Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng kiểm soát nội bộ công ty cổ phần dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty cổ phần
3.1.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về mô hình ban kiểm soát công ty cổ phần
3.1.1.1. Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên BKS
Mặc dù LDN 2020 có tăng cường thêm các quy định về tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên BKS, nhưng các ràng buộc này vẫn còn khá lỏng lẻo và nhiều kẽ hở, do đó vẫn chưa đảm bảo được sự độc lập thực sự của BKS và thành viên BKS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và giám sát trong công ty. Để khắc phục triệt để những nhược điểm này, tác giả Luận văn cho rằng trong quá trình sửa đổi các quy định của LDN 2020 sau này, chúng ta có thể xem xét một số các điều kiện, tiêu chí của thành viên HĐQT độc lập để áp dụng cho các thành viên “thường” của BKS trong mô hình CTCP có BKS. Đặc biệt, cần nhìn nhận yếu tố lợi ích phát sinh từ công ty của các thành viên BKS là yếu tố tác động chính tới việc các thành viên BKS bị lệ thuộc vào HĐQT, GĐ (TGĐ) hoặc các cổ đông lớn, mất đi sự độc lập của mình trong thực thi nhiệm vụ. Xuất phát từ tiêu chí đó, LDN có thể quy định thành viên BKS không được phép hưởng bất kỳ lợi ích nào phát sinh từ công ty ngoài những lợi ích được hưởng với tư cách là thành viên của BKS công ty. Đồng thời, để thành viên BKS không bị “vô hiệu hóa” ngay từ khi thành lập, trở thành “công cụ” mà những người quản lý công ty (HĐQT hay GĐ (TGĐ)) cài cắm vào BKS trong quá trình ĐHĐCĐ bầu BKS, LDN có thể quy định không cho phép các cổ đông là thành viên HĐQT, GĐ (TGĐ) và những người quản lý khác bỏ phiếu bầu thành viên BKS.
Thông lệ tốt về quản trị công ty có một số khuyến nghị cụ thể như sau khi thành lập Ban kiểm soát trong công ty cổ phần41:
- Không nên bầu các thành viên Ban kiểm soát ở cùng vị trí đó nhiều hơn 5 nhiệm kỳ liên tiếp ở cùng một công ty, bởi điều này sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến tính độc lập của họ;
- Một người không nên đồng thời là thành viên Ban kiểm soát của 5 công ty hoặc nhiều hơn (ngoại trừ trường hợp các công ty có liên kết);
- Thành viên Hội đồng quản trị của một công ty niêm yết không nên là thành viên Ban kiểm soát của hơn 03 công ty niêm yết khác, trừ khi các công ty có sự liên kết;
- Nếu thành viên Hội đồng quản trị của một công ty đồng thời là thành viên Ban kiểm soát của một công ty khác, trong trường hợp này, thành viên Hội đồng quản trị của công ty thứ hai không được là thành viên Ban kiểm soát của công ty thứ nhất (thành viên tương hỗ). Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
Đồng thời, LDN 2020 cũng cần bổ sung thêm quy định về chế độ làm việc của BKS. Vì LDN 2020 hiện nay chưa quy định cụ thể về vấn đề này, trong khi điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với cơ quan này. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính chặt chẽ của pháp luật, khi triển khai thực hiện LDN 2020, Chính phủ cũng cần ban hành văn bản hướng dẫn thi hành LDN 2020, trong đó quy định rõ thời hạn phải thành lập BKS khi số lượng cổ đông tăng lên trên 11 cổ đông mà trước đó công ty không có BKS.
Đồng thời, các văn bản hướng dẫn thi hành LDN 2020 cần quy định rõ về đối tượng “người quản lý khác” mà theo quy định không được làm thành viên BKS có bao gồm kế toán trưởng, phó GĐ, trưởng các đơn vị trực thuộc… Có như vậy thì mới đảm bảo chặt chẽ trong việc áp dụng pháp luật. Vì trong trường hợp nếu điều lệ công ty không có quy định về vấn đề này (phần lớn các điều lệ công ty hiện nay thường “bê nguyên” các quy định của LDN) sẽ không có căn cứ để áp dụng khi bầu thành viên BKS.
3.1.1.2. Hoàn thiện quy định về thẩm quyền của ban kiểm soát
Là cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính cũng như thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị.
Theo các thông lệ về quản trị công ty, Ban kiểm soát được giao thêm một số thẩm quyền và nhiệm vụ như sau:
- Điều tra các vụ việc sử dụng nguồn thông tin nội bộ;
- Kiểm tra tính hợp lý của khoản thanh toán cho các nhà thầu và các khoản phải nộp ngân sách;
- Kiểm tra tính hợp lý của các khoản trích trước và chi trả cổ tức, cũng như việc thực hiện các cam kết về tài chính của công ty;
- Kiểm tra tính phù hợp của việc sử dụng các quỹ của công ty;
- Kiểm tra thời hạn nhận tiền phát hành cổ phiếu;
- Giám sát tính hợp lý của việc định giá các tài sản ròng của công ty;
- Yêu cầu và nhận thông tin liên quan đến các bên liên quan và giao dịch với các bên liên quan;
- Kiểm tra tìn hình tài chính của công ty; đặc biệt là về khả năng thanh toán và tính thanh khoản của tài sản, về khả năng thanh toán các khoản nợ Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
Để thực thi hiệu quả các quyền hạn và nhiệm vụ của BKS thì LDN cần hoàn thiện các quy định sau:
Thứ nhất, Điều 140 LDN 2020 cần bỏ quy định yêu cầu BKS phải triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ “thay thế” HĐQT khi HĐQT không tiến hành triệu tập cuộc họp theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 điều 114 LDN 2014 trước đây. Thay vào đó nên cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại điều 140 LDN 2020 được triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ ngay sau khi quá thời hạn cho phép mà HĐQT không tiến hành triệu tập ĐHĐCĐ. Nghĩa là, Luật bỏ qua bước triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ của BKS. Có như thế mới đảm bảo tính nhanh chóng kịp thời mà không vi phạm nguyên tắc tổ chức quản lý công ty.
Bên cạnh đó, điều 140 LDN 2020 nên sửa đổi lại theo hướng cho phép BKS triệu tập ngay cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường mà không cần thông qua thủ tục yêu cầu HĐQT triệu tập, nếu có đầy đủ chứng cứ xác định được hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật và Điều lệ công ty của HĐQT. Việc triệu tập này cũng không nhất thiết phải được sự phê duyệt của HĐQT về chương trình, nội dung tài liệu họp như Khoản 2 Điều 153 LDN 2020 quy định. Có như vậy thì LDN 2020 mới đảm bảo được tính độc lập và hiệu quả của BKS trong việc ngăn chặn kịp thời những thiệt hại cho CTCP.
Thứ hai, hoạt động cảnh báo và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý điều hành của HĐQT, GĐ/TGĐ là một trong nhóm nhiệm vụ quyền hạn quan trọng của BKS trong CTCP. Tuy nhiên, quy định tại Khoản 8 điều 175 LDN 2020 thì BKS sẽ phải có những cảnh báo kịp thời đến HĐQT, GĐ/TGĐ nếu phát hiện những đối tượng này vi phạm trách nhiệm của người quản lý công ty, điều lệ công ty và vi phạm pháp luật. HĐQT, GĐ/TGĐ sau khi nhận được cảnh báo có nghĩa vụ phải chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục; Trường hợp nếu chủ thể vi phạm không dừng hành vi vi phạm thì BKS sẽ có trách nhiệm báo cáo HĐQT về sai phạm. Đây là quy định chưa đầy đủ bởi trong điều luật không quy định các chế tài áp dụng là gì nếu HĐQT không có biện pháp xử lý sai phạm. Hơn nữa, HĐQT vừa là chủ thể chịu sự giám sát của BKS, đồng thời cũng có thể là chủ thể có hành vi vi phạm nên việc yêu cầu BKS báo cáo cho HĐQT về những hành vi vi phạm của thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ cũng dẫn đến nhiều bất cập.
Vì vậy, để tăng cao tính hiệu quả hoạt động của BKS, pháp luật cần bổ sung quy định về nghĩa vụ của BKS trong việc báo cáo ĐHĐCĐ khi phát hiện HĐQT hoặc GĐ/TGĐ có những hành vi vi phạm trách nhiệm của người quản lý công ty, điều lệ công ty và quy định pháp luật Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
3.1.1.3. Bổ sung quy định về thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ độc lập trực thuộc Ban kiểm soát
Thực tế hoạt động của Ban kiểm soát tại công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng, công ty niêm yết đã nêu ở trên đã chỉ ra rằng, Ban kiểm soát không làm tròn vai trò của mình do không đủ nguồn nhân lực, cũng như việc thiếu vắng một bộ máy giúp việc trong quá trình hoạt động. Việc thành lập một bộ phận kiểm toán nội bộ độc lập là một giải pháp bổ sung nguồn nhân lực, tăng cường bộ máy giúp việc cho Ban kiểm soát.
Thực tế, trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã có quy định cụ thể về chức năng kiểm toán nội bộ độc lập trực thuộc Ban kiểm soát để tạo điều kiện cho Ban kiểm soát thực hiện tốt hơn chức năng, vai trò của mình.
Những quy định này cũng cần được ghi nhận tại Luật Doanh nghiệp và bộ phận kiểm toán nội bộ độc lập cũng đã đến lúc xuất hiện trong cơ cấu tổ chức của Ban kiểm soát, để hỗ trợ đắc lực cho Ban kiểm soát thực hiện chức năng của một cơ quan kiểm tra, giám sát thực sự. Bộ phận kiểm toán nội bộ độc lập cần am hiểu hoạt động kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp từ đó xác định ra các rủi ro có thể phát sinh, các kiểm soát cần phải thiết lập để ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro, hiểu các yêu cầu, quy định doanh nghiệp cần phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, có kinh nghiệm thực hiện các công việc rà soát, kiểm toán. Hiện nay, đa phần các doanh nghiệp đều sử dụng hệ thống quản trị doanh nghiệp (ERP) ghi nhận các nghiệp vụ tài chính, sử dụng ERP làm công cụ quản lý tự động cho một số các quy trình như quy trình mua/bán, quản lý tài chính, ngân sách do đó bộ phận kiểm toán nội bộ độc lập cũng cần có kiến thức công nghệ thông tin để có thể thực hiện công việc rà soát, kiểm toán số liệu tài chính một cách hiệu quả.
3.1.1.4. Hoàn thiện quy định về công khai thông tin của ban kiểm soát
Thứ nhất, để có thể thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, một trong những công cụ mà BKS được pháp luật trang bị cho đó là hoạt động tiếp cận thông tin. Theo quy định tại điều 171 LDN 2020 BKS có thể tiếp cận thông tin thông qua hai nguồn: (i) tiếp cận tất cả các tài liệu, hồ sơ, văn bản liên quan đến hoạt động quản lý điều hành và các họạt động khác của công ty; (ii) tham dự và thảo luận tại cuộc hop HĐQT, ĐHĐCĐ và các cuộc họp khác của công ty. Tuy nhiên trên thực tế quyền này đễ dàng bị vô hiệu hóa hoặc bị cản trở bởi những chủ thể cung cấp thông tin mà không phát sinh bất cứ hậu quả pháp lý nào. Vì vậy trong văn bản hướng dẫn thi hành luật cần bổ sung hậu quả pháp lý trong trường hợp các chủ thể không cung cấp thông tin cho BKS.
Thứ hai, quy định về việc công bố báo cáo của Ban kiểm soát thường được trình cho Đại hội đồng cổ đông vào mỗi kỳ họp. Thời gian giữa các kỳ họp lại quá xa và như vậy, báo cáo của Ban kiểm soát không còn tính thời sự. Bên cạnh đó, các quy định hiện hành về chế độ kế toán, các báo cáo hàng năm của công ty cổ phần phải nộp cho cơ quan thuế chỉ gồm bản cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính. Trong quy định về công bố thông tin của công ty đại chúng, nội dung công bố thông tin về báo cáo tài chính năm cũng chỉ bao gồm các tài liệu trên. Như vậy, báo cáo của Ban kiểm soát không phải là tài liệu bắt buộc phải nộp cho cơ quan quản lý hoặc công bố thông tin theo quy định. Như đã nêu ở trên, báo cáo của BKS là một tài liệu quan trọng, giúp nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước có được cái nhìn toàn diện về doanh nghiệp từ góc độ mà các bản báo cáo tài chính không đề cập đến. Thông tin trong báo cáo của Ban kiểm soát có tầm quan trọng không kém các báo cáo tài chính. Do đó, cần phải xem xét việc yêu cầu công ty cổ phần, nhất là công ty đại chúng, phải công bố báo cáo của Ban kiểm soát cùng với báo cáo tài chính.
3.1.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về mô hình uỷ ban kiểm toán trong công ty cổ phần Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
Thứ nhất, bổ sung quy định yêu cầu các công ty niêm yết phải thành lập và duy trì hoạt động theo mô hình Uỷ ban kiểm toán
Các quốc gia phát triển về QTDN như Hoa Kỳ, Singapore, Anh… một điều kiện bắt buộc đối với các doanh nghiệp khi niêm yết cổ phiếu tại các sở giao dịch chứng khoán là doanh nghiệp đó phải tổ chức và hoạt động theo mô hình UBKT trong suốt thời gian niêm yết. Đây là điều kiện bắt buộc cho tất cả các doanh nghiệp mà không có ngoại lệ nào, theo đó, tất cả các doanh nghiệp niêm yết đều có UBKT thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát tại doanh nghiệp và quá trình công bố thông tin của doanh nghiệp, qua đó kịp thời đưa ra các cảnh báo cần thiết cho doanh nghiệp và cung cấp thông tin kịp thời cho cổ đông, tăng cường sự minh bạch, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của cổ đông và các bên có liên quan.
Trong khi đó, việc áp dụng mô hình UBKT trong cơ cấu tổ chức quản lý CTCP theo pháp luật Việt Nam hiện nay tùy thuộc hoàn toàn vào sự lựa chọn của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể chọn mô hình quản trị hai cấp có BKS hoặc mô hình quản trị một cấp không có BKS, mà không có bất kỳ sự ràng buộc pháp lý nào. Có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã không đưa ra bất kỳ quy định bắt buộc nào cho doanh nghiệp niêm yết hoặc xem UBKT như là một điều kiện quan trọng phải tuân thủ nếu doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu tại các sở giao dịch chứng khoán. Những tùy nghi này có thể làm trì hoãn hoặc làm chậm sự phát triển của mô hình UBKT tại Việt Nam. Các doanh nghiệp niêm yết khi áp dụng thành công mô hình này, sẽ giúp lan tỏa và phổ biến mô hình để các doanh nghiệp khác học hỏi, áp dụng. Đồng thời, sự già cỗi của BKS và phát triển nhanh chóng của nền kinh tế đang góp phần tạo ra những rào cản với sự phát triển của QTDN. Hiện nay, vấn đề QTDN đang ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp và mô hình UBKT đã có những bước phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện. Mặc dù thời gian áp dụng mô hình UBKT tại Việt Nam chưa nhiều, nhưng với những hiệu quả mà UBKT đem lại cả lý thuyết lẫn thực tế, chúng ta nên mạnh dạn đưa ra những quy định mang tính bắt buộc áp dụng UBKT đối với các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Cụ thể:
Đối với doanh nghiệp niêm yết quy mô lớn, việc tổ chức hoạt động theo mô hình không UBKT trực thuộc HĐQT là mô hình bắt buộc và không có ngoại lệ. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
Trên cơ sở nêu trên, vào thời điểm thích hợp, tiếp tục áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp niêm yết còn lại tại Việt Nam, không phân biệt quy mô, lĩnh vực hoạt động. Theo đó, tính bắt buộc này được cụ thể hóa bằng các quy định, điều kiện khi niêm yết cổ phiếu tại các sở giao dịch chứng khoán và phải tuân thủ quy định về UBKT trong suốt thời hạn niêm yết. Điều đó có nghĩa, bất kỳ doanh nghiệp nào có chiến lược niêm yết cổ phiếu, doanh nghiệp đó cần chuẩn bị lộ trình và đáp ứng các điều kiện về UBKT trong tổ chức, dành thời gian nghiên cứu, kiện toàn cơ cấu tổ chức quản lý trước khi niêm yết cổ phiếu.
Thứ hai, cho phép Uỷ ban kiểm toán tham gia vào quá trình công bố thông tin và những thay đổi về nhân sự của Ủy ban kiểm toán phải được công bố thông tin UBKT đảm trách nhiều công tác quan trọng liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, UBKT còn được xem là người đại diện và thay mặt cổ đông để giám sát các hoạt động tại doanh nghiệp, qua đó bảo vệ quyền lợi của cổ đông. Do đó, các thay đổi về thành viên UBKT cần được công bố thông tin kịp thời để cổ đông và các bên liên quan được biết. Pháp luật Singapore dành nhiều quy định để điều chỉnh, kiểm soát việc bổ nhiệm, thay đổi nhân sự của UBKT, để bảo đảm tính minh bạch và duy trì sự độc lập trong hoạt động của UBKT, và các thay đổi về bổ nhiệm, miễn nhiệm của thành viên UBKT được công bố thông tin theo quy định. Pháp luật Việt Nam nên có cách tiếp cận nghiêm túc theo hướng mà pháp luật Singapore đã quy định và trao thêm cho cổ đông công cụ để cập nhật những gì đang xảy ra tại doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, UBKT cần được mở rộng thẩm quyền trong việc tiếp cận và có ý kiến, thậm chí bảo lưu quan điểm đối với các thông tin mà doanh nghiệp phải công bố thông tin, để bảo đảm thông tin công bố là chính xác, đầy đủ và kịp thời cho các đối tượng sử dụng, tránh gây thiệt hại cho công ty và cổ đông. Việc này hứa hẹn giúp cho hoạt động công bố thông tin tại doanh nghiệp hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm của cấp quản lý trong việc chuẩn bị, công bố thông tin và giảm thiểu các vi phạm về công bố thông tin.
Thứ ba, cho phép Ủy ban kiểm toán tham gia vào quá trình bổ nhiệm các vị trí chủ chốt tại công ty
Đối với các vị trí quan trọng, nắm giữ thông tin quan trọng mà người giữ chức vụ có thể tạo ra các xung đột lợi ích, gây thiệt hại cho công ty, cần có ý kiến của UBKT trước khi bổ nhiệm các chức vụ này. UBKT sẽ đánh giá một cách đầy đủ các khía cạnh liên quan, nhằm bảo đảm công tác bổ nhiệm là phù hợp và đúng đắn, loại bỏ các yếu tố xung đột lợi ích tiềm tàng tại doanh nghiệp. Trường hợp UBKT có ý kiến quan ngại hoặc phản đối việc bổ nhiệm đó, ý kiến đó cần được công khai kịp thời cho các bên có liên quan.
3.2 Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty cổ phần Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
3.2.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị công ty cổ phần
Hiệu quả quản trị công ty là yếu tố đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến kiểm soát rủi ro trong hoạt động của công ty nói chung và KSNB trong CTCP nói riêng. Bởi vậy nếu quản trị công ty tốt thì sẽ giúp cho công ty có thể nhận diện, đánh giá, phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
Quản trị công ty ở Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại xuất phát từ nguồn gốc là các công ty gia đình hoặc từ doanh nghiệp nhà nước; lãnh đạo công ty, nhất là công ty nhỏ và vừa, không có nền tảng kiến thức và kinh nghiệm tốt về quản trị công ty; các công ty có xu hướng không tuân thủ hoặc chỉ tuân thủ các yêu cầu tối thiểu về quản trị công ty, không áp dụng các thông lệ quản trị công ty tốt…
Đối với các công ty niêm yết, chất lượng quản trị công ty của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, khoảng cách về quản trị công ty của Việt Nam vẫn còn khá xa khi so sánh với các quốc gia trong khu vực ASEAN, chưa nói đến so sánh với các quốc gia phát triển với những công ty có chất lượng quản trị tốt. Với thực tế như trên, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của quản trị công ty là một trong những vấn đề cấp thiết
- Biểu đồ 3: Điểm quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2018-2021
- Biểu đồ 4: Tổng hợp kết quả đánh giá khuôn khổ quản trị công ty của Việt Nam
Thứ nhất, giải pháp đối với cổ đông, cổ đông thiểu số. Pháp luật doanh nghiệp quy định khá cụ thể và chi tiết về các quyền của cổ đông và trao cho cổ đông các công cụ để bảo vệ mình. Các công cụ này có được sử dụng hay không và sử dụng hiệu quả ở mức độ nào phụ thuộc vào chính các cổ đông. Do đó, để thực hiện quyền của mình và bảo vệ được quyền của mình, các cổ đông cần:
Một là, hiểu rõ ý nghĩa và nội dung của quy định về quyền của cổ đông, bảo vệ quyền của cổ đông, đặc biệt là cổ đông nhỏ, từ đó thực hiện quyền được trao theo đúng yêu cầu về trình tự, thủ tục.
Hai là, các cổ đông phải luôn có y thức chủ động và thường xuyên theo dõi, giám sát đối với hoạt động của công ty nói chung và hoạt động của người quản lý nói riêng. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
Ba là, các cổ đông không lạm dụng những quyền hạn, công cụ được trao. Bởi lẽ, xét cho cùng, khi các cổ đông lạm dụng quyền hạn, công cụ được trao để giám sát hoạt động của công ty, người quản lý quá mức bình thường sẽ gây tốn kém thời gian, chi phí cho công ty, gây ảnh hưởng hoạt động của công ty, từ đó làm giảm lợi ích của công ty. Ảnh hưởng cuối cùng chính là sự thiệt hại cho chính lợi ích của cổ đông.
Thứ hai, giải pháp đối với chính công ty cổ phần, cụ thể:
Một là, bản thân các CTCP cũng cần có sự nhìn nhận những ưu và nhược điểm của từng mô hình QTCT cổ phần, dựa trên thực tiễn của công ty để lựa chọn mô hình phù hợp. Thông lệ quốc tế tốt cho thấy, luôn có sự bù trừ giữa tính hiệu quả và mức độ kiểm soát. Trong trường hợp các vấn đề về nguyên nhân và xung đột lợi ích giữa các bên được ưu tiên giải quyết, các cổ đông có thể lựa chọn mô hình quản trị hai cấp. Tuy nhiên, áp dụng mô hình này cũng cần lưu ý về việc một hệ thống quản trị với sự giám sát chặt chẽ sẽ “trói tay” các cán bộ quản lý và khiến cho hoạt động kinh doanh cũng như việc ra quyết định trở nên thiếu hiệu quả. Mặt khác, khi cổ các cổ đông và các cán bộ quản lý tin cậy lẫn nhau và công ty cần phải nâng cao hiệu quả để khai thác các cơ hội kinh doanh tốt hơn, công ty có thể lựa chọn hệ thống quản trị một cấp, vốn thiên về mặt quản lý hơn.
Hai là, một số lưu ý của CTCP khi xây dựng và thực thi Điều lệ công ty. Theo đó, các CTCP phải lưu ý: (i) Khi Điều lệ công ty trao thêm thẩm quyền cho HĐQT, những quyền này cần phải phù hợp với chức năng thông thường của HĐQT để tránh sự mập mờ trong phân chia thẩm quyền giữa ĐHĐCĐ, HĐQT, Tổng giám đốc/Giám đốc; (ii) Điều lệ công ty phải được xây dựng với quan điểm hướng tới việc phân chia trách nhiệm giữa các thiết chế quản trị của công ty trên cơ sở thiết chế nào phù hợp nhất với nhiệm vụ nào thì được giao nhiệm vụ đó. Nghĩa là, nhiệm vụ quản lý cần giao cho cán bộ quản lý chuyên nghiệp; nhiệm vụ giám sát cần được giao cho các thể chế giám sát như Ban kiểm soát, Uỷ ban kiểm toán và ĐHĐCĐ.
Ba là, các CTCP cần chú trọng hoạt động công bố thông tin. Thực tiễn cho thấy, các công ty có chế độ công bố thông tin tốt cũng là những công ty đạt mức điểm cao nhất về QTCT, trong khi hoạt động công bố thông tin lại là hoạt động dễ dàng được thực hiện nhất. Quản trị tốt có thể bắt đầu một cách đơn giản từ việc theo sát các quy định công bố thông tin của pháp luật, cao hơn là áp dụng các thông lệ công bố thông tin tốt, đặc biệt ở các khía cạnh như công bố tài liệu ĐHĐCĐ, biên bản và Nghị quyết đại hội, công bố thông tin quản trị ở mục quan hệ nhà đầu tư một cách đầy đủ, quy củ.
Về nội dung thông tin được công bố, thông tin của công ty bao gồm rất nhiều loại khác nhau và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động quản trị đồng thời quyết định đến việc đảm bảo thực hiện mục tiêu quản trị đã đề ra của chủ thể quản trị. Tại một công ty cổ phần có hai dòng thông tin, thông tin quản trị từ chủ thể quản trị (cổ đông và Đại hội đồng cổ đông) chuyển xuống các đối tượng quản trị (Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và những người quản lý, điều hành khác) hay thông tin từ các đối tưởng quản trị chuyển lên cho chủ thể quản trị được gọi là dòng thông tin theo chiều dọc. Những thông tin này yêu cầu phải đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, minh bạch và đúng quy định về nội dung, hình thức, phạm vi cung cấp mới kịp thời đưa ra những quyết sách quản trị hiệu quả. Dòng thông tin còn lại là thông tin được trao đổi giữa các đối tượng quản trị ngang cấp như giữa Ban kiểm soát và Hội đồng quản trị. Việc giữ lại một phần thông tin, không cung cấp đầy đủ hoặc cung cấp thông tin không chính xác có tác động rất lớn đến hiệu quả quản trị công ty. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
3.2.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần
Thứ nhất, môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, tác động đến ý thức của mọi người trong công ty, là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống KSNB. Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của doanh nghiệp và đến các mục tiêu được thiết lập cũng như ý thức của các thành viên. Các yếu tố của môi trường kiểm soát bao gồm đặc thù quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, bộ máy kiểm soát, và bộ phận kiểm toán nội bộ. Vấn đề then chốt là nâng cao nhận thức, quan điểm của các nhà quản lý về mục tiêu, vai trò, và các yếu tố cấu thành của hệ thống KSNB và ý nghĩa của việc nhận diện, đánh giá và phân tích rủi ro.
- Biểu đồ 5: Các yếu tố của hệ thống kiểm soá nội bộ doanh nghiệp
Thứ hai, cần có sự minh bạch trong các thông tin quản trị và thông tin kế toán. Theo kinh nghiệm của các nước Mỹ, Nhật và Trung quốc thì việc đưa báo cáo hệ thống KSNB cùng với báo cáo tài chính là bắt buộc, cùng với một loạt các chế tài liên quan nếu doanh nghiệp không thực hiện hoặc không nỗ lực thực hiện xây dựng hệ thống KSNB vững mạnh sẽ là các yếu tố quan trọng để doanh nghiệp quan tâm và đầu tư nhiều hơn cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống KSNB. Cuối cùng hệ thống KSNB dù được xây dựng hoàn thiện đến thế nào cũng không tránh được những sai sót nếu có sự thông đồng giữa người quản lý, giám sát và người thực hiện.
Thứ ba, báo cáo KSNB cần được nộp cùng Báo cáo tài chính của năm. Báo cáo về hệ thống KSNB cần có nội dung sau: Nội dung quy trình kiểm soát nội bộ, diễn giải lưu đồ quy trình kiểm soát nội bộ, trách nhiệm của chủ tịch hội đồng thành viên và Ban giám đốc, các nhà quản lý trong quy trình, tài liệu liên quan. Báo cáo về hệ thống KSNB được kết hợp với báo cáo tài chính để diễn giải sự biến động của đối tượng kế toán trong năm tài chính. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
Thứ tư, trong kiểm soát, vai trò của hệ thống thông tin là vô cùng quan trọng. Trách nhiệm của các công ty niêm yết, các nhà đầu tư và các công ty kiểm toán liên quan đến tính trung thực hợp lý, công khai và minh bạch của các thông tin tài chính được công bố cần được xử lý đúng luật, tăng cường thông tin và truyền thông đối với doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông tin và truyền thông phải đảm bảo thông suốt tới mọi bộ phận và cá nhân trong doanh nghiệp cũng như các đối tượng bên ngoài có liên quan. Tuy nhiên, tại các doanh nghiệp có quy mô lớn, việc truyền thông bên trong từ nhà quản trị cấp cao đến nhân viên thực thi nhiệm vụ thường khó khăn vì thông qua nhiều cấp quản lý. Do vậy, để các chính sách và chỉ thị từ nhà quản trị cấp cao đến nhân viên đều hiểu rõ và thực thi, cần yêu cầu các trưởng phòng, ban phổ biến những nội dung liên quan đến từng nhân viên và yêu cầu nhân viên ký xác nhận trên văn bản minh chứng đã hiểu và nắm rõ các quy định. Đối với các thông tin cần báo cáo lên nhà quản trị cấp cao, doanh nghiệp cần có kênh thông tin mở, sẵn sàng lắng nghe và cần phải làm cho nhân viên tin rằng nhà quản trị cấp cao thực sự muốn biết các vấn đề đang xảy ra và sẽ giải quyết một cách có hiệu quả.
Kết luận chương 3
Với tính chất là loại hình công ty có tính đại chúng nhất trong nền kinh tế thị trường, CTCP luôn giành được sự quan tâm đặc biệt của công chúng, của xã hội và các nhà lập pháp. Bởi vậy, quản trị CTCP nói chung và KSNB trong CTCP nói riêng luôn thuộc nhóm ưu tiên trong việc hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động. Qua nhiều lần được chỉnh sửa, bổ sung bởi sự thay thế của các đạo luật về tổ chức kinh doanh (LDN 2005; LDN 2014, và đến nay là LDN 2020) và các văn bản pháp luật có liên quan (Luật chứng khoán v.v…) thì các quy định pháp luật về KSNB trong CTCP đã tương đối hoàn thiện, tiếp cận được các yêu cầu của thông lệ tốt về quản trị công ty cổ phần trên thế giới song vẫn còn một số hạn chế nhất định cần được tiếp tục hoàn thiện. Trên cơ sở đối chiếu với mô hình chuẩn là kết quả nghiên cứu tại Chương 1 và việc phân tích, đánh giá thực trạng tại Chương 2, Chương 3 của Luận văn đã đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về KSNB trong CTCP ở nước ta trong thời gian tới
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
Kiểm soát nội bộ là vấn đề quan trọng đối với các tổ chức trên thế giới nói chung và các doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp có nguy cơ bị hủy niêm yết trên thị trường chứng khoán do quản trị yếu kém, báo cáo tài chính không minh bạch…
KSNB được ví như là một công cụ quản lý các nguồn lực của doanh nghiệp một cách hữu hiệu góp phần hạn chế những rủi ro phát sinh trong sản xuất và kinh doanh.
Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi mọi tổ chức, doanh nghiệp ở Việt Nam hoạt động cần phải công khai, minh bạch và hiệu quả, do đó, kiểm soát nội bộ là công cụ quản lý hữu hiệu mà thông qua các báo cáo tài chính tin cậy, tuân thủ pháp luật và các quy định của từng ngành để người có thẩm quyền đưa ra các quyết định, kế hoạch phát triển của tổ chức có hiệu quả cao. Thực tế các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro, những rủi ro đó thường là do những yếu kém hoặc cố tình sai phạm của các nhà quản lý, đội ngũ nhân viên hay bên thứ ba lợi dụng những bất cập trong tổ chức gây ra thiệt hại hoặc giảm hiệu quả hoạt động của tổ chức… Để ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro, tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh, tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì yêu cầu nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý được đặt ra cấp bách. Một trong những công cụ quản lý có thể giúp các doanh nghiệp giải quyết các vấn đề đặt ra đó là hệ thống kiểm soát nội bộ. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp vì nó giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đặt ra, ngăn ngừa, hạn chế tới mức thấp nhất các rủi ro đối với doanh nghiệp.
Ngày 17 tháng 6 năm 2020, Quốc Hội đã thông qua LDN 2020 để thay thế cho LDN 2014 kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2021. LDN 2020 được ban hành chỉ sau bốn năm kể từ ngày LDN 2014 có hiệu lực. Như vậy, trong vòng 20 năm, kể từ khi Luật Công ty 1990 – Đạo luật đầu tiên về tổ chức kinh doanh được ban hành trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác lập và vận hành tại Việt nam, quy chế pháp lý thương nhân nói chung và khung pháp lý về quản trị công ty cổ phần nói riêng đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung (bởi LDN 1999; LDN 2014; và LDN 2020). Các thay đổi thường xuyên đó cho thấy nỗ lực của các cơ quan xây dựng pháp luật trong việc cố gắng hoàn thiện và nâng cao chất lượng khung pháp lý về quản trị công ty cổ phần, song cũng cho thấy khung khổ pháp lý về quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập và chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động quản trị của các doanh nghiệp trên thực tế.
Có thể thấy, LDN 2020 ra đời thay thế cho LDN 2014 với mục tiêu kế thừa những điểm tích cực và loại bỏ những điểm còn bất cập, hạn chế về quản trị công ty cổ phần đã có một số quy định mới được kỳ vọng sẽ tạo ra những thuận lợi cho các CTCP trong tổ chức và hoạt động. Tuy nhiên, đối chiếu với các thông lệ tốt về quản trị công ty cổ phần trên thế giới và thực tiễn hoạt động quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam, có thể thấy khung pháp lý về KSNB trong CTCP vẫn còn một số điểm hạn chế, bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện hoặc cần được quy định chi tiết hơn trong những văn bản hướng dẫn thi hành. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về kiểm soát nội bộ Cty tại tỉnh Bình Dương

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát nội bộ công ty