Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình Công chức Tư pháp – thành phố Hà Nội thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, Kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội

Thành phố Hà Nội là Thủ đô của cả nước, là Trung tâm chính trị – hành chính, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế là đầu mối giao thương đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường sông tỏa đi trong cả nước và đi quốc tế.

Sau khi được mở rộng vào năm 2008 có diện tích 3.324,92km², dân số hiện nay là 7,739,4 nghìn người; gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 584 xã, phường, thị trấn; Mật độ dân cư trung bình là 2.304 người/km2. Lực lượng lao động toàn thành phố luôn chiếm 50% dân số;

Hà Nội đang có nền kinh tế phát triển nhanh chóng; đa dạng về ngành nghề và thành phần kinh tế, là một trong những thành phố dẫn đầu nền kinh tế cả nước.

Bên cạnh đó, lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển; phát triển hạ tầng số, hạ tầng khoa học và công nghệ gắn với đổi mới, sáng tạo và khởi nghiệp được chú trọng; cải cách hành chính, thực hiện chủ đề “Kỷ cương, trách nhiệm, 4 hành động, sáng tạo, phát triển” được đẩy mạnh…

Với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội phát triển là môi trường để chọn sinh sống và lập nghiệp và phát triển Hà Nội có lượng dân số cơ học tăng nhanh; thu hút Lượng người nước ngoài sinh sống, làm việc, thăm quan Thủ đô. Trung bình hàng ngày trên địa bàn Thành phố có khoảng 61.000 người nước ngoài tạm trú tại 15.163 cơ sở lưu trú; có nhiều doanh nghiệp, tổ chức người ngoài với trên 28.500 người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc, học tập, sinh sống tại Thành phố.

Với vị trí địa lý trung tâm và điều kiện phát triển kinh tế, xã hội thuận lợi của Thành phố Hà Nội thì việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện được dễ dàng, việc xác minh của các quận, huyện thông qua Cục lãnh sự – Bộ Ngoại giao thuận lợi, người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài dễ dàng đến UBND cấp huyện để thực hiện việc đăng ký hộ tịch.

2.1.2. Tình hình công chức phòng Tư pháp thành phố Hà Nội thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có trách nhiệm tham mưu, giúp việc cho UBND trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn, chịu trách nhiệm trước UBND về công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Về số lượng và độ tuổi cán bộ Tư pháp cấp huyện, thành phố Hà Nội như sau [50]:

  • Bảng 2.1: Hiện trạng cán bộ công chức các phòng Tư pháp cấp huyện thành phố Hà Nội

Về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin học [50]

  • Bảng 2.2: Thực trạng trình độ cán bộ công chức các phòng Tư pháp cấp huyện thành phố Hà Nội

Với đội ngũ làm công tác tư pháp cấp huyện trên địa bàn Thành phố Hà Nội có trình độ chuyên môn cao, 100% cán bộ, công chức đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch, với độ tuổi phù hợp là những điều kiện tốt đảm bảo thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố.

2.2. Kết quả thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội và nguyên nhân đạt được kết quả Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Sau khi có sự phân cấp về thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài từ cấp tỉnh xuống cấp huyện, UBND cấp huyện xác định đây là sự tin tưởng của Trung ương, Thành phố đối với cấp cơ sở, trong thời gian qua, với sự cố gắng của toàn thể cán bộ, công chức các phòng Tư pháp thuộc Thành phố, công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã đạt được một số kết quả như sau:

2.2.1. Kết quả thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

Để triển khai thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội; Sở Tư pháp đã thực hiện tốt công tác chỉ đạo và hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho UBND quận, huyện, thị xã thuộc thành phố Hà Nội. Từ 2016 – 2022 Sở Tư pháp Hà Nội đã ban hành hơn 350 văn bản hướng dẫn UBND cấp huyện, UBND cấp xã về nghiệp vụ hộ tịch và trả lời nhiều đơn thư của công dân về hộ tịch.

Sở Tư pháp đã tổ chức 15 Hội nghị để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về công tác đăng ký và quản lý hộ tịch cho công chức Tư pháp của 30 Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp – Hộ tịch của 579 xã, phường, thị trấn.

Thành phố Hà Nội đã chú trọng bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài cho đội ngũ làm công tác tư pháp cấp huyện; kiện toàn đội ngũ công chức Tư pháp làm công tác hộ tịch. Theo đó mỗi phòng Tư pháp cấp huyện có từ 4-10 công chức, trong đó có từ 1-3 công chức lãnh đạo phòng. Đến ngày 31/12/2022, có 193 công chức đang công tác tại phòng Tư pháp cấp huyện. Trong đó 80 cán bộ lãnh đạo cấp phòng và 67 công chức kiêm nhiệm công tác hộ tịch; các cán bộ Tư pháp cấp huyện đều có thâm niên từ 2-20 năm trở lên, hàng năm đều được tập huấn nghiệp vụ, các chế độ chính sách của công chức tư pháp cấp huyện được chi trả theo đúng quy định của pháp luật. Đáp ứng yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính và thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Phòng Tư pháp các quận, huyện, thị xã thuộc Thành phố đã thực hiện tốt việc tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về công tác hộ tịch trên địa bàn như: Tham mưu ban hành các chương trình, kế hoạch và các văn bản chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện công tác hộ tịch trên địa bàn, tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức Tư pháp – Hộ tịch về thực hiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài; tham mưu thực hiện cấp giấy tờ hộ tịch cho người dân kịp thời, đầy đủ theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài được quan tâm, chú trọng. Xác định công tác tuyên truyền PBGDPL là cầu nối giữa xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật, UBND các quận, huyện thị xã thuộc Thành phố hàng năm đã xây dựng kế hoạch tuyên truyền PBGDPL trong đó có nội dung tuyên truyền PBGDPL về hộ tịch có yếu tố nước ngoài với các nội dung tuyên truyền cụ thể: Thẩm quyền, trình tự, thủ tục… khi thực hiện đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Từ 2019 đến 31/8/2022 đã phát 1.500 cuốn nghiệp vụ đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài; phát hành 410.000 tờ gấp tuyên truyền về một số quy định của pháp luật về Luật Hộ tịch.

Kết quả các quận, huyện, thị xã thuộc Thành phố tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài, thành phần hồ sơ được niêm yết công khai, minh bạch, việc cấp các giấy tờ hộ tịch có yếu tố nước ngoài đảm bảo đúng quy trình, thủ tục được công bố.

Đối với cá nhân khi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Điều 12 Luật Hộ tịch năm 2014, qua kiểm tra các hồ sơ thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại các quận, huyện, thị xã đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật mà công dân mang quốc tịch, các thông tin trong sổ hộ tịch, cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và hồ sơ đều khớp, không có hiện tượng tẩy xóa, sửa chữa.

UBND thành phố Hà Nội đã cập nhật cơ sở dữ liệu hộ tịch có yếu tố nước ngoài và lên phần mềm quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp. Hiện nay, theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố Hà Nội đang tiến hành số hóa dữ liệu hộ tịch và cập nhật dữ liệu hộ tịch đã số hóa lên phần mềm quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp. Hiện nay đã có 16/30 quận huyện thực hiện xong việc số hóa và cập nhật dữ liệu hộ tịch đã số hóa lên phần mềm quản lý hộ tịch Bộ Tư pháp.

Theo Kế hoạch 30 quận, huyện, thị xã thành phố Hà Nội phải thực hiện số hóa và cập nhật dữ liệu xong trong năm 2023.

Cải cách thủ tục hành chính: Các quận, huyện, thị xã đã rà soát 16 thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài, trong quá trình rà soát loại bỏ các giấy tờ không cần thiết phải nộp, phải chứng thực, công chứng, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài.

Việc thực hiện đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận việc thực hiện được dễ dàng, thuận lợi nên công dân nước ngoài thay vì đến cơ quan đại diện của nước họ tại Việt Nam hay về nước của họ để đăng ký thì họ đã chọn cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để thực hiện việc đăng ký hộ tịch của mình như: Kết hôn, khai sinh, khai tử… Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Từ năm 2019 – 2022 các quận huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội không nhận được đơn thư khiếu nại, tố cáo của chủ thể tham gia thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài, UBND cấp huyện.

Kết quả thực hiện pháp luật về đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

Năm 2019 đến năm 2022, 30 quận, huyện, thị xã thuộc thành phố Hà Nội đã thực hiện đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài cho: 1811 trường hợp; trong đó: 948 nữ và 863 nam.

Các quy định pháp luật về đăng ký khai sinh đều được thực hiện đúng và hiệu quả đảm bảo quyền khai sinh cho trẻ em. Số lượng đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố tăng theo hằng năm. Tỷ lệ khai sinh đúng hạn tăng và giảm tỷ lệ khai sinh quá hạn.

Các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia được đảm bảo thực hiện.

  • Kết quả thực hiện pháp luật về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Năm 2019-2022, 30 quận, huyện, thị xã thuộc thành phố Hà Nội đã thực hiện đăng ký kết hôn cho 1858 đôi, trong đó số công dân Việt Nam cư trú trong nước kết hôn với người nước ngoài là: 1502 người (261 Nam và 1241 nữ), số người kết hôn chia theo lãnh thổ, quốc gia của công dân nước ngoài mang quốc tịch/cư trú: 2214 (Trung Quốc Đại Lục: 182, Trung Quốc (Đài Loan): 235, Hàn Quốc: 295, Quốc gia/vùng lãnh thổ khác: 1502).

Pháp luật về đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã thành phố thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Quy trình, thủ tục, công khai minh bạch.

Công chức thực hiện đăng ký kết hôn luôn thực hiện đúng các quy định pháp luật về đăng ký kết hôn, không vi phạm quy định cấm của luật hộ tịch khi đăng ký kết hôn cho công dân. Luôn có thái độ niềm nở nhiệt tình chu đáo; hướng dẫn tận tình khi công dân Việt Nam, người nước ngoài…đến thực hiện thủ tục. Tại các quận, huyện khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn đều tổ chức lễ trao giấy kết hôn tại nơi trang trọng và thực hiện trao thư chúc mừng để lại ấn tượng tốt đối với người nước ngoài khi họ thực hiện thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

  • Kết quả thực hiện pháp luật về đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Năm 2019 – 2022, 30 quận, huyện, thị xã thuộc thành phố Hà Nội đã thực hiện đăng ký khai tử cho 222 trường hợp, trong đó có 206 trường hợp là người nước ngoài. Việc thực hiện đăng ký khai tử tại cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội được thực hiện đúng quy định về mặt thủ tục, thời gian, đúng quy định. Việc đăng ký liên quan đến việc chuyển thi hài hoặc tro cốt của người chết về nước của họ. Vì vậy, mà các công chức làm công tác hộ tịch và lãnh đạo phòng Tư pháp, lãnh đạo UBND huyện đều xác định khi hồ sơ đầy đủ, đúng quy định thì trả kết quả ngay cho người đi đăng ký từ 1-2 tiếng hoặc trong buổi làm việc; không kéo dài thời gian xử lý.

  • Kết quả thực hiện pháp luật về các thủ tục có yếu tố nước ngoài khác trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Năm 2019-2022, 30 quận, huyện, thị xã thuộc thành phố Hà Nội đã thực hiện nhận cha, mẹ, con: 215 trường hợp; thay đổi cải chính, bổ sung hộ tịch: 75 trường hợp; Ghi vào sổ việc hộ tịch đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài gồm: Ghi chú khai sinh: 41 Trường hợp; Ghi chú kết hôn: 440 trường hợp; Ghi chú ly hôn: 217 Trường hợp, Ghi chú hộ tịch khác: 116, Ghi chú Nuôi con Nuôi: 01.

Việc thực hiện pháp luật về cha, mẹ nhận con, thay đổi cải chính hộ tịch, Ghi vào sổ việc hộ tịch đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đều được thực hiện đúng quy định, kịp thời.

  • Kết quả như sau [68]

Biểu đồ: Kết quả đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 đến 2022

2.2.2. Nguyên nhân đạt được những kết quả của thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Thứ nhất, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, của lãnh đạo Quận ủy, Hội đồng nhân dân, UBND cấp huyện cùng với sự nỗ lực của cán bộ, công chức các phòng Tư pháp quận, huyện, thị xã trực thuộc Thành phố Hà Nội

Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn lực tài chính cho phòng Tư pháp cấp huyện được quan tâm. Đội ngũ cán bộ thường xuyên được Thành phố tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Các vướng mắc, khó khăn trong giải quyết thủ tục hành chính và thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài sẽ trực tiếp trao đổi với sở Tư pháp để được hướng dẫn. Đối với những trường hợp phức tạp sẽ xin hướng dẫn nghiệp vụ bằng văn bản và được giải đáp bằng văn bản là cơ sở để giải quyết thực hiện những tình huống tương tự phát sinh trong tương lai.

Việc giải quyết các yêu cầu về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện. Việc quản lý hồ sơ, biểu mẫu hộ tịch được cán bộ các phòng Tư pháp thực hiện tốt, đảm bảo thuận lợi cho việc tra cứu, sao lục khi cần thiết. Các thủ tục hành chính được rà soát thường xuyên và niêm yết công khai, minh bạch cho người đi đăng ký hộ tịch dễ tiếp cận.

Thứ hai, công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của mọi người dân được quan tâm Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Xác định công tác tuyên truyền PBGDPL về hộ tịch có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa quan trọng, các kế hoạch tuyên truyền hàng năm của quận, huyện, thị xã thuộc Thành phố đã bảo đảm được yêu cầu nâng cao nhận thức của các chủ thể trong xã hội trong việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, mục đích, ý nghĩa của việc đăng ký hộ tịch.

Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn Thành phố đã tổ chức nhiều hội nghị quán triệt các nội dung hộ tịch có yếu tố nước ngoài cho đội ngũ công chức lãnh đạo, công chức trực tiếp thực hiện đăng ký hộ tịch. Ngoài ra các phòng Tư pháp thuộc quận, huyện, thị xã thuộc Thành phố đã chủ động biên soạn đề cương, hướng dẫn, bài tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch phát cho công dân… Qua đó đã nâng cao nhận thức về trách nhiệm, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài của cá nhân có yêu cầu và nâng cao ý thức, kiến thức của cán bộ công chức trong thực thi nhiệm vụ.

Có sự chủ động tuyên truyền sâu rộng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với công tác quản lý nhà nước, nhất là việc quản lý dân cư, phối hợp quản lý việc xuất nhập cảnh sau khi thực hiện việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Thứ ba, đội ngũ công chức các phòng Tư pháp quận, huyện, thị xã trực thuộc thành phố Hà Nội ngày càng được củng cố, tăng cường về số lượng, đảm bảo chất lượng đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ.

So với trước khi được phân cấp về thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài về UBND quận, huyện, thị xã thì đội ngũ công chức phòng Tư pháp còn thiếu (có nơi chỉ có 3 công chức), trình độ còn chưa đạt chuẩn theo yêu cầu của Thành phố, thậm chí công chức cao tuổi còn nhiều, đội ngũ cán bộ trẻ hạn chế. Cho đến nay, đội ngũ công chức phòng Tư pháp cấp huyện đã được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, cán bộ được đào tạo bài bản, dễ tiếp cận cái mới, công nghệ hiện đại, trình độ ngoại ngữ ngày càng được nâng cao.

Thứ tư, bồi dưỡng nghiệp vụ, thanh tra, kiểm tra về đăng ký, quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện đúng quy định, việc thực hiện kết luận sau thanh tra, kiểm tra được thực hiện nghiêm túc.

Công tác thanh tra, kiểm tra là việc làm thường xuyên của cơ quan nhà nước, quan công tác thanh tra, kiểm tra các tồn tại, khó khăn, ưu điểm, khuyết điểm được chỉ ra, qua đó tiếp tục phát huy ưu điểm, khắc phục các tồn tại, hạn chế, khuyết điểm để kịp thời chấn chỉnh, làm tốt công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Hàng năm, các quận, huyện, thị xã được cơ quan tư pháp cấp tỉnh, trung ương thực hiện hiện việc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch. Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra trong thời gian vừa qua, UBND cấp huyện thuộc Thành phố đều thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài như: việc niêm yết thủ tục hành chính, thu lệ phí hộ tịch, lưu trữ và quản lý hồ sơ, cập nhật thông tin hộ tịch vào phần mềm quản lý… Việc hướng dẫn công dân khi thực hiện thủ tục hành chính về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài được cán bộ hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo, đúng pháp luật. Các kết luận sau thanh tra được UBND quận, huyện, thị xã thực hiện nghiêm túc và kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những kết luận của đoàn thanh tra, kiểm tra.

Thứ năm, công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ, cơ sở dữ liệu hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện tốt.

Việc sử dụng biểu mẫu, sổ sách hộ tịch đúng theo các loại biểu mẫu do Bộ Tư pháp ban hành, hàng năm các sổ hộ tịch được khóa sổ và chuyển lên cấp trên 01 bản (photo chứng thực). Từ năm 2020 khi thông tư 04/2020/TT-BTP ra đời, phòng Tư pháp không chuyển lên cấp trên 01 bản (photo chứng thực) sổ hộ tịch nữa.

Các sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch được UBND quận, huyện, thị xã lưu trữ theo quy định của Luật Lưu trữ, sắp xếp ngăn nắp, khoa học, dễ tra cứu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đang được các thành phố chỉ đạo triển khai thực hiện.

Thứ sáu, thực hiện tốt sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc xác minh, kiểm tra thông tin của người yêu cầu đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Theo thông lệ quốc tế, nếu các cơ quan chức năng Việt Nam cần xác minh giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp thì có văn bản gửi Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao để chuyển tiếp yêu cầu xác minh tới các cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam và ngược lại nếu cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam có yêu cầu xác minh giấy tờ do cơ quan chức năng Việt Nam cấp thì phải có công hàm gửi yêu cầu xác minh tới Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao để được chuyển tiếp tới các cơ quan địa phương ….

Các quận, huyện, thị xã thuộc Thành phố Hà Nội phối hợp với Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao trong việc xác minh các giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp đảm bảo yêu cầu, không gây ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài của cá nhân người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân Việt Nam.

2.3. Hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.3.1. Hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trong thời gian qua việc thực hiện pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn tồn tại những hạn chế như:

2.3.1.1. Vẫn còn tồn tại một số nội dung chưa thống nhất, đồng bộ giữa Luật Hộ tịch và các luật khác có liên quan.

Chưa có sự đồng bộ thống nhất giữa Luật Hộ tịch với Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Cư trú và các văn bản pháp luật có liên quan khác ở một số nội dung liên quan đến thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài

Thứ nhất, Luật Cư trú với Luật Hộ tịch: Nhiều trường hợp công dân Việt Nam đã định cư tại nước ngoài hoặc đã có quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn có hộ khẩu thường trú tại Việt Nam, vẫn được cấp đổi thẻ căn cước, CMND Việt Nam. Dẫn đến khó khăn trong việc xác định thẩm quyền khi đăng ký hộ tịch. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Quy định về thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con chưa phù hợp theo Luật Cư trú khi Điều 43 Luật Hộ tịch quy định thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa người nước ngoài với nhau mà một hoặc cả hai bên thường trú tại Việt Nam. Điều 18 Luật Cư trú quy định “Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ”, Điều 2 Luật Cư trú quy định đối tượng áp dụng của Luật là công dân Việt Nam. Như vậy người nước ngoài chỉ có thể đăng ký tạm trú chứ không thể đăng ký thường trú, do vậy quy định này là không phù hợp.

Thứ hai, Luật Quốc tịch với Luật Hộ tịch: Luật Quốc tịch chưa quy định cụ thể như thế nào là “định cư ở nước ngoài” nên đã gây khó khăn trong việc phân định thẩm quyền giữa UBND cấp xã và cấp huyện. Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Vậy thế nào là “sinh sống lâu dài ở nước ngoài”, hiện nay Luật Quốc tịch, Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa hướng dẫn cụ thể.

Thứ ba, Luật Hộ tịch với Bộ Luật Dân sự: Quy định về đăng ký giám sát giám hộ: Tại Điều 51 Bộ luật Dân sự quy định về việc đăng ký giám sát giám hộ được thực hiện tại UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ. Tuy nhiên Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành không quy định về đăng ký giám sát giám hộ, biểu mẫu về giám sát giám hộ khi tiếp nhận giải quyết hồ sơ.

Việc đặt tên cho con khi đăng ký khai sinh: Điểm 2 khoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự: “Tên của công dân Việt Nam phải bằng Tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ”. Theo quy định của Luật Quốc tịch, công dân Việt Nam phải có tên gọi Việt Nam. Tuy nhiên có nhiều trường hợp, cha và mẹ chọn quốc tịch Việt Nam nhưng khi đăng ký khai sinh cho con, cha mẹ vẫn muốn đặt tên cho con giống với tên nước ngoài như: Lê Mai Ka, Trần Công Lộc Mắc Ka, Ê li ô Minh… Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là tên bằng Tiếng Việt, tên bằng tiếng dân tộc khác của Việt Nam…

2.3.1.2. Hạn chế trong thực hiện các quy định cụ thể về các nội dung đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Thứ nhất, hạn chế về thực hiện pháp luật về đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài trên địa thành phố Hà Nội

  • Còn tồn tại hiện tượng không thực hiện đúng quy định pháp luật về thời hạn đăng ký khai sinh

Qua thực hiện pháp luật phát sinh ra các trường hợp quyền khai sinh của trẻ em chưa được đảm bảo do việc người có trách nhiệm đăng ký khai sinh không thi hành pháp luật. Cụ thể theo Quy định của pháp luật hộ tịch quy định: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em” (Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014).

Tuy nhiên, trên thực tế quyền khai sinh của trẻ em không được đảm bảo, quy định pháp luật không được thực hiện đúng bởi các chủ thể thực hiện pháp luật. Cụ thể là những người có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh không thực hiện đúng về thời hạn đăng ký khai sinh cho trẻ. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Do khi người Việt Nam với người nước ngoài phát sinh quan hệ và sinh con nhưng chưa có hôn thú; vì khó khăn trong thực hiện thủ tục kết hôn do khoảng cách về địa lý, khó khăn trong việc chuẩn bị giấy tờ pháp lý để đăng ký kết hôn. Nên khi sinh em bé ra không đi đăng ký khai sinh cho trẻ đến khi trẻ lớn lên nhu cầu đi học, đi khám chữa bệnh và các giao dịch khác thì khi đó mới làm khai sinh cho trẻ. Tuy nhiên, khi đó có nhiều vấn đề phát sinh. Nhiều trường hợp thuận lợi thì sẽ làm khai sinh kết hợp cha nhận con. Nhưng có những trường hợp để thời gian quá lâu các căn cứ pháp lý khó xác định dẫn đến việc đăng ký cho trẻ cực kỳ phức tạp.

Ví dụ: Trường hợp Bé trai được sinh năm 2014 là con của 01 người đàn ông Hàn Quốc khi sống chung cùng 01 người phụ nữ Việt Nam. Khi bé sinh ra không được đăng ký khai sinh ngay, sau đó mẹ bỏ đi để lại cho người cha Hàn Quốc nuôi. Năm 2022, người cha mới đi làm khi sinh kết hợp cha nhận con. Tuy nhiên, qua xác minh người mẹ này khi sinh bé trai đang có quan hệ vợ chồng với 01 người đàn ông khác. Hiện nay, người cha Hàn Quốc không thể nào liên hệ được với người mẹ và qua xác minh gia đình người mẹ và chính quyền cũng không nắm bắt được thông tin của bà hiện bà đang ở đâu ? Trong trường hợp này không có ý kiến của người mẹ và người chồng của người mẹ nên UBND quận có thẩm quyền chưa thể xác định là không có tranh chấp. Theo quy định tại Điều 101 thẩm quyền xác định cha mẹ con quy định: “Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp”.

Và theo khoản 4 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/05/2020 quy định chi tiết một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: “Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật”.

Do UBND quận chưa có thẩm quyền xác định cha con trong trường hợp này nên không thể đăng ký khai sinh cho bé trai theo yêu cầu. Tuy nhiên, Để đảm bảo quyền khai sinh cho trẻ đề nghị người cha liên hệ người thân thích của bé như: Ông, bà hoặc người thân thích khác của trẻ hoặc tổ chức, cá nhân đang nuôi dưỡng trẻ đi đăng ký khai sinh cho trẻ (khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch) tại cơ quan có thẩm quyền là UBND cấp xã nơi cư trú của người mẹ của trẻ (Điều 13 Luật Hộ tịch). Còn việc xác định cha cho trẻ do Tòa án xác định.

Như vậy, rõ ràng trong trường hợp này những người có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh trong thời hạn 60 ngày. Nếu những người có trách nhiệm thực hiện đúng quy định về trách nhiệm đăng ký khai sinh thì quyền khai sinh của bé đã được đảm bảo. Tuy nhiên, thực tế 7 tuổi bé chưa được đăng ký khai sinh, kéo theo quyền đi học, quyền khám chữa bệnh của em bé bị ảnh hưởng nghiêm trọng; quy định pháp luật không được thực thi trong thực tế.

  • Không thực hiện quy định về xuất nhập cảnh dẫn đến không thi hành đúng các giấy tờ phải nộp khi đăng ký khai sinh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp về việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam hoặc cha và mẹ đều là công dân Việt Nam, chưa được đăng ký khai sinh ở nước ngoài, về cư trú tại Việt Nam thì phải nộp các giấy tờ chứng minh việc trẻ em đã nhập cảnh vào Việt Nam (như: hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế có dấu xác nhận nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh và văn bản xác nhận của cơ quan công an có thẩm quyền về việc trẻ em đang cư trú tại Việt Nam). Tuy nhiên, có một số trường hợp trẻ em sinh ra ở nước ngoài tại các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Trung Quốc khi đưa con về cư trú tại Việt Nam thường không thực hiện các nguyên tắc, thủ tục theo quy định về xuất nhập cảnh để xin hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế mà đưa con về cư trú tại Việt Nam theo đường không chính thống, do đó khi đăng ký khai sinh cho con không có các giấy tờ chứng minh trẻ em đã nhập cảnh vào Việt Nam. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

  • Về thi hành pháp luật quy định thỏa thuận về việc lựa chọn quốc tịch cho con:

Luật Hộ tịch quy định: “Trường hợp cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là người nước ngoài thì phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc chọn quốc tịch cho con”. (Khoản 1 Điều 36 Luật Hộ tịch năm 2014).

Trong việc thực hiện thỏa thuận lựa chọn quốc tịch cho trẻ là con của công dân Việt Nam với công dân nước ngoài, trên thực tế quy định này khi thực hiện có một số trường hợp không thực hiện được. Cụ thể: có trường hợp người nước ngoài sang làm ăn sinh sống tại Việt Nam kết hôn với người Việt Nam. Trong thời gian người vợ mang bầu người chồng về nước sau đó người vợ mất hoàn toàn liên lạc với người chồng khi đăng ký khai sinh cho con không thực hiện được quy định thỏa thuận để chọn quốc tịch cho con.

Trong quá trình thực hiện đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài. Theo quy định của luật quy định “Trường hợp cha, mẹ lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho con khi đăng ký khai sinh, thì ngoài văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch còn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà trẻ được chọn mang quốc tịch về việc trẻ có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó. Nếu cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không xác nhận thì cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ, nhưng để trống phần ghi về quốc tịch trong Giấy khai sinh Sổ đăng ký khai sinh” (Khoản 2 Điều 7 Thông tư 04 Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/05/2020 quy định chi tiết một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch).

Quy định này khi thực hiện pháp luật đối với trường hợp người Việt Nam đăng ký kết hôn với người nước ngoài khi thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ thỏa thuận chọn quốc tịch nước ngoài cho trẻ nhưng cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không xác nhận việc trẻ có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó thì cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ, nhưng để trống phần ghi về quốc tịch trong Giấy khai sinh Sổ đăng ký khai sinh. Khi thực hiện quy định này nhiều nước không thực hiện việc xác nhận về quốc tịch nêu trên gây khó khăn cho họ khi thực hiện thủ tục. và họ phải đăng ký khai sinh xong mới xin được quốc tịch. Trong nhiều hợp người chồng về nước người vợ mất liên lạc dẫn đến việc xin quốc tịch cho người con gặp rất nhiều khó khăn mà khi đó quay về xin quốc tịch Việt Nam lại không thực hiện được vì không có thỏa thuận..

Thứ hai, hạn chế về thực hiện pháp luật về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài trên địa thành phố Hà Nội

Hạn chế trong việc tuân thủ pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đó là việc người dân khi thực hiện thủ tục hành chính về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã cung cấp thông tin không đúng sự thật về quốc tịch của mình.

Trong đăng ký kết hôn còn có tình trạng cung cấp thông tin không đúng sự thật trong thực hiện thủ tục kết hôn. Cụ thể: Từ năm 2020 theo quy định tại Nghị định số 16/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam quy định “việc sử dụng quốc tịch của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác” (Điều 5 Nghị định 16/2020/NĐ-CP).

Và trên các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp cho người việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài thì phần quốc tịch chỉ ghi: quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, trong các cuộc hôn nhân giữa người Việt Nam với người Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài khi cung cấp thông tin để đăng ký kết hôn người Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài thường cung cấp không đúng về tình trạng hai quốc tịch của mình mà chỉ cung cấp mỗi thông tin là mình có quốc tịch nước ngoài và chỉ xuất trình các giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp. Bởi vì, họ muốn ghi quốc tịch nước ngoài trên giấy chứng nhận kết hôn để thuận lợi cho việc bảo lãnh và làm các thủ tục khác để đưa vợ hoặc chồng của mình ra nước ngoài sinh sống. Vì hành vi cung cấp thông tin và giấy tờ không chính xác và đầy đủ này, dẫn đến việc quản lý về tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam không đảm bảo. Vì khi họ đăng ký kết hôn với tư cách quốc tịch nước ngoài thì họ không nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam. Do đó, Cơ quan của Việt Nam có thẩm quyền quản lý tình trạng hôn nhân của người này với tư cách công dân Việt Nam sẽ không cập nhật kịp thời chính xác tình trạng hôn nhân của họ. Tạo lỗ hổng để người này đăng ký kết hôn với tư cách công dân nước ngoài. Nhưng sau đó vẫn xin được tình trạng hôn nhân độc thân của Việt Nam để đăng ký kết hôn với người khác. Điều này sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy pháp lý nghiêm trọng.

Ví dụ cụ thể: Ông Nguyễn Văn A, quốc tịch Việt Nam và bà Pham Thi B, quốc tịch: Canada đã thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Sau đó, sinh được 01 bé trai. Hiện tại gia đình đang tạm trú tại Phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, khi đi làm khai sinh cho con bà Pham Thi A cung cấp thông tin mình có 02 quốc tịch Việt Nam và Canada và cung cấp các giấy tờ liên quan để chứng minh. Tuy nhiên sau khi xem xét hồ sơ, UBND quận Bắc Từ Liêm đã thấy sự không phù hợp giữa các loại giấy tờ do công dân cung cấp với quy định pháp luật. Bởi nếu đúng quy định trên giấy kết hôn phải ghi bà Phạm Thị A, quốc tịch Việt Nam, UBND quận đã xác minh về UBND huyện Gia Lâm, Hà Nội được cung cấp thông tin khi đăng ký kết hôn công dân chỉ nộp các giấy tờ với tư cách công dân canada và khai đã thôi quốc tịch Việt Nam. Như vậy, việc tuân thủ pháp luật trong trường hợp này người dân đã không thực hiện đúng việc phải cung cấp chính xác thông tin và Giấy tờ theo quy định tại tại điểm a khoản 1 Điều 12 Luật Hộ tịch năm 2014.

Hạn chế trong áp dụng pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài đối với người Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài.

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 16/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam quy định “Việc sử dụng quốc tịch của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác” (Điều 5 Nghị định 16/2020/NĐ-CP). Như vậy, theo quy định này thì chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, khi người Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đăng ký kết hôn với người Việt Nam lại thuộc thẩm quyền UBND huyện. Hơn nữa, việc áp dụng quy định này khi đăng ký kết hôn họ không được ghi nhận quốc tịch còn lại. Vậy họ có phải xuất trình giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân với tư cách quốc tịch nước ngoài không? Hiện nay, pháp luật về hộ tịch chưa có quy định cụ thể rõ ràng khi thực hiện đăng ký hộ tịch đối với đối tượng này. Chỉ công nhận tư cách công dân Việt Nam và chỉ ghi quốc tịch Việt Nam trên các giấy tờ cấp cho họ thì có yêu cầu họ xuất trình nộp các giấy tờ với tư cách là công dân nước họ đồng thời mang quốc tịch không và cơ sở pháp lý nào để yêu cầu? Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Các biểu mẫu, tờ khai dùng cho thủ tục đăng ký kết hôn chưa phù hợp với quy định. Tại Khoản 3 Điều 30 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Ngoài giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này, nếu bên kết hôn là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì còn phải nộp bản sao trích lục hộ tịch về việc đã ghi vào sổ việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 của Nghị định này; Nếu là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang thì phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không trái với quy định của ngành đó”. Tuy nhiên, hiện nay trong tờ khai cũng như thành phần hồ sơ chưa có mục về nghề nghiệp do vậy khó xác định đối tượng là công chức, viên chức đang phục vụ trong lực lượng vũ trang. Do không có yêu cầu nên nhiều khi bỏ sót thông tin và có thể sẽ dẫn đến việc đăng ký kết hôn sai quy định. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, việc đăng ký trực tuyến là chủ yếu nên khi công dân nộp hồ sơ trực tuyến sẽ không biết chú ý mình có thuộc đối tượng nêu trên không sẽ không nộp giấy tờ xác nhận của cơ quan theo yêu cầu.

Thứ ba, hạn chế về thực hiện pháp luật khi thực hiện các thủ tục khác có yếu tố nước ngoài trên địa thành phố Hà Nội

Về đăng ký khai tử: giải quyết đăng ký khai tử cho công dân Việt Nam tại nước ngoài: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 02/2016/TTLT-BNG-BTP thì: “Cơ quan đại diện ở khu vực lãnh sự nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử cho công dân Việt Nam chết ở nước ngoài”, tuy nhiên qua phản ảnh của người dân trong thời gian qua một số Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài không thực hiện đăng ký khai tử mà chỉ cấp Giấy phép về việc chuyển hài cốt, sau khi trở về Việt Nam gia đình phải đi làm đăng ký khai tử, gây khó khăn, phiền hà cho người dân. Khi đó, người chết là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hay người Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài thì thẩm quyền khai tử thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện. Công dân lại phải đi hợp thức hóa lãnh sự và dịch ra Tiếng Việt đối với các giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp về sự kiện chết. Việc hợp thức hóa lãnh sự rất phức tạp. Một số trường hợp công dân đã được về nước nhưng loại giấy tờ đó lại phải hợp thức hóa lãnh sự tại cơ quan cấp giấy chứng nhận sự kiện chết.

Về ghi chú hộ tịch: Hiện nay, có tình trạng vợ và chồng đều là công dân Việt, trong thời gian đến thời kỳ sắp sinh con thì đi du lịch sang nước có quy định về quốc tịch theo lãnh thổ. Khi sinh con tại quốc gia này thì đương nhiên cháu bé sẽ mang quốc tịch tại quốc gia mà cháu bé sinh. Cha, mẹ không làm thủ tục ghi chú tại Cơ quan Đại diện mà mang giấy tờ liên quan đến UBND cấp huyện thực hiện việc ghi chú và bổ sung quốc tịch Việt Nam. Pháp luật hiện không quy định là cháu bé bắt buộc phải nhập cảnh vào Việt Nam mới được ghi chú. Điều này gây khó khăn cho công dân. Nếu thực hiện tại cơ quan đại diện việc cung cấp giấy tờ và việc hợp thức hóa lãnh sự sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi về thực hiện tại UBND cấp huyện có thẩm quyền.

Về đăng ký nhận cha, mẹ, con: Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định cho phép kết hợp thủ tục nhận cha, mẹ, con và đăng ký khai sinh. Tuy nhiên, trong các văn bản không quy định yêu cầu người mẹ phải xuất trình giấy tờ chứng minh về tình trạng hôn nhân của bản thân. Nếu con người mẹ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với người khác thì khi khai sinh kết hợp nhận cha, con với người khác sẽ xảy ra vi phạm quy định Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình. Như vậy, khi làm thủ tục nhận cha, mẹ, con phải tiến hành xác minh nhưng hết thời hạn xác minh vẫn phải xử lý cho công dân. Vì pháp luật hộ tịch không quy định xuất trình hay xác minh tình trạng hôn nhân của người mẹ. Kết quả hộ tịch có thể sẽ bị hủy và dẫn đến tranh chấp sau này.

Về Bổ sung hộ tịch: Luật Hộ tịch chỉ quy định quy định thẩm quyền bổ sung hộ tịch cho cấp xã là chưa hợp lý và thuận tiện cho công dân, nhất là những trường hợp trẻ em là công dân Việt Nam có cha là người nước ngoài vừa làm thủ tục nhận cha, con tại UBND cấp huyện, vừa làm thủ tục bổ sung thông tin người cha tại UBND cấp xã.

2.3.1.3. Hạn chế của công chức khi thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện

Công chức khi thực hiện pháp luật có yếu tố nước ngoài vẫn còn tồn tại tình trạng thiếu thận trọng trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch nên khi tiến hành đăng ký, cán bộ tư pháp quận, huyện, thị xã đôi khi thực hiện không đúng quy trình giải quyết thủ tục hành chính, không kiểm tra thông tin dẫn đến tình trạng giấy tờ hộ tịch ghi không chính xác, thông tin giấy tờ hộ tịch không khớp với thông tin hồ sơ; dẫn đến việc thay đổi cải chính phức tạp và gây rối thông tin nhân thân trong cơ sở dữ liệu hộ tịch. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Sự trao đổi, hướng dẫn thông tin từ công chức hộ tịch thực hiện đăng ký hộ tịch đối với người nước ngoài còn hạn chế có khi chưa chính xác. Do công chức Tư pháp còn hạn chế về ngoại ngữ để có thể truyền tải thông tin khi hướng dẫn thực hiện các quy trình thủ tục.

2.3.1.4. Sự phối các cấp, các ngành và toàn xã hội trong thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Mặc dù UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 18/2017/QĐ-UBND ngày 11/5/2017 về quy chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành, UBND quận, huyện, thị xã trong công tác quản lý người nước ngoài hoạt động, cư trú trên địa bàn thành phố Hà Nội, tuy nhiên sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, UBND các cấp trong công tác quản lý người nước ngoài thực hiện chưa có hiệu quả. Các sở, ban, ngành chủ yếu quan tâm giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến người nước ngoài thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình, chưa quan tâm đến công tác phối hợp, chưa có dữ liệu dân cư được kết nối đồng bộ, dẫn đến cơ quan đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài nên phải tiến hành xác minh.

Đặc biệt, thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài khi giải quyết một sự kiện hộ tịch phải tiến hành xác minh thông tin của công dân nước ngoài. Tuy nhiên, việc xác minh phải thông qua Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao mà không được xác minh trực tiếp xác minh trực tiếp. Vì vậy, thời gian chờ đợi rất lâu.

Nhiều trường hợp xin ý kiến hướng dẫn nghiệp của Sở liên quan đến Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nước ngoài; sở lại xin hướng dẫn lên Cục hộ tịch, quốc tịch, chứng thực Bộ Tư pháp. Cục lại gửi văn bản đến cơ quan đại diện ngoại giao của nước đó tại Việt Nam. Cụ thể đã có trường hợp cụ thể là bà Bùi Thị Thu A xin đăng ký kết hôn với công dân Nigeria. Tuy nhiên khi nộp vào giấy chứng minh tình trạng hôn nhân của bên Nam quốc tịch Nigieria khác với mẫu theo hướng dẫn tại Công văn số 840/HTQTCT-HT ngày 13/08/2019 của Cục Hộ tịch quốc tịch, chứng thực về việc cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ được miễn hợp thức hóa lãnh sự và giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài; để xác minh giấy tờ này có hợp lệ hay không mà công dân phải chờ đợi cả năm trời mới được trả lời. Khi đó, tình trạng hôn nhân của công dân Nigeria lại hết hạn. UBND cấp huyện có thẩm quyền lại phải gửi văn bản xin ý kiến sở về việc giải quyết quá hạn. Thời điểm đó dịch Covid đang bùng phát việc công dân đi lại rất khó khăn đặc biệt là di chuyển giữa quốc gia này với quốc gia khác là hết sức khó khăn nên không thể quay về Nigeria để xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân mới.

2.3.1.5. Cơ sở vật chất đăng ký hộ tịch chưa được đồng bộ. Các phần mềm sử dụng để thực hiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài chưa hoàn thiện dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Hiện nay, việc số hóa trong tổ chức thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở vật chất để tiếp nhận số hóa hồ sơ đăng ký của công dân, cũng như số hóa kết quả giải quyết tại bộ phận Một cửa tại UBND các quận, huyện, thị xã thuộc thành phố Hà Nội chưa đồng bộ và đầy đủ.

Phần mềm đăng ký quản lý hộ tịch trong giai đoạn hoàn thiện và kết nối với cổng dịch vụ công quốc gia và Thành phố. Tuy nhiên việc kết nối này còn chưa đồng bộ và hiệu quả gây khó khăn trong việc tiếp nhận và xử lý thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện. Ví dụ như: trên phần mềm để thực hiện việc đăng ký kết hôn chưa phân định trường dữ liệu nhập đối với thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cấp Huyện, vì theo quy định trong vòng 10 ngày đủ điều kiện công chức in Giấy chứng nhận kết hôn trình lãnh đạo UBND cấp huyện ký. Sau khi lãnh đạo ký 3 ngày tổ chức trao Giấy chứng nhận cho công dân. Theo quy định Điều 32 Thông tư số 04/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp quy định ngày đăng ký kết hôn là ngày công dân có mặt ký vào sổ Đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Như vậy khi nhập ngày đăng ký kết hôn trong phần mềm để in Giấy chứng nhận kết hôn sẽ hiển thị trước ngày hai bên nam nữ ký vào sổ. Phần mềm không cho phép để trống ngày đăng ký, dẫn đến việc thông tin dữ liệu trong phần mềm sẽ không thống nhất với Sổ hộ tịch và Giấy chứng nhận kết hôn. Để thực hiện được công chức phải tải mẫu theo quy định Thông tư số 04/2020/TT-BTP làm thủ công, in vào phôi mẫu Giấy chứng nhận kết hôn trước khi trình ký, ngày hai bên nam nữ đến nhận kết quả xong mới nhập phần mềm để theo dõi, quản lý.

2.3.1.6. Dữ liệu hộ tịch có yếu tố nước ngoài còn phân tán và hệ thống văn bản hướng dẫn có nhiều thay đổi và chưa được tập hợp, hệ thống hóa.

Trước năm 2016 thẩm quyền thực hiện đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân thành phố. Từ năm 2016 mới phân cấp về Ủy ban nhân dân cấp huyện. Do đó, khi thực hiện các thủ tục có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện trong một số trường hợp lại phải tiến hành xác minh tại Sở Tư pháp mà chưa có dữ liệu tổng thể để tra cứu dẫn đến việc thi hành pháp luật về thời gian giải quyết thủ tục kéo dài.

Hiện nay, việc giải quyết các thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài tại cấp huyện; trên cơ sở quy định của pháp luật hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành thì phải dựa trên hệ thống văn bản dưới luật rất nhiều như là các văn bản hướng dẫn của Bộ Tư pháp, của Sở Tư pháp, các biểu mẫu giấy tờ chứng nhận của mỗi nước khác nhau và có sự thay đổi theo thời gian. Việc miễn hợp thức hóa lãnh sự giấy tờ của các nước phải cập nhật để hướng dẫn xử lý cho đúng; loại văn bản hướng dẫn nghiệp vụ này có số lượng rất lớn và theo thời gian nó có sự thay đổi. Điều này, tạo cho công chức thực hiện rất khó tìm kiếm, tra cứu để áp dụng.

2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Một là, những bất cập từ cơ chế, chính sách và cơ sở pháp lý của pháp luật về Hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Qua thực tiễn cho thấy, các sự kiện về hộ tịch có yếu tố nước ngoài phát sinh các tình huống hết sức đa dạng, phức tạp. Nhiều trường hợp tuy các sự kiện hộ tịch thường xuyên xảy ra như: khai sinh, khai tử, kết hôn, khai sinh kết hợp với nhận cha, mẹ con, xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân … nhưng lại có nhiều tình tiết phức tạp do hệ thống pháp luật của các nước có sự khác nhau nên các chứng thư hộ tịch cấp cho người nước ngoài tại các quốc gia khác nhau mà Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết, các văn bản có liên quan của các Bộ ngành chưa dự liệu được hết, chưa có quy định điều chỉnh, hướng dẫn kịp thời, dẫn đến yêu cầu đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài vẫn phát sinh khó khăn, vướng mắc cần có văn bản trao đổi, hướng dẫn giải quyết.

Hai là, công tác tuyên truyền PBGDPL về hộ tịch đối với người nước ngoài chậm đổi mới

Việc người có trách nhiệm đăng ký khai sinh không thực hiện trách nhiệm của mình theo quy định của Luật, hay việc người dân cung cấp thông tin không đúng sự thật khi đăng ký hộ tịch là do nhận thức của người dân. Vì vậy việc tuyên truyền pháp luật trong thời gian qua chưa thật sự hiệu quả, chưa sâu sát đến đối tượng cần tuyên truyền.

Việc tuyên truyền Luật Hộ tịch đã được quận, huyện thị xã tổ chức thực hiện, tuy nhiên so với tầm quan trọng của Luật Hộ tịch thì tuyên truyền chưa đạt hiệu quả cao nên chưa thay đổi toàn diện nhận thức của người dân, việc hướng dẫn người dân mới chỉ dừng lại ở tờ khai, biểu mẫu…. bằng tiếng Việt mà chưa sử dụng được ngôn ngữ quốc tế, cho nên vẫn còn tình trạng khai không trung thực dẫn đến hệ lụy vô cùng khó khăn.

Các hình thức tuyên truyền PBGDPL mà các quận, huyện, thị xã đang thực hiện chủ yếu là những hình thức truyền thống (Hội nghị, loa đài, tọa đàm, phát tài liệu…), trong khi đó đối tượng tuyên truyền của thực hiện pháp luật về hộ tịch là người nước ngoài, đa phần là người nước ngoài không biết tiếng việt (hoặc có biết cũng không thành thạo, chủ yếu là giao tiếp), trong khi đó các tài liệu tuyên truyền về hộ tịch cấp huyện được biên soạn bằng tiếng Việt. Vì vậy việc tiếp cận với quy định pháp luật về hộ tịch của người nước ngoài hạn chế, chủ yếu thông qua phiên dịch.

Ba là, nhận thức của người dân còn hạn chế

Người dân chưa thấy được tầm quan trọng của giấy tờ hộ tịch, các giấy tờ phục vụ cho việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài do cơ quan nước ngoài cấp, việc sử dụng hộ chiếu đối với công dân mang 2 quốc tịch (Quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài), theo đó khi nhập cảnh vào Việt Nam bằng quốc tịch nào các giấy tờ phục vụ đăng ký hộ tịch phải do nước mà công dân cấp tránh tình trạng khi vào Việt Nam sử dụng hộ chiếu Việt Nam, quốc tịch Việt Nam nhưng làm giấy tờ hộ tịch lại sử dụng hộ chiếu nước ngoài, giấy tờ nước ngoài cấp. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Một số công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài khi về Việt Nam thực hiện các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình thì các giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp để về sử dụng tại Việt Nam phải được hợp pháp hóa lãnh sự hoặc chứng nhận lãnh sự. Tuy nhiên họ mang các giấy tờ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự hoặc chứng nhận lãnh sự để sử dụng tại Việt Nam, do vậy rất khó cho cán bộ giải quyết hồ sơ đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật Việt Nam của nhiều người nước ngoài còn hạn chế, dẫn đến việc một số trường hợp người nước ngoài thiếu hợp tác khi vi phạm pháp luật về hộ tịch.

Bốn là, việc phân cấp, giao quyền trong đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài chưa triệt để

Mặc dù việc phân cấp đã được quy định trong Luật Hộ tịch, nhưng việc phân cấp này chưa thực hiện triệt để. Việc đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài hiện do 3 cấp quản lý: cấp Trung ương (Bộ Tư pháp), cấp tỉnh (Sở Tư pháp); cấp huyện (Phòng Tư pháp); Chính vì vậy, chồng chéo trong chức năng quản lý nhà nước về công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài, nhiều đơn vị chỉ quan tâm đến việc đăng ký hộ tịch, còn chức năng kiểm tra, hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ cấp dưới còn lơ là, chưa quan tâm sâu sát dẫn đến cấp dưới trong quá trình thực hiện có những sai sót không phát hiện kịp thời để uốn nắn, khắc phục triệt để.

Năm là, cơ sở dữ liệu hộ tịch có yếu tố nước ngoài bị phân tán, không đồng bộ và kết nối với nhau

Quy định của Luật Hộ tịch là xây dựng trên cơ sở một hệ cơ sở dữ liệu hoàn thiện để lưu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân và cung cấp thông tin hộ tịch của cá nhân cho hệ dữ liệu quốc gia về dân cư, tuy nhiên đến nay hệ cơ sở dữ liệu vẫn chưa được hoàn thiện, do vậy quá trình thực hiện thủ tục gặp nhiều khó khăn.

Dịch vụ và chất lượng kết nối mạng Internet đã được kết nối thông suốt với máy tính, tuy nhiên vẫn còn có thời điểm (trong ngày) bị lỗi mạng, không thể truy cập sử dụng phần mềm, gây khó khăn cho công chức khi giải quyết các TTHC liên quan đến lĩnh vực hộ tịch theo quy định.

Trước khi có Luật Hộ tịch, UBND cấp tỉnh và Cơ quan đại diện là cơ quan thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài, theo đó thì mỗi sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài được đăng ký vào một quyển sổ riêng (sổ khai sinh, khai tử, kết hôn, thay đổi cải chính hộ tịch…) theo mẫu của Bộ Tư pháp, nay theo Luật hộ tịch các sự kiện đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại UBND cấp huyện và Cơ quan đại diện, Bộ Tư pháp cấp phát 3 sổ chính (Khai sinh, khai tử, kết hôn) và hướng dẫn nội dung để các địa phương tự in. Cơ sở dữ liệu hộ tịch quốc gia do Bộ Tư pháp triển khai thực hiện đang trong quá trình xây dựng. Chính vì vậy cơ sở dữ liệu hộ tịch có yếu tố nước ngoài hiện được lưu giữ của thành phố Hà Nội được lưu giữ tại UBND các quận, huyện thị xã và Sở Tư pháp Hà Nội, không được kết nối với nhau nên không kiểm soát được lẫn nhau, khó tra cứu và xác minh thông tin để phục vụ yêu cầu của tổ chức, cá nhân. Điều này làm giảm hiệu quả quản lý di biến động của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sinh sống, học tập, làm việc tại Việt Nam.

Dữ liệu hộ tịch có yếu tố nước ngoài trước ngày 01/01/2016 được lưu trữ trên Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, dữ liệu hộ tịch từ 01/01/2016 do UBND cấp huyện thực hiện và chuyển 01 sổ hộ tịch đến Sở Tư pháp lưu giữ, từ 2021 Sổ hộ tịch chỉ lưu giữ tại UBND quận. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử của Thành phố mới đang trong quá trình xây dựng nên việc cập nhật vào hệ thống chưa được thực hiện mà chỉ dừng lại ở dữ liệu giấy. Mặt khác, một số địa phương thường có sự thay đổi cán bộ hộ tịch, người thay thế ngại cập nhập dữ liệu hồ sơ không do mình giải quyết.

Sáu là, UBND cấp huyện không có cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ hộ tịch

Hiện nay, cán bộ phòng Tư pháp ngoài việc thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài thì còn phải kiêm nhiệm nhiều công việc như: công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, chứng thực, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở…., khối lượng công việc nhiều do vậy thời gian dành cho nghiên cứu cho công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài không nhiều. Bên cạnh đó áp lực về thời gian trả kết quả do đó không tránh khỏi sai sót trong quá trình giải quyết.

Theo quy định Thông tư số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ quy định thì số lượng biên chế các phòng Tư pháp huyện thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rất mỏng (từ 4-5 cán bộ), kể từ ngày 01/01/2016 khi Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành thì cũng chưa có văn bản nào quy định chức danh Hộ tịch chuyên trách mà chỉ có cán bộ tư pháp cấp huyện, trên thực tế do số lượng công việc quá tải với 24 đầu việc đối với phòng Tư pháp cấp huyện. Bên cạnh đó cán bộ Tư pháp cấp huyện ngoài nhiệm vụ hộ tịch còn phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

Hà Nội từng là kinh đô của hầu hết các vương triều Việt trước đây, vậy nên từ xưa, Hà Nội đã nổi tiếng là một trung tâm thương mại lớn: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Hiện tại Hà Nội đang là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Hà Nội đã và đang đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên mọi phương diện, trong đó có công tác thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Những năm qua, thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã có những ưu điểm nổi bật như: đã tạo được sự thống nhất trong nhận thức, đồng thuận trong triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài; các cơ quan chức năng đã ban hành kịp thời nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, thực thi các quy định của pháp luật; tiến hành đồng thời việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài với cải cách hành chính, cải cách Tư pháp.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài còn bộc lộ một số hạn, chế, bất cập, đó là: những bất cập về cơ chế, chính sách chưa được tháo gỡ kịp thời, việc phân cấp đã được thực hiện nhưng chưa phân định rõ ràng, công tác tổ chức tuyên truyền, quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện pháp luật ở một số cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị chưa thường xuyên, chưa kịp thời; quản lý dân cư và ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài chưa được thực hiện tốt. Công chức làm công tác hộ tịch còn hạn chế nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và chưa phát huy hiệu quả trong thực thi công vụ v.v..

Những hạn chế, bất cập trên có nhiều nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan đòi hỏi cần được nhận diện và từ đó có những giải pháp khắc phục hữu hiệu, nhằm đưa công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội ngày càng hiệu quả hơn. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực hiện pháp luật hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại HN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464