá trị của dịch vụ sau khi dịch vụ được xác nhận và trước ngày thụ hưởng dịch vụ phải thanh toán số tiền còn lại của dịch vụ đã đặt. Việc thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.

2.3.3. Kết quả hoạt động kinh doanh Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Năm 2025, hoạt động du lịch đóng góp từ 5,5 – 6% GDP cả nước, tác giả cũng so sánh cơ cấu tổng thu ngân sách từ hoạt động du lịch của Ninh Bình, Quảng Bình và Quảng Ninh kết quả như sau:

Bảng 2.15: Cơ cấu doanh thu từ hoạt động du lịch với GDP của Quảng Ninh, Quảng Bình và Ninh Bình năm 2025

Tỉnh GDP (tỉ đồng) Doanh thu từ du lịch
Doanh thu (tỉ đồng) So với GDP (%)
Ninh Bình      34,577 943 2.72%
Quảng Ninh      91,260 4,510 4.94%
Quảng Bình      21,544 1,300 6.03%

(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội UBND tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Quảng Bình)

Như vậy có thể thấy mặc dù tỉnh Ninh Bình đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước (có nêu quy hoạch tổng thể Ninh Bình đến 2021, định hướng năm 2026 và quy hoạch tổng thể Ninh Bình đến 2040, định hướng 2050). Tuy nhiên, doanh thu từ du lịch năm 2025 chỉ chiếm 2,72% GDP của tỉnh điều này cho thấy doanh thu từ du lịch còn kém xa so với mặt bằng chung khi mà doanh thu trung bình ngành du lịch đóng góp khoảng 5,5% – 6% vào GDP cả nước.

Bảng 2.16: Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2023 đến 2025

TT Chỉ tiêu 2023 2024 2024/2023 2025 2025/2024
I Tổng cộng (lượt khách) 3,750,000 4,398,767 117% 4,301,569 98%
– Nội địa (lượt khách) 3,074,430 3,877,219 126% 3,799,160 98%
– Quốc tế (lượt khách) 675,570 521,548 77% 502,409 96%
II Doanh thu (Tr.đồng) 780,000 897,446 115% 942,779 105%
III Nộp ngân sách (Tr.đồng) 78,000 89,745 115% 94,278 105%

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình) Căn cứ bảng trên chúng ta thấy tổng lượt khách du lịch đến Ninh Bình năm 2024 là 4,398,767 lượt khách (tăng 17% so với 2023). Tuy nhiên, du lịch Ninh Bình không giữ được đà tăng trưởng ngày khi lượt khách du lịch đến Ninh Bình năm 2025 là 4,301,569 lượt khách (bằng 98% so với năm 2024). Mặc dù vậy, doanh thu từ hoạt động du lịch vẫn tăng qua các năm điều đó chứng tỏ chất lượng dịch vụ du lịch Ninh Bình ngày càng được cải thiện.

Chi tiêu bình quân khách du lịch cho một ngày là một trong những chỉ tiêu chất lượng, phản ánh mức độ thu nhập và khả năng chi tiêu của khách du lịch. Để phát huy được hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch nhiều quốc gia đã chú trọng về chỉ tiêu này. Họ không chỉ khai thác về tăng số lượng khách mà còn tập trung vào các thị trường mà chi tiêu bình quân của một ngày khách du lịch có ở mức cao. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Tổng số tiền chi tiêu bình quân một lượt khách quốc tế đến Ninh Bình năm 2023 là 74USD/ngày/khách, năm 2024 là 77.4USD/ngày/khách (tăng 0.5% so với năm 2023), năm 2025 là 82.2USD/ngày/khách (tăng 0.6% so với năm 2024). Tuy nhiên, chi tiêu bình quân này cũng chỉ bằng 97,3% bình quân của ngành du lịch cả ngước (năm 2025). Số tiền khách dành nhiều nhất là ăn uống sau đó là mua hàng hóa và đi lại. Chi tiêu bình quân 1 ngày của khách trong nước năm 2025 cũng chỉ đạt 488.600 đồng/ngày, bằng 69,4% so với bình quân chung.

Bảng 2.17: Chi tiêu bình quân 1 ngày khách quốc tế ở Ninh Bình

Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Chi (USD) 2024/2023 Chi (USD) 2025/2024
Thuê phòng 12.7 10.2 80% 13.8 135%
Ăn uống 18.2 22.3 123% 22.6 101%
Đi lại 14.5 15.9 110% 16.7 105%
Thăm quan 5.9 7.6 129% 8 105%
Mua hàng hóa 12.9 14.1 109% 12.7 90%
Vui chơi giải trí 2 2 100% 2 100%
Y tế 0.6 0.5 83% 0.4 80%
Chi khác 7.2 4.8 67% 6 125%
Tổng cộng 74 77.4 105% 82.2 106%

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)

2.4. Những kết quả và hạn chế của hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình

2.4.1. Kết quả Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

2.4.1.1. Du lịch là ngành kinh tế rất triển vọng

Mặc dù Ninh Bình chưa đạt được kỳ vọng chiếm 5% GDP của tỉnh (theo như quy hoạch) tuy nhiên tỉnh vẫn xác định du lịch là ngành kinh tế rất triển vọng không chỉ thể hiện ở trong các nghị quyết. Kết quả thực tế cho thấy từ năm 2023 đến 2025 doanh thu từ du lịch chiếm khoảng 3% GDP của tỉnh do vậy doanh thu từ hoạt động du lịch cũng có những đóng góp đáng kể đến nền kinh tế Ninh Bình.

2.4.1.2. Du lịch góp phần nâng cao đời sống tinh thần và ổn định xã hội Không thể phủ nhận du lịch đang góp phần giải quyết 15,5 nghìn việc làm cho người lao động (tính đến 31/12/2025). Điều này đã góp phần rõ rệt trong việc cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Hàng năm, toàn tỉnh luôn duy trì được 74 lễ hội lớn nhỏ qua đó góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân về văn hóa Ninh Bình bình nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung.

2.4.1.3. Du lịch đã gắn với việc bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, môi trường

Trong thời gian qua các khu di tích lịch sử đã được đầu tư cho việc khôi phục, tôn tạo, bảo tồn những giá trị văn hóa lịch sử. Các cấp chính quyền đã thường xuyên cập nhật những quy định về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp chấp hành đúng những quy định bảo vệ môi trường trong kinh doanh, sử dụng tiết kiệm điện, nước, hạn chế bao bì, chất thải thải ra môi trường. Đặc biệt, các dự án đầu tư phát triển du lịch đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ du lịch có trình độ hiểu biết về môi trường, về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế-xã hội, về Luật Bảo vệ Môi trường cũng như các chính sách, quy định của Nhà nước trong bảo vệ môi trường. Phát triển du lịch hợp lý, vừa tạo công ăn việc làm cho người dân tại các điểm du lịch, đồng thời khuyến khích họ bảo vệ, giữ gìn, cải tạo môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp.

2.4.1.4. Du lịch góp phần nâng cao hình ảnh con người Ninh Bình

Kể từ năm 2025 trở lại đây, các cấp chính quyền xây dựng khối dân vận khối dân vận và Ban quản lý khu du lịch, ký kết chương trình phối hợp công tác vận động quần chúng thực hiện nếp sống văn minh du lịch. Qua đó xóa bỏ tình trạng chèo kéo, ăn xin,… tình hình anh ninh trật tự được cải thiện rõ nét góp phần giới thiệu quảng bá hình ảnh đất nước con người Ninh Bình.

2.4.1.5. Nguyên nhân của những thành công Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Tính đa dạng về tài nguyên du lịch: Ninh Bình có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú (các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nguồn khoáng nước nóng… Sản phẩm DL không trùng lặp với sản phẩm DL nhiều địa phương khác trong khu vực, đặc biệt là những địa phương phụ cận như Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa. Điều này tạo cho du lịch Ninh Bình có được sức hấp dẫn DL riêng, khi mà tình trạng “trùng lặp” về sản phẩm DL đang là yếu tố cản trở sự phát triển DL đang phổ biến.

Hạ tầng DL phát triển: Ninh Bình là một địa phương nằm trên trục giao thông Bắc Nam được Chính Phủ quan tâm đầu tư nâng cấp nên hạ tầng DL nói riêng của Ninh Bình đã có những bước phát triển vượt bậc. Tam Cốc-Bích Động là một trong 20 khu DL chuyên đề của QG đã được sự quan tâm rất lớn của Chính Phủ hỗ trợ đầu tư phát triển CSHT DL, vì vậy hệ thống hạ tầng giao thông DL của Ninh Bình khá đồng bộ và phát triển, từ quốc lộ 1A du khách có thể tiếp cận dễ dàng tới các khu DL như cố đô Hoa Lư, Tràng An, Tam Cốc – Bích Động, Cúc Phương, Vân Long, Tam Điệp.

Hình ảnh về du lịch Ninh Bình được nhiều người biết đến: với nhiều địa danh nổi tiếng như: thắng cảnh Tam Cốc – Bích Động, quần thể di tích cố đô Hoa Lư, Cúc Phương vườn Quốc gia đầu tiên ở Việt Nam với hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới với điển hình còn được bảo tồn khá nguyên vẹn, hình ảnh khu bảo tồn đất ngập nước với cảnh quan đặc sắc như “Hạ Long trên cạn”…

Ninh Bình cách Thủ đô Hà Nội khoảng 90km, thời gian đi bằng đường bộ từ Hà Nội đến Ninh Bình chỉ mất trên 1giờ, do vậy có thể khẳng định đây chính là cũng là mạnh của du lịch Ninh Bình.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Bên cạnh những “điểm mạnh”, du lịch Ninh Bình cũng có những “điểm yếu” cần phải được xác định nhằm có được những giải pháp và chiến lược khắc phục phù hợp. Qua phân tích các yếu tố có liên quan đến tình trạng hạn chế trong phát triển du lịch Ninh Bình thời gian qua có thể thấy những “điểm yếu” chủ yếu của du lịch Ninh Bình bao gồm:

Thứ nhất: hạn chế về đội ngũ lao động (quản lý, tác nghiệp). Trong một thời gian, du lịch Ninh Bình tương đối phát triển và cộng vào đó là sự “bung ra” của hệ thống một số nhà khách đã “hình thành” một đội ngũ lao động tham gia hoạt động du lịch mang tính tự phát với năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động du lịch. Điều này thể hiện rất rõ ở chất lượng dịch vụ trong nhiều cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu điểm tham quan du lịch của Ninh Bình, thậm chí ở những điểm du lịch nổi tiếng như Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, v.v.

Mặc dù cũng nhận thức được “điểm yếu” này, tuy nhiên thời gian qua hoạt động quản lý, hướng dẫn các doanh nghiệp và tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ lao động chưa được đẩy mạnh ngang tầm với yêu cầu phát triển.

Thứ hai: hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt hệ thống khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên, các dịch vụ về ngân hàng, vui chơi giải trí. Hiện nay du lịch Ninh Bình đang phải đối mặt với một thực tế là do thực hiện quy hoạch và đặc biệt là quản lý quy hoạch du lịch, còn nhiều bất cập nên Ninh Bình hiện đang gặp khó khăn về mặt bằng trong xây dựng phát triển hệ thống các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nói chung, hệ thống các khu du lịch, khách sạn tiêu chuẩn 3 sao trở lên nói riêng và các khu vui chơi giải trí tầm cỡ. Tình trạng này càng trở nên khó khăn đối với khu vực nội đô thị xã và tại một số trọng điểm du lịch như Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Vân Long.

Đây không chỉ đơn thuần là một “điểm yếu” mà còn là thách thức đối với du lịch Ninh Bình trong quá trình phát triển tới đây với vai trò là một “trung tâm bổ trợ” quan trọng của trung tâm du lịch du lịch Hà Nội và phụ cận.

Thứ ba: hạn chế về sản phẩm du lịch; có sự chồng chéo về sản phẩm giữa khu, điểm du lịch và có sự hạn chế trong hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch so với yêu cầu phát triển. Hoạt động trong cơ chế thị trường, việc xây dựng các sản phẩm du lịch, đặc biệt là các sản phẩm du lịch đặc thù và hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch đến các thị trường du lịch trọng điểm là một trong những yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành công của kinh doanh du lịch. Mặc dù đã ý thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, việc đầu tư cho xây dựng phát triển các sản phẩm du lịch, nhất là các sản phẩm du lịch đặc thù và hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch còn nhiều bất cập.

Việc đầu tư để xây dựng một số sản phẩm đặc trưng của du lịch Ninh Bình được xác định trong các quy hoạch tổng thể như du lịch làng quê, du lịch sinh thái với việc khai thác các giá trị của hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới ở Cúc Phương, hệ sinh thái đất ngập nước Vân Long với việc quan sát Voọc quần đùi trắng; du lịch làng nghề, tham quan nhà thờ đá Phát Diệm ở Kim Sơn, du lịch mạo hiểm tại Cúc Phương, v.v. vẫn chưa có được sự quan tâm thỏa đáng.

Hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch của Ninh Bình cho đến nay vẫn chưa có được một chiến lược cụ thể vì vậy các hoạt động trong thời gian qua chỉ mang tính “tình thế” và dựa vào nguồn ngân sách vốn rất hạn hẹp của địa phương cũng như từ  sự hỗ trợ của Chương trình Hành động Quốc gia về Du lịch.

Thứ tư: ảnh hưởng của tính mùa vụ trong hoạt động du lịch. Trong những năm trở lại đây phần lớn du khách nội địa đến chùa Bái Đính theo phong tục tập quán tín ngưỡng người Việt mà chủ yếu du khách tăng dần vào tháng 2, cao điểm tháng 3 và giảm dần vào tháng 4. Vì vậy tính mùa vụ trong du lịch văn hóa tâm linh là rất rõ nét. Ngoài ra, Ninh Bình còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của đặc điểm khí hậu á nhiệt đới ở khu vực phía Bắc bên cạnh những ảnh hưởng khác mang tính xã hội như “mùa” lễ hội; “mùa” nghỉ hè của học sinh, sinh viên; “mùa” du lịch của khách du lịch quốc tế, đặc biệt từ các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Thứ năm: tính liên kết của Ninh Bình với các địa phương phụ cận, đặc biệt với Hà Nội trong hoạt động du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Ngoài ra chưa chú trọng xây dựng và hình thành được mô hình chuỗi giá trị du lịch.  Với vai trò là một trọng điểm quan trọng trong trung tâm du lịch của vùng du lịch Hà Nội và phụ cận, việc liên kết giữa du lịch Ninh Bình với du lịch các địa phương trong vùng, đặc biệt với du lịch Hà Nội là rất quan trọng. Sự liên kết này không chỉ góp phần thúc đẩy du lịch Ninh Bình phát triển mà còn có ý nghĩa đối với hoạt động du lịch các địa phương trong vùng, làm tăng sức hấp dẫn và tính cạnh tranh của các sản phẩm du lịch mang tính vùng. Tuy nhiên thời gian qua, du lịch Ninh Bình chưa chủ động tạo ra sự liên kết này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế các dòng khách đến Ninh Bình, đặc biệt từ Hà Nội cũng như các tours du lịch trong không gian du lịch Hà Nội và phụ cận chưa được hình thành một cách rõ nét; chưa tạo được hình ảnh du lịch chung của vùng, trong đó Ninh Bình là một điểm đến quan trọng.

Thứ sáu: hạn chế trong quản lý, thực hiện quy hoạch du lịch. Ninh Bình được xem là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước về công tác quy hoạch phát triển du lịch. Ngay từ năm 1995, Ninh Bình đã thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình thời kỳ 1996 – 2021. Bên cạnh đó, Ninh Bình cũng đã tham gia thực hiện quy hoạch phát triển du lịch trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận thời kỳ đến năm 2021 và định hướng đến năm 2040.

Tuy nhiên, việc quản lý thực hiện các quy hoạch phát triển du lịch còn có nhiều bất cập, chưa được như mong muốn. “Điểm yếu” này của du lịch Ninh Bình thể hiện ở việc “bê tông hóa” nhiều hạng mục công trình của khu du lịch quốc gia Tam Cốc-Bích Động – một trọng điểm du lịch của Ninh Bình với thế mạnh về du lịch sinh thái, nơi cảnh quan và môi trường được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu. Nhiều du khách, đặc biệt là khách du lịch quốc tế, rất thất vọng với “cách” đầu tư xây dựng những hạng mục thiếu sự hài hoà với cảnh quan thiên nhiên ở khu du lịch này.

Tình trạng hạn chế trong thực hiện quy hoạch còn thể hiện trong việc hình thành một cách thiếu cân nhắc về vị trí, về quy mô và công năng sử dụng của hệ thống cơ sở lưu trú trong không gian khu du lịch Vân Long, một khu du lịch sinh thái được đánh giá là có triển vọng nhất không chỉ đối với du lịch Ninh Bình mà còn đối với trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận cũng như du lịch Bắc Bộ. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Du lịch Ninh Bình  phát triển trong thế cạnh tranh rất lớn, trước hết là với Hà Nội và một số địa phương như Hà Tây, Vĩnh Phúc, trong điều kiện du lịch Ninh Bình còn phát triển ở mức thấp: Song hành với những thuận lợi và cơ hội khi Ninh Bình nằm trong trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận là những thách thức rất lớn khi sự phát triển của du lịch Ninh Bình phải đối mặt với sự cạnh tranh của du lịch Hà Nội và một số địa phương có tiềm năng khác trong vùng như Hà Tây, Vĩnh Phúc. Sự cạnh tranh này là tất yếu đối với mọi hoạt động phát triển trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên thách thức này đối với du lịch Ninh Bình càng trở nên to lớn khi hình ảnh du lịch Ninh Bình còn mờ nhạt, sản phẩm du lịch của Ninh Bình nhìn chung còn đơn điệu, phát triển ở mức thấp và chưa phát huy được hết những tiềm năng đặc thù của địa phương.

Tác động của hoạt động phát triển đô thị và công nghiệp: Một trong những định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Ninh Bình là phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng với trọng tâm là sản xuất xi măng và vật liệu đá xây dựng trên cơ sở khai thác tiềm năng tài nguyên to lớn về đá vôi. Bên cạnh đó, hệ thống đô thị của Ninh Bình cũng sẽ được đầu tư mở rộng, đặc biệt là việc phát triển thành phố Ninh Bình lên đô thị loại 1, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương tương xứng với vị trí của Ninh Bình trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội chung của vùng Bắc Bộ.

Để có thể hạn chế được tác động của thách thức này, cần thiết phải có sự điều chỉnh phương án quy hoạch tổng thể, đặc biệt là về tổ chức các không gian kinh tế chức năng, phù hợp trên cơ sở những phân tích khoa học khách quan nhằm hạn chế những tác động đến môi trường du lịch của Ninh Bình.

Sự xuống cấp của tài nguyên, môi trường du lịch mà trong đó tình trạng “chồng chéo” trong quản lý là một bất cập lớn. Đây là thách thức không chỉ của Ninh Bình mà còn là thách thức chung của du lịch Việt Nam. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ở nhiều điểm tài nguyên du lịch có giá trị của Ninh Bình với sự  xuống cấp của nhiều điểm di tích lịch sử văn hoá, suy giảm đa dạng sinh học ở các khu tự nhiên do hoạt động khai thác không được quản lý, cảnh quan bị xâm hại do khai thác đá…Có nhiều nguyên nhân của tình trạng này, tuy nhiên một trong những nguyên nhân cơ bản chính là tình trạng “chồng chéo” trong quản lý tài nguyên.

Du lịch Ninh Bình phát triển trong bối cảnh chịu sức ép về trách nhiệm bảo tồn các giá trị văn hoá và tự nhiên: Cúc Phương – được công nhận là vườn quốc gia đầu tiên ở Việt Nam; Vân Long được công nhận là khu bảo tồn đất ngập nước lục địa đầu tiên ở khu vực phía Bắc với việc bảo tồn loài Voọc quần đùi trắng còn tồn tại duy nhất trên thế giới; Hoa Lư, Tràng An với các di tích lịch sử văn hoá đặc biệt có giá trị cấp quốc gia và tầm thế giới. Với sự công nhận đó, nhiều địa danh ở Ninh Bình đã và đang là điểm đến du lịch nổi tiếng không chỉ của Ninh Bình mà còn của du lịch Việt Nam và khu vực thu hút ngày càng đông khách du lịch. Kết quả của sự gia tăng lượng khách đến những địa điểm này sẽ là sức ép đến cảnh quan, môi trường, đến sự tồn tại của các công trình di tích, trong khi sự phát triển các hoạt động kinh tế – xã hội, trong đó có hoạt động du lịch, ở địa điểm này sẽ phải tuân thủ những quy định bảo vệ có tính pháp lý theo tinh thần các Luật hiện hành của Việt Nam cũng như của quốc tế mà Việt Nam đã cam kết. Đây chính là một thách thức không nhỏ của du lịch Ninh Bình trước mâu thuẫn giữa cơ hội và mong muốn tăng lượng khách với nhiệm vụ bảo tồn các giá trị văn hoá, tự nhiên cho phát triển bền vững.

Nhận thức của xã hội về du lịch còn bất cập: Mặc dù thời gian qua đã có những thay đổi về nhận thức đối với tầm quan trọng của hoạt động phát triển du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, tuy nhiên thực tế cho thấy nhận thức này của xã hội, đặc biệt của các nhà quản lý, còn có những bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của du lịch Ninh Bình tương xứng với vị trí, vai trò. Điều này thể hiện rõ trong sự phát triển công nghiệp với việc khai thác đá làm ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường; trong những chính sách chưa thoả đáng đối với hoạt động đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch, và đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt vai trò quản lý nhà nước về du lịch của Sở Du lịch Ninh Bình cũng chưa tương xứng với yêu cầu phát triển.

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

Có thể nói, trên phạm vi cả nước, ít có địa phương nào có được những lợi thế về du lịch như Ninh Bình. Rất nhiều những giá trị đặc biệt đang hiện hữu tại Ninh Bình và nó trở thành những điểm nhấn của du lịch Ninh Bình, tạo nên một Ninh Bình non nước hữu tình.

Đối với du lịch, tỉnh Ninh Bình là tỉnh phát triển muộn hơn so với các tỉnh, thành phố trong cả nước bởi vốn là tỉnh thuần nông. Tuy nhiên, Ninh Bình cùng với Hà Nội và Quảng Ninh được xác định là các trung tâm du lịch cấp quốc gia ở vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc. Điều này cho thấy Chính phủ đặc biệt quan tâm đến việc phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình. Cùng với sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể trong tỉnh khá nhanh, tạo nên các chuyển biến, giúp xây dựng và phát triển “ngành công nghiệp không khói”. Năm 2025, ngành du lịch Ninh Bình đón hơn 4,6 triệu lượt du khách. Điều này không chỉ có ý nghĩa do du lịch mà còn có ý nghĩa cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội. Những cố gắng đó thật đáng ghi nhận cho một tỉnh mới phát triển du lịch như Ninh Bình.

Tuy đạt được những thành công trên, thực tế cho thấy việc phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Cụ thể, theo chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2040, năm 2026 tỉnh cần đạt được 4,7 triệu lượt khách (thực tế đạt 4,6 triệu lượt khách), doanh thu từ hoạt động du lịch so với GDP còn chưa bằng bình quân chung của ngành. Đặt ra rất nhiều thách thức cho tỉnh Ninh Bình đặc biệt là việc thu hút khách du lịch đến tỉnh nhà. Một trong những vấn đề cấp bách có thể giải quyết ngay ở thời điểm này đó là định hướng phát triển chuỗi giá trị du lịch trên cơ sở tận dụng thế mạnh sẵn có của mỗi tổ chức qua đó sẽ tạo sức mạnh trong liên minh. Từ đó mới tăng sức cạnh tranh cả về giá cả cũng như chất lượng ,nâng cao sự hài lòng ở khách du lịch.

Như đã đề cập ở Chương 1, thực tế cho thấy việc định hướng phát triển chuỗi giá trị du lịch là một tất yếu trong quá trình hội nhập. Ngay trong khu vực các nước như Thái Lan, Singapore đã rất thành công trong việc phát triển chuỗi giá trị du lịch tạo nên sức hút rất lớn với du khách trên toàn thế giới. Việt Nam nói chung, tỉnh Ninh Bình nói riêng cũng không nằm trong xu hướng tất yếu đó. Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình

One thought on “Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình

  1. Pingback: Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464