Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ tại tỉnh Khánh Hòa dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực tiễn giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai tại tỉnh Khánh Hòa
Khánh Hòa, có vị trí địa lý chiến lược và là điểm đến du lịch nổi tiếng với di sản văn hóa và bãi biển đẹp. Vì vậy, tỉnh này đã chú trọng phát triển dịch vụ, nhất là du lịch, thu hút đầu tư. Do đó, để phù hợp với mục tiêu trên, tỉnh này đã ban hành nhiều văn bản liên quan để điều chỉnh. Tuy nhiên, một số văn bản đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân dẫn đến gia tăng tình trạng khiếu kiện, cụ thể là khiếu kiện liên quan đến đất đai.
Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1996, các Tòa án nhân dân tại Việt Nam đã chính thức được trao thẩm quyền quyền để giải quyết các vụ án liên quan đến khiếu kiện hành chính. Sự trao quyền này cho TAND đã mở ra một giai đoạn mới trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp hành chính tại Việt Nam, bởi trước kia, những vụ việc hành chính chỉ được tiếp cận thông qua hành lang hành chính bằng cách sử dụng cơ chế giải quyết khiếu nại và tố cáo. Sau khi đã được trao thẩm quyền giải quyết các vụ án khiếu kiện hành chính từ ngày 01/07/1996 tính tới thời điểm hiện tại, cùng với sự phát triển của pháp luật tố tụng hành chính và pháp luật đất đai hiện hành, số lượng vụ án khiếu kiện hành chính đã có sự thay đổi rõ rệt so với trước đây. Cụ thể, qua nghiên cứu thực tiễn xét xử tại TAND tỉnh Khánh Hòa từ năm 2019 đến hết tháng 7 năm 2023, số lượng vụ án khiếu kiện hành chính được thụ lý và giải quyết của TAND tỉnh Khánh Hòa có sự tăng dần qua các năm. Trong đó, khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ chiếm tỷ trọng đáng kể. Cụ thể như sau:
- Bảng 1. Tổng quan về khiếu kiện hành chính tại TAND tỉnh Khánh Hòa
Qua bảng số liệu đã được thu thập ở Bảng 1, tác giả nhận thấy, số lượng vụ án được thụ lý có xu hướng tăng dần qua từng năm, cho thấy người dân đã tăng sự tín nhiệm với pháp luật, với cơ quan nhà nước, cụ thể như sau:
Năm 2019: Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 47 vụ án; trong đó, đã giải quyết được 33 vụ (chiếm 70,21 %); đình chỉ là 12 vụ (chiếm 25,53 %).
Năm 2020: Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 52 vụ án; trong đó, đã giải quyết được 15 vụ (chiếm 28,85 %); đình chỉ là 17 vụ (chiếm 32,69%).
Năm 2021: Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 51 vụ án; trong đó, đã giải quyết được 13 vụ (chiếm 25,49%); đình chỉ là 14 vụ (chiếm 27,45%). Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Năm 2022: Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 44 vụ án; trong đó, đã giải quyết được 26 vụ (chiếm 59,09%); đình chỉ là 14 vụ (chiếm 31,82%).
Năm 2023 (đến hết tháng 7): Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 74 vụ án; trong đó, đã giải quyết được 12 vụ (chiếm 16,22%); đình chỉ là 13 vụ (chiếm 17,57%).
- Bảng 2. Tổng quan về khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ tại TAND tỉnh Khánh Hòa
Với số liệu đã thu thập tại Bảng 2, tác giả nhận thấy, với sự phát triển của kinh tế – xã hội, khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ đang có dấu hiệu tăng dần và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng các vụ án khiếu kiện hành chính nói chung. Đặc biệt vào năm 2023, chỉ trong 7 tháng đầu năm, số lượng các vụ án khiếu kiện hành chính đã tăng lên đáng kể, đây có thể là do ảnh hưởng của những năm dịch bệnh Covid 19. Theo đó, trong những năm dịch bệnh nặng nề, nền kinh tế gần như bị suy thoái, dẫn đến nhu cầu của người dân đối với các giao dịch liên quan đến đất đai không có sự bùng nổ. Đến năm 2023, khi tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát và kinh tế bắt đầu có những bước tiến triển, nhu cầu của người dân đối với các giao dịch liên quan đất đai đã tăng dần. Từ đó dẫn đến số lượng khiếu kiện hành chính trong QLĐĐ tăng cao. Cụ thể:
Năm 2019: Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 47 vụ án; trong đó, khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai là 31 vụ (chiếm 65,96 %).
Năm 2020: Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 52 vụ án; trong đó, khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai là 40 vụ (chiếm 76,92%).
Năm 2021: Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 51 vụ án; trong đó, khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai là 39 vụ (chiếm 76,47%).
Năm 2022: Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 44 vụ án; trong đó, khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai là 36 vụ (chiếm 81,82%).
Năm 2023 (đến hết tháng 7): Tổng số vụ án hành chính được thụ lý là 74 vụ án; trong đó, khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai là 58 vụ (chiếm 78,38%).
Qua số liệu thống kê của 02 bảng, nhìn chung, số vụ án khiếu kiện hành chính được thụ lý dao động trong mức thấp nhất là 44 vụ trong năm 2022 và cao nhất là 74 vụ (từ đầu năm 2023 đến hết tháng 7/2023). Tỷ lệ vụ án được giải quyết trong các năm dao động từ 16,22% năm 2023 đến cao nhất là 59,09% năm 2022. Như vậy, so với các vụ án hình sự, vụ án dân sự thì vụ án khiếu kiện hành chính được xem là loại án mới, việc giải quyết mất nhiều thời gian nên số lượng bản án hành chính mà Tòa đã thụ lý, giải quyết còn chiếm tỷ lệ thấp. Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Các vụ án khiếu kiện hành chính được thụ lý có liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm tỷ trọng lớn (cụ thể là chiếm hơn 70% tổng số vụ án hành chính được thụ lý). Mặc dù, khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực này nhiều nhưng không vì thế mà việc giải quyết của TAND tỉnh Khánh Hòa không hiệu quả. Điều này được thể hiện như sau:
Thứ nhất, về quyền khiếu kiện: Trên cơ sở tồn tại các QĐHC/HVHC, người dân tại tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành khởi kiện khi nhận thấy QĐHC/HCHV không phù hợp với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Với số liệu đã được thống kê ở trên, có thể thấy số lượng vụ án hành chính ở tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn từ năm 2020 đến tháng 7/2023 còn thấp nhưng nhìn chung đã có sự gia tăng qua từng năm. Nhìn chung, hiệu suất giải quyết vụ án khiếu kiện hành chính ở tỉnh Khánh Hòa có sự khả thi nhất định, bởi tỷ lệ khiếu kiện được giải quyết chiếm tỷ lệ cao (trên 60%) và không tồn đọng án. Đơn cử, Bản án số 04/2021/HC-ST ngày 9/03/2021 về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa người khởi kiện là ông Phạm Lang và người bị kiện là Ủy ban nhân dân thị xã Ninh Hòa và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa. Cụ thể, ông Phạm Lang (nguyên đơn) khởi kiện Ủy ban nhân dân thị xã Ninh Hòa và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa (bị đơn) yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị Cận. Nguyên đơn trình bày giữa ông có thành lập Hợp đồng ủy quyền cho bà Võ Thị Thành và bà Nguyễn Thị Cận được quyền sử dụng, quản lý nhà đất nhưng bà Cận lại tự ý kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện Ninh Hòa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Ninh Hòa cấp cho bà Cận đối với thửa đất đang xảy ra tranh chấp là sai quy định. Trên cơ sở đó, Tòa án tuyên bố chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Lang là hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở tài nguyên và Môi trường cấp cho bà Cận và hủy phần chỉnh lý sang tên cho bà Trang. Bản án đã dành ra một mục để trình bày “quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện” cụ thể là:
Đầu năm 2019, người khởi kiện đã phát hiện việc các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như trên đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngày 28/03/2019, ông Phạm Lang khởi kiện yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Căn cứ vào Điều 115 và Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện phù hợp với quy định pháp luật.
Từ đó cho thấy, TAND tỉnh Khánh Hòa đã có sự nỗ lực nhất định trong quá trình giải quyết vụ án khiếu kiện hành chính. Với sự thành công này, TAND tỉnh Khánh Hòa đã và đang đảm bảo quyền khởi kiện của người dân, vun đắp niềm tin pháp luật cho tất cả người dân tại tỉnh Khánh Hòa. Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Thứ hai, về đối tượng khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai: Thực tiễn cho thấy số lượng khiếu kiện đối với QĐHC nhiều hơn hẳn so với khiếu kiện đối với HVHC. Thực tiễn này xuất phát từ 02 lý do:
Một là, số lượng QĐHC được ban hành nhiều hơn so với HVHC. Thông thường, mọi quyết định của cơ quan, cá nhân đều mang quyền lực Nhà nước và được thể hiện dưới dạng văn bản.
Hai là, QĐHC dễ xác định hơn so với HVHC.
So với HVHC, QĐHC có thể được xác định một cách dễ dàng về nội dung, hình thức, thời điểm ban hành… Từ đó, căn cứ để khởi kiện cũng rõ ràng và xác đáng hơn. Ngoài ra, khi có QĐHC cụ thể, người dân cũng có thể “mạnh dạn” để tiến hành khởi kiện hơn.
Thứ ba, về thẩm quyền giải quyết vụ án khiếu kiện hành chính: Như đã trình bày, nhìn chung, TAND các huyện và TAND cấp tỉnh Khánh Hòa đã có sự tuân thủ đúng pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện.
Thứ tư, về thủ tục giải quyết vụ án khiếu kiện hành chính của Tòa án: Về thời hiệu khiếu kiện, việc tuân thủ thời hiệu khiếu kiện hành chính của người khiếu kiện và các cơ quan nhà nước được xem là một “vấn đề khó” cần có hướng khắc phục. Bởi lẽ, đối với người khiếu kiện, nhận thức pháp luật của một số người còn hạn chế nên có trường hợp họ thực hiện khiếu kiện hành chính khi đã hết thời hiệu khiếu kiện; đối với cơ quan Nhà nước, có trường hợp những vụ việc đã hết thời hạn giải quyết nhưng Tòa vẫn chưa tiến hành thụ lý đơn khiếu kiện để giải quyết cho người dân. Mà việc tuân thủ thời hiệu khiếu kiện được coi là một yếu tố quan trọng khi khiếu kiện hoặc giải quyết khiếu kiện. Do vậy, cần phải tuân thủ tuyệt đối quy định về thời hiệu để đảm bảo quyền lợi của nhân dân. Điều này đã được chứng minh qua nhiều bản án như: Bản án số 07/2022/HC-ST ngày 10/02/2022 về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa người khởi kiện – ông Phạm Đèn và bà Nguyễn Thị Lanh với người bị kiện – Ủy ban nhân dân huyện Vạn Ninh; Bản án số 15/2022/HC-ST ngày 15/6/2022 về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa người khởi kiện – ông Lê Văn Hưng và người bị kiện – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa… Có thể thấy, TAND tỉnh Khánh Hòa đã rất quan tâm đến yếu tố thời hiệu khởi kiện khi giải quyết vụ án.
Về việc tuân thủ của các chủ thể tham gia tố tụng trước và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật: Trước đây, khi nhắc đến khởi kiện các vụ án hành chính mà chủ thể tham gia tố tụng có một bên là chủ thể của cơ quan Nhà nước thì người dân rất e ngại. Điều này đã được thể hiện rõ qua quan điểm của đại biểu Trần Du Lịch như sau:
“Quan điểm cho phép Tòa huyện xử sơ thẩm các vụ việc hành chính liên quan đến lãnh đạo huyện như Uỷ ban tư pháp Quốc hội nêu ra là đúng. Nhưng thực tế Tòa án huyện mà xử được lãnh đạo huyện thì ở Việt Nam là rất khó” [16].
Có thể thấy, quan điểm trên hoàn toàn phù hợp vào thời điểm năm 2015, nhưng đến nay quan điểm này đã không còn phù hợp. Bởi vì, hầu như các vụ án khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ tại tỉnh Khánh Hòa đều xoay quanh yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; từ chối cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hành vi không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hủy các quyết định liên quan đến việc cho phép chuyển nhượng một phần các dự án nhà ở… mà chủ thể có thẩm quyền xử lý hoặc ban hành các yêu cầu trên thông thường là Ủy ban nhân dân hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan liên quan. Do vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, TAND tỉnh Khánh Hòa đã đưa các chủ thể này tham gia vào quá trình tố tụng khi có căn cứ pháp luật. Điều này được thể hiện qua vụ việc liên quan đến khiếu kiện quyết định thu hồi đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đức Phán và Uỷ ban nhân dân thành phố Nha Trang.
- Trích bản án số 29/2022/HC-PT ngày 25/02/2022 có nội dung như sau:
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ do TAND tỉnh Khánh Hòa thực hiện ngày 18/5/2021 (BL72), có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Nha Trang và cán bộ địa chính Ủy ban nhân dân xã Phước Đồng đã xác định hiện trạng: Trên đất hiện có một số cây phượng, cây bạch đàn và một số cây tạp; trên đất có 04 đường bê tông; có 01 căn nhà tạm làm bằng tôn; 01 lán trại; 01 nhà di động bằng container. Căn cứ vào viện dẫn nêu trên, Tòa án xác định là hành vi san gạt mặt bằng của ông Nguyễn Đức Phán không có dấu hiệu của hủy hoại đất theo quy định pháp luật.
Sở Tài nguyên và Môi trường đã cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Phán không đúng quy định pháp luật, điều này đã ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác. Do đó, Tòa án đã tiến hành thu hồi lại đất và giấy chứng nhận đã cấp trước đó để khắc phục sai sót và bảo vệ quyền lợi ích của ông Phán. Sau khi bản án này có hiệu lực, các chủ thể có thẩm quyền liên quan đã tiến hành “sửa sai”, nhằm bảo đảm quyền lợi cho người khiếu kiện. Cho thấy, các chủ thể tham gia tố tụng đã có sự tuân thủ pháp luật trước và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2.2 Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai tại tỉnh Khánh Hòa Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
2.2.1. Những bất cập về pháp luật trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai tại tỉnh Khánh Hòa
Thứ nhất, pháp luật chưa có cơ chế về thi hành án trong tố tụng hành chính để đảm bảo quyền lợi tối đa cho người dân. Xét đến tận cùng, chức năng của khiếu kiện hành chính là giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tránh trường hợp quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm bởi những QĐHC, HVHC không phù hợp với quy định pháp luật từ chủ thể mang quyền lực Nhà nước. Để đạt được chức năng đó, ngoài việc Tòa án tuyên án một cách công bằng, cần đảm bảo bản án phải được thi hành một cách nghiêm chỉnh trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật hiện nay đã tạo một “khoảng hở pháp lý” cho các chủ thể mang quyền lực Nhà nước không chấp hành thi hành bản án hành chính, phổ biến nhất là Ủy ban nhân dân hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Liên quan đến nghĩa vụ thi hành án hành chính, có 02 bất cập đang tồn tại, cụ thể:
Một là, không có quy định thời hạn tối đa cho việc tự nguyện thi hành án hành chính. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 311 Luật Tố tụng hành chính 2015, theo quy định, trong trường hợp Tòa án quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ QĐHC, thì thời gian cho phép để thi hành bản án một cách tự nguyện là 30 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc quyết định từ Tòa án. Với cách quy định này, hiện tại có 02 cách giải thích phổ biến như sau:
Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải được hoàn thành trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, cách hiểu trên không được đề cao bởi có nhiều điểm bất hợp lý khi áp dụng trên thực tế. Việc thi hành một bản án, quyết định của Tòa án, đặc biệt là trong trường hợp các vụ án về đất đai thường mất rất nhiều thời gian, cho nên việc hoàn tất việc thi hành án trong 30 ngày là bất khả thi.
Người có trách nhiệm thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải bắt đầu thi hành trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định. Đây là cách hiểu được thừa nhận và áp dụng rộng rãi hơn cả. Theo đó, trong vòng 30 ngày, chỉ cần người có nghĩa vụ phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án có bất kỳ hành động nào thể hiện cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình thì sẽ thỏa mãn quy định tự nguyện thi hành án. Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Tuy nhiên, dù được hiểu và áp dụng rộng rãi nhưng với cách hiểu (ii) sẽ tạo điều kiện cho chủ thể có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định trì hoãn việc thi hành án. Việc xác định chậm trễ thi hành án cần dựa vào 02 yếu tố là hành vi và thời gian. Cụ thể, trong trường hợp này, người có nghĩa vụ thi hành án cố ý không thi hành bản án, quyết định nhưng hiện nay chưa có quy định nào để xác định hành vi này, nên có thể hiểu việc cố ý không thi hành bản án, quyết định là không có bất kỳ hành động nào về việc thi hành bản án trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án. Sự thiếu sót của các quy định pháp luật về vấn đề này dẫn đến việc xác định việc không tự nguyện thi hành bản án, quyết định trở nên khó khăn, gần như không thể. Ngoài ra, không thể tránh khỏi trường hợp chủ thể có nghĩa vụ thi hành án chỉ có một hoặc một số hành động nhỏ cho thấy việc thi hành án của mình nhưng không tiến hành đầy đủ nghĩa vụ thi hành án. Với cách xác định nói trên, trong trường hợp này, không thể nhận định chủ thể có nghĩa vụ thi hành án không thi hành án tự nguyện.
Hai là, chưa có cơ chế giải quyết đối với trường hợp cố tình không thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Đối với thi hành án dân sự và thi hành án hình sự, pháp luật đã chỉ định một cơ quan thi hành án như một bên thứ ba chịu trách nhiệm đảm bảo việc thi hành án được thực hiện. Tuy nhiên, cơ chế thi hành án hành chính hiện nay chủ yếu dựa vào sự tự nguyện của người có trách nhiệm. Như đã phân tích, suy cho cùng, mục đích của khiếu kiện hành chính nói chung và khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ nói riêng là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân. Vì vậy, để đạt được mục đích đó, trong trường hợp Tòa án ra một phán quyết có lợi cho người dân thì bản án, quyết định nói trên phải được thi hành trên thực tế. Nhưng với cách quy định hiện tại, việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong giải quyết khiếu kiện hành chính chủ yếu dựa vào sự tự nguyện của người có thẩm quyền. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, khi người có trách nhiệm thi hành bản án, quyết định của Tòa án là cơ quan Nhà nước thì việc thi hành bản án, quyết định diễn ra rất chậm trễ. Từ đó dẫn đến ý nghĩa của khiếu kiện hành chính không được đảm bảo. Dù có quy định về việc áp dụng cưỡng chế thi hành án để thi hành bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính của Tòa án tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 71/2016/NĐ-CP nhưng quy định này chỉ áp dụng trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người dân, đồng nghĩa với việc người dân phải tiếp tục thực hiện theo QĐHC, HVHC trước đó. Điều này có thể hiểu là trong trường hợp yêu cầu của người dân không được Tòa án chấp thuận, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể sử dụng biện pháp cưỡng chế để buộc người dân tuân thủ bản án, quyết định của Tòa án. Ngược lại, trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của người dân được chấp nhận, nếu các cơ quan, cá nhân mang quyền lực Nhà nước không thi hành bản án, quyết định của Tòa án thì sẽ phải xử lý thế nào để đảm bảo quyền lợi của người dân? Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm theo dõi việc thi hành án hành chính. Đặc biệt, tại thông báo về việc tự nguyện thi hành án gửi người phải thi hành án phải nêu rõ thời hạn tự nguyện, trách nhiệm tổ chức thi hành án, việc xử lý trách nhiệm nếu không chấp hành thi hành án. Tuy nhiên, quyền lực của cơ quan thi hành án dân sự chỉ giới hạn ở việc giám sát việc thi hành án hành chính. Quyền lực này không thể đảm bảo rằng bản án, quyết định của Tòa án sẽ được thực hiện trong thực tế. Ngoài ra, theo Chương III của Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, quy định về xử lý trách nhiệm trong thi hành án hành chính, các biện pháp kỷ luật cũng được quy định cho những trường hợp cán bộ, công chức, viên chức không tuân thủ thi hành án hành chính. Hình thức kỷ luật cao nhất cho những người này là bị phạt tù trong trường hợp đã có quyết định buộc thi hành án hành chính mà vẫn không tuân thủ. Tuy nhiên, cơ sở để áp dụng các biện pháp kỷ luật này vẫn chưa được xác định rõ ràng và không thể thực hiện trong thực tế. Các quy định trên chỉ nêu rõ các hình thức xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức nhưng sau khi đã xử lý xong những người này thì liệu bản án, quyết định của Tòa án có được thi hành hay không? Nếu chỉ quy định về việc xử lý cán bộ, công chức, viên chức không tuân thủ thi hành án hành chính mà không có quy định cụ thể về việc thi hành án hành chính để bảo vệ quyền lợi của người dân thì mục tiêu của việc khiếu kiện hành chính sẽ không được đạt được.
Thứ hai, theo quy định tại Điều 12 Luật Tố tụng hành chính 2015, tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường, bắt buộc phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân. Sự có mặt của Hội thẩm nhân dân trong quá tình giải quyết vụ án không chỉ giúp đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án mà còn giúp tăng cường mối quan hệ giữa Tòa án và nhân dân. Nếu Thẩm phán có nhiệm vụ đảm bảo về mặt “lý” thì Hội thẩm nhân dân có nhiệm vụ đảm bảo về mặt “tình” trong một vụ án, từ đó bổ trợ cho nhau để đảm bảo bản án, quyết định được Hội đồng xét xử ban hành vừa hợp pháp vừa hợp lý. Điều này có ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong các vụ án về dân sự hoặc hình sự nhưng lại không đem được hiệu quả rõ nét trong tố tụng hành chính. Theo quy định tại Điều 85 Luật Tổ chức TAND 2014, về việc quy định tiêu chuẩn Hội thẩm tương đối đơn giản, tuy bắt buộc phải có kiến thức pháp luật nhưng hiện tại vẫn chưa có quy định hướng dẫn cụ thể cách xác định năng lực của Hội thẩm. Từ đó dẫn đến trường hợp nhiều Hội thẩm không đảm bảo về kiến thức pháp lý chuyên môn, đặc biệt là đối với vụ án hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai bởi các quy định pháp luật liên quan đến đất đai là vô cùng phức tạp. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Tố tụng hành chính 2015 thì khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án hành chính, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán. Đây là quy định mang tính nguyên tắc được áp dụng trong tất cả lĩnh vực tố tụng như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và tố tụng hình sự và đem lại hiệu quả trong việc đảm bảo quyền, lợi ích của nhân dân trong tố tụng. Tuy nhiên, xét về bản chất, việc xét xử vụ án hành chính là để xem xét tính hợp pháp của một QĐHC, HVHC do chủ thể có quyền lực Nhà nước ban hành. Thế nên việc quy định địa vị pháp lý của Hội thẩm ngang hàng với Thẩm phán trong khi không đảm bảo về năng lực của Hội thẩm nhân dân có thể dẫn đến việc QĐHC, HVHC không được xem xét một cách thấu đáo trên cơ sở các quy định của pháp luật. Thực tế cho thấy phần lớn Hội thẩm nhân dân đánh giá và đưa ra quyết định của mình dựa vào quan điểm cá nhân về tình hình xã hội, ít quan tâm đến quy định của pháp luật. Từ đó dẫn đến tính pháp lý của QĐHC, HVHC không được đảm bảo, thậm chí gây khó khăn trong quá trình xét xử vụ án hành chính. Ngoài ra, đặc thù của tố tụng hành chính là người bị kiện sẽ là các cơ quan, cá nhân mang quyền lực Nhà nước. Riêng đối với vụ án hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ thì người bị kiện thường là Ủy ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Sở/Phòng Tài nguyên và Môi trường. Đây đều là các cơ quan, cá nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ bộ máy hành chính của một tỉnh/thành phố. Vì vậy, trong nhiều trường hợp người được chỉ định là Hội thẩm nhân dân trong một vụ án hành chính về đất đai không đảm bảo được tính khách quan do e ngại các cơ quan Nhà nước, cũng như chủ thể bị kiện. Các Hội thẩm đều có một công việc chuyên môn khác và chỉ trở thành Hội thẩm, tham gia vào Hội đồng xét xử khi có yêu cầu. Vì vậy, các Hội thẩm có xu hướng ưu tiên công việc chính của mình hơn là đảm bảo tính khách quan trong quá trình xét xử khi là một thành viên của Hội đồng xét xử. Như vậy, đang tồn tại 02 bất cập liên quan đến quyền hạn, vai trò của Hội thẩm nhân dân, như sau:
Về tương quan quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm: Về nguyên tắc, Hội thẩm và Thẩm phán có ngang quyền nhưng hiện nay chưa có quy định cụ thể về năng lực của Hội thẩm, từ đó dẫn đến trường hợp một số Hội thẩm nhân dân là thành viên của Hội đồng xét xử nhưng không có sự am hiểu sâu sắc về các quy định pháp luật. Khiếu kiện hành chính là việc xem xét lại tính hợp pháp của QĐHC, HVHC, vì vậy, việc không có quy định về khả năng am hiểu pháp luật của Hội thẩm nhưng lại quy định quyền hạn của Hội thẩm và Thẩm phán ngang hàng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử của Hội đồng xét xử.
Về tính khách quan trong mối quan hệ giữa Hội thẩm và người bị kiện: Người bị kiện trong vụ án hành chính thường là chủ thể, cơ quan mang quyền lực Nhà nước như Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp. Đây là những chủ thể có khả năng chi phối đến toàn bộ bộ máy hành chính tại địa phương nên không thể tránh khỏi trường hợp Hội thẩm nhân dân vì e dè mà không đảm bảo tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ với tư cách là thành viên Hội đồng xét xử.
Như vậy, trải qua nhiều lần sửa đổi, không thể phủ nhận các quy định pháp luật về giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ đang ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên vẫn tồn tại một số bất cập, trong đó nổi bật vấn đề về vai trò, quyền hạn của Hội thẩm trong quá trình giải quyết vụ án và vấn đề thi hành án hành chính. Để đảm bảo được quyền và lợi ích của người dân, pháp luật cần có những quy định cụ thể, rõ nét hơn để không tạo ra “khoảng hở” làm ảnh hưởng đến mục đích cao cả của khiếu kiện hành chính.
2.2.2. Những hạn chế trong thực tiễn giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai tại tỉnh Khánh Hòa Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Việc áp dụng pháp luật khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ tại tỉnh Khánh Hòa đã mang lại một số kết quả nổi bật nêu trên, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định trong công tác này, như sau:
Thứ nhất, sự vắng mặt của người bị khiếu kiện: Thông thường, các khiếu kiện hành chính phát sinh trong lĩnh vực QLĐĐ thường người bị khiếu kiện là Ủy ban nhân dân hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nhưng họ lại ít khi tham gia tố tụng mà ủy quyền cho cấp phó trực tiếp tham gia tố tụng hoặc yêu cầu xét xử vắng mặt. Cụ thể, Bản án số 16/2022/HC-ST ngày 14/7/2022 về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất giữa người khởi kiện là bà Đinh Thị Thanh T và người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh K (với người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Tấn C, chức vụ là phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện D theo văn bản số 2323/UBND ngày 22/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện D). Theo thông tin bản án, người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện D đã ủy quyền cho cấp phó của mình tham gia tố tụng. Tuy nhiên, người được ủy quyền cũng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; Bản án số 15/2022/HC-ST ngày 15/6/2022 về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa người khởi kiện là ông Lê Văn H và người bị kiện là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa (trong đó, người đại diện theo pháp luật của người bị kiện là ông Nguyễn Văn Đ – giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường). Với bản án này, người bị kiện cũng không tham gia vào quá trình tố tụng; Ngoài ra, tại nhiều bản án khác cũng xảy ra thực trạng này, trong đó có thể kể đến Bản án số 23/2022/HC-ST ngày 18/8/2022 về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa người khởi kiện là ông Trương T và Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Đây được xem là một trong những khó khăn cần phải được tháo gỡ khi giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ.
Nguyên nhân cho sự vắng mặt này là bởi người bị kiện đa phần là lãnh đạo của CQHC Nhà nước như Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc cấp phó. Các chủ thể này thường rất bận, không đủ thời gian để tham gia những phiên đối thoại, hòa giải hoặc xét xử kéo dài hàng giờ đồng hồ. Thông thường, các chủ thể này có xu hướng ủy quyền cho cấp dưới thay mình tham gia giải quyết vụ án tố tụng hành chính. Tuy nhiên, người được ủy quyền thường không chủ động quyết định mà sẽ viện lý do “xin chỉ đạo của cấp trên” để từ chối đưa ra những quyết định quan trọng, có giá trị cốt lõi trong việc giải quyết vụ án. Hơn hết, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đáng báo động này là vì bản thân người bị kiện và người nhận ủy quyền của họ không nhận thức được tầm quan trọng của việc có mặt và đưa ra quyết định của mình đối với quá trình giải quyết một vụ án hành chính. Sự vắng mặt của người bị kiện trong khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ đem lại nhiều hậu quả lâu dài. Đầu tiên, trong khuôn khổ vụ án, việc người bị kiện không tham gia vào quá trình giải quyết sẽ khiến thời gian giải quyết vụ án kéo dài, gây lãng phí tiền bạc và nhân lực của Nhà nước. Ngoài ra, việc người bị kiện là các chủ thể mang quyền lực Nhà nước không tham gia giải quyết khiếu kiện hành chính còn khiến người dân mất niềm tin vào bộ máy hành chính Nhà nước.
Thứ hai, khó khăn trong công tác tìm kiếm, thu thập các văn bản có chứa quy định pháp luật của những thời kỳ trước; công tác áp dụng pháp luật khi có sự thay đổi của pháp luật đất đai: Đất đai được xem là lĩnh vực được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau, đặc biệt, các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này có nhiều sự thay đổi nhanh chóng và liên tục. Trên một thửa đất cụ thể thường đã có nhiều chế định pháp lý được xác lập và vận hành, các chủ thể của quyền sở hữu, sử dụng đối với một thửa đất cùng thời gian cũng có nhiều sự thay đổi có thể do mua bán, tặng cho, thừa kế… hợp pháp hoặc bất hợp pháp theo pháp luật tại thời điểm thực hiện hành vi. Do vậy, việc áp dụng những quy định pháp luật trong quá khứ, việc xác định tư cách pháp lý của các chủ sở hữu trong lịch sử… luôn là một vấn đề quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp [4, tr. 9]. Cụ thể, khi giải quyết các vấn đề pháp lý về công nhận quyền sử dụng đất, giải quyết về tranh chấp… theo quy định của pháp luật hiện hành (Luật Đất đai 2013) thì vẫn phải sử dụng các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực được ban hành bởi chế độ cũ hoặc trong quá trình thực hiện chính sách về đất đai của Nhà nước ta qua các thời kỳ dẫn đến tình trạng không đầy đủ hồ sơ để giải quyết vụ việc. Đơn cử, Bản án số 09/2022/HC-PT về khiếu kiện yêu cầu hủy QĐHC giữa người khởi kiện – ông Nguyễn Tỏ và người bị kiện Ủy ban nhân dân Thành phố Nha Trang, có nội dung sau: Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Năm 2000, ông Tỏ được Ủy ban nhân dân xã Phước Đồng cân đối giao 1000m2 đất theo số nhân khẩu của hộ gia đình ông theo Nghị định 64/CP. Tại biên bản họp xét cấp 64/CP Tổ ND Phước Lộc ngày 15/6/2000 có danh sách cấp cho 93 hộ dân thôn Phước Lộc, ông Tỏ đứng thứ 56 trong danh sách. Dựa trên việc cân đối giao đất, ông Tỏ đã làm đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích này nhưng Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang không nhận hồ sơ vì diện tích đất này thuộc quỹ đất 05% do Nhà nước quản lý.
Do vậy, để giải quyết vụ án này, cần phải tìm được danh sách 93 hộ được cấp đất theo Nghị định 64/CP. Điều này, gây khó khăn cho công tác giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ. Sự phức tạp, chồng chéo giữa các quy định mới và cũ không chỉ gây khó khăn cho chủ thể có thẩm quyền áp dụng quy định pháp luật mà còn khiến người dân không thể hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó có thể ảnh hưởng đến quyền khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ của người dân. Bên cạnh đó, như đã phân tích, bất lợi này khiến quá trình giải quyết vụ án hành chính liên quan đến đất đai kéo dài, thậm chí nhiều trường hợp việc giải quyết dứt điểm vụ án gần như bất khả thi.
Thứ ba, sự e ngại của Thẩm phán liên quan đến “trách nhiệm” khi giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ: Tỉnh Khánh Hòa, địa phương thu hút rất nhiều dự án đầu tư với nhu cầu sử dụng diện tích đất rất lớn. Vì vậy, thường xảy ra tình trạng khởi kiện tập thể giữa người dân đối với các chủ đầu tư dự án có thu hồi đất để thực hiện dự án như: Dự án kinh doanh Bất động sản; xây dựng nhà ở; du lịch và các dự án khác. Những vụ án này có điểm chung là cùng một chủ thể bị kiện, hồ sơ pháp lý cũng có sự tương tự nhau. Do vậy, khi các Thẩm phán giải quyết các vụ việc có tình tiết tương tự, thường rất e ngại hoặc muốn kéo dài thời gian giải quyết để đợi kết quả xét xử của Tòa án khác nhằm tham khảo. Ngoài ra, với cùng một hồ sơ vụ án nhưng kết quả xét xử của mỗi địa phương lại khác nhau, điều này, cũng làm cho các Thẩm phán rất lo ngại vì “trách nhiệm” của họ khi tiến hành giải quyết một vụ án hành chính.
Thứ tư, sự khó khăn trong hoạt động phối hợp giải quyết vụ án hành chính liên quan đến lĩnh vực QLĐĐ: Khi giải quyết khiếu kiện về QĐHC, HVHC liên quan đến lĩnh vực QLĐĐ, Tòa án sẽ tiến hành xem xét tính hợp pháp của QĐHC, HVHC. Để hoạt động giải quyết mang lại sự khách quan, hiệu quả thì cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 9 Luật Tố tụng hành chính 2015, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ, tài liệu cho Tòa án và Tòa án cũng có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều vụ án bị kéo dài thời hạn giải quyết tranh chấp hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án do phải chờ cơ quan chuyên môn cung cấp tài liệu, chứng cứ; có những vụ án Tòa án phải ban hành công văn yêu cầu hoặc văn bản đôn đốc nhiều lần nhưng cơ quan chuyên môn không cung cấp được: Sổ mục kê, tờ bản đồ biến động qua các thời kỳ… hoặc hồ sơ đất đai của cơ quan nhà nước qua các thời kỳ có sự mâu thuẫn, không khớp số liệu, vị trí… Điều này đã làm cho công tác giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ gặp nhiều khó khăn. Đơn cử, Bản án số 7/2022/HC-ST ngày 10/02/2022 về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa người khởi kiện – ông Phạm Đèn và bà Nguyễn Thị Lanh và người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Vạn Ninh, có đề cập là: Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Đại diện Ủy ban nhân dân xã Vạn Thọ khẳng định quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thanh, bà Tạm là đúng nhưng khi tiến hành cấp không kiểm tra thực tế mà chỉ căn cứ trên giấy chuyển nhượng nên có sự sai sót; ngoài ra, trong Sổ mục kê năm 1996 của Ủy ban nhân dân Vạn Thọ gồm hai người đứng tên là ông Phạm Đèn và ông Đặng Nhão nhưng đến năm 2012, do sự nhầm lẫn nên trong Sổ mục kê đất đai ghi chủ sử dụng đất thửa đất trên chỉ một mình ông Đặng Nhão.
Từ thực tế trên cho thấy, để giải quyết một khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ cần sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước có liên quan vụ việc. Mặc dù pháp luật có quy định về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc phối hợp với Tòa án khi có yêu cầu hợp pháp nhưng trên thực tế, các cơ quan nói trên vẫn thiếu sự chủ động, từ đó gây khó khăn cho công tác xét xử của Tòa án.
Thứ năm, việc chấp hành pháp luật về thời hạn giải quyết vẫn chưa được đảm bảo: Pháp luật khiếu kiện hành chính về thời hạn giải quyết một vụ việc khiếu kiện hành chính liên quan đến lĩnh vực QLĐĐ đã được quy định cụ thể. Tuy nhiên, trên thực tế một số khiếu kiện liên quan đến lĩnh vực QLĐĐ vẫn chưa được giải quyết đúng thời hạn theo quy định pháp luật. Việc vi phạm này xảy ra khá phổ biến, nhất là đối với các vụ việc liên quan đến khiếu kiện hành chính về đền bù, giải phóng mặt bằng; tái định cư… việc giải quyết liên quan đến những vụ việc này có thể kéo dài hàng năm, thậm chí là nhiều năm. Điều này xuất phát chủ yếu do quá trình tìm hiểu, xác minh gặp nhiều khó khăn, dẫn đến mất rất nhiều thời gian; hoặc việc phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước chưa thật sự linh động… Đơn cử, Bản án số 25/2022/HC- ST ngày 29/8/2022, khiếu kiện hành chính về việc giải quyết tranh chấp đất đai ông Nguyễn Đức Mai, ông Lê Thế Bình (nguyên đơn) khởi kiện Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Ủy ban nhân dân thành phố N (bị đơn) yêu cầu hủy bỏ một phần của Quyết định số 1665/UB ngày 15/6/2001 của Uỷ ban nhân dân thành phố N về nội dung thu hồi đất của nguyên đơn, hủy Văn bản số 3216/UBND-XDNĐ ngày 08/4/2019 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Vụ việc này xuất phát từ tranh chấp đất đai giữa ông Lê Thái Nguyên và ông Phạm Viết Văn diễn ra từ năm 1995 và Uỷ ban nhân dân Thành phố Nha Trang đã ban hành Quyết định giải quyết tranh chấp (Quyết định 1665/QĐ-UB ngày 15/6/2001 của Ủy ban nhân dân Thành phố Nha Trang). Cụ thể, năm 2001, ông Lê Thái N có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đối với phần đất do ông Nguyễn Đức M và một số người khác khai hoang. Ủy ban nhân dân thành phố N đã ra quyết định số 1665/QĐ-UB ngày 15/6/2001 để giải quyết đơn tranh chấp nói trên. Tuy nhiên ngoài việc giải quyết tranh chấp thì Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang lại thu hồi các thửa đất số 163, 186, 187, 188, 189, 190 và 222 tờ bản đồ địa chính số 22-23 mà hiện tại các ông Phạm Viết Văn, Lê Thế Bình, Đào Văn Bằng, Nguyễn Đức Mai đang sử dụng tại Điều 2 của văn bản nói trên. Đây là hành vi vượt quá yêu cầu giải quyết đơn của ông Lê Thái Nguyên. Trên thực tế, từ khi có Quyết định này thì ông Lê Thế Bình, Nguyễn Đức Mai vẫn đang quản lý, sử dụng các thửa đất và được Ủy ban nhân dân xã Phước Đồng xác nhận. Vì vậy, TAND tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành xác minh, thu thập thông tin tài liệu liên quan để giải quyết vụ án. Sau khi xác minh, TAND tỉnh Khánh Hòa đã quyết định chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên hủy Điều 2 của Quyết định 1665/QĐ-UB ngày 15/6/2001 của UBND thành phố N. Cho thấy, để giải quyết một khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ đòi hỏi việc xác minh, thu thập và giải quyết phải thật thận trọng. Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Thứ sáu, về việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện khi chủ thể có quyền sử dụng đất là hộ gia đình. Về mặt nguyên tắc, đất hộ gia đình thuộc sở hữu chung của toàn bộ chủ thể được xác định là thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trong trường hợp một hoặc một vài chủ thể có yêu cầu khiếu kiện hành chính đối với một QĐHC, HVHC có tác động đến quyền lợi của họ trong một phần đất nhất định thuộc sở hữu của hộ gia đình thì việc xác định chủ thể tham gia tố tụng trở nên phức tạp.
Như vậy, trong nhiều trường hợp dù đã có quy định pháp luật nhưng việc áp dụng các quy định đó trên thực tế vẫn còn là bất khả thi. Như đã phân tích, quy định của pháp luật chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó được áp dụng một cách hiệu quả, chính xác trên thực tế. Vì vậy, thông qua những phân tích nói trên về những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ, tác giả cho rằng cần có nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng này. Trong đó đáng chú ý là sự vắng mặt của người bị khiếu kiện, khó khăn trong công tác tìm kiếm, thu thập các văn bản có chứa quy định pháp luật của những thời kỳ trước; sự e ngại của Thẩm phán khi giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ; sự khó khăn trong hoạt động phối hợp giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ và việc chấp hành pháp luật về thời hạn giải quyết vẫn chưa được đảm bảo.
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc khi giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai tại tỉnh Khánh Hòa
Qua tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn “Khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ tại tỉnh Khánh Hòa”, tác giả nhận thấy công tác giải quyết khiếu kiện trong lĩnh vực này tại tỉnh Khánh Hòa tương đối tốt, mang lại một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, giữa lý luận và thực tiễn, giữa chỉ đạo và thực thi, công tác này vẫn mang một số hạn chế nhất định, những hạn chế này có thể xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
2.2.3.1. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, sự e ngại đối với lãnh đạo các cơ quan Nhà nước: Bị đơn trong khiếu kiện hành chính nói chung và khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ nói riêng thông thường đều là cán bộ, công chức, cơ quan Nhà nước. Với thực tế xét xử tại TAND tỉnh Khánh Hòa, khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ có bị đơn hầu hết là Ủy ban nhân dân hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, tỉnh. Đây là những chủ thể có ảnh hưởng nhất định đến bộ máy chính quyền tại địa phương, vì vậy, việc xét xử đối với những chủ thể này khiến Tòa án có phần e ngại. Hơn hết, việc xét xử đối với các cán bộ, công chức phần nào làm ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với hệ thống CQHC Nhà nước. Ngoài ra, giữa TAND và Ủy ban nhân dân tại các tỉnh thành thường có mối quan hệ khăng khít, đôi khi hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình làm việc dẫn đến quá trình xét xử của Tòa án có thể thiếu khách quan. Vì vậy, các Thẩm phán thường có xu hướng kéo dài thời gian giải quyết với mong muốn để người dân rút đơn khởi kiện. Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Thứ hai, sự thiếu hợp tác của người bị khiếu kiện: Ngày 05/4/2023, lãnh đạo Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa cho biết đã gửi văn bản đến lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa để phản ánh tình trạng Chủ tịch Ủy ban nhân dân không có mặt trong quá trình giải quyết các vụ án khiếu kiện hành chính. Ngoài những trường hợp chính Chủ tịch Ủy ban nhân dân là người bị khởi kiện, nếu Ủy ban nhân dân là đối tượng bị khởi kiện thì người đại diện Ủy ban nhân dân tham gia vào quá trình tố tụng cũng chính là người đứng đầu – Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Thông thường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân sẽ ủy quyền cho cấp Phó của mình tham gia các phiên đối thoại, hòa giải hoặc xét xử và điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc người đại diện của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa vắng mặt trong hầu hết các phiên tòa đối thoại, hòa giải hoặc xét xử. Hành vi này là trái với quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính 2015 và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giải quyết khiếu kiện hành chính, gây khó khăn cho Tòa án và bức xúc với người dân. Điều này dẫn đến việc khiếu kiện bị kéo dài, làm giảm hiệu quả giải quyết khiếu kiện hành chính nói chung và khiếu kiện hành chính trong QLĐĐ nói riêng.
Thứ ba, sự thiếu hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai trong việc xác minh, thu thập thông tin, tài liệu: Để giải quyết một vụ án về khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ, cần sự hỗ trợ, hợp tác của nhiều cơ quan khác nhau đặc biệt là các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử, việc phối hợp giữa Tòa án và các CQHC Nhà nước thường chưa mang lại hiệu quả. Bởi CQHC Nhà nước lại là nơi nắm giữ các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng các cơ quan này thường thiếu sự hợp tác, hỗ trợ. Vì vậy, nếu cơ quan, tổ chức có liên quan không hợp tác hoặc hợp tác không hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giải quyết khiếu kiện hành chính.
2.2.3.2. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, các vấn đề về đất đai diễn biến phức tạp do sự phát triển kinh tế xã hội, dịch vụ du lịch tại Khánh Hòa: Khánh Hòa là tỉnh sở hữu điều kiện thiên nhiên lý tưởng cho việc phát triển kinh tế xã hội, du lịch nổi tiếng với những bãi biển đẹp. Đồng thời, ban lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa cũng có những chủ trương phát triển du lịch rất hiệu quả. Từ đó dẫn đến dịch vụ du lịch tại tỉnh Khánh Hòa nói chung và các thành phố lớn của Khánh Hòa như: Cam Ranh, Nha Trang phát triển vượt bậc. Chính điều đó đã khiến nhu cầu khai thác, sử dụng đất tại đây luôn ở mức cao. Do vậy, QĐHC, HVHC trong lĩnh vực QLĐĐ tại tỉnh Khánh Hòa được ban hành rất nhiều và hầu hết các khiếu kiện hành chính tại tỉnh này cũng là các QĐHC, HVHC trong lĩnh vực QLĐĐ.
Thứ hai, pháp luật liên quan đến QLĐĐ phức tạp, còn nhiều bất cập và thường xuyên thay đổi: Như đã phân tích, đất đai là tài sản quý giá của quốc gia và nhu cầu sử dụng đất đai luôn tăng theo sự phát triển kinh tế xã hội, trong khi đó diện tích đất của quốc gia thì không thể tăng. Vì vậy, Nhà nước với vai trò là đại diện người dân trong việc QLĐĐ luôn phải tìm cách để sử dụng hiệu quả, tối ưu nguồn tài nguyên đất đai theo từng giai đoạn, ứng với từng tình hình cụ thể. Ngoài ra, đất đai tại Việt Nam vốn mang tính đặc thù tại từng địa phương, vì vậy, Nhà nước có xu hướng cho phép các CQHC Nhà nước cấp tỉnh quyết định các vấn đề đất đai tại tỉnh của mình.
QLĐĐ là một quá trình cần có sự phối hợp về chiều dọc giữa cơ quan cấp trên với cơ quan cấp dưới và chiều ngang giữa các cơ quan ngang cấp với nhau. Từ đó, dẫn đến việc các văn bản được ban hành trong quá trình QLĐĐ nói chung và các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai nói riêng vô cùng phức tạp, thay đổi thường xuyên và còn nhiều bất cập. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, việc áp dụng pháp luật của các cá nhân, cơ quan Nhà nước còn chưa thống nhất và chưa bám sát quy định pháp luật dẫn đến nhiều sai sót.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
Đẩy mạnh giải quyết khiếu kiện hành chính nói chung và khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ nói riêng là một trong những chủ trương quan trọng mà Đảng và Nhà nước quan tâm. Vì thế, các TAND đã nỗ lực rất nhiều để thực hiện điều này, hướng tới mục tiêu TAND sẽ là chỗ dựa của người dân trong quá trình tìm kiếm công lý. Bởi tâm lý rất ngại đụng chạm tới cơ quan Nhà nước của người dân đã ăn sâu vào ý thức người Việt Nam từ rất lâu. Nhìn chung, TAND các huyện và TAND tỉnh Khánh Hòa đã hoàn thành tốt công tác giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ. Từ đó giúp đảm bảo được quyền lợi của người dân, đảm bảo công tác QLĐĐ được diễn ra hiệu quả.
Trải qua nhiều lần sửa đổi, quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến khiếu kiện hành chính nói chung và khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ nói riêng nhìn chung đã ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại một số bất cập trong quy định của pháp luật dẫn đến chức năng của khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ không đạt đến tận cùng. Ngoài ra, trong quá trình áp dụng pháp luật, thực tiễn giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ hiện nay vẫn chưa thật sự mang lại hiệu quả, điều này đã được thể hiện thông qua việc nghiên cứu thực tiễn giải quyết tại tỉnh Khánh Hòa. Nhưng không vì thế mà chúng ta phủ nhận những kết quả đạt được trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực QLĐĐ. Luận văn: Thực trạng khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp khiếu kiện về quản lý đất đai tại Khánh Hòa

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Khiếu kiện hành chính về quản lý đất đai tại Khánh Hòa