Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty cổ phần và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty cổ phần

2.1.1. Thực trạng quy định pháp luật về mô hình ban kiểm soát công ty cổ phần

2.1.1.1. Quy định về tiêu chuẩn và điều kiện trở thành thành viên Ban kiểm soát

Hoạt động của BKS được tiến hành thông qua thành viên BKS. Các thành viên BKS phải đáp ứng được những tiêu chuẩn và điều kiện nhất định. Theo quy định tại Điều 169 LDN 2020, thành viên BKS phải đáp ứng những tiêu chuẩn và điều kiện như sau:

Một là, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định của LDN 2020, đó chính là các đối tượng được quy định tại Điều 17, khoản 2, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự, Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt từ, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án, các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản phòng chống tham nhũng (Chủ doanh nghiệp tư nhân, Thành viên hợp danh của công ty hợp danh, GĐ/TGĐ; Chủ tịch và các thành viên HĐQT; Hội đồng thành viên của doanh nghiệp; Chủ tịch HĐQT của hợp tác xã).

Hai là, không phải là người có quan hệ gia đình [cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột] của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác

Ba là, Không được giữ các chức vụ quản lý công ty, không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao động của công ty.

Bốn là, Được đào tạo một trong các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

Tác giả luận văn cho rằng LDN 2020 đã có những bước tiến so với LDN 2014 khi bổ sung quy định yêu cầu về chuyên môn, kinh nghiệm đối với thành viên BKS. Kiểm soát viên phải là người có bằng đại học thuộc một trong các chuyên ngành về tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh. Quy định này sẽ giúp bổ sung đầy đủ năng lực tổng thể cần thiết giúp BKS có khả năng thực hiện toàn diện và có kết quả tất cả các vai trò, nhiệm vụ của mình.

2.1.1.2. Quy định về việc bầu thành viên Ban kiểm soát Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Việc bầu thành viên BKS trong CTCP được quy định tại khoản 5, Điều 115 LDN 2020: “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Ban kiểm soát.” ; đồng thời tại Khoản 5, Điều 115 LDN 2020 còn quy định: “Căn cứ số lượng thành viên Ban kiểm soát, cổ đông hoặc nhóm cổ đông được quyền đề cử một hoặc một số người theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cử viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Trường hợp số ứng cử viên được cổ đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử”.

Như vậy, việc bầu thành viên BKS theo quy định tại khoản 5, Điều 115 LDN 2020 thì chỉ có cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty mới có quyền để cử người làm ứng cử viên vào BKS. Trường hợp số ứng cử viên được đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ có quyền đề cử theo quyết định của ĐHĐCĐ, thì số ứng cử viên còn lại do HĐQT, BKS và các cổ đông khác đề cử.

2.1.1.3. Quy định về miễn nhiệm, bãi nhiệm và bổ sung thành viên Ban kiểm soát

Dưới góc độ luật thực định, việc miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên BKS được quy định tại Điều 174 LDN 2020 như sau:

Một là, Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm Kiểm soát viên trong trường hợp sau đây:

  • Không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện làm Kiểm soát viên theo quy định tại Điều 169 của LDN năm 2020;
  • Có đơn từ chức và được chấp thuận;
  • Trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.

Hai là, Đại hội đồng cổ đông bãi nhiệm Kiểm soát viên trong trường hợp sau đây:

  • Không hoàn thành nhiệm vụ, công việc được phân công;
  • Không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong 06 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng;
  • Vi phạm nhiều lần, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của Kiểm soát viên theo quy định của LDN năm 2020 và Điều lệ công ty; Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
  • Trường hợp khác theo nghị quyết Đại hội đồng cổ đông.

LDN 2020 quy định các trường hợp miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên BKS có tác dụng làm cho thành viên BKS phải có trách nhiệm hơn đối với công việc của mình qua đó đánh giá được kết quả hoạt động của từng thành viên BKS, đồng thời hạn chế những xung đột lợi ích giữa thành viên BKS với cổ đông công ty.

So với các đạo LDN trước đây thì LDN 2020 quy định đầy đủ và chi tiết hơn các trường hợp KSV sẽ bị miễn nhiễm, bãi nhiệm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như quyền lợi chung của cả tập thể. Việc quy định các trường hợp KSV bị miễn nhiệm, bãi nhiệm nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Trường hợp KSV vi phạm nghĩa vụ của mình có nguy cơ gây thiệt hại cho công ty mà chỉ bị miễn nhiệm là hình thức kỷ luật chưa thực sự nghiêm khắc, LDN 2020 đã quy định chặt chẽ hơn các trường hợp miễn nhiệm tại khoản 2, Điều 174.

2.1.1.4. Quy định về thành phần, cơ cấu của Ban kiểm soát

Về mặt pháp lý thì thành phần, cơ cấu của BKS được quy định tại Điều 168 của LDN 2020 như sau:

(i) Ban kiểm soát có từ 03 đến 05 Kiểm soát viên. Nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.

(ii) Trưởng Ban kiểm soát do Ban kiểm soát bầu trong số các Kiểm soát viên; việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo nguyên tắc đa số. Quyền và nghĩa vụ của Trưởng Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định. Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số Kiểm soát viên thường trú tại Việt Nam. Trưởng Ban kiểm soát phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định tiêu chuẩn khác cao hơn.

(iii) Trường hợp Kiểm soát viên có cùng thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Kiểm soát viên nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì Kiểm soát viên đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ cho đến khi Kiểm soát viên nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ”.

Như vậy, theo quy định tại khoản 1, Điều 168 LDN 2020 thì BKS phải có tối thiểu là 3 và tối đa là 5 thành viên. Quy định này đã đáp ứng việc bầu Trưởng BKS được quy định tại khoản 2, Điều 168 LDN 2020 và việc xác định nơi cư trú của các thành viên BKS cũng được quy định rõ ràng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

LDN 2020 quy định nhiệm kỳ của BKS là 5 năm và không hạn chế nhiệm kỳ làm thành viên BKS. Điều này có nghĩa là thời gian hoạt động của thành viên BKS dài hay ngắn sẽ phụ thuộc vào năng lực, phẩm chất, uy tín của họ đối với cổ đông. Những cá nhân có năng lực, uy tín sẽ không bị bó buộc trong giới hạn về thời gian làm thành viên BKS. Điều đó tạo thuận lợi cho cổ đông tìm được những người có đức, có tài bảo vệ quyền lợi của họ và công ty.

Đồng thời, LDN năm 2020 vẫn tiếp tục kế thừa quy định LDN 2014 trước đây về quy định số lượng thành viên tối thiểu và số lượng thành viên tối đa của BKS chứ không do Điều lệ công ty quy định. Từ đó sẽ dẫn tới các quy định về xác định nơi thường trú của thành viên BKS “BKS phải có hơn một nửa thành viên thường trú ở Việt Nam” và quy định về việc bầu Trưởng BKS “các thành viên BKS bầu 1 người trong số họ làm Trưởng BKS” có cơ sở thực hiện trong thực tiễn.

Về kỹ thuật lập pháp, việc quy định Trưởng BKS trong CTCP phải có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực tài chính kiểm toán kế toán hay kiểm soát là phù hợp với thông lệ quốc tế đối với các ban có chức năng kiểm tra, giám sát trong các CTCP. Tuy nhiên, điểm mới so với LDN năm 2014 đó là LDN năm 2020 đã bải bõ quy định cứng việc quy định “cứng” trong LDN năm 2014 đó là “Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp” mà chỉ đưa ra yêu cầu “Trưởng Ban kiểm soát phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định tiêu chuẩn khác cao hơn”. Bởi, quy định tại LDN năm 2014 sẽ có thể dẫn đến trường hợp một số CTCP không có ứng viên phù hợp với vị trí Trưởng BKS, vì có thể có ứng viên có phẩm chất đạo đức, uy tín có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhưng không phải là “kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp”. Trường hợp cử nhân Luật hoặc Luật sư (nắm rất vững pháp luật) thì có được làm Trưởng BKS không? Ngược lại, có thể có ứng viên là “kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp” nhưng không có đủ phẩm chất, uy tín với cổ đông nên cũng không thể làm Trưởng BKS được.

2.1.1.4. Quy định về các quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát

Hội đồng quản trị và BKS trong CTCP đều do ĐHĐCĐ bầu ra. BKS chịu trách nhiệm trước cổ đông vì thế xét về phương diện thành lập thì BKS ngang hàng với HĐQT nhưng khi thực thi nhiệm vụ của mình thì một số hoạt động của HĐQT là đối tượng giám sát của BKS.

LDN 2020 quy định chức năng cơ bản nhất của BKS là thay mặt chủ sở hữu (cổ đông) giám sát HĐQT, GĐ/TGĐ và các thành viên quản lý khác trong việc tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty, nghị quyết của ĐHĐCĐ và việc tuân thủ nghĩa vụ của người quản lý. Từ những chức năng này, BKS có các quyền được quy định tại Điều 170 LDN 2020, như sau:

Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty

Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh; tính hệ thống, nhất quán và phù hợp của công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.

Thẩm định tính đầy đủ, hợp pháp và trung thực của báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và 06 tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị và trình báo cáo thẩm định tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên. Rà soát hợp đồng, giao dịch với người có liên quan thuộc thẩm quyền phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông và đưa ra khuyến nghị về hợp đồng, giao dịch cần có phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông.

Rà soát, kiểm tra và đánh giá hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro và cảnh báo sớm của công ty. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Xem xét sổ kế toán, ghi chép kế toán và tài liệu khác của công ty, công việc quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo nghị quyết Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 115 của LDN năm 2020.

Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 115 của LDN năm 2020, Ban kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông hoặc nhóm cổ đông có yêu cầu. Việc kiểm tra của Ban kiểm soát quy định tại khoản này không được cản trở hoạt động bình thường của Hội đồng quản trị, không gây gián đoạn điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, giám sát và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc vi phạm quy định tại Điều 165 của LDN năm 2020 phải thông báo ngay bằng văn bản cho Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

  • Tham dự và tham gia thảo luận tại các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và các cuộc họp khác của công ty.
  • Sử dụng tư vấn độc lập, bộ phận kiểm toán nội bộ của công ty để thực hiện nhiệm vụ được giao.
  • Ban kiểm soát có thể tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông.
  • Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của LDN năm 2020, Điều lệ công ty và nghị quyết Đại hội đồng cổ đông.

Như vậy, những hoạt động quản lý, điều hành của công ty được thực hiện bởi HĐQT, GĐ/TGĐ, những người quản lý khác và người có lợi ích liên quan trọng một số trường hợp cụ thể là đối tượng giám sát của BKS trong CTCP. Mục đích hoạt động giám sát của BKS là nhằm đảm bảo các chủ thể quản lý và điều hành trong CTCP tuân thủ các chuẩn mực về tính hợp lý, hợp pháp, trung thực, cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh trong tổ chức công tác kế toán, thống kê, lập báo cáo tài chính. Hoạt động này của BKS sẽ dẫn đến hệ quả là các chủ thể quản lý, điều hành CTCP phải thận trọng hơn trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Mọi quyết định của các chủ thể quản lý, điều hành CTCP phải đem lại lợi ích cho CTCP, cho sự bền vững phát triển của CTCP. Nếu các chủ thể quản lý, điều hành không vì lợi ích của công ty, thì với chức năng giám sát của mình. BKS có quyền yêu cầu họ dùng các hành vi xâm phạm đến lợi ích của công ty hoặc yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ để xem xét về vấn đề này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Bên cạnh chức năng giám sát, hoạt động thẩm định các báo cáo cũng là chức năng không kém phần quan trọng trong thực thi nhiệm vụ của BKS. Đây là bước kiểm tra cuối cùng trước khi được ĐHĐCĐ thông qua. Sự nhận xét khách quan và chính xác của BKS giúp các cổ đông định hướng mục tiêu đầu tư và có cái nhìn chính xác về hiệu quả công tác quản lý và điều hành công ty của HĐQT, GĐ/TGĐ. Trên cơ sở đó, các cổ đông tín nhiệm hoặc không tín nhiệm bộ máy lãnh đạo CTCP cũng như quyết định tiếp tục đầu tư hay thoái vốn khỏi CTCP.

Để thực hiện được thẩm quyền trên BKS có quyền xem xét sổ kế toán, ghi chép kế toán và các tài liệu khác của CTCP, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của CTCP khi xét thấy cần thiết, theo nghị quyết của ĐHĐCĐ hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền tham dự và tham gia thảo luận tại các tại các cuộc họp ĐHĐCĐ, HĐQT và các cuộc họp khác của CTCP; được sử dụng tư vấn độc lập, bộ phận kiểm toán nội bộ của CTCP để thực hiện các nghĩa vụ được giao.

Ban kiểm soát thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình trong hầu hết các hoạt động quản lý, điều hành của những người quản trị trong CTCP. LDN 2020 đã quy định cụ thể, rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của BKS, qua đó khẳng định sự độc lập trong hoạt động của BKS đối với các cơ quan quản lý, điều hành trong CTCP. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của BKS được chia thành các nhóm sau:

Thứ nhất, quyền kiểm tra, thẩm định: Việc quy định BKS kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính bao hàm sự định tính nhiều hơn vì trên thực tế người điều hành công ty có nhiều lý do để biện minh và cho rằng khi thực hiện quyết định đó, họ đã đảm bảo cho những quyết định của mình là hợp lý, hợp pháp, không vụ lợi và có mức độ cẩn trọng cần thiết.

Việc quy định BKS có trách nhiệm thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh báo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT; Trình báo cáo thẩm định báo cáo tài chính báo cáo tình hình kinh doanh hàng năm của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT lên ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên. Như vậy, báo cáo thẩm định báo cáo tài chính báo cáo tình hình kinh doanh hàng năm của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT của BKS là một “kênh thông tin quan trọng” cho các cổ đông người có lợi ích liên quan có cái nhìn tổng thể về hoạt động kinh doanh của CTCP. Tuy nhiên, đây không phải là báo cáo bắt buộc nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bởi báo cáo phải nộp chỉ là báo cáo tài chính hàng năm đã được ĐHĐCĐ thông qua. Chế độ công khai về CTCP chỉ có báo cáo tài chính hàng năm đã được ĐHĐCĐ thông qua, báo cáo đánh giá kết quả hoạt động hằng năm của HĐQT và BKS.

Thứ hai, quyền kiến nghị các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến: Xuất phát từ địa vị pháp lý của BKS không phải là cơ quan quản lý trong công ty nên KSV BKS chỉ được kiến nghị những giải pháp để từ đó hoạt động quản lý và điều hành công ty được hoàn thiện hơn LDN 2020 quy định BKS có quyền kiến nghị HĐQT hoặc ĐHĐCĐ “các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, giám sát và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty” (khoản 7, Điều 170 LDN 2020). Quy định này làm cho vai trò của BKS trong quá trình thực thi quyền và nhiệm vụ của mình có ảnh hưởng nhất định đối với các chủ thể bị giám sát khi quyết định các vấn đề trong hoạt động của CTCP. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Thứ ba, quyền yêu cầu: Khi phát hiện có thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ vi phạm các nghĩa vụ của người quản lý công ty thì BKS phải “thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả” (khoản 8, Điều 170 LDN 2020). Như vậy, BKS chỉ có quyền thông báo chứ không có quyền khởi kiện HĐQT, GĐ/TGĐ nếu họ sai phạm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của cổ đông và công ty. Do đó, văn bản do BKS ban hành về việc kiểm tra, giám sát quá trình thi hành pháp luật, điều lệ, nội quy của CTCP chỉ có ý nghĩa cảnh báo, không có tính răn đe, trừng trị nghiêm khắc.

Thứ tư, quyền yêu cầu họp, tham dự và tham gia thảo luận tại các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và các cuộc họp khác của công ty: Theo quy định tại quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 140 LDN 2020 “HĐQT phải triệu tập họp bất thường ĐHĐCĐ theo yêu cầu của BKS”. Quy định này cho thấy không có giới hạn trong việc yêu cầu triệu tập họp bất thường ĐHĐCĐ theo yêu cầu của BKS.

Ở mức độ cao hơn pháp luật còn quy định nếu HĐQT không triệu tập họp ĐHĐCĐ thì BKS có quyền triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường theo quy định tại khoản 3, Điều 140 LDN 2020: “Trong thời hạn 30 ngày tiếp theo, Ban kiểm soát thay thế Hội đồng quản trị triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định của LDN năm 2020. Trường hợp Ban kiểm soát không triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định thì Ban kiểm soát phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho công ty”. Như vậy, các nhà làm luật đã quy định trách nhiệm pháp lý cụ thể đối với Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT. Điều đó khiến cho từng thành viên trong HĐQT có ý thức nâng cao trách nhiệm của mình trong việc triệu tập họp ĐHĐCĐ.

Thứ năm, quyền sử dụng tư vấn độc lập, bộ phận kiểm toán nội bộ của công ty

Dưới góc độ luật thực định, LDN 2020 quy định BKS được sử dụng tư vấn độc lập để thực hiện các nhiệm vụ được giao. Với quy định này, BKS có thêm một kênh thông tin để đánh giá khách quan, chính xác các báo cáo của HĐQT, GĐ/TGĐ, qua đó giúp BKS “Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh; tính hệ thống, nhất quán và phù hợp của công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.” (khoản 2, Điều 170 LDN 2020), từ đó góp phần làm tăng tính chính xác trong các kiến nghị, kết luận báo cáo của BKS. Quy định này đã khắc phục được một nhược điểm của BKS: đó là không phải thành viên BKS nào cũng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về quản trị kinh doanh, kế toán tài chính pháp lý… để thẩm định các “Thẩm định tính đầy đủ, hợp pháp và trung thực của báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và 06 tháng của công ty,”. Vì vậy, quy định BKS được sử dụng tư vấn độc lập đảm bảo cho BKS thực hiện được các nhiệm vụ được giao một cách có chất lượng và hiệu quả. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

LDN 2020 cũng quy định BKS được sử dụng bộ phận kiểm toán nội bộ để thực hiện các nhiệm vụ được giao [Khoản 10, Điều 170 LDN 2020] . Quy định này giúp cho BKS tận dụng được nguồn lực nội bộ công ty, không phải mất thời gian, chi phí tìm tư vấn độc lập. Nhưng quy định này không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện trong thực tế, vì thông thường bộ phận kế toán, kiểm toán nội bộ thường có mối quan hệ “cộng sinh” chặt chẽ với HĐQT, GĐ/TGĐ trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh, nên không dễ gì BKS sử dụng kiểm toán nội bộ trong việc kiểm tra, giám sát của mình.

Thứ sáu, quyền được cung cấp thông tin, tiếp cận tài liệu

Dưới góc độ luật thực định, Điều 171 LDN 2020 quy định một cách cụ thể, rõ ràng những thông tin tài liệu, nghị quyết, biên bản báo cáo và phương thức cung cấp thông tin, tài liệu nghị quyết, biên bản báo cáo đó cho thành viên BKS giống như HĐQT mà không cần có yêu cầu của BKS. Cụ thể như sau:

  • Tài liệu và thông tin phải được gửi đến Kiểm soát viên cùng thời điểm và theo phương thức như đối với thành viên Hội đồng quản trị, bao gồm:
  • Thông báo mời họp, phiếu lấy ý kiến thành viên Hội đồng quản trị và tài liệu kèm theo;
  • Nghị quyết, quyết định và biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị;
  • Báo cáo của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trình Hội đồng quản trị hoặc tài liệu khác do công ty phát hành.
  • Kiểm soát viên có quyền tiếp cận hồ sơ, tài liệu của công ty lưu giữ tại trụ sở chính, chi nhánh và địa điểm khác; có quyền đến địa điểm làm việc của người quản lý và nhân viên của công ty trong giờ làm việc.

Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người quản lý khác phải cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin, tài liệu về công tác quản lý, điều hành và hoạt động kinh doanh của công ty theo yêu cầu của Kiểm soát viên hoặc Ban kiểm soát.

Quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho BKS trong việc tiếp cận nhanh chóng kịp thời thông tin tài liệu, nghị quyết, biên bản báo cáo giúp cho việc thực hiện chức năng của BKS hiệu quả hơn

2.1.2. Thực trạng quy định pháp luật về mô hình uỷ ban kiểm toán công ty cổ phần Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

2.1.2.1. Quy định về địa vị pháp lý của Ủy ban kiểm toán

Trong pháp luật Việt Nam, thuật ngữ UBKT không phải là thuật ngữ mới được sử dụng, bởi trước đó, Điểm a Khoản 1 Điều 134 Luật doanh nghiệp năm 2014 đã quy định về Ban kiểm toán nội bộ, là một cơ quan trực thuộc HĐQT, đây được xem là tiền thân của UBKT theo LDN 2020. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp năm 2014 chưa quy định cụ thể về thành phần, vai trò, thẩm quyền… của Ban kiểm toán nội bộ, và tên gọi Ban kiểm toán nội bộ dễ gây nhầm lẫn với Phòng kiểm toán nội bộ hoặc bộ phận kiểm toán nội bộ, tùy thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, là một phòng ban thuộc BĐH. Đồng thời, Ban kiểm toán nội bộ không phải là một thuật ngữ phổ biến và phản ánh đúng bản chất như tên gọi UBKT, do đó việc áp dụng mô hình Ban kiểm toán nội bộ trong QTDN còn hạn chế và chưa phổ biến khi Luật doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực thi hành. Để thúc đẩy mô hình QTDN tiên tiến, phù hợp với thông lệ quốc tế, LDN 2020 đã sử dụng tên gọi UBKT thay cho Ban Kiểm toán nội bộ trong Luật doanh nghiệp năm 2014, để đúng với bản chất của cơ quan này, đồng thời, LDN 2020 đã có những quy định điều chỉnh chi tiết hơn về UBKT so với Luật doanh nghiệp năm 2014, từ đó giúp doanh nghiệp có cách hiểu đồng nhất, đầy đủ hơn về UBKT và tự tin khi áp dụng mô hình này.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 137 LDN 2020, trường hợp công ty lựa chọn mô hình không có BKS, thì bắt buộc phải có UBKT trực thuộc HĐQT. Đồng thời, Khoản 1 Điều 161 LDN 2020 cũng nhấn mạnh UBKT là cơ quan chuyên môn thuộc HĐQT và tất cả các thành viên UBKT là thành viên HĐQT. Tương tự như vậy, khoản 1 Điều 282 của Nghị định 155/2020/NĐ-CP cũng quy định đối với công ty đại chúng (CTĐC) tổ chức và hoạt động theo mô hình quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 137 LDN 2020 phải thành lập và duy trì một UBKT trực thuộc HĐQT.

Bộ nguyên tắc QTCT đưa ra các khuyến nghị áp dụng cho các công ty đại chúng tại Việt Nam, trong đó HĐQT của CTĐC cần phải thành lập các ủy ban chuyên trách thuộc HĐQT để hỗ trợ HĐQT thực hiện các chức năng và tránh mọi xung đột lợi ích, trong đó bao gồm UBKT và bảo đảm ủy ban này có đủ nguồn lực và thẩm quyền cho hoạt động của mình (Nguyên tắc 4.1). Cùng cách tiếp cận, trong các nguyên tắc quản trị công ty G20/OECD, UBKT cũng được đề cập đến như một ủy ban chuyên trách để giúp HĐQT trong công tác kiểm toán nội bộ, lựa chọn đơn vị kiểm toán độc lập.

Như vậy, dù trong các văn bản quy phạm pháp luật hay các văn bản mang tính khuyến nghị áp dụng tại Việt Nam hiện nay, UBKT luôn được nhìn nhận là một ủy ban chuyên trách của HĐQT, bên cạnh các ủy ban khác, có trách nhiệm giúp HĐQT thực hiện chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

2.1.2.2. Quy định về thẩm quyền của Ủy ban kiểm toán

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 161 LDN 2020, UBKT có các thẩm quyền như sau:

  • Giám sát tính trung thực của BCTC của công ty và công bố chính thức liên quan đến kết quả tài chính của công ty;
  • Rà soát hệ thống KSNB và quản lý rủi ro;
  • Rà soát giao dịch với người có liên quan thuộc thẩm quyền phê duyệt của HĐQT hoặc ĐHĐCĐ và đưa ra khuyến nghị về những giao dịch này;
  • Giám sát bộ phận KTNB của công ty;
  • Kiến nghị công ty KTĐL, mức thù lao và điều khoản liên quan trong hợp đồng với công ty kiểm toán để HĐQT thông qua trước khi trình lên ĐHĐCĐ thường niên phê duyệt;
  • Theo dõi và đánh giá sự độc lập, khách quan của công ty kiểm toán và hiệu quả của quá trình kiểm toán; và
  • Giám sát nhằm bảo đảm công ty tuân thủ quy định của pháp luật, yêu cầu của cơ quan quản lý và quy định nội bộ khác của công ty.

Trong khi đó, Bộ nguyên tắc QTCT cũng đưa ra khuyến nghị, hướng dẫn rằng: UBKT đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ HĐQT giám sát công tác QTRR, BCTC, kiểm soát, và quản trị một cách đầy đủ và hiệu quả. Bộ nguyên tắc QTCT cũng khuyến nghị các trách nhiệm chủ yếu của UBKT tại nguyên tắc 4.1.4. Như vậy, các khuyến nghị về vai trò của UBKT đã được các nhà lập pháp tiếp thu và thể hiện dưới hình thức quyền và nghĩa vụ của UBKT như tại Khoản 3 Điều 161 LDN 2020 như vừa nêu trên, trừ vai trò “Xây dựng và thực hiện chính sách về tuyển dụng công ty kiểm toán độc lập để cung cấp dịch vụ phi kiểm toán”. Các vai trò và trách nhiệm của UBKT phải được quy định trong quy chế hoạt động riêng do HĐQT phê chuẩn.

2.1.2.3. Quy định về tổ chức của Ủy ban kiểm toán Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

  • Thứ nhất, cơ cấu tổ chức của Ủy ban kiểm toán

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 161 LDN 2020, UBKT có từ 02 thành viên trở lên và Chủ tịch UBKT là thành viên độc lập HĐQT. Các thành viên khác của UBKT là (các) thành viên HĐQT không điều hành. Như vậy, cơ cấu của UBKT phải bao gồm tối thiểu 02 thành viên (Chủ tịch và (các) thành viên), và cơ cấu này được quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của UBKT do HĐQT ban hành (Điểm b Khoản 1 Điều 137 LDN 2020). Pháp luật Việt Nam và hầu hết các quốc gia, không quy định về số lượng tối đa các thành viên UBKT, tuy nhiên, thành viên UBKT cũng chính là thành viên HĐQT, do đó số lượng thành viên UBKT tối đa trong mọi trường hợp là số lượng tối đa thành viên HĐQT mà pháp luật cho phép và số lượng cụ thể sẽ do mỗi doanh nghiệp quyết định. Pháp luật đưa ra yêu cầu thành viên UBKT phải là thành viên HĐQT không điều hành, để bảo đảm UBKT ở vị trí độc lập cao nhất so với các cơ quan còn lại trong bộ máy doanh nghiệp. Trường hợp các thành viên UBKT cũng tham gia điều hành, có thể xảy ra tình trạng UBKT “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, khi chính UBKT kiểm tra, giám sát đối với các công việc mà họ đã thực hiện.

LDN 2020 cũng không quy định cơ quan nào có thẩm quyền bổ nhiệm các thành viên UBKT cũng như chủ tịch UBKT, tuy nhiên theo cách tiếp cận UBKT là ủy ban chuyên trách và trực thuộc HĐQT, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để cho rằng HĐQT có đầy đủ thẩm quyền trong việc bổ nhiệm các thành viên UBKT của doanh nghiệp, kể cả chủ tịch UBKT, thông qua việc HĐQT phê duyệt quy chế hoạt động của UBKT. Các CTĐC, việc bổ nhiệm các thành viên và chủ tịch UBKT do HĐQT thông qua tại cuộc họp HĐQT (Khoản 5 Điều 282 Nghị định 155/2020/NĐ-CP). Trong khi đó, các CTCP không phải là công ty đại chúng, do luật không quy định, nên có quan điểm và áp dụng khác nhau trong vấn đề xác định thẩm quyền bầu hoặc bổ nhiệm chức danh chủ tịch UBKT. Các công ty không phải là CTĐC hoàn toàn có thể áp dụng tương tự các quy định pháp luật chứng khoán đối với các công ty đại chúng là HĐQT bổ nhiệm chủ tịch UBKT hoặc theo cách tiếp cận HĐQT trao quyền bầu chủ tịch UBKT cho các thành viên UBKT. Dù với cách tiếp cận nào, tác giả cho rằng cũng không ảnh hưởng đến hoạt động của UBKT cũng như từng thành viên UBKT. Ngoài ra, UBKT cũng có thể có thêm các thư ký hoặc cố vấn chuyên môn, để hỗ trợ cho UBKT các công tác hành chính hoặc đưa ra các tư vấn, khuyến nghị về mặt chuyên môn tương ứng.

Cùng vấn đề nêu trên, Bộ nguyên tắc QTCT cho rằng UBKT nên bao gồm tối thiểu 03 (ba) thành viên HĐQT, tất cả đều là thành viên không điều hành và đa số là thành viên độc lập, kể cả vị trí chủ tịch UBKT (Khuyến nghị 4.1.1), đồng thời các công ty nên duy trì tối thiểu một thành viên độc lập HĐQT có chuyên môn và kinh nghiệm tài chính để tham gia và lãnh đạo UBKT (Khuyến nghị 3.3.4). So sánh với khuyến nghị của Bộ nguyên tắc QTCT về số lượng và thành phần UBKT, pháp luật Việt Nam quy định số lượng tối thiểu thành viên UBKT ít hơn (hai thành viên), đồng thời, tiêu chuẩn để trở thành thành viên UBKT cũng đơn giản hơn so với thông lệ khuyến nghị. Pháp luật Việt Nam chỉ yêu cầu tối thiểu một thành viên UBKT là thành viên độc lập HĐQT mà không đưa ra một tỷ lệ cụ thể (người này kiêm chức danh Chủ tịch UBKT nếu UBKT chỉ có một thành viên độc lập), trong khi đó Bộ nguyên tắc UBKT đưa ra khuyến nghị là đa số thành viên UBKT là thành viên độc lập. Số lượng thành viên UBKT sẽ tùy thuộc vào nhu cầu quản trị, văn hóa tổ chức và phạm vi trách nhiệm mà HĐQT trao cho UBKT, nếu UBKT thực hiện nhiều vai trò đồng thời, thì cần thiết một quy mô lớn hơn để bảo đảm UBKT năng lực cho công tác của mình. Tuy nhiên, theo nghiên cứu và khảo sát của Công ty kiểm toán KPMG, số lượng lớn của thành viên UBKT có thể ngăn cản các cuộc thảo luận hoặc chia rẽ trong việc biểu quyết, thực thi vai trò chung của UBKT. Ngược lại, nếu quá ít thành viên, có thể UBKT không đủ nguồn lực, kiến thức chuyên môn, sự sâu sắc về quan điểm để đưa ra các quyết định đúng đắn, khuyến nghị phù hợp cho HĐQT. Theo nghiên cứu sơ lược về UBKT của 723 công ty niêm yết tại Singapore năm 2020 (sử dụng dữ liệu của các công ty đại chúng đến tháng 12 năm 2019) cũng cho rằng, UBKT lớn hơn có tác động tiêu cực đến việc quản lý thu nhập, nhưng lại tốt hơn trong việc giám sát gian lận BCTC, làm cho nhiều thông tin quan trọng được công bố đến cổ đông, chất lượng kiểm toán cao hơn và thuế phải nộp ít hơn (Mục 5.4.1). UBKT là thiết chế được thiết kế nhằm bảo đảm sự đa dạng về kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm của các thành viên UBKT và khuyến khích các thành viên tham gia tích cực vào hoạt động của UBKT, do đó số lượng thành viên UBKT ít hoặc quá ít, buộc từng thành viên UBKT phải dàn trải, đa dạng về kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm, đồng thời phải đảm trách nhiều nhiệm vụ khác nhau trong cùng một thời điểm. Điều này có thể làm ảnh hưởng đến mục đích ban đầu khi thiết lập nên mô hình UBKT trong doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Sở dĩ pháp luật Việt Nam đưa ra quy định số lượng tối thiểu thành viên UBKT như hiện nay, có thể do mô hình UBKT đang trong giai đoạn hoàn thiện, với lịch sử hình thành và phát triển khá muộn so với các quốc gia khác, nếu lấy Luật doanh nghiệp năm 2014 lần đầu tiên quy định về Ban kiểm toán nội bộ (tiền thân của UBKT theo LDN 2020) tính đến nay chưa tới 10 năm. Thêm vào đó, đa số doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cổ đông, người quản lý doanh nghiệp mang nhiều yếu tố gia đình hoặc có quan hệ gần gũi, quen biết từ trước, nhiều doanh nghiệp cũng chưa tách bạch giữa hoạt động quản trị và điều hành, một người có thể kiêm nhiệm vị trí trong HĐQT và BĐH, cũng như tại các công ty có liên quan của doanh nghiệp đó. Sự chồng chéo này được thể hiện rất rõ tại các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, nhất là các tập đoàn kinh tế tư nhân, một người có thể giữ chức danh chủ tịch HĐQT tại công ty mẹ, đồng thời cũng là thành viên HĐQT và/hoặc nắm giữ một vị trí quản lý trong BĐH của các công ty con. Ngoài ra, các chuẩn mực và thông lệ tốt về QTDN ra đời, gắn với hoạt động của doanh nghiệp tại các quốc gia có trình độ phát triển cao về kinh tế, vị thế dẫn đầu thế giới, như Hoa Kỳ và để đáp ứng nhu cầu quản lý của các cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, LDN 2020 đã không áp dụng các tiêu chuẩn, số lượng thành viên UBKT như thông lệ mà đưa ra quy định thấp hơn. Điều này phù hợp với thực tế tại Việt Nam hiện nay, do UBKT đang trải qua giai đoạn chuyển tiếp, trong giai đoạn này các doanh nghiệp nếu chưa từng áp dụng mô hình này có thể tìm hiểu và áp dụng nó, doanh nghiệp nào đã biết đến và áp dụng mô hình UBKT, thì có thể áp dụng các điều kiện cao hơn so với quy định của luật như cách Bộ nguyên tắc QTCT đã khuyến nghị. Giả định pháp luật Việt Nam áp dụng một cách tuyệt đối các khuyến nghị của Bộ nguyên tắc QTCT về số lượng và thành phần UBKT, quy định này có thể làm cho rất nhiều doanh nghiệp khó khăn trong việc tìm kiếm các nhân sự phù hợp, trong khi không nhiều người có đủ các phẩm chất cần thiết cho vị trí thành viên UBKT. Từ đó dẫn đến giải pháp mang tính chất đối phó, dù phù hợp với quy định của pháp luật, nhưng vô hình chung làm suy yếu chức năng của UBKT như bố trí người không có đủ năng lực về quản trị, không đủ kiến thức, kinh nghiệm cần thiết về tài chính, kiểm toán để thực hiện vai trò cá nhân thành viên UBKT. Khi đạt đến một trình độ phát triển nhất định trong QTDN, chắc chắn các nhà làm luật sẽ, phù hợp với trình độ kinh tế của quốc gia và xu hướng phát triển của UBKT, có những điều chỉnh cần thiết về mô hình cũng như định hướng cho sự phát triển tiếp theo của UBKT. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Như vậy, với quy định về số lượng và thành phần của UBKT của LDN 2020 và quy định của pháp luật về chứng khoán, tác giả nhìn nhận những “tùy chỉnh” về cơ cấu của UBKT so với thông lệ khuyến nghị trong Bộ nguyên tắc QTCT nêu trên là cần thiết và phù hợp với thực tế hoạt động cũng như văn hóa QTDN của Việt Nam hiện nay, đồng thời phản ánh đúng trình độ phát triển của Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật cũng không hạn chế doanh nghiệp lựa chọn áp dụng những khuyến nghị cao hơn trong Bộ nguyên tắc QTCT, nếu doanh nghiệp có nhu cầu áp dụng.

Qua so sánh có thể nhận thấy, pháp luật Việt Nam có cách tiếp cận và quy định khác nhau so với pháp luật của Singapore, không chỉ khác nhau về số lượng thành viên UBKT tối thiểu và không quy định chủ tịch UBKT phải là thành viên độc lập như pháp luật Việt Nam, pháp luật Singapore trao cho HĐQT thẩm quyền xác định và lựa chọn một người làm thành viên UBKT cũng như chủ tịch UBKT mà không phải đáp ứng đồng thời các điều kiện như pháp luật Việt Nam, nhưng vẫn bảo đảm không ảnh hưởng đến hoạt động của UBKT.

  • Thứ hai, tiêu chuẩn, điều kiện làm thành viên Ủy ban kiểm toán

Vì vai trò độc lập của UBKT, các thành viên UBKT được yêu cầu để tuân thủ các quy định nhất định nhằm duy trì sự độc lập, khách quan trong hoạt động, tùy vào chức danh là thành viên hoặc chủ tịch UBKT mà pháp luật có các yêu cầu khác nhau, cụ thể:

Một là, thành viên Ủy ban kiểm toán

  • (i) Phải là thành viên HĐQT không điều hành

Sự độc lập rất quan trọng để bảo đảm hoạt động hiệu quả của một UBKT. Với tư cách là chủ thể thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát trong doanh nghiệp, UBKT không thể thực thi vai trò của mình, nếu mối quan hệ giữa UBKT và các bên có liên quan trong doanh nghiệp không rõ ràng và tách bạch. Bất kỳ sự lệ thuộc, dù dưới hình thức nào (quan hệ công tác, tài chính, báo cáo…) đều tác động, thậm chí làm suy yếu vai trò của UBKT hoặc tạo ra các xung đột lợi ích tiềm tàng. Xét về bản chất của mô hình UBKT, cơ quan này có tiếng nói khách quan và trung thực đối với tất cả vấn đề của doanh nghiệp. Sẽ không có tiếng nói khách quan và trung trực nào từ UBKT, nếu cơ chế tại doanh nghiệp không bảo đảm cho UBKT sự độc lập trong mối quan hệ với tất cả các bên liên quan hoặc họ không được trao đầy đủ thẩm quyền và sự hỗ trợ cần thiết, để tiếp cận các thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và cập nhật những gì đã và đang xảy ra tại doanh nghiệp. Khi không có đủ thông tin, hiểu biết chính xác về bản chất và bối cảnh của vấn đề, thì UBKT không thể đưa ra khuyến nghị, các chỉ dẫn chuyên môn phù hợp cho HĐQT.

Do đó, để bảo đảm độc lập cho hoạt động của UBKT, pháp luật đã quy định rằng, thành viên UBKT phải là thành viên HĐQT không điều hành, điều đó có nghĩa rằng một thành viên UBKT không được nắm giữ các chức danh điều hành của doanh nghiệp như Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng và những người điều hành khác theo quy định của điều lệ (khoản 56 Điều 3 Nghị định 155/2020/NĐ-CP), để UBKT không tham gia vào hoạt động chỉ đạo, điều hành công việc sản xuất, kinh doanh hằng ngày hoặc tạo ra các cơ hội có thể trao cho, đem lại cho họ các lợi ích tài chính và phi tài chính, từ đó ngăn chặn nguy cơ hoặc thực tế xảy ra các xung đột lợi ích khi UBKT thực hiện công việc. Tham chiếu đến Bộ nguyên tắc QTCT, UBKT bao gồm tối thiểu ba thành viên HĐQT, tất cả đều là thành viên không điều hành và đa số là thành viên độc lập, kể cả vị trí chủ tịch UBKT (Khuyến nghị 4.1.1). Các thuật ngữ được đề cập trong Bộ nguyên tắc QTCT như “thành viên không điều hành” hoặc “thành viên độc lập” có thể được hiểu tương ứng là thành viên HĐQT không điều hành và thành viên HĐQT độc lập của CTĐC đã được quy định trong pháp luật về chứng khoán như nêu trên.

  • (ii) Năng lực chuyên môn Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Pháp luật không quy định về năng lực chuyên môn của các thành viên UBKT trong CTCP hoạt động theo LDN 2020, trong khi đó, đối với CTĐC các quy định lại tương đối đầy đủ. Cụ thể thành viên UBKT của CTĐC phải có kiến thức về kế toán, kiểm toán, có hiểu biết chung về pháp luật và hoạt động của doanh nghiệp (khoản 3 Điều 282 Nghị định 155/2020/NĐ-CP). UBKT tham gia vào hầu hết các vấn đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, do đó để đáp ứng yêu cầu công việc kiểm tra, kiểm toán, các thành viên UBKT không chỉ được yêu cầu có kiến thức, hiểu biết về lĩnh vực tài chính, kế toán, QTRR, pháp luật, còn đòi hỏi mức độ hiểu biết chuyên sâu cùng kinh nghiệm thực tế phong phú. Bên cạnh đó, thành viên UBKT phải có sự hiểu biết trong lĩnh vực hoạt động của công ty, yếu tố đặc thù trong lĩnh vực hoạt động, bối cảnh kinh tế, các thay đổi về công nghệ hoặc yếu tố khác ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại và tương lai. Theo các tiêu chuẩn phân tích này, doanh nghiệp sẽ rất khó, nếu không muốn nói là không thể, tìm kiếm một ứng viên lý tưởng đáp ứng đầy đủ về mặt kiến thức và kinh nghiệm liên quan ở tất cả các mảng hoạt động của UBKT. Tuy nhiên, hoạt động của UBKT mang tính tập thể, kiến thức và kinh nghiệm của UBKT là kiến thức, kinh nghiệm tổng hợp của các thành viên, do đó, pháp luật đưa ra yêu cầu về kiến thức chuyên môn trong một số lĩnh vực về kế toán, kiểm toán, pháp luật, là những lĩnh vực gắn liền với vai trò quan trọng nhất của UBKT – giám sát quá trình lập và công bố đến các bên liên quan một BCTC trung thực, khách quan. Sẽ không hiệu quả, thậm chí gây khó khăn cho doanh nghiệp, nếu luật định quá nhiều yêu cầu cũng như tiêu chuẩn cao về chuyên môn đối với thành viên UBKT, các lĩnh vực cần hiểu biết và mức độ hiểu biết. Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động, trên cơ sở cân nhắc các yếu tố tác động đến doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp tự xác định và đưa ra các yêu cầu về mức độ và phạm vi hiểu biết của một thành viên UBKT, bởi chính doanh nghiệp mới hiểu mình và biết rõ mình cần điều gì.

Có thể nhận thấy pháp luật hiện nay không đặt ra yêu cầu một thành viên UBKT phải có đầy đủ các kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm cho toàn bộ hoạt động của UBKT, mà chỉ yêu cầu có kiến thức về kế toán, kiểm toán và pháp luật… cho mỗi thành viên, cũng như không quy định mức độ hiểu biết về lĩnh vực yêu cầu, do đó trên thực tế có thể phát sinh trường hợp UBKT không có đầy đủ kiến thức chuyên môn trong mọi khía cạnh hoạt động của mình hoặc thành viên UBKT có hiểu biết theo yêu cầu của pháp luật, nhưng lại chưa đáp ứng được mức độ chuyên sâu hoặc trải nghiệm cần thiết cho công việc. Trên thực tế, doanh nghiệp có thể giải quyết bằng nhiều cách khác nhau như duy trì một số lượng đáng kể số lượng thành viên UBKT, trong đó cân đối và phân bổ, để các thành viên với những kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn có thể bổ trợ tích cực cho nhau cùng hoàn thành vai trò được giao của UBKT. Ngoài phạm vi hiểu biết chuyên môn được pháp luật yêu cầu đối với thành viên UBKT, doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp do bên thứ ba cung cấp hoặc tuyển dụng các vị trí cố vấn, chuyên gia giúp việc cho UBKT, hoặc về lâu dài, đào tạo hoặc tạo điều kiện cho các thành viên UBKT nâng cao kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn ở các công việc phụ trách. Tuy nhiên, khi sử dụng các dịch vụ chuyên nghiệp bên ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý và có giải pháp hiệu quả để bảo vệ các bí mật của doanh nghiệp.

Trong khi đó, Bộ nguyên tắc QTCT đưa ra khuyến nghị UBKT cần phải có kiến thức về KTNB, kế toán theo chuẩn mực BCTC quốc tế (International Financial Reporting Standards – IFRS) và chuẩn mực kế toán Việt Nam (Vietnam Accounting Standards – VAS), tuân thủ, BCTC và kiểm soát. Chủ tịch UBKT có chuyên môn về tài chính (Khuyến nghị 4.1.2). Thông lệ khuyến nghị đưa ra yêu cầu chung về kiến thức đối với tập thể UBKT, trừ chủ tịch UBKT phải có chuyên môn về tài chính, các thành viên UBKT còn lại không có yêu cầu cụ thể. Hơn nữa, phạm vi lĩnh vực kiến thức yêu cầu cũng rộng hơn so với quy định của pháp luật, không chỉ là những hiểu biết về kế toán, kiểm toán, kiến thức chung về pháp luật, mà còn bao gồm lĩnh vực kiểm soát, tuân thủ và mức độ hiểu biết về tài chính như chuẩn mực kế toán IFRS, VAS cũng chuyên sâu hơn.

  • Hai là, đối với Chủ tịch Ủy ban kiểm toán Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Ngoài tuân thủ và đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn của một thành viên UBKT, Chủ tịch UBKT phải đáp ứng thêm các điều kiện:

Là một thành viên độc lập HĐQT (Khoản 1 Điều 161 LDN 2020). Theo quy định của LDN 2020, một thành viên độc lập HĐQT phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau: (i) không phải là người đang hoặc đã làm việc ít nhất trong 3 năm liền trước đó cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty; (ii) không hưởng lương, thù lao từ công ty; (iii) không phải là người có vợ hoặc chồng, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty; (iv) không phải là người sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty; và (v) không phải là người đã từng làm thành viên HĐQT, BKS ít nhất trong 05 năm liền trước đó, trừ trường hợp được bổ nhiệm liên tục 02 nhiệm kỳ (Khoản 2 Điều 151 LDN 2020). Do đó, chủ tịch UBKT cũng phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chí của một thành viên độc lập HĐQT như vừa được nêu trên.

Chủ tịch UBKT phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn (Khoản 4 Điều 282 Nghị định 155/2020/NĐ-CP). Trong khi đó, Bộ quy tắc QTDN Singapore và pháp luật Singapore cũng không yêu cầu về bằng cấp chuyên môn, mà chỉ đưa ra yêu cầu khuyến nghị chủ tịch UBKT phải có chuyên môn về tài chính (Khuyến nghị 4.1.2). So với các thành viên UBKT, điều kiện để trở thành chủ tịch UBKT theo pháp luật Việt Nam mang tính định lượng hơn so với quy định của Singapore, là phải có bằng tốt nghiệp đại học theo chuyên ngành phù hợp. Một cá nhân đã được đào tạo bài bản ở trình độ đại học thường có hiểu biết sâu sắc hơn về lĩnh vực đó. Đây là một điểm khác biệt cơ bản giữa chủ tịch UBKT so với một thành viên UBKT.

Được HĐQT bổ nhiệm tại cuộc họp: Đối với các CTĐC, pháp luật Việt Nam đã quy định chủ tịch UBKT do HĐQT bổ nhiệm. Trong khi đó, theo pháp luật của Singapore, chủ tịch UBKT được bầu bởi các thành viên UBKT và không phải là thành viên HĐQT điều hành hoặc là nhân viên của công ty hoặc bất kỳ công ty liên quan nào, điều này mặc nhiên cho rằng người đó là độc lập. Đây cũng là một điểm khác biệt cơ bản của pháp luật Việt Nam so với pháp luật Singapore.

Ngoài các tiêu chuẩn nêu trên, Chủ tịch UBKT cũng là một thành viên UBKT, do đó, tương tự như các thành viên UBKT, chủ tịch UBKT của công ty niêm yết còn phải đáp ứng các điều kiện về công tác như: (i) không làm việc trong bộ phận kế toán, tài chính của công ty; và (ii) không là thành viên hay nhân viên của tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm toán các BCTC của công ty trong 03 năm liền trước đó. Mặc dù pháp luật không quy định rõ ràng vấn đề nêu trên, tuy nhiên, chủ tịch UBKT là vị trí đòi hỏi yêu cầu cao về chuyên môn, tính độc lập, nên các quy định nêu trên áp dụng cho Chủ tịch UBKT cũng là điều phù hợp.

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty cổ phần tại tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

2.2.1. Khái quát về thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty cổ phần tại tỉnh Bình Dương

Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và một phần tỉnh Đồng Nai. Theo thông tin thống kê mới nhất, tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam bộ); dân số trung bình 2.568.689 người, GRDP bình quân đầu người đạt 151 triệu đồng/ năm (Báo cáo của Cục Thống kê Bình Dương ngày 01 tháng 12 năm 2020); 09 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thành phố Dĩ An, thành phố Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (41 xã, 45 phường, 05 thị trấn)27.

Với tỷ lệ đô thị ở mức 82% (2020), Bình Dương hiện là tỉnh có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất. Do đó nhu cầu về nhà, đất trên địa bàn Tỉnh Bình Dương ngày càng gia tăng qua các năm. Đặc biệt tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất tập trung số lượng công nhân, người lao động chiếm tỉ lệ cao [Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 29 khu công nghiệp, trong đó có 27 khu công nghiệp đi vào hoạt động với tổng diện tích 12.670,5 ha, tỷ lệ cho thuê đạt 87,4% và 12 cụm công nghiệp với tổng diện tích 790 ha, tỷ lệ lấp đầy 67,4%28. Một số khu công nghiệp hiện đại, được đầu tư hạ tầng hoàn chỉnh, có tốc độ thu hút đầu tư nhanh và khả năng quản lý sản xuất, bảo vệ môi trường tốt như VSIP 1, VSIP 2, Đồng An, Mỹ Phước v.v…]. Điều này thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương trong thời gian qua thể hiện rõ thông qua các số liệu báo cáo của Sở Kế hoạch Đầu tư Tỉnh Bình Dương về tình hình đăng ký doanh nghiệp.

Theo số liệu thống kê của Sở Kế hoạch Đầu tư Tỉnh Bình Dương, chỉ tính riêng trong năm 2022 thì trên địa bàn Tỉnh Bình Dương đã có thêm 5.104 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 32.478,9 tỷ đồng, tăng 32,8% về số doanh nghiệp và tăng 13,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2021. Đặc biệt kể từ thời điểm dịch bệnh Covid-19 đã được kiểm soát, Tỉnh Bình Dương đã mở cửa trở lại các hoạt động kinh tế – xã hội, khôi phục sản xuất, kinh doanh, thương mại, dịch vụ trong trạng thái bình thường mới, do đó số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng. Điều này được thể hiện cụ thể thông qua bảng số liệu sau đây: Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

  • Biểu đồ 1: Về tình hình đăng ký theo địa bàn Tỉnh Bình Dương
  • Biểu đồ 2: Về tình hình đăng ký theo ngành, nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp theo nhóm ngành nghề theo quyết định 27/2018/QĐ-TTg

Từ các số liệu trên có thể thấy khu vực thành phố Thủ Dầu Một có số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt cao nhất với 1.282 doanh nghiệp (chiếm 25,1% toàn tỉnh) và số vốn đăng ký là 10.543,5 tỷ đồng (chiếm 32,46% toàn tỉnh). Tiếp đó là thành phố Thuận An với 1.088 doanh nghiệp (chiếm 21,3% toàn tỉnh) và số vốn đăng ký là 7.149,3 tỷ đồng (chiếm 22,01% toàn tỉnh). Huyện Bắc Tân Uyên là khu vực có số lượng doanh nghiệp thành lập mới và mức vốn đăng ký thấp so với khu vực khác, tuy nhiên lại tăng cao nhất so với cùng kỳ năm 2021, cụ thể: có 97 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 49,3% so với cùng kỳ năm trước) và số vốn đăng ký là 639,6 tỷ đồng (tăng 57,8% so với cùng kỳ năm trước).

Trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng và công ty niêm yết, vai trò của cơ quan KSNB là hết sức quan trọng. Ngoài chức năng chính là giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc/ Giám đốc, nhằm ngăn chặn và phát hiện những trường hợp sai phạm, thiếu sót, bất minh, bất hợp lý, xung đột lợi ích… trong việc quản lý, điều hành công ty; cơ quan KSNB còn đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp, giải pháp khắc phục, cải tiến để hoạt động quản lý, điều hành công ty đạt được hiệu quả cao nhất.

Trong một công ty hoạt động minh bạch, hoặc có mong muốn hoạt động minh bạch, Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc/Giám đốc, công ty luôn nhìn nhận cơ quan KSNB dưới góc độ vừa là người “thổi còi”, giúp Hội đồng quản trị chấm dứt các sai phạm, để không đi quá xa; vừa là người hỗ trợ tích cực cho các hoạt động cải tiến, đặc biệt trong các lĩnh vực “nhạy cảm” như quản lý tài chính, quản lý đầu tư, quản lý quan hệ cổ đông…

Tuy nhiên, trên thực tế cơ quan KSNB thực thi quyền hành của mình còn rất hạn chế; hoạt động của cơ quan KSNB trong một số công ty thậm chí còn chưa được xác định đúng như luật định. Có không ít doanh nghiệp còn nhầm cơ quan KSNB như một công cụ thanh, kiểm tra của Hội đồng quản trị. Do vậy, trong hoạt động, cơ quan KSNB thường mới chỉ thực hiện được những yêu cầu, đề nghị của Hội đồng quản trị, chưa thực sự khẳng định được tính độc lập trong quá trình thực thi.

Do đó, trên thực tế tại một số công ty trên địa bàn Tỉnh Bình Dương cho thấy về nguyên tắc việc lập ra cơ quan KSNB để bảo vệ lợi ích cho chính các cổ đông của công ty; tuy nhiên đôi khi chính cổ đông lại không hiểu đúng chức năng này BKS hoặc UBKT. Thậm chí, tại một số công ty, cổ đông còn chấp thuận cho Hội đồng quản trị bổ nhiệm thành viên Ban kiểm soát/UBKT, và tất nhiên là Hội đồng quản trị sẽ bổ nhiệm “người trong nhà” để tăng thêm quyền lực cho mình và để “cùng hội cùng thuyền”. Ngoài ra, tại một số công ty, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc nhiều khi cũng không rõ vai trò của Ban kiểm soát/UBKT và xem đây chỉ là một phòng Ban trong công ty, thậm chí ngay cả Ban kiểm soát/UBKT cũng không rõ vai trò và quyền hạn của mình. Vì thế sự tồn tại của Ban kiểm soát/UBKT nhiều khi mang nặng tính hình thức.

Vấn đề quy định cung cấp thông tin cho cơ quan KSNB còn rất thụ động, nếu không muốn nói cơ chế này dường như bị Hội đồng quản trị, người có nghĩa vụ cung cấp cố tình quên lãng. Chỉ khi có yêu cầu thì cơ quan KSNB mới có quyền lấy thông tin, thông tin được cung cấp theo yêu cầu của Ban kiểm soát/UBKT và không phải bất cứ thông tin nào yêu cầu mà cơ quan KSNB cũng có thể lấy được. Thực tế mà nói, với số lượng thông tin ấy, cơ quan KSNB không thể nào theo dõi, giám sát thường xuyên hoạt động của người quản lý, không thể phát hiện những vấn đề nảy sinh. Do vậy, chưa thể ngăn ngừa khả năng lạm dụng quyền của người quản lý trong công ty. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Bên cạnh đó, thực tiễn tại một số công ty trên địa bàn Tỉnh Bình Dương cũng cho thấy một số cơ quan KSNB trong CTCP thường xuyên bị Hội đồng quản trị chi phối bởi thành viên Hội đồng quản trị; đồng thời là những cổ đông lớn, họ quyết định cả về địa vị, tiền lương của thành viên Ban kiểm soát/UBKT.

Điều phi lý trong quy trình hoạt động của mình, Ban kiểm soát/UBKT phải báo cáo và tham khảo ý kiến của đối tượng được giám sát là Hội đồng quản trị về kết quả giám sát.

Bên cạnh đó, mặc dù các quy định pháp luật đã trao cho cơ quan KSNB là BKS được quyền được triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông khi Hội đòng quản trị không triệu tập họp hoặc có vi phạm nghĩa vụ quản lý, nhưng trên thực tế hiện nay, thực tế cho thấy, rất hiếm trường hợp Ban kiểm soát thực thi quyền hạn này.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc cơ quan KSNB chưa thực sự phát huy được vai trò, trách nhiệm của mình đối với các cổ đông. Cụ thể như sau:

  • Thứ nhất, nhận thức của các bên về vai trò, chức năng của cơ quan KSNB còn kém
  • Thứ hai, thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cần thiết cho cơ quan KSNB.

Thực tiễn hiện nay cho thấy, rất ít thành viên cơ quan KSNB thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật và điều lệ, nội quy của công ty theo phương thức toàn thời gian. Phần lớn các thành viên cơ quan KSNB làm việc bán thời gian kiêm nhiệm nhiều chức vụ khác ở nhiều tổ chức, công ty khác hoặc ở ngay chính công ty mà họ là thành viên cơ quan KSNB. Các thành viên của cơ quan KSNB thậm chí còn không quen biết nhau. Trên thực tế, phần lớn các thành viên cơ quan KSNB chỉ gặp nhau định kỳ hàng quý (3 tháng) hoặc thậm chí là ít hơn. Số lần tiến hành việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp cũng rất ít. Với số lượng người và cách làm việc như vậy thì việc đáp ứng các yêu cầu đặt ra đối với cơ quan KSNB là gần như không thể.

Một vấn đề khác cũng đáng quan tâm là kiến thức và kinh nghiệm của các thành viên cơ quan KSNB. Theo thông lệ quốc tế, để thực hiện công tác giám sát hoạt động của doanh nghiệp, các thành viên trong cơ quan KSNB thường phải hỗ trợ nhau để đảm bảo có ít nhất bốn kỹ năng chính. Đó là năng lực quản lý rủi ro, năng lực chuyên môn về kế toán, kiểm toán năng lực về hoạt động kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp và năng lực giám sát sự tuân thủ pháp luật. Thực tế cho thấy rất ít doanh nghiệp ở Việt Nam có một đội ngũ thành viên cơ quan KSNB hội đủ bốn yếu tố này.

Thứ ba, thiếu bộ máy giúp việc cho cơ quan KSNB một cách có hiệu quả Hiện tại, ngoại trừ lĩnh vực ngân hàng thì cơ quan KSNB ở các doanh nghiệp đều không có bộ máy giúp việc. Nếu như trong lĩnh vực ngân hàng Ngân hàng Nhà nước đã có quy định cụ thể về tổ chức kiểm toán nội bộ độc lập trực thuộc cơ quan KSNB và báo cáo cho cơ quan KSNB36 thì trong các lĩnh vực khác, không có một quy định cụ thể về một bộ máy giúp việc cho cơ quan KSNB. Do vậy, kết hợp với việc phần lớn các thành viên cơ quan KSNB chỉ làm việc bán thời gian, thì việc các thành viên cơ quan KSNB không thể hoàn thành tốt chức năng kiểm tra, giám sát của mình là một điều dễ hiểu. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Thứ tư, cơ quan KSNB thiếu công cụ phương tiện làm việc cần thiết Ngoài việc thiếu bộ máy giúp việc, cơ quan KSNB còn thiếu công cụ thu thập thông tin phục vụ chức năng kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, điều lệ, nội quy của công ty. Họ không được trang bị một hệ thống thông tin quản lý đặc thù cho công việc kiểm tra, giám sát. Thông thưởng cơ quan KSNB chỉ dựa vào các báo cáo định kỳ của doanh nghiệp và chỉ tiếp cận được những thông tin chung mà doanh nghiệp cung cấp cho các cổ đông. Nói chung những thông tin cơ quan KSNB được nhận cho mục đích kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan quản lý, điều hành công ty chỉ là những thông tin mà một cổ đông thông thường của công ty cũng có được. Do đó, việc này có ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đầy đủ, có hiệu quả chức năng quyền hạn của cơ quan KSNB

2.2.2. Những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty cổ phần

2.2.2.1. Hoạt động của cơ quan KSNB chưa thể hiện rõ nét tính độc lập so với các thiết chế khác trong CTCP

Theo luật định, thành viên cơ quan KSNB không được giữ các chức vụ quản lý công ty. Nghĩa là thành viên cơ quan KSNB sẽ chỉ là một người lao động bình thường, một nhân viên cấp thấp trong công ty. Trong vai trò kiểm soát viên, họ cần độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, còn trong vai trò người lao động, họ chịu sự quản lý của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc. Một câu hỏi đơn giản là trong hoàn cảnh này, cơ quan KSNB có thể độc lập kiểm soát hoạt động của công ty được không? Chắc chắn là không. Chính mâu thuẫn giữa hai vai trò này khiến cho thành viên cơ quan KSNB cùng lúc chịu nhiều áp lực và thông thường, họ sẽ chọn lựa vai trò người lao động vì dẫu sao, hàng tháng họ vẫn phải nhận tiền lương của công ty. Do đó, cơ quan KSNB vẫn còn phụ thuộc nhiều vào Hội đồng quản trị, hoạt động kiểm soát và giám sát chưa mang tính độc lập với Hội đồng quản trị và cổ đông chi phối.

Từ đó đặt ra việc thiết lập cơ chế nào để cơ quan KSNB thực sự là một tổ chức độc lập, làm đúng chức năng giám sát và kiểm soát mà không bị vô hiệu hóa hoặc được dựng lên như bù nhìn để hậu thuẫn sau lưng Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc/Giám đốc? Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

Một trong những nguyên tắc quan trọng khi xây dựng LDN là hạn chế thấp nhất những xung đột lợi ích trong hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp. Khi một người có quyền đề cử, ủng hộ hoặc loại bỏ một người có quyền giám sát mình thì hành vi đó được xem là có xung đột lợi ích. Tương tự như trong nguyên tắc bỏ phiếu trong Hội đồng quản trị, khi sự việc có liên quan đến lợi ích của thành viên nào thì thành viên đó không được quyền bỏ phiếu. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi những thay đổi về luật, cổ đông nhỏ nên biết cách liên kết để tạo sức mạnh. Cần phải liên kết để đưa ít nhất một người vào trong Ban kiểm soát thông qua việc thành lập nhóm cổ đông thiểu số để đề cử người và sau đó tập hợp phiếu bầu để bầu dồn phiếu cho người mà mình đề cử. Thành viên cơ quan KSNB phải là người có năng lực, phải am hiểu Điều lệ công ty, phải am hiểu LDN và một số luật liên quan khác như Luật Chứng khoán, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế giá trị gia tăng…; và có những hiểu biết nhất định về tài chính, kế toán, về hệ thống quản lý và các nguyên tắc quản trị công ty. Quan trọng nhất, thành viên cơ quan KSNB phải có đủ dũng khí và bản lĩnh để đương đầu với sức ép và cả sự mua chuộc bằng nhiều cách, từ Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc/ Giám đốc đang cố ý làm trái.

2.2.2.2. Quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của cơ quan KSNB bị chi phối bởi mô hình quản trị công ty cổ phần theo kiểu “gia đình”

Một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương hiện nay là các công ty gia đình. Công ty gia đình là công ty trong đó các thành viên trong một gia đình nắm mức sở hữu đủ để quyết định cơ cấu thành viên Hội đồng quản trị. Thông thường, ở công ty gia đình, đại diện của gia đình sẽ nắm giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc và Tổng Giám đốc. Các thành viên của gia đình vừa là cổ đông, vừa là người quản lý, điều hành công ty. Vì quyền sở hữu nằm trong tay một hoặc một vài thành viên trong gia đình, nên công ty gia đình có xu hướng “cá nhân hoá”, thống nhất quyền lực vào tay người chủ gia đình.

Nhưng những công ty gia đình phải đối mặt với một thực tế đó là số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ thành công dài hạn của các công ty gia đình là rất thấp. Theo điều tra, chỉ có 5% các công ty gia đình quy mô lớn tiếp tục phát triển tốt sau thế hệ thứ ba. Hầu hết các công ty gia đình bắt đầu với một người đặt nền móng – sáng lập kiêm luôn việc quản trị, là chủ sở hữu toàn quyền và là người điều công ty. Sáng lập viên của công ty gia đình thường giữ toàn quyền ra quyết định mọi vấn đề của công ty. Nhìn chung, khi một công ty gia đình thành công rơi vào quyền kiểm soát của con cháu của người sáng lập công ty thì cũng là lúc công ty gia đình đi xuống. Tới thời điểm thế hệ thứ ba tiếp quản công ty, bối cảnh doanh nghiệp đã được đặt sẵn cho những vụ cãi lộn giữa các thành viên trong gia đình. Thay vì tập trung vào điều hành doanh nghiệp, họ sẽ tranh giành các phần chia lợi nhuận và các vị trí của ban lãnh đạo công ty.

Tuy nhiên, một nguyên nhân rất lớn dẫn đến sự yếu kém trong hoạt động của công ty gia đình, đó là thiếu vắng sự kiểm soát cần thiết đối với mô hình quản trị công ty nói riêng và toàn bộ cơ cấu tổ chức, hoạt động của công ty.

Công ty gia đình do số ít người kiểm soát, hoạt động kiểm soát lại không đủ mạnh mẽ, người thực hiện hoạt động giám sát không phải chịu sức ép từ bên ngoài và công ty thiếu cơ chế kiểm soát, phản biện hợp lý có nguy cơ trì trệ về mặt tổ chức, nguy cơ đưa ra chiến lược kinh doanh không phù hợp thực tiễn thị trường. Một công ty gia đình phát triển sẽ ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi phải có cơ cấu tổ chức và quản trị chuẩn mực hơn. Khi công ty gia đình phát triển, mở rộng, nảy sinh nhu cầu cần phải có một hội đồng quản trị chuyên nghiệp có thể hoạch định chiến lược và cần có một cơ chế kiểm soát hiệu quả hoạt động của bộ máy điều hành công ty.

Kết luận chương 2

Từ kết quả nghiên cứu tại Chương 2, tác giả rút ra một số kết luận sau:

  1. Có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã đạt được những tiến bộ chưa từng có từ trước đến nay về cơ quan KSNB trong CTCP mà đặc biệt là Uỷ ban kiểm toán (UBKT). Lần đầu tiên, chúng ta có một hệ thống các quy định pháp luật về UBKT khá hoàn chỉnh và đồng bộ, phần nào tiệm cận với thông lệ quốc tế.
  2. Mặc dù LDN 2020 có một số điểm mới so với LDN 2014, song về cơ bản khung pháp lý về quản trị công ty cổ phần nói chung và KSNB trong CTCP nói riêng vẫn kế thừa và dựa trên nền tảng các quy định đã có của LDN 2014 là chủ yếu. Do đó, có một số quy định được đánh giá là hạn chế của LDN 2014 vẫn tiếp tục tồn tại mà chưa được khắc phục triệt để bởi LDN 2020. Chính vì vậy, dẫn đến thực tiễn thực hiện pháp luật cho thấy một số doanh nghiệp còn mang tâm lý đối phó, duy trì mô hình cơ quan KSNB trên hình thức, chưa sử dụng KSNB như một công cụ hiệu quả và phục vụ tích cực cho công tác quản trị tại doanh nghiệp. Chính điều này, tưởng chừng như doanh nghiệp đã tuân thủ các quy định pháp luật về KSNB nhưng vai trò thực thi, hiệu quả áp dụng của KSNB vẫn không đáng kể, có thể làm suy giảm vai trò và tính độc lập của KSNB trong hoạt động của doanh nghiệp, và vô hình chung làm cho KSNB trở thành điểm yếu, tiềm ẩn các rủi ro của doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về kiểm soát nội bộ Cty tại tỉnh Bình Dương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464