Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng quy định về hợp đồng cho thuê hàng hóa theo luật thương mại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng cho thuê hàng hóa
2.1.1. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cho thuê hàng hóa
Để được pháp luật công nhận và phát sinh hiệu lực ràng buộc giữa các bên tham gia, Hợp đồng cho thuê hàng hóa phải đáp tuân thủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định, cụ thể:
Thứ nhất, về năng lực chủ thể.
Ở nước ta, hoạt động thương mại diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm tạo nên nhiều giá trị của cải về mặt vật chất lẫn tinh thần, phục vụ sự phát triển bền vững, an toàn của nền kinh tế đất nước. Tùy từng hình thức, pháp luật thương mại đều có một số ràng buộc cụ thể về mặt chủ thể tham gia để đảm bảo các hoạt động tương ứng với ngành nghề đăng ký kinh doanh diễn ra một cách an toàn, hiệu quả. Cho thuê hàng hóa là hình thức khá phổ biến, xuất hiện ở nước ta từ nhiều thập kỷ trước và phát triển mạnh mẽ ở từng giai đoạn phát triển của đất nước, chính vì vậy Luật Thương mại đã có sự mở rộng hơn về điều kiện chủ thể cần đáp ứng khi tham gia giao dịch.
- Đối với Bên cho thuê.
Trên thực tế, họ chính là chủ sở hữu, sử dụng hàng hóa một cách hợp pháp và muốn cho thuê tài sản của mình để nhận lại một khoản lợi ích nhất định, do đó Bên cho thuê trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa thường chính là thương nhân. Đối với thương nhân là cá nhân, họ có quyền đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể khi thỏa mãn các điều kiện tại Điều 80 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP, cụ thể: phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (từ đủ 18 tuổi) và không thuộc các trường hợp sau:
- Bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
Điều này đồng nghĩa với việc, một cá nhân được xem là thương nhân và có quyền giao kết Hợp đồng cho thuê hàng hóa với tư cách là Bên cho thuê chỉ khi đáp ứng điều kiện về độ tuổi, không nằm trong các trường hợp bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi và được phép đăng ký kinh doanh.
Khi Bên cho thuê là thương nhân hoạt động dưới hình thức các tổ chức kinh tế, căn cứ Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại, tổ chức được xem là thương nhân khi đáp ứng các điều kiện về thành lập hợp pháp và hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên, có đăng ký kinh doanh. Hiện nay, tổ chức bao gồm tổ chức 02 loại, đó là tổ chức có tư cách pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân. Trên cơ sở đó, các loại hình doanh nghiệp ở nước ta cũng được chia làm hai nhóm: có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân. Như vậy, Luật Thương mại 2005 hiện không giới hạn về tư cách tổ chức được xem là thương nhân, cho nên kể cả tổ chức không có tư cách pháp nhân khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định cũng trở thành thương nhân và có quyền giao kết Hợp đồng cho thuê hàng hóa. Khác với cá nhân, năng lực hành vi của nhóm thương nhân đặc biệt này được biểu hiện bằng ý chí chung của tất cả các thành viên trong chính tổ chức đó và được biểu hiện ra ngoài bằng hành vi của người đại diện cho tổ chức. Trong phạm vi được đại diện, họ có quyền thay mặt cho thương nhân để thực hiện giao kết Hợp đồng cho thuê hàng hóa để phục vụ cho hoạt động của tổ chức. Nói cách khác, người ký hợp đồng là người đại diện tuy nhiên tư cách chủ thể được xác định trong hợp đồng vẫn chính là tổ chức mà người đại diện nhân danh. Như vậy, trong trường hợp này, để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng được giao kết, điều kiện về mặt chủ thể được xác định ở hai đối tượng, đó là điều kiện về tổ chức là thương nhân cho thuê và điều kiện về người đại diện của thương nhân. Người đại diện của thương nhân phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật để thực hiện giao dịch, đồng thời tính hợp pháp, hiệu lực của giao dịch được xác lập còn phải dựa trên cơ sở phạm vi thẩm quyền của người đại diện được đề cập theo Điều lệ công ty hoặc văn bản ủy quyền.
Đối với các thương nhân là tổ chức không có tư cách pháp nhân, quy định xác định năng lực chủ thể của nhóm đối tượng này lại mang nhiều điểm khác biệt. Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật Dân sự thì thành viên của tổ chức không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện. Như vậy, đối với thương nhân là tổ chức không có tư cách pháp nhân, người đại diện tham gia xác lập Hợp đồng cho thuê hàng hóa phải có đủ năng lực chủ thể như một thương nhân là cá nhân.
Trong trường hợp Bên cho thuê không phải là thương nhân mà là các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội. Họ vẫn có thể trở thành một bên của Hợp đồng cho thuê hàng hóa khi giao kết hợp đồng cho thuê với thương nhân hoặc một chủ thể khác không phải là thương nhân nhưng hai bên cùng thống nhất lựa chọn Luật Thương mại làm luật áp dụng. Việc xác định năng lực chủ thể của nhóm đối tượng này cũng dựa trên năng lực pháp luật, năng lực hành vi của cá nhân, tổ chức tham gia giao dịch dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự 2015, nhưng họ không cần phải đáp ứng các yêu cầu về đăng ký kinh doanh và lĩnh vực hoạt động.
- Đối với Bên thuê. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
BT là người nhận chuyển giao hàng hóa cho thuê và trực tiếp quản lý, sử dụng trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. Tùy theo mục đích và nhu cầu sử dụng mà BT trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân. Để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng, việc xác định năng lực chủ thể của Bên thuê cũng khá tương tự như Bên cho thuê. Trong trường hợp Bên thuê là thương nhân thì phải đáp ứng đủ điều kiện của Luật Thương mại 2005 và quy định về đăng ký kinh doanh. Nếu Bên thuê không phải là thương nhân mà chỉ là một pháp nhân thông thường thì tổ chức này phải đáp ứng đủ điều kiện về pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự và chỉ có quyền ký kết Hợp đồng cho thuê hàng hóa kể từ thời điểm được thành lập hợp pháp. Khi là cá nhân, Bên thuê cũng cần phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi phù hợp với giao dịch cho thuê được xác lập. Căn cứ Khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 thì cá nhân “khi từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trừ các giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý“. Vậy nên trong quan hệ cho thuê hàng hóa, đối với các loại hàng hóa không nằm trong danh mục tài sản phải đăng ký kinh doanh và ràng buộc về độ tuổi được giao dịch, phù hợp với nhu cầu sử dụng của bản thân, đúng theo quy định của pháp luật, Bên thuê không bắt buộc phải từ đủ 18 tuổi trở lên mà các cá nhân từ đủ 15 tuổi cũng có thể trở thành một bên trong quan hệ này bằng cách tự mình giao kết hợp đồng với Bên cho thuê
Như vậy, Bên cho thuê và Bên thuê có thể là thương nhân hoặc là bất kỳ cá nhân, tổ chức trong xã hội, song điều kiện về năng lực chủ thể là điều kiện đầu tiên cần phải đáp ứng khi tại thời điểm ký kết, thực hiện hợp đồng cho dù là họ thuộc nhóm chủ thể nào đi nữa.
Thứ hai, về ý chí của chủ thể.
Tự nguyện là một trong các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 khi xác lập và thực hiện các giao dịch, hợp đồng. Căn cứ Khoản 2 Điều 11 Luật Thương mại 2005, trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Cũng theo Điểm b Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, sự tự nguyện của các cá nhân, tổ chức tham gia cũng chính là một trong các điều kiện bắt buộc để giao dịch dân sự có hiệu lực. Dựa trên những quy định này, có thể nhận định rằng, để phát sinh hiệu lực pháp lý, Hợp đồng cho thuê hàng hóa phải được ký kết dựa trên sự tự nguyện của Bên thuê và Bên cho thuê.
Ở nước ta hiện nay, trong hệ thống các văn bản pháp luật về dân sự, thương mại, “tự nguyện” là cụm từ được sử dụng nhiều khi đề cập đến ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, song chưa một văn bản nào trong hệ thống các văn bản này luận giải một cách cụ thể, chi tiết để áp dụng một cách chính xác, hiệu quả. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Theo Từ điển Luật học (2006), Viện Khoa học Pháp lý, NXB Tư pháp, tự nguyện được giải nghĩa là “sự tự do lựa chọn hoặc thực hiện mà không bị mua chuộc, thúc đẩy, ép buộc, cưỡng ép, xúi giục, hạn chế, nhắc nhở, đề nghị hoặc bất cứ tác động nào bởi người khác“.
Theo quy định tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013, “mọi người đều có quyền sở hữu về của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất,…” quyền sở hữu chính là một trong các quyền cơ bản được pháp luật tôn trọng, thừa nhận và bảo vệ. Chính vì vậy, Bên cho thuê với tư cách là chủ sở hữu, nếu như không muốn sử dụng hàng hóa vào hoạt động cho thuê trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thì các cá nhân, tổ chức khác cũng không có quyền can thiệp, ép buộc trái với ý chí của họ. Từ đó, có thể thấy rằng, kể từ thời điểm bắt đầu đề nghị giao kết hợp đồng, sự tự nguyện giữa Bên thuê và Bên cho thuê chính là yếu tố đầu tiên và tiên quyết để hình thành Hợp đồng cho thuê hàng hóa, phản ánh một cách rõ nét thông qua nội dung đề nghị, thỏa thuận và hành động cụ thể như:
BCT đồng ý chuyển giao hàng hóa cho Bên thuê quản lý sử dụng, Bên thuê đồng ý chi trả tiền thuê theo thỏa thuận giữa hai bên, hoặc việc thỏa thuận và thực hiện một số điều khoản khác như vận chuyển, bảo trì, sửa chữa hàng hóa,…
Hợp đồng cho thuê hàng hóa là minh chứng thể hiện cho ý chí tự do thỏa thuận giữa Bên thuê và Bên cho thuê, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ bằng những chế định cụ thể. Bất kỳ sự can thiệp, ép buộc, chi phối, đe dọa của bất kỳ chủ thể nào dẫn đến việc giao kết hợp đồng là trái với ý muốn của Bên thuê hoặc Bên cho thuê hoặc cả hai bên đều tạo nên sự bất công của các chủ thể trong xã hội. Để ngăn chặn và xử lý kịp thời những tác động xấu có thể xảy ra, Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định rõ về các trường hợp hợp đồng vô hiệu vì giả tạo, hợp đồng bị vô hiệu do nhầm lẫn hoặc hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép… và dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý khác như tổn thất về quyền lợi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng,… Tuy nhiên, không phải lúc nào toàn bộ nội dung của hợp đồng khi có dấu hiệu này đều sẽ vô hiệu toàn bộ mà việc xác định hiệu lực của Hợp đồng cho thuê hàng hóa đã ký trong một số trường hợp sẽ tùy thuộc vào từng nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, khi có một phần nội dung bị vô hiệu nhưng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của những phần còn lại thì những thỏa thuận còn lại giữa Bên thuê và Bên cho thuê vẫn có hiệu lực, nói một cách khác, Hợp đồng cho thuê hàng hóa trong trường hợp này chỉ bị vô hiệu một phần và các thỏa thuận còn lại vẫn có giá trị pháp lý.
Thứ ba, về mục đích và nội dung của hợp đồng. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Mục đích chính là lợi ích mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch còn nội dung hợp đồng là tổng hợp các điều khoản, các cam kết quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia. Mặc dù phát sinh trong lĩnh vực thương mại nhưng cho thuê hàng hóa vốn là một hoạt động chuyên biệt của cho thuê tài sản, do đó Hợp đồng cho thuê hàng hóa vẫn phải đáp ứng điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng dân sự nói chung. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự, một giao dịch dân sự để phát sinh hiệu lực cần phải có mục đích và nội dung “không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội“. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật Thương mại 2005, các bên có quyền tự do thỏa thuận “không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại“. Cùng quy định về nội dung được thỏa thuận trong hợp đồng nhưng giữa hai văn bản luật lại có sự mâu thuẫn với nhau khi Bộ luật Dân sự lại quy định điều kiện không vi phạm điều cấm của luật, còn Luật Thương mại lại quy định cụ thể về việc thỏa thuận giữa các bên không được trái với các quy định của pháp luật. Quy định pháp luật được đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: bộ luật, luật, nghị định, thông tư, nghị quyết,… Vậy nên “trái với các quy định của pháp luật” và “vi phạm điều cấm của luật” là hai phạm trù khác biệt, nếu như theo Luật Thương mại, khi thỏa thuận các bên cần phải đưa ra các thỏa thuận không được trái với quy định được nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật thì Bộ luật Dân sự lại cho phép các bên được thỏa thuận khi không trái quy định của văn bản Luật đặt ra. Nói cách khác, quy định này của Luật Thương mại đã phần nào cản trở đi ý chí tự do thỏa thuận giữa các bên tham gia giao dịch. Mọi người đều có quyền kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, hàng hóa giao dịch trên thị trường lại tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, bản thân hoạt động cho thuê hàng hóa lại đề cao ý chí, thỏa thuận của chủ thể tham gia để từ đó khuyến khích đẩy mạnh sự phát triển và đa dạng hóa các mặt hàng cho thuê, thúc đẩy sự lưu thông của hàng hóa trên thị trường. Hệ thống các văn bản pháp luật ở nước ta tương đối nhiều, nhất là mỗi luật lại có rất nhiều văn bản hướng dẫn, nếu như áp dụng theo nguyên tắc thỏa thuận không trái theo quy định của pháp luật trong Luật Thương mại 2005 thì khả năng rủi ro cho Bên thuê và Bên cho thuê khi tiến hành giao dịch là khá cao. Đồng thời, nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật Thương mại chưa phù hợp với nguyên tắc cơ bản tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015. Chính vì vậy, để phát sinh hiệu lực, mục đích và nội dung của Hợp đồng cho thuê hàng hóa không được vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội.
Thứ tư, về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng cho thuê hàng hóa phải tuân thủ các điều kiện về hình thức theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Nếu như ý chí là cái bên trong, là nguyện vọng, là những điều mà chủ thể tham gia mong muốn thực hiện và đạt được thì hợp đồng chính là phương tiện để thể hiện các ý chí. Suy rộng ra, hình thức của Hợp đồng cho thuê hàng hóa chính là sự thể hiện ra bên ngoài ý chí của Bên thuê và Bên cho thuê, ghi nhận các nội dung thỏa thuận của các chủ thể tham gia. Hiện nay, Luật Thương mại 2005 chưa quy định cụ thể về hình thức cụ thể của Hợp đồng cho thuê hàng hóa vì vậy hoạt động này có thể được giao kết và thể hiện dưới nhiều hình thức mà pháp luật cho phép như: lời nói, văn bản, bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, cho thuê hàng hóa là một trong các hoạt động thương mại, mang tính chất phức tạp và đem lại nhiều giá trị về kinh tế – xã hội nên thông thường sẽ được lập thành văn bản để cụ thể hóa các điều kiện, nội dung thực hiện trong suốt thời gian thuê. Hợp đồng bằng văn bản được thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức như: chứng từ điện tử, thư điện tử, điện báo, điện tín, fax, … Điều kiện về hình thức không phải là điều kiện bắt buộc đối với mọi hàng hóa cho thuê, song, đối với một số hàng hóa đặc biệt, pháp luật sẽ quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng thuê là văn bản như cho thuê nhà, cho thuê tàu biển, …
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.2. Giao kết hợp đồng cho thuê hàng hóa
Trên cơ sở quy định pháp luật và thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của mình, Hợp đồng cho thuê hàng hóa được giao kết và phát sinh hiệu lực áp dụng đối với các chủ thể tham gia.
Mặc dù phát sinh trong lĩnh vực thương mại, tuy nhiên Hợp đồng cho thuê hàng hóa vốn mang bản chất của một loại hợp đồng dân sự do đó việc xác định các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình giao kết hình thức hợp đồng này cũng được thực hiện trên cơ sở những quy định về giao kết hợp đồng tại Tiểu mục 1 Mục 7 Chương XV Phần thứ ba của Bộ luật Dân sự hiện hành.
Đối chiếu với khái niệm cho thuê hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại, căn cứ Điều 269 của Luật này, hoạt động cho thuê hàng hóa đã được định nghĩa cụ thể là “hoạt động thương mại, theo đó một bên chuyển quyền chiếm hữu và sử dụng hàng hóa (gọi là bên cho thuê) cho bên khác (gọi là bên thuê) trong một thời hạn nhất định để nhận tiền cho thuê“. Từ đó, có thể nhận định rằng, Hợp đồng cho thuê hàng hóa thường đề cập đến một số nội dung cơ bản như: chuyển giao tài sản, thời hạn thuê và tiền thuê. Với vai trò thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng của bên đề nghị với một chủ thể khác, là cơ sở để hai bên đi đến việc đàm phán và xây dựng một hợp đồng hoàn chỉnh, do đó lời đề nghị giao kết Hợp đồng cho thuê hàng hóa phải đề cập đến các nội dung chính trên. Ngoài ra, trong nội dung lời đề nghị này, họ còn có thể bổ sung thêm một số thông tin, đề nghị khác để tỏ rõ thiện chí hợp tác, tạo lập niềm tin và giúp người được đề nghị có đủ cơ sở để sớm đưa ra quyết định phù hợp.
Đề nghị giao kết hợp đồng thực chất là hành vi pháp lý đơn phương của một bên, vậy nên bên đưa ra đề nghị phải có trách nhiệm đối với những gì mà mình đã đề nghị theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015, hành vi pháp lý đơn phương cũng chính là một hình thức của giao dịch dân sự, vì thế khi đưa ra đề nghị giao kết Hợp đồng cho thuê hàng hóa, bên đề nghị cũng cần phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự hiện hành. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Thông qua việc chấp nhận giao kết, một quan hệ hợp tác mới giữa thương nhân với thương nhân, giữa thương nhân với các cá nhân, tổ chức trong xã hội được hình thành và phát triển. Thời điểm giao kết là mốc thời gian quan trọng để xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của Hợp đồng cho thuê hàng hóa. Theo quy định tại Điều 400 Bộ luật Dân sự thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định cụ thể trong từng trường hợp sau:
- Đối với Hợp đồng cho thuê hàng hóa được giao kết bằng một trình tự trao đổi văn bản thể hiện ý kiến của các bên thì hợp đồng được giao kết kể từ thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.
- Đối với Hợp đồng cho thuê hàng hóa mà Bên cho thuê và Bên thuê hàng hóa có thỏa thuận về việc im lặng trong một thời hạn là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì hợp đồng được giao kết tại thời điểm cuối cùng của thời hạn.
- Đối với Hợp đồng cho thuê hàng hóa giao kết bằng lời nói, thời điểm Bên cho thuê và Bên thuê đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng chính là thời điểm giao kết hợp đồng.
- Đối với Hợp đồng cho thuê hàng hóa được giao kết bằng văn bản, thời điểm giao kết hợp đồng được tính là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
- Đối với Hợp đồng cho thuê hàng hóa được giao kết bằng lời nói và sau đó các bên tiến hành xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định là thời điểm Bên cho thuê và Bên thuê đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
Thời điểm giao kết hợp đồng là một trong các cơ sở quan trọng để xác định thời điểm có hiệu lực của Hợp đồng cho thuê hàng hóa đã ký nếu như các bên không có thỏa thuận khác. Kể từ thời điểm này, các nội dung được ghi nhận trong hợp đồng sẽ phát sinh nghĩa vụ ràng buộc giữa Bên thuê với Bên cho thuê. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc thời điểm giao kết hợp đồng thuê phải là thời điểm bắt buộc các bên phải chuyển giao hàng hóa cho nhau. Trên thực tế, việc chuyển giao hàng hóa cho thuê hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa Bên thuê và Bên cho thuê.
Khi bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng sẽ chấm dứt và chuyển sang giai đoạn mới. Ngược lại, trong trường hợp bên được đề nghị không chấp nhận, hết hạn trả lời chấp nhận hoặc theo thỏa thuận của các bên thì sẽ dẫn đến chấm dứt hiệu lực của lời đề nghị giao kết hợp đồng.
2.1.3. Những điều khoản cơ bản của hợp đồng cho thuê hàng hóa Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Hợp đồng cho thuê hàng hóa là căn cứ ghi nhận nội dung thỏa thuận của Bên thuê và Bên cho thuê, theo đó các bên tập trung chủ yếu đề cấp đến các điều khoản cơ bản sau:
Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng.
Hợp đồng cho thuê hàng hóa được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tự do thỏa thuận giữa Bên thuê và BCT, trong đó nội dung mà các bên hướng đến đều xoay quanh đối tượng trung tâm là hàng hóa cho thuê. Điều khoản về đối tượng của hợp đồng chính là một trong các điều khoản cơ bản cho nên các bên sẽ đề cập cụ thể đến một số vấn đề để xác định hàng hóa cho thuê như: mặt hàng, chủng loại, kích thước, đặc tính,… Tuy nhiên, những tài sản này phải là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của Bên cho thuê, được phép giao dịch và không thuộc các trường hợp bị kê biên, tranh chấp,…
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005, hàng hóa bao gồm các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và bất động sản là những vật gắn liền với đất đai. Do đó để được xem là hàng hóa, cho dù là có thể được hình thành trong tương lai thì tài sản đó phải hữu hình và con người có thể tác động trực tiếp. Khi được sử dụng vào mục đích cho thuê để tìm kiếm lợi nhuận, những tài sản này trở thành hàng hóa và chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại cùng các quy định khác có liên quan. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Như vậy, khi các thương nhân ký kết hợp đồng cho thuê với thuê nhà xưởng, máy móc, dây chuyền sản xuất được xây dựng, lắp đặt gắn liền với QSD đất để phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh thì các tài sản gắn liền với đất được xem là hàng hóa và chịu sự điều chỉnh của pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa. Trong thực trạng quy định pháp luật, có thể thấy Luật Thương mại đã trực tiếp loại trừ đất đai ra khỏi nhóm hàng hóa được phép kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, căn cứ Khoản 4 Điều 5 Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2014, “đất đai nếu được phép chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai thì được phép kinh doanh quyền sử dụng đất.” Đất đai là tài sản đặc biệt, thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu thống nhất quản lý, cho nên quyền sở hữu đất đai gắn liền với chủ quyền lãnh thổ của dân tộc, vì vậy trong các quyền của quyền sở hữu chỉ có quyền sử dụng đất mới được phép chuyển đổi từ chủ thể này sang chủ thể khác dưới các hình thức chuyển nhượng, cho thuê. Khi được đưa vào giao dịch kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận, quyền sử dụng đất nếu đáp ứng đủ các điều kiện được giao dịch trong Luật đất đai, quyền tài sản này cũng được trở thành một hàng hóa và chịu sự tác động, điều tiết chung của thị trường. Nói cách khác, trong các hàng hóa được cho thuê ở lĩnh vực kinh doanh thương mại, quyền sử dụng đất cũng được xem là một loại hàng hóa cụ thể. Như vậy, khái niệm hàng hóa của Luật Thương mại 2005 hiện tại đã không còn phù hợp với những chuyển biến của nền kinh tế thị trường, bộc lộ nhiều hạn chế và đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi khái niệm hàng hóa để từ đó tạo ra động lực mới thúc đẩy sự lưu thông hàng hóa trên thị trường, phát triển kinh tế đất nước.
Thứ hai, về giá thuê, phương thức thanh toán tiền thuê, thời hạn thuê.
Là một trong các nội dung cơ bản của Hợp đồng cho thuê hàng hóa, điều khoản về giá thuê, phương thức thanh toán tiền thuê và thời hạn thuê ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất của các bên tham gia. Hiện nay, các điều khoản này chủ yếu được thực hiện dựa trên cơ sở các bên tự nguyện thỏa thuận và thống nhất với nhau.
- Về thời hạn thuê.
Trong hợp đồng cho thuê tài sản, căn cứ Điều 474 Bộ luật Dân sự 2015, thời hạn thuê sẽ do các bên thỏa thuận, nếu cả Bên thuê và Bên cho thuê không thỏa thuận cụ thể thì thời hạn này sẽ được xác định theo mục đích thuê. Khi các bên không thỏa thuận và không thể xác định được thời hạn thuê theo mục đích thuê thì mỗi bên có quyền chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý. Trong thời thực hiện Hợp đồng cho thuê hàng hóa, bởi vì Bên cho thuê không trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản, đồng thời qua thời gian sử dụng không thể tránh khỏi các hao mòn về vật chất, làm sụt giảm giá trị tài sản, đặc biệt là đối với hàng hóa vốn là tài sản có giá trị thương mại, mang lại lợi ích kinh tế cho các thương nhân cho nên yêu cầu về lợi nhuận, giá trị vật chất lại càng được đề cao. Cho nên khi tiến hành giao kết hợp đồng, xem xét trên các khía cạnh như: chất liệu, tuổi thọ, công năng sử dụng, mục đích sử dụng, môi trường của Bên thuê, nhu cầu cho thuê… mà Bên cho thuê cũng cân nhắc đến vấn đề thời gian để tránh làm ảnh hưởng đến các giá trị có thể khai thác từ tài sản của mình. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Trên thực tế, theo thỏa thuận của hợp đồng, Bên cho thuê thường là người có quyền và nghĩa vụ kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa hàng hóa theo định kỳ hoặc đột xuất, do vậy họ có thể chủ động hơn khi theo dõi hiện trạng tài sản của mình. Những vi phạm về nghĩa vụ của hợp đồng đều có thể dẫn đến hậu quả chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, Bên thuê và Bên cho thuê cũng có thể thỏa thuận về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi xảy ra các sụt giảm về giá trị hàng hóa. Ngược lại, thời hạn thuê cũng có thể được kéo dài hơn để các bên cùng đạt được nhu cầu, lợi ích theo kỳ vọng thì thời hạn thuê cũng được các bên cùng ngồi lại để đàm phán, điều chỉnh. Như vậy, thời hạn thuê chỉ mang tính chất tương đối, có thể được điều chỉnh, thay đổi tùy theo ý chí của các bên.
Khi không thỏa thuận cụ thể về thời hạn thuê, pháp luật quy định thời gian thực hiện giao dịch sẽ được xác định dựa trên mục đích cho thuê. Nếu Bên thuê cho rằng thời gian thuê được xác định là đến khi hoàn thành công việc từ việc sử dụng tài sản thuê, tuy nhiên thời gian là yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của hàng hóa trong khi đó quá trình sử dụng là một khoảng thời gian dài và phức tạp, khó khăn để xác định được thời điểm hoàn thành công việc nên nếu không dung hòa được lợi ích của mỗi bên thì sẽ rất khó có thể tìm được tiếng nói chung. Mặc dù pháp luật tôn trọng ý chí tự do thỏa thuận và khuyến khích sự phát triển quan hệ hợp tác thương mại giữa các bên, tuy nhiên Bên thuê và Bên cho thuê đều có quyền lợi đối lập nhau trong quan hệ hợp đồng nên rất dễ xuất hiện những xung đột, mâu thuẫn trong quá trình thực hiện, thậm chí có thể phát sinh tranh chấp và gây ra nhiều tổn thất về vật chất cho thương nhân, điều mà bản thân họ không hề mong muốn xảy ra.
- Về giá thuê và phương thức thanh toán.
Nghĩa vụ thanh toán tiền thuê được thực hiện song song với chuyển giao quyền sử dụng hàng hóa trong suốt thời gian thuê, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất, lợi nhuận của các bên, khắc họa rõ nét tính đền bù của Hợp đồng cho thuê hàng hóa. Giá thuê tương đương với khoản lợi mà Bên cho thuê sẽ nhận được trong suốt thời gian thuê, ngược lại, đây cũng chính là nghĩa vụ tài chính mà Bên thuê phải đánh đổi để nhận được quyền sử dụng hàng hóa nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Chính vì vậy Luật Thương mại hiện hành để cho các bên tự thỏa thuận theo ý chí, phù hợp năng lực tài chính cùng nhu cầu của mình để tự thống nhất với nhau. Giá thuê chính là yếu tố quan trọng và trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, đồng thời trực tiếp tác động đến thời hạn cho thuê vì vậy cần phải được thỏa thuận một cách rõ ràng để tránh mâu thuẫn phát sinh. Hiện nay, quy định pháp luật của Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 đều không ghi nhận cụ thể về phương thức thanh toán mà chỉ xem đây là một trong các điều khoản phải có của hợp đồng vì vậy họ có thể tự do lựa chọn các phương thức thanh toán như tiền mặt, séc, thư tín dụng, hiện vật,… Các bên được quyền tự do thỏa thuận về giá thuê và phương thức thanh toán. Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ và sự phát triển của kinh tế xã hội, xu thế áp dụng hình thức thanh toán không sử dụng tiền mặt ngày càng được ưa chuộng và từng bước phổ biến hơn trước. Việc thanh toán không sử dụng tiền mặt ở nước ta được áp dụng và chịu sự điều chỉnh cụ thể theo quy định tại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt, Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP, Nghị định số 16/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 về sửa đổi, bổ sung một số điều các Nghị định quy định về điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nhìn ở góc độ tích cực, pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa đã tạo điều kiện xây dựng và thúc đẩy sự tự do thể hiện ý chí của các bên tham gia mà không bị bó buộc trong khuôn khổ quy chuẩn của pháp luật. Từ đó thu hút được sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội, đưa hoạt động cho thuê hàng hóa được phát triển một cách mạnh mẽ, đẩy mạnh sự lưu thông của hàng hóa trên thị trường. Tuy nhiên, nếu các bên tự do thỏa thuận xa rời thực tế và tiềm ẩn nhiều rủi ro về mặt pháp lý cũng như tổn hại quyền lợi của chủ thể tham gia, tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến tác động xấu về mặt kinh tế – xã hội.
Thứ ba, nghĩa vụ cung cấp thông tin, bảo dưỡng và sửa chữa hàng hóa. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Khi thực hiện hợp đồng, Bên thuê và Bên cho thuê đều sở hữu một lượng thông tin cần thiết và có sự ảnh hưởng nhất định đến quá trình thực hiện cũng như hiệu lực của hợp đồng. Các điều khoản về nghĩa vụ cung cấp thông tin được thể hiện qua việc một bên thông báo, trình bày rõ những thông tin liên quan ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hàng hóa trong quá trình sử dụng. Hiện nay, nghĩa vụ này chưa được quy định cụ thể trong Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự mà chỉ dựa trên nội dung tự thỏa thuận giữa Bên thuê và Bên cho thuê, được thực hiện chủ yếu dựa trên tinh thần thiện chí, trung thực của mỗi chủ thể tham gia, vì vậy khó có cơ sở để xác định phạm vi trách nhiệm và những thông tin cần được cung cấp, trao đổi, thống nhất với nhau trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho thuê hàng hóa. Trường hợp nếu một bên biết thông tin quan trọng liên quan đến hàng hóa như cách sử dụng, hiệu suất của hàng hóa, lỗi kỹ thuật,… mà không cung cấp cho bên còn lại biết thì đây là một trong các dấu hiệu của hành vi lừa dối, vi phạm nguyên tắc trung thực khi giao kết và thực hiện Hợp đồng cho thuê hàng hóa, có khả năng dẫn đến hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Để đảm bảo quá trình sử dụng hàng hóa được ổn định và hiệu quả, bên cạnh nghĩa vụ cung cấp thông tin, điều khoản về bảo dưỡng, sửa chữa hàng hóa cũng là một trong các nội dung quan trọng trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa. Có thể hiểu bảo dưỡng là việc bên có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm phát hiện kịp thời các hỏng hóc, giảm thiểu các hao mòn để quá trình sử dụng hàng hóa được ổn định, liên tục và đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bảo dưỡng có thể được thực hiện theo định kỳ, khẩn cấp hoặc thường trực để kịp thời theo dõi và nắm bắt rõ tình hình của đối tượng. Đối với sửa chữa, đây là hoạt động xuất hiện sau khi phát hiện các hỏng hóc, hư hại, lỗi kỹ thuật của hàng hóa, nhằm kịp thời khắc phục những hỏng hóc xảy ra, khôi phục phần nào khả năng làm việc, sử dụng của tài sản đang được sử dụng. Ngoài ra, tùy theo nhu cầu sử dụng mà hàng hóa có thể được thay đổi và bổ sung công năng để khai thác được tối đa hiệu quả sử dụng. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Theo Điều 270 Luật Thương mại 2005, bảo dưỡng, sửa chữa hàng hóa là nghĩa vụ của Bên cho thuê và được thực hiện trong một phần hoặc toàn bộ thời gian thuê. Tuy nhiên, nếu chỉ được thực hiện trong một phần thời gian thực hiện hợp đồng thì pháp luật không quy định nghĩa vụ sửa chữa hàng hóa trong thời gian còn lại là thuộc về ai mà tùy thuộc vào sự lựa chọn thông qua thỏa thuận của Bên thuê với Bên cho thuê. Điều này đồng nghĩa với việc nghĩa vụ bảo dưỡng, sửa chữa hàng hóa không nhất thiết bắt buộc phải là Bên cho thuê mà cũng có thể thuộc về Bên thuê. Trong nghĩa vụ này, khoản chi phí bảo dưỡng, sửa chữa thường sẽ do Bên cho thuê chi trả hoặc theo thỏa thuận khác của hợp đồng. Hơn ai hết, trước khi thực hiện chuyển giao, Bên cho thuê thường là chủ sở hữu nên hiểu rõ về tình trạng, giá trị, tuổi thọ của những tài sản này,… Ngược lại, Bên thuê chỉ được trực tiếp sử dụng, chiếm hữu hàng hóa sau khi nhận chuyển giao, vì vậy họ là người bị động, bất lợi hơn so với Bên cho thuê trong vấn đề tiếp cận thông tin và tình trạng của hàng hóa. Bảo dưỡng và sửa chữa đều có chung mục đích là bảo vệ, giữ gìn giá trị của tài sản trước thiệt hại, rủi ro có thể và đang xảy ra. Khi tiến hành sửa chữa, bảo dưỡng mà gây phương hại đến việc Bên thuê sử dụng hàng hóa đó thì Bên cho thuê còn phải có trách nhiệm giảm giá thuê hoặc kéo dài thời hạn cho thuê tương ứng với thời gian bảo dưỡng, sữa chữa. Ngược lại, nếu những hỏng hóc, hao mòn xảy ra là do hành vi vi phạm hợp đồng, lỗi của Bên thuê thì họ phải là người chịu trách nhiệm đối với tổn thất do mình gây ra bằng cách chi trả những chi phí sửa chữa, khắc phục hư hại. Đây có thể được xem là một phần trong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi thực hiện Hợp đồng cho thuê hàng hóa.
Điều khoản về cung cấp thông tin và thỏa thuận bảo dưỡng, sữa chữa hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng. Khi phát hiện hàng hóa bị lỗi, hỏng hóc, Bên thuê phải thông báo cho Bên cho thuê biết và yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ của mình, trường hợp Bên cho thuê không thực hiện thì Luật Thương mại hiện hành cho phép Bên thuê có quyền thực hiện sửa chữa, bảo dưỡng hàng hóa khi Bên cho thuê không thực hiện trong một khoảng thời gian hợp lý và Bên cho thuê có trách nhiệm chi trả các chi phí hợp lý phát sinh. Song, để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu tài sản, BT không được sửa chữa, thay đổi tình trạng ban đầu của hàng hóa nếu như không được sự chấp thuận của Bên cho thuê. Nếu hành vi tự sửa chữa của Bên thuê dẫn đến thiệt hại, Bên cho thuê hoàn toàn có quyền yêu cầu Bên thuê phải bồi thường thiệt hại hoặc khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản này. Như vậy, Luật Thương mại đã quy định về quyền yêu cầu bảo dưỡng, sửa chữa hàng hóa của Bên thuê và quyền yêu cầu khôi phục tình trạng ban đầu của hàng hóa hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại của Bên cho thuê. Tuy nhiên, khi sự hư, hỏng dẫn đến việc sửa chữa có thể làm thay đổi tình trạng ban đầu của hàng hóa nhưng BCT không thực hiện nghĩa vụ của mình và không có ý kiến phản hồi, chấp thuận yêu cầu của Bên thuê lại đặt ra sự chồng chéo về quyền lợi của các bên liên quan trong quá trình sửa chữa hàng hóa.
Thứ tư, trách nhiệm gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa cho thuê. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Mọi cá nhân, tổ chức khi tham gia Hợp đồng cho thuê hàng hóa đều mong muốn đạt được những lợi ích nhất định, hạn chế tối đa tổn thất có thể xảy ra. Tuy nhiên, rủi ro là các sự kiện vượt quá ý chí, nằm ngoài sự kiểm soát của con người, có thể xảy ra bất cứ lúc nào bởi nhiều nguyên nhân khác nhau như: điều kiện vận chuyển, phương tiện vận chuyển, thiên tai, hỏa hoạn, thời tiết,… Rủi ro thường gắn liền với tổn thất về quyền lợi của chủ thể tham gia, vì vậy trách nhiệm gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa cho thuê cần được xác định cụ thể theo quy định pháp luật và điều khoản của hợp đồng.
Khi xảy ra rủi ro, người có trách nhiệm gánh chịu tổn thất đã được xác định từ thời điểm chuyển giao rủi ro, đó có thể là Bên thuê, Bên cho thuê hoặc một thứ ba có liên quan như Doanh nghiệp bảo hiểm. Việc chuyển rủi ro từ Bên cho thuê sang Bên thuê thực hiện trên cơ sở thỏa thuận của các bên, theo quy định tại Điều 274 Luật Thương mại 2005, nếu như trong hợp đồng có thỏa thuận về việc chuyển rủi ro nhưng không xác định thời điểm chuyển rủi ro thì giải quyết như sau:
Đối với các hợp đồng có liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa, trường hợp này thường có thể có sự tham gia của chủ thể thứ ba đó là đơn vị vận chuyển. Trong mối quan hệ mới này, mặc dù hàng hóa cũng là đối tượng trung tâm mà các bên hướng đến thực hiện, tuy nhiên đây là giao dịch “thứ cấp” phát sinh từ hoạt động cho thuê. Bên thuê sẽ nhận trách nhiệm gánh chịu rủi ro khi được xem là đã nhận hàng hóa nếu hàng hóa đã được giao cho người vận chuyển (khi không yêu cầu giao hàng hóa tại một địa điểm cụ thể); hoặc Bên thuê/người được Bên thuê ủy quyền nhận hàng (khi có thỏa thuận về địa điểm giao nhận hàng hóa). Nói cách khác, Bên cho thuê vẫn là người phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trước khi Bên thuê được xem là nhận được hàng hóa. Trong trường hợp lỗi của người vận chuyển dẫn đến các tổn thất về hàng hóa thì bên phát sinh quan hệ với người vận chuyện có quyền yêu cầu họ chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại phát sinh theo hợp đồng vận chuyển chứ không phải Hợp đồng cho thuê hàng hóa.
Trường hợp hàng hóa được nhận bởi người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro chuyển cho Bên thuê khi người nhận hàng xác nhận quyền chiếm hữu hàng hóa của Bên thuê. Cũng tương tự như trường hợp trên, thời điểm chuyển rủi ro cho Bên thuê sẽ được xác định khi có đủ cơ sở để chứng minh Bên thuê là người đã nhận được và đang chiếm giữ hàng hóa cho thuê. Người nhận hàng để giao có thể là người của Bên thuê, Bên cho thuê hoặc có thể là từ một bên thứ ba cung cấp dịch vụ giao hàng hóa.
Khi Hợp đồng cho thuê hàng hóa có thỏa thuận về việc chuyển rủi ro từ Bên cho thuê sang Bên thuê nhưng không xác định thời điểm chuyển rủi ro và không thuộc một trong hai trường hợp trên thì rủi ro được chuyển cho Bên thuê khi họ nhận hàng hóa cho thuê. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Đối với trường hợp các bên không có thỏa thuận thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng thì trách nhiệm gánh chịu rủi ro sẽ được xác định tương ứng với từng trường hợp cụ thể xảy ra trong thực tế trên cơ sở thỏa thuận của Bên thuê và Bên cho thuê. Khác với hoạt động mua bán hàng hóa, Hợp đồng cho thuê hàng hóa chỉ làm phát sinh quan hệ chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng chứ không chuyển giao quyền sở hữu, vậy nên chủ sở hữu những tài sản này vẫn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ trong suốt thời gian thuê.
Song song với các lợi ích khai thác được, Bên cho thuê cũng có trách nhiệm chịu rủi ro đối với tài sản thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên, rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào bởi nhiều nguyên do khác nhau, đó có thể là lỗi cố ý hay vô ý của chính chủ thể tham gia hay xuất phát bởi hành vi của một bên thứ ba. Trong trường hợp thiệt hại xảy ra là do lỗi cố ý của nhân viên, công nhân của Bên thuê, căn cứ Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015 thì họ là người của Bên thuê, nhân danh pháp nhân này thực hiện các công việc trong hợp đồng đã ký mà gây thiệt hại cho Bên cho thuê thì Bên thuê phải có trách nhiệm bồi thường thường thiệt hại, sau đó trách nhiệm của người này sẽ được giải quyết riêng giữa họ và Bên thuê. Ngược lại, nếu tổn thất xảy ra là do họ thực hiện công việc ngoài phạm vi được giao, không nhân danh Bên thuê thì người này phải tự chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho BCT với tư cách cá nhân mình theo quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015.
Cho dù bất cứ vì nguyên nhân nào, rủi ro xảy ra đối với hàng hóa cho thuê trước hết sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của Bên cho thuê. Nếu tổn thất này không phải do lỗi của Bên thuê gây ra thì Bên cho thuê phải tự mình gánh chịu và nhanh chóng thực hiện nghĩa vụ khắc phục, sửa chữa hư hỏng của hàng hóa để đảm bảo mục đích sử dụng của Bên thuê trong thời gian thuê. Trên thực tế, Bên cho thuê có thể chuyển trách nhiệm gánh chịu tổn thất sang một chủ thể khác thông qua hình thức bảo hiểm. Ở nước ta trong những năm gần đây, các loại hình bảo hiểm tài sản cũng dần ra đời và nhận được sự tham gia, ủng hộ của rất nhiều chủ thể trong xã hội, nhất là những thương nhân, cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh thương mại. Trong hình thức này, Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ là người đứng ra gánh vác thay những thiệt hại do rủi ro gây ra sau khi nhận được một khoản phí của người tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên, bảo hiểm không đồng nghĩa với việc xóa bỏ trách nhiệm của chủ thể gây ra thiệt hại. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ gánh vác thay trách nhiệm tổn thất cho người được bảo hiểm, đổi lại doanh nghiệp này sẽ được quyền yêu cầu họ chuyển quyền yêu cầu bồi thường, sau đó thay mặt người bị tổn thất yêu cầu bên thứ ba có lỗi gây ra thực hiện trách nhiệm bồi thường bằng cách bồi hoàn lại khoản chi phí mà doanh nghiệp đã chi trả..
Thỏa thuận của hợp đồng đều xoay quanh đối tượng trung tâm là hàng hóa cho thuê, do đó yêu cầu về chất lượng đối với những tài sản này được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng của chủ thể tham gia. Pháp luật luôn hướng đến bảo vệ những đối tượng yếu thế trong xã hội, trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa, Bên thuê không phải là chủ sở hữu và phụ thuộc khá nhiều vào người cho thuê nên thông thường họ là đối tượng có nhiều bất lợi, yếu thế hơn trong mối quan hệ này. Trên thực tế, sau khi chuyển giao Bên thuê sẽ là người chiếm hữu, trực tiếp khai thác sử dụng hàng hóa, do đó căn cứ Điều 276 Luật Thương mại 2005 Bên thuê có quyền yêu cầu Bên cho thuê dành cho mình một thời gian hợp lý để kiểm tra sau khi nhận hàng hóa. Nếu Bên cho thuê không đáp ứng điều kiện này, họ có quyền từ chối nhận hàng. Khoảng thời gian này chính là điều kiện thuận lợi để Bên thuê tận dụng và bảo vệ quyền lợi của chính mình. Nếu sau khi kiểm tra và phát hiện hàng hóa không phù hợp với mục đích mà Bên thuê đã trao đổi với Bên cho thuê tại thời điểm giao kết hợp đồng; hoặc không đảm bảo về chất lượng; hoặc không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại thì Bên thuê cũng có quyền từ chối nhận hàng hóa. Cùng với nội dung thông báo cho Bên cho thuê, Bên thuê có thể kèm theo các chứng cứ để chứng minh rõ việc từ chối nhận hàng là có cơ sở. Nếu không xử lý một cách thỏa đáng, đúng quy định, đúng nội dung hợp đồng, hành vi từ chối nhận hàng sẽ dễ dẫn đến tranh chấp phát sinh hoặc hậu quả chấm dứt hợp đồng đã ký. Bên cạnh đó, nhằm khuyến khích sự phát triển của hoạt động cho thuê hàng hóa, đảm bảo cân bằng vị thế của các bên trong quan hệ hợp đồng, đồng thời tạo điều kiện cho Bên cho thuê thể hiện thiện chí hợp tác, pháp luật cho phép khi Bên thuê từ chối nhận hàng nhưng thời hạn thực hiện việc giao hàng vẫn còn thì Bên cho thuê có thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ giao hàng của mình bằng cách thông báo ngay cho Bên thuê biết về khắc phục hoặc thay thế bằng hàng hóa khác theo đúng thỏa thuận của hai bên. Tuy nhiên, điều này chỉ có giá trị thực hiện trong khoảng thời gian giao hàng còn lại của hợp đồng. Những chi phí bất hợp lý nằm ngoài thỏa thuận của hợp đồng hoặc phát sinh do lỗi Bên cho thuê giao hàng không phù hợp với hợp đồng hay những bất lợi khác làm ảnh hưởng đến Bên thuê sẽ do Bên cho thuê chịu trách nhiệm và khắc phục. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Hợp đồng cho thuê hàng hóa là hợp đồng ưng thuận, do đó ý chí của chủ thể tham gia là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nội dung và quá trình thực hiện hợp đồng. Nếu như đã trải qua đầy đủ các giai đoạn kiểm tra, xem xét, đối chiếu chủng loại, chất lượng hàng hóa theo thỏa thuận trong hợp đồng, Bên thuê đã quyết định chấp nhận hàng hóa thì không thể lúc nào cũng dựa vào lý do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng để trả lại hàng hóa nếu như sự không phù hợp này là do Bên thuê không kiểm tra một cách hợp lý nên không phát hiện hoặc lý do khác mà không phải do lỗi của Bên cho thuê. Tuy nhiên, Bên thuê có thể rút lại lại chấp nhận đối với một phần hoặc toàn bộ hàng hoá cho thuê nếu như Bên cho thuê không khắc phục lỗi giao hàng không đúng theo hợp đồng hoặc do sự bảo đảm của Bên cho thuê nên Bên thuê không thể phát hiện được sự không phù hợp của hàng hóa. Hiện nay, Điều 279 Luật Thương mại 2005 đã đặt ra thời hạn tối đa về việc rút lại chấp nhận nhận hàng đó là không quá 03 tháng kể từ thời điểm bên thuê chấp nhận hàng hoá. Nhìn ở góc độ tích cực, Luật Thương mại quy định cụ thể về thời gian rút lại chấp nhận hàng hóa sẽ tạo điều kiện cơ sở xác định thời hạn rút lại chấp nhận hàng hóa nếu như không đề cập cụ thể trong hợp đồng. Nhưng trên thực tế, việc ấn định khoảng thời gian 03 tháng là thời hạn tối đa để thực hiện lại khá bất cập, không phù hợp với nhiều loại hàng hóa có thời gian sử dụng ngắn, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của Bên cho thuê.
Thời điểm chuyển giao rủi ro cũng là mốc thời gian quan trọng để xác định tránh nhiệm của mỗi bên khi hàng hóa xuất hiện khiếm khuyết. Hiểu một cách đơn giản, khiếm khuyết của hàng hóa là những thiếu sót, không phù hợp giữa hàng hóa trong thực tế so với mô tả về hàng hóa theo thỏa thuận trong hợp đồng như kết cấu, số lượng, chất lượng,… Như vậy, khiếm khuyết của hàng hóa có thể là do lỗi của Bên thuê hoặc Bên cho thuê trong quá trình thực hiện hợp đồng, xác định trách nhiệm đối với khiếm khuyết của hàng hóa sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 280 Luật Thương mại, cụ thể:
Đối với khiếm khuyết đã có trước thời điểm giao kết hợp đồng mà Bên thuê đã biết hoặc phải biết thì trách nhiệm thuộc về Bên thuê chứ không phải là Bên cho thuê. Trong trường hợp này, khiếm khuyết của hàng hóa vốn đã tồn tại và Bên cho thuê không hề che giấu hoặc lừa dối và rất dễ nhận thấy khiếm khuyết trong điều kiện thông thường. Như vậy, tại thời điểm giao kết hợp đồng, Bên thuê biết nhưng không phản đối, chủ quan không xem xét, trao đổi với Bên cho thuê về vấn đề này. Nói một cách khác, yếu tố lỗi trong trường hợp này thuộc về Bên thuê cho nên họ phải có trách nhiệm gánh chịu khiếm khuyết xảy ra.
Đối với khiếm khuyết của hàng hóa được phát hiện sau khi Bên thuê chấp nhận hàng hóa mà khiếm khuyết này có thể được Bên thuê phát hiện nếu thực hiện việc kiểm tra một cách hợp lý trước khi chấp nhận hàng hóa thì không thuộc phạm vi chịu trách nhiệm của Bên cho thuê. Quy định này đã phần nào nhấn mạnh vai trò của công tác kiểm tra hàng hóa sau khi nhận hàng và trách nhiệm của Bên thuê. Thời gian kiểm tra bắt đầu liền kề ngay sau khi Bên cho thuê giao hàng hóa, trong khoảng thời gian này, Bên thuê chính là người bảo quản, chiếm hữu hàng hóa, có quyền từ chối nhận hàng nếu phát hiện hàng không phù hợp với hợp đồng. Khi kết thúc giai đoạn này, nội dung của Hợp đồng cho thuê hàng hóa về cơ bản đã được triển khai. Nếu như không đưa ra đủ cơ sở chứng minh thì rất khó để xác định nguyên nhân của khiếm khuyết cũng như phạm vi trách nhiệm thuộc về Bên cho thuê trong trường hợp này. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Trong thời hạn thuê, Bên cho thuê phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hóa cho thuê đã có vào thời điểm hàng hóa được giao cho Bên thuê. Khác với các trường hợp trên, tài sản cho thuê trước thời điểm chuyển giao vốn vẫn do Bên cho thuê chiếm hữu, sử dụng, họ chính là người hiểu rõ được tình trạng của hàng hóa, kể cả các khiếm khuyến xảy ra.
Khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời điểm chuyển rủi ro có nguyên nhân là do Bên cho thuê vi vi phạm nghĩa vụ mà mình đã cam kết thì sẽ thuộc phạm vi chịu trách nhiệm của Bên cho thuê.
Nếu như rủi ro có thể phát sinh bởi yếu tố khách quan và chủ quan thì khiếm khuyết vốn là những điểm không hoàn thiện của chính bản thân sản phẩm. Trách nhiệm gánh chịu rủi ro và trách nhiệm gánh chịu tổn thất là hai phạm trù riêng biệt, phát sinh theo từng thời điểm khác nhau, tuy nhiên giữa các nghĩa vụ này lại có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của BT và Bên cho thuê, cũng như phản ánh hiệu quả hợp tác trong quá trình thực hiện hợp đồng.
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng cho thuê hàng hóa Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
2.2.1. Giao kết hợp đồng cho thuê hàng hóa
Sau khi trải qua giai đoạn đề nghị giao kết, đàm phán, thương lượng, hợp đồng chính là kết quả của quá trình thỏa thuận hợp tác giữa các bên tham gia. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa, khi tiến hành giao kết hợp đồng cần phải xem xét thẩm quyền của chủ thể tham gia ký kết, đối tượng hàng hóa cho thuê cũng như nội dung đề xuất giao kết hợp đồng có phù hợp với nguyện vọng của bản thân và được pháp luật cho phép hay không.
Chủ thể tham gia là yếu tố đầu tiên và tiên quyết trong việc hình thành quan hệ cho thuê hàng hóa. Để được pháp luật công nhận và bảo vệ, bản thân các chủ thể phải đáp ứng đủ các điều kiện tương ứng với giao dịch tham gia. Trên thực tế, hợp đồng cho thuê đều được các thương nhân và cá nhân, tổ chức trong xã hội tự tìm đến nhau và thỏa hiệp. Mỗi chủ thể tham gia đều có quyền lựa chọn đối tác cho chính mình, đó có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân, tuy nhiên việc lựa chọn này cũng cần xem xét trên nhiều yếu tố khác nhau về chủ thể tham gia, đặc biệt là tư cách đại diện để giao kết hợp đồng, để đảm bảo tính hợp pháp của Hợp đồng cho thuê hàng hóa. Khi tham gia ký kết Hợp đồng cho thuê hàng hóa, chỉ công ty và người ký kết biết mình có thẩm quyền để ký hay không, ngược lại đối với bên còn lại trong hợp đồng thì việc tiếp cận thông tin về người ký kết hợp đồng là rất hạn chế, bị động, gặp nhiều bất lợi. Nếu như được ký bởi người không có thẩm quyền sẽ có khả năng dẫn đến hợp đồng đã ký bị vô hiệu. Đối với hợp đồng có sự tham gia của người đại diện theo ủy quyền, họ chỉ được tham gia ký kết hợp đồng và thực hiện trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền. Trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, thẩm quyền ký kết hợp đồng là một trong các lý do để khi phát sinh mâu thuẫn, xảy ra xung đột về lợi ích, không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng và muốn thoái thác trách nhiệm thường xuyên xảy ra trong thực tế. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Ngoài ra, phân loại, đánh giá và xác định hàng hóa là đối tượng của hợp đồng có vai trò quan trọng để xác định loại hợp đồng đã ký, từ đó xác định hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh và giải quyết tranh chấp phát sinh. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005, hàng hóa được xác định bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai. Ở nước ta hiện nay, hoạt động cho thuê phát sinh trong lĩnh vực thương mại được diễn ra phổ biến với các loại hàng hóa cho thuê là động sản như: máy móc, phương tiện vận tải, vật chuyên dụng,… Theo đó, tất cả động sản đều có thể trở thành đối tượng hàng hóa để cho thuê, vì vậy nhiều nhà kinh doanh đã nghĩ ra một số hình thức kinh doanh mới để tìm kiếm lợi nhuận. Trong đó cho thuê tài chính là hoạt động cho thuê khá mới mẻ, có sự đan xen giữa cho thuê hàng hóa và giao dịch tài chính vì vậy đây là một hoạt động khá phức tạp, có khá nhiều rủi ro, nhất là rủi ro về tài chính, và chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
So với bất động sản, động sản có nhiều ưu điểm phù hợp với hoạt động thương mại như tính hiện hữu, thuận lợi trong việc di dời và chuyển giao, có giá trị, khả năng sinh lợi nhuận cao, thuận tiện sử dụng,… Vì vậy trong thực tế, hoạt động cho thuê thường có đối tượng hàng hóa là động sản. Trong khi đó, hoạt động cho thuê tài sản cũng bao gồm cho thuê tài sản là động sản. Thực tế, hàng hóa vốn vẫn mang bản chất của tài sản, tuy nhiên đây là các tài sản đặc biệt, có tính thương mại cao nên được nhiều thương nhân sử dụng nhằm phục vụ mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận. Khi thực hiện giao dịch, cần phải áp dụng đúng quy định pháp luật và xác định đúng đối tượng của hợp đồng, đây là một trong các nội dung cơ bản của Hợp đồng cho thuê hàng hóa, là đặc điểm quan trọng để phân biệt được quan hệ cho thuê trong lĩnh vực thương mại và quan hệ cho thuê trong lĩnh vực dân sự.
Xác định tư cách chủ thể tham gia ký kết và đối tượng của hợp đồng là một trong các yêu cầu đầu tiên và quan trọng để lựa chọn quy định áp dụng, bảo vệ quyền lợi của chủ thể tham gia cũng như giải quyết tranh chấp phát sinh. Lợi nhuận là mục tiêu mà mỗi bên đều mong muốn đạt được nhưng an toàn và hiệu quả chính là yêu cầu cần đặt ra và đáp ứng. Trong thực tiễn giao kết hợp đồng, các bên cần phải xem xét, xác định rõ tư cách chủ thể và đối tượng hàng hóa cho thuê tại thời điểm giao kết để tránh trường hợp khi các thỏa thuận đã được thực hiện trong thực tế mới phát hiện hợp đồng ký kết không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, trái với quy định của pháp luật, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chính mình, tốn kém nhiều thời gian, chi phí, công sức để giải quyết các hệ quả pháp lý phát sinh.
2.2.2. Thực hiện hợp đồng cho thuê hàng hóa Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng chủ yếu xoay quanh các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của Bên thuê và Bên cho thuê. Hợp đồng cho thuê hàng hóa là hợp đồng song vụ, do đó quyền của bên này chính là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại, các thỏa thuận trong hợp đồng luôn nhằm đảm bảo hài hòa và cân bằng lợi ích của các bên, đảm bảo sự khách quan và tuân thủ pháp luật. Chính vì vậy, để được hưởng quyền lợi, chính bản thân chủ thể đó trước hết phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình.
Thứ nhất, đối với Bên cho thuê. Bên cho thuê trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa thường là chủ sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp hàng hóa đang là đối tượng của hợp đồng, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ các quyền lợi chính đáng phát sinh từ việc cho thuê hàng hóa. Theo quy định tại Điều 270 Luật Thương mại 2005, Bên cho thuê có các nghĩa vụ sau đây:
Một là, giao hàng hóa cho thuê theo đúng hợp đồng đã ký.
Mục đích khi tham gia Hợp đồng cho thuê hàng hóa của Bên thuê là được chiếm hữu, sử dụng hàng hóa. Mặc dù hiệu lực của hợp đồng này không phụ thuộc vào thời điểm chuyển giao hàng hóa cho thuê, tuy nhiên nghĩa vụ giao hàng là nghĩa vụ cơ bản, đầu tiên mà Bên cho thuê phải đảm bảo để các bên có thể tiếp tục và thuận lợi triển khai những nội dung khác của hợp đồng. Nghĩa vụ này được thực hiện dựa trên các yêu cầu về giao đúng mặt hàng, đúng chủng loại, đúng số lượng, đúng địa điểm, đúng thời gian,… Hàng hóa chính là đối tượng của hợp đồng cho thuê trong lĩnh vực thương mại, mỗi hợp đồng đều gắn với loại hàng hóa theo yêu cầu của Bên thuê và phạm vi cung cấp dịch vụ của Bên cho thuê. Nghĩa vụ giao hàng hóa phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực cho đến hết thời hạn giao hàng và đi đôi với quyền nhận, kiểm tra hàng hóa của Bên thuê. Sau khi Bên thuê nhận được hàng hóa, Bên cho thuê phải dành cho họ một khoảng thời gian để kiểm tra hàng hóa. Khi kết thúc thời hạn này, nếu như Bên thuê kiểm tra và phát hiện hàng hóa đã giao không đúng với thỏa thuận của hợp đồng thì có quyền từ chối nhận hàng. Hành vi giao hàng hóa không đúng theo thỏa thuận của hợp đồng có thể được khắc phục và xem như không vi phạm nghĩa vụ giao hàng nếu như thời hạn thực hiện nghĩa vụ giao hàng vẫn còn và Bên cho thuê thông báo ngay cho Bên thuê về việc khắc phục hoặc thay thế hàng hóa trong khoảng thời gian này. Ngoài ra, khi hàng hóa đã giao không đúng với thỏa thuận ban đầu nhưng Bên thuê vẫn chấp nhận thì đây chính là sự thỏa thuận mới của các bên trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho thuê hàng hóaH, điều này đồng nghĩa với việc mặc dù Bên cho thuê đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng theo các thỏa thuận cũ nhưng sự vi phạm này đã được xóa bỏ bởi các thỏa thuận mới sửa đổi nội dung của hợp đồng đã ký. Sự xuất hiện của các thỏa thuận này không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của Hợp đồng cho thuê hàng hóa ban đầu, tuy nhiên để quá trình thực hiện hợp đồng được diễn ra thuận lợi, bảo vệ quyền lợi của chủ thể tham gia, sự thay đổi các điều khoản đã ký cần được thể hiện rõ ràng bằng văn bản như phụ lục hợp đồng, biên bản thỏa thuận của các bên.
Hai là, bảo đảm cho Bên thuê được quyền chiếm hữu và sử dụng hàng hóa cho thuê không bị tranh chấp bởi bên thứ ba liên quan trong thời gian thuê. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Hợp đồng được ký đồng nghĩa với việc Bên cho thuê đồng ý chuyển giao và Bên thuê đồng ý nhận chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng loại hàng hóa là đối tượng của hợp đồng. Đối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật, có thể thấy rất nhiều trường hợp Bên cho thuê khi không muốn cho Bên thuê tiếp tục sử dụng tài sản của mình đã dùng rất nhiều cách thức để gây khó khăn, trực tiếp hoặc gián tiếp ép buộc họ phải chấm dứt hợp đồng thuê.
Mục đích của Bên thuê khi tham gia hợp đồng chỉ mong muốn được sử dụng hàng hóa là tài sản của Bên cho thuê phục vụ các nhu cầu riêng như sản xuất, kinh doanh, phục vụ sinh hoạt,… Tuy nhiên, việc hiện thực hóa các mục đích này còn phụ thuộc khá nhiều vào Bên cho thuê, nhất là về sự ổn định của thời gian, quá trình sử dụng, những gián đoạn do lỗi của Bên cho thuê gây ra nếu dẫn đến thiệt hại thì Bên thuê có quyền yêu cầu họ chấm dứt hành vi vi phạm hợp đồng, khắc phục và bồi thường thiệt hại xảy ra.
Ngoài ra, để hợp đồng được ký kết và đảm bảo thực hiện, trước hết Bên cho thuê phải có đủ điều kiện chuyển giao quyền của mình cho một chủ thể khác bằng việc chứng minh hàng hóa thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của mình thông qua các chứng từ hàng hóa, hóa đơn, hợp đồng và một số giấy tờ có liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu, sử dụng của Bên cho thuê. Đồng thời, hàng hóa cho thuê cũng phải đáp ứng điều kiện về lưu thông trên thị trường, không bị cơ quan nhà nước cấm hoặc hạn chế giao dịch và không bị tranh chấp bởi bên thứ ba liên quan trong suốt thời gian thuê. Vậy nên, khi giao kết hợp đồng, Bên thuê có quyền yêu cầu Bên cho thuê có nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp đối tượng thuê cũng như quyền được phép cho thuê để tránh trường hợp hợp đồng bị vô hiệu hoặc rơi vào tranh chấp với một bên thứ ba, kê khai niêm yết để bán đấu giá, thi hành án,… Thời hạn cho thuê cũng chính là thời gian thực hiện hợp đồng, sự ổn định trong suốt thời gian thuê cũng chính là nghĩa vụ đảm bảo thực hiện hợp đồng. Đây không chỉ là nghĩa vụ của Bên cho thuê đối với Bên thuê mà còn là nghĩa vụ của Bên cho thuê đối với chính mình. Hành vi gian dối, che giấu tình trạng pháp lý của hàng hóa cho thuê có thể dẫn đến trường hợp hợp đồng vô hiệu và phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Ba là, bảo đảm hàng hóa cho thuê phù hợp với mục đích sử dụng của Bên thuê theo thỏa thuận của các bên.
Giao kết của Hợp đồng cho thuê hàng hóa xuất phát từ nhu cầu cho thuê và nhu cầu được thuê của các chủ thể tham gia, mặc dù đây là hai bên đối lập nhau trong hợp đồng, tuy nhiên mục đích mà các bên hướng tới đều là thiết lập quan hệ cho thuê hàng hóa trong lĩnh vực thương mại. Nếu như Bên thuê phải chi trả một khoản tiền để được chuyển giao quyền chiếm hữu và sử dụng hàng hóa thì Bên cho thuê cũng phải đảm bảo được rằng hàng hóa cho thuê phải phù hợp với mục đích sử dụng của Bên thuê. Khi giao kết hợp đồng, Bên thuê sẽ đề cập rõ mục đích thuê hàng hóa trong nội dung của hợp đồng. Theo quy định tại Điều 275 Luật Thương mại 2005, để xác định hàng hóa cho thuê không phù hợp với hợp đồng trước tiên phải xem xét các bên có thỏa thuận cụ thể về vấn đề này hay không, nếu như không có thỏa thuận cụ thể thì hàng hóa sẽ được coi là không phù hợp với Hợp đồng cho thuê hàng hóa khi chúng không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng chủng loại, không phù hợp với mục đích cụ thể mà Bên thuê đã cho Bên cho thuê biết hoặc Bên cho thuê phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng hoặc không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng mà bên cho thuê đã giao cho Bên thuê. Hành vi vi phạm nghĩa vụ này có thể dẫn đến hậu quả mục đích giao kết hợp đồng của các bên không đạt được, Bên thuê có quyền từ chối nhận hàng hóa và có thể phát sinh thêm trách nhiệm bồi thường, gánh chịu tổn thất của Bên cho thuê. Song, để tạo điều kiện cho các bên duy trì mối quan hệ hợp tác, thể hiện thiện chí cũng như khuyến khích sự phát triển của hoạt động thương mại nói chung và hoạt động cho thuê hàng hóa nói riêng thì pháp luật vẫn cho phép Bên cho thuê có thể khắc phục, thay thế hàng hóa đã giao nếu còn thời hạn thực hiện việc giao hàng. Bên cạnh đó, nếu Bên cho thuê giao hàng hóa không phù hợp với các thỏa thuận của hợp đồng, không phù hợp với mục đích ban đầu của Bên thuê nhưng họ vẫn tiếp tục nhận hàng thì Bên cho thuê không bị xem là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng. Điều này đồng nghĩa với việc các thỏa thuận ban đầu của hợp đồng đã được sửa đổi và thực hiện bằng các thỏa thuận mới nhưng việc các thỏa thuận này vẫn không làm thay đổi bản chất của hoạt động cho thuê hàng hóa giữa các bên. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Trên thực tế vẫn xảy ra nhiều trường hợp cho dù Bên cho thuê đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm để đảm bảo đáp ứng mục đích sử dụng hàng hóa của Bên thuê nhưng Bên thuê vẫn cố tình không phối hợp. Về vấn đề này được minh họa bằng vụ án “tranh chấp hợp đồng cho thuê nhà xưởng, kho và thiết bị sản xuất” giữa nguyên đơn Công ty TNHH Bên thuêy JE (Gọi tắt là Công ty J) và bị đơn Công ty cổ phần TS T (gọi tắt là Công ty T) đã được giải quyết bằng Bản án số 19/2019/KDTM-PT ngày 15/10/2019 của TAND cấp cao tại Hà Nội. Nội dung sự việc được tóm tắt như sau:
Ngày 20/9/2016, Công ty J và Công ty T có ký Hợp đồng cho thuê nhà, xưởng, kho và thiết bị sản xuất số KV2016907. Ngày 06/10/2016 hai bên ký Biên bản thỏa thuận riêng về lao động trước khi giao nhận tài sản thuê và văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng KV2016907.
Tháng 01/2017, Công ty J thông báo cho người lao động nghỉ Tết Nguyên đán đến ngày 06/2/2017 nhưng vì hàng hóa không đáp ứng kịp nên đã thông báo bằng điện thoại cho người lao động thông qua tổ trưởng nghỉ chờ việc đến ngày 09/2/2017.
Ngày 8/2/2017, đại diện Công ty J đến nhà máy làm việc với người lao động. Ngày 9/2/2017, đại diện của Công ty T đến nhà máy trực tiếp làm việc với người lao động mà không có sự đồng ý của Công ty J. Đồng thời, Công ty T chuyển nguyên phụ liệu vào nhà máy để sản xuất, vì vậy Công ty J đã đưa biên bản bàn giao nhà xưởng, tài sản và người lao động cho Công ty T ký nhận (chưa đóng dấu). Sau khi đại diện Công ty T ký thì đại diện Công ty J rời khỏi xưởng.
Ngày 20/2/2017 và ngày 19/4/2017, Công ty J đã gửi thư yêu cầu Công ty T có văn bản xác nhận về việc đã tiếp nhận lại nhà xưởng, trả lời bằng văn bản về hướng xử lý hợp đồng cho thuê. Ngày 10/5/2017, Công ty J đã gửi thông báo về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê, thông báo nêu rõ lý do đồng thời yêu cầu Công ty T hoàn trả khoản tiền mà Công ty J đã thanh toán trước và bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra nhưng không nhận được phản hồi.
Vì vậy, Công ty J đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty T trả cho Công ty J số tiền 7.199.464.000 đồng, bao gồm: tiền đặt cọc sau khi hai bên ký hợp đồng thuê: 2.670.000.000 đồng, tiền thanh toán trước tiền thuê nhà xưởng sau khi khấu trừ tiền thuê: 4.529.464.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, đại diện phía bị đơn đã trình bày rõ về diễn biến sự việc như sau: Sau kỳ nghỉ tết ngày 21/01/2017, vì chưa có đơn hàng để sản xuất ít nhất đến tháng 06/2017 nên Công ty J cho biết sẽ tạm dừng hoạt động và sẽ sa thải toàn bộ công nhân nhà máy, khi nào tìm được nguồn hàng sẽ quay lại tuyển dụng công nhân. Trong dịp nghỉ Tết, công ty J cũng đã chuyển toàn bộ máy móc đang sản xuất cùng toàn bộ nguyên phụ liệu ra khỏi nhà máy. Người lao động tại Nhà máy may xuất khẩu X không nhận được thông tin của nguyên đơn về kế hoạch, thời gian làm việc nên rất bức xúc, tập trung trước cửa công ty và dồn dập yêu cầu Công ty T phải hỗ trợ, giải quyết. Sáng 10/02/2017, Công ty T mới biết nguyên đơn để lại Biên bản bàn giao đã ký sẵn và rời khỏi nhà máy từ chiều 09/02/2017. Sự việc trên gây hoang mang cho người lao động, gây mất an ninh trên địa bàn và mất uy tín của Công ty T. Do đó, Công ty T đã cử người đến để tạm thời quản lý lao động tại nhà máy và đưa 01 xe nguyên liệu đến Nhà máy may xuất khẩu X nhằm ổn định tâm lý cho người lao động, đảm bảo an toàn tại nhà máy và địa phương, chứ không cố ý lấy lại nhà xưởng và vi phạm hợp đồng. Bị đơn vẫn luôn mong muốn nguyên đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng các bên đã ký. Vì nguyên đơn tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng nên đề nghị Tòa án bác yêu cầu đòi khoản tiền đặt cọc 2.670.000.000 đồng của nguyên đơn. Công ty T cũng yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng thuê đã ký.
Ngày 04/10/2017, bị đơn có đơn phản tố buộc nguyên đơn bồi thường cho bị đơn số tiền 5.256.935.501 đồng, gồm: 2.764.935.501 đồng là khoản mà Công ty J nợ Công ty T; Thu nhập đáng lẽ thu được khi hợp đồng được thực hiện, nhưng bị mất do nguyên đơn chấm dứt hợp đồng 2.492.000.000 đồng. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2018/KDTM-ST ngày 28/11/2018, TAND tỉnh T đã tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty J và một phần yêu cầu phản tố của Công ty T, cụ thể như sau: Công ty T phải trả lại cho Công ty J tiền thuê tài sản đã thanh toán trước nhưng chưa sử dụng sau khi đã đối trừ các khoản Công ty J phải thanh toán cho Công ty T, tổng cộng tiền đối trừ: 2.438.601.501 đồng. Khoản tiền này được khấu trừ vào số tiền thuê 5.340.000.000 đồng mà Công ty J đã thanh toán trước cho Công ty T. Sau khi đối trừ, Công ty T còn phải thanh toán cho Công ty J số tiền 2.901.398.499 đồng.
Công ty J và Công ty T đều kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty T đã rút toàn bộ kháng cáo. Công ty J rút một phần kháng cáo, chấp nhận thanh toán đối với khoản tiền nợ 56.123.727 đồng, những nội dung khác giữ nguyên.
Theo Bản án số 19/2019/KDTM-PT ngày 15/10/2019 của TAND Cấp cao tại Hà Nội đã tuyên hủy một phần quyết định của Bản án sơ thẩm số 03/2018/KDTM- ST ngày 28/11/2018 liên quan đến các yêu cầu của đương sự đã rút, không chấp nhận các nội dung kháng cáo khác của Công ty J.
Liên quan đến hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng, qua nội dung sự việc trên, tác giả xin đưa ra một số ý kiến trình bày như sau:
Về hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng của Công ty J: Công ty J cho rằng Công ty T đã vi phạm điểm 6.2 và 6.8 Điều 6 của hợp đồng vì đã tự ý lấy lại nhà xưởng nên đã đơn phương chấm dứt hợp đồng là hoàn toàn không có căn cứ, bởi:
Tại các điểm 6.2 và 6.8 Điều 6 của Hợp đồng KV-2016907 đã ghi nhận: “Bên A cam kết bảo đảm cho bên B quyền sử dụng trọn vẹn hợp pháp toàn bộ nhà xưởng trong thời gian thuê…”; “Bên A có trách nhiệm tạo điều kiện cho bên B kinh doanh; đảm bảo tính sử dụng độc lập của diện tích nhà, xưởng, máy móc cho thuê. Không được thay đổi kết cấu tài sản thuê dưới bất kỳ hình thức nào trong thời gian cho thuê mà không được sự đồng ý của bên B…”.
Công ty T là chủ tài sản cho thuê và đã đào tạo hơn 400 công nhân làm việc cho Công ty J. Công ty T đã cam kết thỏa thuận hỗ trợ Bên thuê trong quá trình thực hiện hợp đồng nên khi người lao động bức xúc, lo sợ mất việc làm do nghỉ tết xong vẫn chưa được đi làm, họ kéo lên cầu cứu nên Công ty T đã có nhiều văn bản đề nghị Công ty J thông báo cho người lao động nhưng không có hồi âm từ phía Công ty J. Đây là nguyên nhân dẫn đến ngày 09/02/2017 Công ty T cử người đại diện và đưa 01 xe tải chở nguyên liệu ngành may đến khu vực nhà máy để trấn an người lao động và hỗ trợ đề xuất của Công ty J. Việc có mặt của đại diện Công ty T đã được sự đồng ý của Công ty J. Hành vi của Bên cho thuê là nhằm giảm một phần áp lực từ phía người lao động và cũng vì quyền lợi của hai bên nên Công ty T mới đến nhà máy với ý thức hỗ trợ, tạo điều kiện cho Công ty J trong việc kinh doanh, phù hợp với cam kết tại Điều 6 của Hợp đồng và không nhằm mục đích phá vỡ hợp đồng đã ký kết.
Thực chất, Công ty J đã ngừng sản xuất và chuyển thiết bị đi nơi khác ngay trong kỳ nghỉ Tết. Điều này cho thấy việc Công ty J không tiếp tục thực hiện mục đích thuê nhưng không thông báo trước cho Bên cho thuê dẫn đến bên cho thuê tự tìm hiểu và phải can thiệp là thiếu sót của Bên thuê tài sản. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Về bản chất hành vi của Công ty T không có mối quan hệ nhân quả với việc Công ty J quyết định chấm dứt hợp đồng thuê vì thực tế ngày 09/02/2017, Công ty T đến nhà máy sau khi Bên thuê đã ngừng sản xuất và sau khi diễn ra sự kiện công nhân đồng loạt bức xúc vì bị ảnh hưởng quyền lợi tại nhà máy. Công ty T đề nghị Bên thuê tiếp tục thực hiện hợp đồng, tuy nhiên Bên thuê lại ký biên bản bàn giao tài sản và gửi cho Bên cho thuê. Ý chí chấm dứt hợp đồng của Bên thuê thể hiện rõ ở việc tự nguyện bàn giao tài sản. Mặt khác, kể cả trong trường hợp Công ty T không đến nhà máy vào ngày 09/02/2017 thì tại thời điểm đó Bên thuê cũng không còn nhu cầu sử dụng đối với tài sản thuê.
Như vậy, có thể nhận định rằng việc hợp đồng chấm dứt là do lỗi của Bên thuê.
Về giải quyết số tiền đặt cọc để đảm bảo thực hiện hợp đồng:
Theo thỏa thuận trong Hợp đồng KV-2016907 và căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 thì số tiền Công ty J đặt cọc là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, nếu như Bên thuê từ chối việc thực hiện hợp đồng thì số tiền đặt cọc sẽ thuộc về Bên cho thuê. Hợp đồng kết thúc là do lỗi của Bên thuê tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng. Chính vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên quyền sở hữu khoản tiền đặt cọc 2.670.000.000đ thuộc về Công ty T là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nội dung thỏa thuận trong hợp đồng đã ký.
Thứ hai, đối với Bên thuê.
Cũng giống với Bên cho thuê, để được hưởng các quyền lợi khi thực hiện hợp đồng, Bên thuê phải tuân thủ những nghĩa vụ được quy định tại Điều 271 Luật Thương mại 2005, cụ thể:
Một là, giữ gìn và bảo quản hàng hóa cho thuê trong thời hạn thuê và trả lại hàng hóa đó cho Bên cho thuê khi hết thời hạn.
Quyền chiếm hữu, sử dụng hàng hóa của Bên thuê chỉ tồn tại trong thời hạn thuê theo thỏa thuận của hợp đồng. Trong thời gian này, họ chính là người trực tiếp quản lý và khai thác các lợi ích từ hàng hóa, nói cách khác chất lượng của hàng hóa chính là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của Bên thuê trong thời gian thuê. Vậy nên nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản hàng hóa trong thời hạn thuê không chỉ là nghĩa vụ của Bên thuê đối với Bên cho thuê mà còn là nghĩa vụ của Bên thuê đối với chính bản thân mình. Trên thực tế, nghĩa vụ này chỉ được giới hạn trong một phạm vi cho phép, Bên thuê không được có hành vi sửa chữa, thay đổi tình trạng ban đầu của hàng hóa cho thuê nếu không được Bên cho thuê đồng ý. Như vậy, khi xảy ra những hư hại nghiêm trọng về hàng hóa cho thuê mà Bên cho thuê không thực hiện nghĩa vụ bảo dưỡng, sửa chữa và làm chất lượng, khả năng hoạt động của hàng hóa suy giảm rất nhiều, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sử dụng của Bên thuê thì họ chỉ có thể can thiệp bằng các chế tài như buộc thực hiện hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hoặc biện pháp khác theo thỏa thuận ghi nhận trong hợp đồng đã ký mà không thể trực tiếp tự ý làm thay đổi tình trạng ban đầu của hàng hóa cho thuê. Đối với các hàng hóa là động sản, khi hàng hóa bị lỗi hoặc có hư hỏng, Bên thuê có thể yêu cầu Bên cho thuê di dời, thay thế tài sản này bằng một tài sản khác để tiếp tục mục đích thuê, tuy nhiên, bất động sản là các hàng hóa đặc biệt, gắn liền với đất, khi gặp hư hỏng, thiệt hại, Bên thuê sẽ phải trực tiếp gánh chịu thiệt hại xảy ra. Trường hợp lỗi dẫn đến hàng hóa bị hư hỏng là do Bên thuê không bảo quản, giữ gìn hàng hóa thì BCT có quyền yêu cầu Bên thuê chịu trách nhiệm sửa chữa, khắc phục hậu quả xảy ra. Để tránh vi phạm nghĩa vụ này, Bên thuê có quyền yêu cầu Bên cho thuê hướng dẫn chi tiết về cách bảo quản, sử dụng hoặc xây dựng kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Thời hạn thuê kết thúc đồng nghĩa với thời gian Bên thuê được quyền chiếm hữu, sử dụng hàng hóa cũng chấm dứt, các thỏa thuận về quyền được thuê hàng hóa của Bên thuê cũng không còn hiệu lực thi hành. Nếu như các bên không có thỏa thuận về việc tiếp tục gia hạn thời gian thực hiện giao dịch cho thuê hàng hóa thì Bên thuê có nghĩa vụ phải hoàn trả lại hàng hóa đã thuê cho Bên cho thuê. Trong trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng theo đúng thỏa thuận cam kết trong hợp đồng dẫn đến hợp đồng kết thúc trước thời hạn thì Bên thuê cũng phải có nghĩa vụ trả lại tài sản cho Bên cho thuê. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực thi điều này là khá khó khăn bởi lẽ Bên thuê đang chiếm hữu, sử dụng phục vụ mục đích của mình, nếu như họ không là bên đơn phương chấm dứt hợp đồng thì việc yêu cầu đột ngột trả lại hàng hóa cho thuê sẽ đặt ra nhiều khó khăn trong vấn đề phải tìm đơn vị cho thuê khác và tài sản khác để thay thế, tiếp tục thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại. Bởi vậy, yêu cầu Bên thuê trả lại tài sản là một trong các tranh chấp thường xuyên gặp phải khi Hợp đồng cho thuê hàng hóa kết thúc.
Bất kỳ hành vi cố ý chiếm giữ hàng hóa sau khi hết thời hạn thuê mà không được sự cho phép của chủ sở hữu, sử dụng hàng hóa đều là hành vi làm xâm phạm đến quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của Bên cho thuê và có thể dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý về mặt dân sự, hành chính và hình sự tùy theo từng trường hợp cụ thể.
Hai là, trả tiền thuê hàng hóa theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Tiền thuê là đặc điểm nổi bật để phân biệt giữa hoạt động cho thuê hàng hóa với các hoạt động khác. Nếu như các bên cùng thống nhất không thu tiền thuê trong suốt thời hạn thực hiện hợp đồng thì đây không phải là hoạt động cho thuê hàng hóa mà chính là giao dịch mượn tài sản trong lĩnh vực dân sự. Quyền được nhận tiền thuê chính là quyền cơ bản và quan trọng nhất của Bên cho thuê nên Bên thuê phải nghiêm túc, trung thực thực hiện nghĩa vụ này.
Khi giao kết hợp đồng, các bên được tự do thỏa thuận về giá thuê, phương thức và thời hạn thanh toán, các điều khoản này sẽ phát sinh hiệu lực ràng buộc trực tiếp trong suốt thời gian thuê đối với Bên thuê vậy nên những tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch phải cân nhắc về nhu cầu và khả năng của mình để đưa ra lựa chọn phù hợp.
Trong suốt thời gian thuê, nghĩa vụ thanh toán luôn được chú trọng và yêu cầu phải đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ. Mức độ thực hiện nghĩa vụ này của Bên thuê cũng chính là yếu tố ảnh hưởng đến thời gian được thuê hàng hóa. Thông qua nội dung vụ án tranh chấp đã được giải quyết tại Tòa án mà người viết đã đề cập, khi chậm thanh toán tiền thuê, Bên cho thuê có quyền yêu cầu Bên thuê thanh toán khoản tiền nợ gốc (tiền thuê) cùng với một khoản tiền lãi chậm thanh toán để bù đắp phần quyền lợi của mình bị thiệt hại từ hành vi vi phạm hợp đồng. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Đặt trong tổng thể các tranh chấp phát sinh liên quan đến Hợp đồng cho thuê hàng hóa, có thể nói vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê của Bên thuê là hành vi vi phạm nghĩa vụ phổ biến, thường thấy trong hợp đồng. Trên thực tế, đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc các bên phát sinh tranh chấp và yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt hợp đồng đã ký.
Tuy nhiên, nghĩa vụ thanh toán tiền thuê chỉ được thực hiện khi có cơ sở để chứng minh nghĩa vụ trả tiền thuê của Bên thuê đã bắt đầu phát sinh. Trên thực tế nghĩa vụ này không bắt buộc đồng thời phát sinh cùng lúc với thời điểm Hợp đồng cho thuê hàng hóa có hiệu lực. Thực trạng này có thể được minh họa bằng vụ án “tranh chấp hợp đồng thuê tài sản” theo Bản án số: 149/2021/KDTM – PT ngày 19/7/2021 của TAND Thành phố Hà Nội giữa ngyên đơn Công ty TNHH FTVN (gọi tắt là Công ty F) và bị đơn Công ty TNHH TD (gọi tắt là Công ty TD). Nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:
Ngày 13/7/2019 Công ty TD và Công ty F ký kết hợp đồng số 1307 về viêc Công ty F cho Công ty TD thuê máy khoan cọc nhồi Soilmec SR-80C. Giá thuê: 1.300.000.000 đồng là chi phí thuê trong 02 tháng; 270.000.000 đồng chi phí máy móc, thiết bị, chi phí lái máy, quản lý máy trong thời gian khoan 2 cọc thử tải (không quá 5 ngày) và chờ thử tải tối đa 30 ngày. Khoản chi phí 270.000.000 đồng này được tách riêng với đơn giá 2 tháng thuê máy. Đơn giá trên cũng chưa bao gồm cước phí vận chuyển. Thời gian thuê: Dự kiến 02 tháng, trong đó thời gian thuê tối thiểu 01 tháng, nếu bên thuê trả máy trước thời gian 01 tháng thì vẫn phải trả tiền thuê 01 tháng. Thời gian bắt đầu tính tiền thuê: Là ngày thiết bị được đưa vào lắp đặt nghiệm thu kiểm định, có xác nhận của bên thuê.
Ngày 01/8/2019 Công ty TD và Công ty F ký biên bản giao nhận máy khoan. Ngày 04/8/2019, Công ty TD và Công ty F đã ký biên bản nghiệm thu máy khoan. Ngày 05/9/2019 Công ty F gửi Giấy đề nghị tạm ứng cho Công ty TD nội dung: tạm ứng tiền thuê máy tháng đầu tiên sau thời gian thử tải là 650.000.000 đồng. Trong cùng ngày Công ty TD đã gửi cho Công ty F Công văn số 050919 về việc trả lại máy thuê trước thời hạn cho Công ty F. Đồng thời, Công ty TD từ chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê máy tối thiểu 01 tháng cho Công ty F.
Vì vậy Công ty F đã khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty TD thanh toán số tiền thuê máy 01 tháng là 650.000.000 đồng.
Bản án sơ thẩm số 05/2021/KDTM-ST ngày 29/3/2021 của TAND quận Bên thuêL đã quyết định không chấp nhận yêu cầu của Công ty F.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 8/4/2021 Công ty F nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Bản án số: 149/2021/KDTM – PT ngày 19/7/2021 của TAND Thành phố Hà Nội tuyên: không chấp nhận kháng cáo của Công ty F, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bên thuê L .
Qua sự việc trên, tác giả có một vài ý kiến bình luận sau: Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
- Về thời gian thuê hàng hóa theo quy định của Hợp đồng số 1307:
Hợp đồng đã quy định rõ: Thời gian máy móc, thiết bị, nhân sự nằm chờ trong thời gian thử tải đã được tính tách riêng theo điều 1 của hợp đồng, không được tính vào thời gian thuê máy. Ngày 01/8/2019, các bên tiến hành giao nhận máy và các thiết bị theo biên bản giao nhận cùng ngày. Ngày 04/8/2019, hai bên ký biên bản nghiệm thu máy và thiết bị xác nhận máy hoạt động bình thường ở mọi chế độ, đủ điều kiện đưa vào vận hành. Do vậy, có thể xác định kể từ ngày 04/8/2019 quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng thuê chính thức phát sinh đối với hai bên. Tuy nhiên, tại khoản 2.3 điều 2 của hợp đồng về thời gian thuê thể hiện thời gian khoan 02 cọc thử tải và thời gian chờ thử tải là 35 ngày kể từ ngày 4/8/2019 là ngày các bên ký biên bản nghiệm thu theo thỏa thuận trên. Do vậy, đến ngày 5/9/2019 là 01 tháng 01 ngày vẫn nằm trong thời gian khoan thử 02 cọc và 30 ngày chờ thử tải. Hợp đồng cũng quy định rõ thời gian máy móc, thiết bị trong thời gian thử tải đã được tính tách riêng, không được tính vào thời gian thuê máy. Như vậy, tính đến ngày 5/9/2019, thời gian thuê của Bên thuê vẫn chưa được bắt đầu tính.
- Về nghĩa vụ đảm bảo hàng hóa cho thuê theo mục đích thuê của Bên thuê:
Trước khi ký hợp đồng, Công ty TD đã gửi hồ sơ địa chất cho Công ty F để xem xét cho Công ty TD thuê máy để đảm bảo máy hoạt động được trên địa chất của dự án. Như vậy, ngay từ khi giao kết hợp đồng, Bên cho thuê đã biết rõ mục đích thuê và yêu cầu về hàng hóa cho thuê của Bên thuê nhưng Công ty F lại cố tình phớt lờ và cho rằng Công ty không liên quan gì đến việc nghiên cứu địa chất có phù hợp với máy khoan hay không là không đúng theo thỏa thuận của các bên khi giao kết hợp đồng.
Căn cứ Điều 275, Điều 278, Điều 279 Luật Thương mại, Công ty F đã cam kết trong hợp đồng về chất lượng, công suất của máy khoan đã đúng theo yêu cầu của Bên thuê, trong quá trình thực hiện hợp đồng, người lái máy khoan lại là nhân viên của Bên cho thuê, trong suốt thời gian khoan thử, Bên cho thuê luôn bảo đảm sẽ thực hiện theo đúng tiến độ của dự án cũng như cam kết về chất lượng máy cho thuê, do đó Công ty TD không thể phát hiện được hàng hóa cho thuê là không phù hợp với hợp đồng. Như vậy, Bên cho thuê đã vi phạm nghĩa vụ đảm bảo hàng hóa cho thuê theo mục đích thuê của Bên thuê, hành vi trả lại máy của Bên thuê trong trường hợp này là có cơ sở để chấp nhận.
Về yêu cầu thanh toán tiền thuê: Công ty F cho rằng công ty TD phải trả cho Công ty F một tháng tiền thuê máy là 650.000.000 đồng do đã sử dụng máy từ ngày 4/8/2019 đến ngày 5/9/2019 là không có cơ sở, bởi lẽ hợp đồng đã được ký kết tuy nhiên điều khoản về trách nhiệm chi trả tiền thuê của Bên thuê vẫn chưa phát sinh hiệu lực, thời gian thuê chưa được tính, do vậy Bên cho thuê không có quyền yêu cầu Bên thuê phải thanh toán tiền thuê.
Ba là, không được bán hàng hóa đã thuê hoặc khi chưa có sự đồng ý của Bên cho thuê mà tiến hành cho thuê lại hàng hóa đã thuê. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Cho thuê hàng hóa là hoạt động thương mại được ưa chuộng trong thực tế, bởi lẽ thông qua hình thức này quyền sở hữu của chủ sở hữu vẫn được bảo toàn, không được chuyển giao nhưng lại sản sinh ra lợi ích về mặt vật chất, ngược lại Bên thuê không cần bỏ ra số tiền quá lớn nhưng vẫn có được tài sản mình cần sử dụng. Bên thuê trong hợp đồng mặc dù có quyền chiếm hữu và sử dụng hàng hóa cho thuê, tuy nhiên đối với quyền sở hữu, họ vẫn khiếm khuyết quyền được định đoạt đối với hàng hóa. Sự khiếm khuyết này được thể hiện rõ bằng việc họ không được thay đổi tình trạng ban đầu của hàng hóa nếu như không được Bên cho thuê đồng ý, sau khi kết thúc thời hạn thuê Bên thuê phải hoàn trả hàng hóa cho Bên cho thuê. Bên thuê cũng không được thay mặt chủ sở hữu định đoạt số phận của hàng hóa. Việc chuyển giao quyền sở hữu bằng hình thức mua bán, tặng cho phải do chủ sở hữu thực hiện mới được công nhận là hợp pháp. Khi Bên thuê tự ý bán hoặc chưa được sự đồng ý của Bên cho thuê mà đã cho thuê lại hàng hóa được xem là hành vi vi phạm quyền lợi hợp pháp của Bên cho thuê, vi phạm pháp luật và có thể dẫn đến nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do lỗi vi phạm của Bên thuê gây ra.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 309 và Điều 317 Bộ luật Dân sự hiện hành, những tài sản được cầm cố, thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của người thực hiện cho nên để đảm bảo quyền lợi của Bên cho thuê, Bên thuê cũng không được tự ý thế chấp, cầm cố hàng hóa mà mình đang sử dụng cho một bên khác. Nếu như Bên thuê vẫn cố ý thực hiện thì đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi của chủ sở hữu, tùy theo mức độ, tính chất hành vi vi phạm mà có thể xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh tương ứng.
Giao dịch thế chấp, cầm cố hàng hóa cũng có khả năng bị vô hiệu.
Thực hiện hợp đồng là những hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng nhằm làm cho các điều khoản, nội dung đã cam kết trong hợp đồng trở thành hiện thực. Về bản chất, Hợp đồng cho thuê hàng hóa là hợp đồng song vụ, vì vậy quyền của bên này cũng chính là nghĩa vụ của bên kia. Trong thực tế, Bên thuê và Bên cho thuê thường thỏa thuận thêm một số điều khoản để tăng tính ràng buộc và nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi bên trong thời gian thực hiện hợp đồng như: nghĩa vụ hướng dẫn sử dụng hàng hóa, nghĩa vụ bảo dưỡng hàng hóa định kỳ, quyền và nghĩa vụ khi Bên cho thuê chuyển nhượng hàng hóa,… Tuy nhiên quá trình thực hiện hợp đồng vẫn phải đảm bảo tính trung thực, bảo đảm sự tin cậy lẫn nhau, không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
2.2.3. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng cho thuê hàng hóa Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
2.2.3.1. Áp dụng chế tài đối với hành vi vi phạm hợp đồng cho thuê hàng hóa
Hợp đồng là phương tiện thể hiện ý chí của các bên tham gia, vì vậy nguyên tắc tự do thỏa thuận vẫn luôn được ưu tiên trong quá trình giao kết và thực hiện Hợp đồng cho thuê hàng hóa. Khi áp dụng vào thực tiễn, ý chí là những điều nội hàm bên trong của chủ thể sẽ được thể hiện ra ngoài bằng hành động cụ thể, hiện thực hóa nội dung của hợp đồng. Trên thực tế, không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ và thực hiện theo những gì đã thỏa thuận. Khi một bên không chấp hành đúng nội dung trong hợp đồng, gây tổn hại đến lợi ích của bên còn lại thì hành vi này được xem là vi phạm nghĩa vụ trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa và dẫn đến nhiều hệ quả pháp lý khác nhau.
Sự vi phạm trước hết được xác định dựa trên nội dung trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa, văn bản, biên bản làm việc của các bên hoặc một số thỏa thuận khác phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trong đó, vi phạm nghĩa vụ thanh toán, giao/trả hàng hóa không đúng thời hạn là những lỗi mang tính phổ biến, thường xuyên xảy ra trong thực tế. Vốn dĩ không một chủ thể nào mong muốn bản thân mình sẽ gánh chịu tổn thất, không đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích người khác. Vì vậy, hành vi vi phạm thường xuất phát bởi lỗi cố ý hoặc vô ý, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Không tuân thủ nghĩa vụ của hợp đồng là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp phát sinh giữa Bên thuê và Bên cho thuê.
Giao dịch cho thuê hàng hóa được đảm bảo thực hiện bằng điều khoản của hợp đồng và quy định của pháp luật. Khi một bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, bên còn lại có quyền áp dụng chế tài thương mại để ngăn ngừa và hạn chế vi phạm cùng thiệt hại có thể xảy ra. Theo Điều 292 Luật Thương mại 2005, các chế tài có thể được áp dụng trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa bao gồm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp khác do các bên tự thỏa thuận. Các bên có thể tự lựa chọn áp dụng chế tài phù hợp đối với từng mức độ và hành vi vi phạm.
Hiện nay, buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại là các chế tài được dùng phổ biến trong thực tế triển khai pháp luật về thương mại và có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau. Nếu như buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại là các chế tài quen thuộc, được pháp luật thừa nhận ở nhiều quan hệ hợp đồng khác nhau thì trong thực tiễn triển khai Hợp đồng cho thuê hàng hóa, chế tài phạt vi phạm ít được áp dụng hơn. Phạt vi phạm hợp đồng chỉ được áp dụng trong trường hợp các bên trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa có thỏa thuận và mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng được tính trên tỷ lệ phần trăm phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm nhưng không được vượt quá mức tối đa 8%. Luật Thương mại đặt ra các chế định về điều kiện áp dụng phạt vi phạm hợp đồng và mức trần áp dụng phạt vi phạm đã đặt ra nhiều hạn chế trong quá trình áp dụng. Bởi nếu các bên không thỏa thuận trong hợp đồng thì khi xảy ra vi phạm, bên bị vi phạm không có quyền áp dụng chế tài này đối với bên vi phạm. Đối với Hợp đồng cho thuê hàng hóa, phạt vi phạm đóng vai trò của điều khoản tùy nghi trong hợp đồng, với mục đích nhằm gia tăng tinh thần trách nhiệm, răn đe, giáo dục chủ thể tham gia, duy trì trật tự trong quan hệ cho thuê hàng hóa. Một trong các căn cứ xác định giá trị của hình thức hợp đồng này là dựa trên giá thuê trong cả thời hạn thuê. Khi Bên thuê vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Bên cho thuê có quyền yêu cầu Bên thuê trả khoản tiền lãi do chậm thanh toán. Tuy nhiên, trong trường hợp có điều khoản về phạt vi phạm hợp đồng thì Bên cho thuê được quyền áp dụng đồng thời phạt vi phạm và yêu cầu trả tiền lãi do chậm thanh toán hay không thì pháp luật chưa đề cập cụ thể. Nếu được áp dụng song song cả hai quyền yêu cầu trên thì liệu có đảm bảo được cân bằng quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa. Giữa giá trị hợp đồng với hậu quả thiệt hại xảy ra, mức phạt vi phạm tối đa mà pháp luật quy định có thể chưa đủ sức răn đe và khá bất cập trong quá trình áp dụng. Việc quy định cụ thể mức phạt tối đa như thế đã phần nào cản trở ý chí tự do thỏa thuận của Bên thuê và Bên cho thuê. Ngoài ra, lợi dụng bất cập của quy định về phạt vi phạm, bên vi phạm có thể thoái thác trách nhiệm sau khi giao kết hợp đồng. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Để đảm bảo sự công bằng và khách quan của pháp luật cũng như tôn trọng quyết định của các bên, pháp luật đã đề cập đến một số trường hợp miễn trừ trách nhiệm khi thực hiện hợp đồng và tạo điều kiện để Bên thuê tự thống nhất với Bên cho thuê bổ sung thêm trong điều khoản miễn trừ trách nhiệm. Các chế tài thương mại và trường hợp miễn trách nhiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa nói riêng không chỉ bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm mà còn bảo vệ bên vi phạm bằng các điều kiện áp dụng, trình tự thực hiện và giới hạn rõ phạm vi chịu trách nhiệm để tránh trường hợp bên bị vi phạm lạm dụng quyền cũng như các quy định pháp luật để gây sức ép cho bên vi phạm, đảm bảo thực hiện nguyên tắc công bằng, thiện chí trong việc áp dụng chế tài đối với hành vi vi phạm Hợp đồng cho thuê hàng hóa.
2.2.3.2. Trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng
HĐCTHH được xây dựng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận của các bên, vì vậy chính họ là người đầu tiên có trách nhiệm phải thực hiện những cam kết, nội dung mà mình đưa ra. Căn cứ Khoản 1 Điều 297 Luật Thương mại 2005, buộc thực hiện đúng hợp đồng “là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh“. Vốn là một trong các chế tài được pháp luật thương mại ghi nhận, trách nhiệm buộc thực hiện hợp đồng nhằm đảm bảo các điều khoản của Hợp đồng cho thuê hàng hóa đã ký được triển khai trên thực tế. Đây vừa là trách nhiệm chung của cả Bên thuê và Bên cho thuê, vừa là quyền lợi của họ để đạt được mục đích khi giao kết Hợp đồng cho thuê hàng hóa.
Trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ được áp dụng trong trường hợp một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các điều khoản của hợp đồng đã ký, chẳng hạn như: chuyển giao không đúng với số lượng, chủng loại hay không đạt chất lượng trong hợp đồng, chậm thanh toán tiền thuê,… Khi phát hiện vi phạm, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm chấm dứt ngay các hành vi này và phải thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận ban đầu hoặc theo một phương án khác sau khi nhận được sự đồng thuận từ cả Bên thuê và Bên cho thuê. Các khoản chi phí phát sinh sẽ do bên vi phạm phải chịu trách nhiệm chi trả. Bên yêu cầu thực hiện có thể yêu cầu bên vi phạm thực hiện ngay hoặc đặt ra một thời hạn để khắc phục vi phạm, thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận của hợp đồng và quy định pháp luật. Ngược lại, căn cứ quy định tại Điều 298 Luật Thương mại bên bị vi phạm cũng có quyền gia hạn một thời gian hợp lý để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên việc xác định như thế nào là “hợp lý” trong thực tế lại dựa trên điều kiện, hoàn cảnh của mỗi bên và sự thống nhất đàm phán của Bên thuê và Bên cho thuê. Thực chất, khi xảy ra hành vi vi phạm, quyền lợi của một bên chủ thể đã bị xâm hại và tổn thất cho nên việc cùng ngồi lại để xác định thời gian hợp lý tiếp tục thực hiện các điều khoản của Hợp đồng cho thuê hàng hóa rất khó được xác định và dễ dẫn đến tranh chấp phát sinh.
Các hành vi vi phạm hợp đồng thường dẫn đến một số hậu quả nhất định, ảnh hưởng đến quyền lợi của ít nhất một bên trong quan hệ thương mại đang diễn ra. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Trong khi đó, chủ thể tham gia Hợp đồng cho thuê hàng hóa chủ yếu là thương nhân mà mục đích họ hướng đến lại là lợi nhuận, vì vậy buộc thực hiện đúng hợp đồng chính là biện pháp để những cá nhân, tổ chức có thể đánh giá trách nhiệm của mình và đối tác trong quan hệ hợp tác kinh doanh. Tuy nhiên, trách nhiệm này không đồng nghĩa với việc họ không có quyền áp dụng đồng thời các chế tài còn lại theo quy định của Luật Thương mại. Hiện nay, quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác đã được luật hóa bởi các quy định tại Điều 299 Luật Thương mại 2005, theo đó, nếu như các bên không có thỏa thuận khác thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng đồng thời chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng cùng với yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nhưng không được áp dụng các chế tài khác. Khi kết thúc thời hạn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng mà bên vi phạm vẫn không thực hiện theo đúng những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng thì bên bị vi phạm được áp dụng chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Như vậy, hoạt động cho thuê phát sinh trong lĩnh vực thương mại lấy hàng hóa làm đối tượng trung tâm để xác định các nghĩa vụ phát sinh trong quan hệ hợp tác kinh doanh giữa cá nhân, tổ chức kinh doanh với chủ thể khác trong xã hội, từ đó thỏa mãn mục đích giao kết và đạt được lợi ích như kỳ vọng. Trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa, Bên thuê và Bên cho thuê là chủ thể chính tự nguyện tham gia, cùng nhau bàn bạc và thống nhất nội dung thỏa thuận. Hơn ai hết, chính họ là người phải chịu trách nhiệm trước các đề xuất và cam kết thực hiện mà mình đề ra. Trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng hiện thực hóa nội dung đã thỏa thuận mà còn là cách để chính chủ thể tham gia tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trước hành vi vi phạm hợp đồng. Có thể thấy, trách nhiệm này trước hết được thực hiện dựa trên ý chí của chính chủ thể vi phạm, qua đó ý thức chủ quan của họ được bộc lộ rõ ràng, cụ thể và là cơ sở để đánh giá thiện chí hợp tác, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm của Bên thuê và Bên cho thuê, từ đó lựa chọn ra một quan hệ hợp tác kinh doanh thương mại có tính ổn định và dài lâu.
2.2.3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Thỏa thuận của hợp đồng là cơ sở để phát sinh quyền và bảo vệ lợi ích của chủ thể tham gia trước hành vi vi phạm hợp đồng dẫn đến tổn thất. Bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên vi phạm bù đắp tổn thất xảy ra, đây cũng chính là trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng. Nếu không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm, nghĩa vụ này sẽ được áp dụng cho chủ thể có hành vi vi phạm. Không chỉ nâng cao tinh thần trách nhiệm và ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật, bồi thường thiệt hại chính là cách dung hòa lợi ích giữa các bên trong hợp đồng, tạo điều kiện để các thương nhân thể hiện thiện chí, duy trì mối quan hệ hợp tác kinh doanh. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Căn cứ Khoản 1 Điều 302 Luật Thương mại 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa được thực hiện khi có đủ các yếu tố sau: Có hành vi vi phạm; có thiệt hại thực tế; hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Một số hành vi vi phạm thường xuyên xảy ra trong thực tế có thể kể đến như: không thanh toán tiền thuê, vi phạm nghĩa vụ giao hàng, làm hư hỏng hàng hóa cho thuê,… Còn thiệt hại chính là hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra trong thực tế, chẳng hạn như: sản xuất bị trì trệ, tổn thất về doanh thu, hàng hóa bị hư hỏng, hao mòn, chi phí khắc phục hậu quả, ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp,… Nếu hành vi vi phạm là điều kiện cần thì thiệt hại thực tế là điều kiện đủ để hình thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hai điều kiện này phải có mối liên hệ mật thiết với nhau, nếu hành vi vi phạm không dẫn đến thiệt hại thì bên bị vi phạm không có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường.
Trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa, yêu cầu bồi thường thiệt hại thường do bên bị vi phạm đưa ra. Thực chất, họ chính là những người trực tiếp hoặc gián tiếp gánh chịu tổn thất từ hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia gây ra. Chế tài bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng kể cả trong trường hợp không được thỏa thuận trong hợp đồng. Căn cứ Điều 304 Luật Thương mại 2005, nghĩa vụ chứng minh tổn thất thuộc về bên đưa ra yêu cầu, bởi lẽ hơn ai hết chính bản thân họ mới biết mình bị thiệt hại những gì, thiệt hại từ khi nào và dễ thu thập chứng cứ chứng minh mức độ tổn thất để yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với các tổn thất khó chứng minh và khó để xác định giá trị thiệt hại thì họ sẽ không được quyền yêu cầu bồi thường. Trong trường hợp này, họ có quyền yêu cầu bên thứ ba để hỗ trợ mình để chứng minh các thiệt hại như Tòa án, cơ quan giám định,… Hành vi vi phạm Hợp đồng cho thuê hàng hóa dẫn đến thiệt hại nếu không được giải quyết một cách ổn thỏa sẽ dễ làm phát sinh tranh chấp.
Như vậy, khi đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại, bên bị vi phạm phải chứng minh được hành vi vi phạm Hợp đồng cho thuê hàng hóa đã được ký cùng các chứng cứ chứng minh tổn thất một cách cụ thể rõ ràng chứ không thể liệt kê một cách chung chung, không có cơ sở. Nếu giữa các bên có tồn tại Hợp đồng cho thuê hàng hóa nhưng thiệt hại xảy ra không xuất phát từ các nghĩa vụ của hợp đồng này thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn được xem là nằm ngoài hợp đồng. Cho nên, nếu có cơ sở xác định hành vi dẫn đến thiệt hại của mình là do bên còn lại thực hiện nhưng nó nằm ngoài phạm vi của hợp đồng cho thuê thì bên bị vi phạm có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bên gây ra thiệt hại phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
2.2.3.4. Trách nhiệm chậm nghĩa vụ thanh toán
Khi đàm phán, thương lượng các điều khoản của hợp đồng, Bên thuê và Bên cho thuê có thể tự do thỏa thuận những nội dung phù hợp với nhu cầu và khả năng của bản thân để quá trình thực hiện hợp đồng được rõ ràng và hiệu quả hơn. Thông thường, bên cạnh khoản tiền thuê phải tra, các cá nhân, tổ chức tham gia hợp đồng này còn thỏa thuận thêm nghĩa vụ thanh toán một số khoản thù lao dịch vụ, chi phí hợp lý khác như: sửa chữa hàng hóa, chi phí vận chuyển, khoản thuế, lệ phí phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch… để xác định rõ trách nhiệm thanh toán thuộc về ai, tránh tình trạng đùn đẩy, tránh né tránh trách nhiệm. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán được diễn ra đúng và đầy đủ, căn cứ Điều 306 Luật Thương mại 2005, khi vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong Hợp đồng cho thuê hàng hóa thì bên còn lại có quyền yêu cầu chi trả thêm tiền lãi trên số tiền chậm trả đó với mức lãi suất được xác định bởi một trong hai cách: do các bên tự thỏa thuận; do pháp luật quy định (lãi trung bình trên thị trường hoặc lãi suất khác do pháp luật quy định).
Trường hợp các bên tự thỏa thuận mức lãi suất áp dụng trong hợp đồng. Bên thuê và Bên cho thuê có thể tự do lựa chọn mức lãi suất vừa phù hợp với khả năng tài chính của mình. Tuy nhiên Bộ luật Dân sự 2015 được áp dụng để điều chỉnh quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ dân sự hình thành và phát triển ở nước ta, trong đó cho thuê hàng hóa chính là hoạt động chuyên biệt của cho thuê tài sản cho nên bên cạnh quy định của Luật Thương mại 2005, Hợp đồng cho thuê hàng hóa còn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự. Do vậy, các bên có thể tự do thỏa thuận về mức lãi suất áp dụng nhưng căn cứ Điều 357 và Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 mức lãi suất này không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền chậm thanh toán.
Trường hợp áp dụng mức lãi theo quy định pháp luật. Mức lãi suất này được áp dụng khi hợp đồng không đề cập hoặc các bên không thỏa thuận được. Trong trường hợp này, lãi suất được áp dụng theo lãi trung bình trên thị trường hoặc một mức lãi suất khác do pháp luật quy định. Trong thực tiễn, khi các bên không thể thỏa thuận được và yêu cầu Tòa án giải quyết, mức lãi suất này sẽ được xác định bằng cách Tòa án thu thập mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 ngân hàng thương mại có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả. Tòa án thường sử dụng mức lãi suất của một số ngân hàng như: Ngân hàng cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu,… để tính mức lãi suất áp dụng. Tuy nhiên, mức lãi suất của các ngân hàng này ở mỗi giai đoạn đều có sự chênh lệch nhất định, hơn nữa giữa thời điểm thanh toán và khoảng thời gian chậm thanh toán có sự cách biệt tương đối dài, trong khoảng thời gian này, các biến động về giá trị hàng hóa cũng như thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng chưa được kiểm soát sẽ dễ dẫn đến nhiều hệ lụy khác.
Hiện nay, pháp luật thương mại cho phép bên bị vi phạm có quyền đưa ra yêu cầu buộc bên vi phạm chi trả khoản tiền lãi do chậm thanh toán khi có sự vi phạm về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mà không ràng buộc vào điều kiện hợp đồng có quy định hay không. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, Bên thuê hoặc Bên cho thuê có thể tùy vào tình hình thực tế, khả năng chi trả của bên vi phạm mà quyết định sử dụng hoặc từ bỏ quyền này.
2.2.4. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Thứ nhất, đối tượng của Hợp đồng cho thuê hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005 đã được đa dạng hóa và mở rộng hơn so với trước.
Trước đây, khái niệm hàng hóa trong lĩnh vực thương mại theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Luật Thương mại 1997 chỉ được áp dụng trong phạm vi các tài sản là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được phép lưu thông trên thị trường, nhà ở. Việc giới hạn rõ các tài sản có thể là hàng hóa đã làm hạn chế quyền tự do kinh doanh và cản trở sự phát triển của hoạt động kinh doanh thương mại nói chung cũng như hoạt động cho thuê hàng hóa nói riêng. Để khắc phục điều này, Luật Thương mại 2005 đã mở rộng phạm vi tài sản được có thể trở thành hàng hóa cho thuê, bao gồm tất cả các loại động sản và những vật gắn liền với đất đai, từ đó thúc đẩy và mở rộng hoạt động kinh doanh thương mại của nhiều cá nhân, tổ chức, tăng cường sự lưu thông của hàng hóa trên thị trường và tạo ra nhiều giá trị có ích cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Thứ hai, pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa chú trọng bảo vệ và cân bằng quyền lợi của Bên thuê và Bên cho thuê.
Về bản chất, giao dịch cho thuê chỉ làm phát sinh trong phạm vi chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng từ Bên cho thuê sang Bên thuê mà không làm chấm dứt quyền sở hữu của chủ hàng hóa. Vì vậy, trong quá trình thực hiện các nội dung của hợp đồng, tùy từng trường hợp cụ thể mỗi bên sẽ có những lợi thế và hạn chế khác nhau. Thông thường, tính ổn định về quyền chiếm hữu, sử dụng hàng hóa của người đi thuê sẽ phụ thuộc nhiều vào ý chí của chủ sở hữu hàng hóa, nhất là việc quyết định giá thuê, thời hạn thuê cùng một số nội dung khác liên quan để định đoạt quyền sở hữu, từ bỏ hoặc tiêu hủy hàng hóa,… Vì vậy, để cân bằng quyền lợi giữa các chủ thể trong giao dịch cho thuê, Luật Thương mại đã quy định một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của các Bên thuê và Bên cho thuê ở từng giai đoạn thực hiện hợp đồng. Trong đó, hàng hóa là đối tượng chính, là cơ sở để phát sinh và thực hiện giao dịch do đó những quy định về chuyển giao, chất lượng hàng hóa, bảo dưỡng và sửa chữa hàng hóa, thời điểm chuyển rủi ro cũng như trách nhiệm gánh chịu tổn thất đã được pháp luật đề cập đến. Đặc biệt, những quy định liên quan đến quyền chiếm hữu, sử dụng hàng hóa được chú trọng từ khi bắt đầu thực hiện hợp đồng, kéo dài xuyên suốt cho đến khi kết thúc thời hạn thuê. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Bên cạnh đó, quan hệ Hợp đồng cho thuê hàng hóa luôn đề cao sự tự nguyện, tự do thỏa thuận, ý chí của Bên thuê và Bên cho thuê. Bởi lẽ cho thuê hàng hóa chính là một trong các hoạt động cụ thể hóa quyền tự do kinh doanh của các cá nhân, tổ chức trong xã hội dựa trên quy định tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013. Nếu như Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất, Bộ luật Dân sự đóng vai trò là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự thì Luật Thương mại 2005, mà cụ thể hơn là những quy định pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa, là những quy định cụ thể điều chỉnh hoạt động thương mại, hoạt động cho thuê hàng hóa một cách chi tiết, cụ thể, phù hợp với sự vận động và phát triển của hoạt động thương mại, cho thuê hàng hóa ở nước ta. Từ đó, góp phần tạo nên sự cân bằng về quyền và lợi ích giữa những chủ thể kinh doanh trên thị trường, hạn chế xảy ra vi phạm hợp đồng, làm thiệt hại quyền lợi của bên còn lại trong hợp đồng, tạo nên môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa Bên thuê và Bên cho thuê.
Thứ ba, từng bước xây dựng và thiết lập cơ chế xử lý hành vi vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh.
Bên cạnh sự hoàn thiện của những quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh từ Hợp đồng cho thuê hàng hóa, các chế định về xử lý hành vi vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp cũng dần được hoàn thiện và củng cố. Vi phạm hợp đồng đồng nghĩa với việc Bên thuê hoặc Bên cho thuê không tuân thủ đúng hoặc đủ nội dung do chính họ thống nhất khi giao kết hợp đồng. Một trong các nguyên tắc cơ bản và quan trọng cần phải đảm bảo thực hiện khi tiến hành hoạt động cho thuê hàng hóa đó là sự trung thực và thiện chí hợp tác của chủ thể tham gia. Hơn ai hết, Bên thuê và Bên cho thuê phải là người tự chịu trách nhiệm trước những nội dung mà mình đã đề xuất, thỏa thuận. Hành vi vi phạm nghĩa vụ chính là sự đi ngược lại với nguyên tắc thiện chí và trung thực, dẫn đến hậu quả xâm phạm quyền lợi hợp pháp của chủ thể khác trong quan hệ cho thuê hàng hóa.
Bằng những quy định hiện hành, pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa đã cho phép các bên tự mình áp dụng các chế tài thương mại như một biện pháp chủ động để bảo vệ quyền của chính mình hoặc tự giác khắc phục những sai phạm nhằm đảm bảo duy trì quan hệ hợp tác giữa các thương nhân và chủ thể khác trong xã hội, qua đó đưa hoạt động cho thuê hàng hóa dần phổ biến hơn trong đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển đa dạng của hoạt động thương mại ở nước ta.
Khi xảy ra vi phạm hợp đồng mà các bên không thể tìm được tiếng nói chung, tự giải quyết và cần có sự hỗ trợ từ cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đứng ra phân xử, Luật Thương mại 2005 cho phép Bên thuê và Bên cho thuê có quyền đưa tranh chấp phát sinh giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại. Ở nước ta, Tòa án và Trọng tài thương mại hiện đang là hai cơ quan, tổ chức quan trọng và có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Tùy từng tranh chấp phát sinh, nội dung thỏa thuận và nhu cầu của doanh nghiệp, Luật Thương mại đã cho phép họ có quyền lựa chọn cơ quan giải quyết, tạo ra thế chủ động, linh hoạt của chính chủ thể bị thiệt hại,
chủ thể kinh doanh để giải quyết những mâu thuẫn phát sinh nhưng vẫn đảm bảo hoạt động của chính doanh nghiệp mình. Sự tham gia của cơ quan tài phán đóng vai trò là người đưa ra phán quyết sẽ giúp các tranh chấp được giải quyết một cách nhanh chóng, khách quan, công bằng, đúng pháp luật, vì vậy xu thế giải quyết tranh chấp về Hợp đồng cho thuê hàng hóa tại các cơ quan này ngày càng được cá nhân, tổ chức kinh doanh chú trọng sử dụng như một biện pháp bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Tuy nhiên, rất tiếc hiện nay chưa có các số liệu cụ thể về thống kê số vụ án tranh chấp Hợp đồng cho thuê hàng hóa được Tòa án, Trọng tài thương mại thụ lý, giải quyết mà chỉ mới có thống kê chung về số vụ việc kinh doanh thương mại do Tòa án giải quyết được công bố trên Trang thông tin điện tử Công bố Bản án, Quyết định của Tòa án. Theo đó, hiện số bản án, quyết định trong lĩnh vực dân sự được công bố là 148.474, tuy nhiên ở lĩnh vực kinh doanh thương mại, con số này chỉ dừng ở mức 15.474 bản án, quyết định. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
2.2.5. Hạn chế còn tồn đọng và nguyên nhân của những hạn chế
2.2.5.1. Hạn chế còn tồn đọng
Một là, những quy định về xác định đối tượng tài sản được xem là hàng hóa chưa đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn áp dụng pháp luật.
Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại đã quy định cụ thể:
“2. Hàng hóa gồm:
- Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
- Những vật gắn liền với đất đai.”
Từ quy định trên, có thể thấy rằng pháp luật thương mại chia hàng hóa thành hai nhóm chính, đó là động sản và những vật gắn liền với đất. Khi các tài sản này trở thành đối tượng của giao dịch cho thuê giữa các thương nhân, vì mục đích sinh lợi nhuận thì mới được xem là hàng hóa. Những vật gắn liền với đất có thể là nhà, cửa, công trình xây dựng gắn liền với đất. Đối chiếu với quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015, đây chính là tài sản vốn thuộc nhóm bất động sản. Đồng thời, cũng theo quy định này, những tài sản khác gắn liền với nhà, công trình xây dựng cũng là bất động sản theo quy định của pháp luật dân sự. Nhưng nhìn ở khía cạnh ngược lại, khi nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai như kho bãi, nhà xưởng,… nếu như trở thành đối tượng của Hợp đồng cho thuê hàng hóa thì các vật gắn liền với những tài sản này lại không được xem là hàng hóa hay đối tượng kèm theo trong hợp đồng cho thuê. Nói một cách khác, chỉ có nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai mới được xem là hàng hóa và chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại, còn những vật gắn liền với các hàng hóa này lại không được xem là hàng hóa và vẫn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Bên cạnh đó, quyền sử dụng đất là một loại hình tài sản đặc biệt và mang giá trị kinh tế, chính trị, xã hội khá cao, có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống sinh hoạt và kinh doanh thương mại của nhiều chủ thể trong xã hội. Tuy nhiên, khái niệm diễn giải tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005 đã loại trừ đất đai ra khỏi nhóm hàng hóa chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại. Hiện nay, Luật Kinh doanh Bất động sản, đã cho phép quyền sử dụng đất cũng được đưa vào sử dụng, phục vụ mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận như các hoạt động kinh doanh khác khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật đất đai. Trong khi thực tiễn áp dụng pháp luật và hoạt động kinh doanh thương mại, hoạt động cho thuê quyền sử dụng đất diễn ra rất phổ biến giữa các thương nhân với thương nhân, giữa thương nhân và cá nhân, tổ chức khác dưới hình thức cho thuê mặt bằng để kinh doanh thương mại, sản xuất, chế tạo sản phẩm,… Tuy nhiên nếu chỉ bó hẹp cách tiếp cận theo quy định của Luật Thương mại, quan hệ cho thuê quyền sử dụng đất trong trường hợp này lại không được xem là giao dịch cho thuê hàng hóa, không áp dụng quy định của Luật Thương mại. Như vậy, trong quá trình thực hiện và giải quyết các vấn đề phát sinh sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể kinh doanh, đặc biệt là các quy định về yêu cầu bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng cùng các chế tài khác có liên quan.
Hai là, chưa thống nhất trong cách tiếp cận và lựa chọn luật điều chỉnh. Hợp đồng cho thuê hàng hóa . Xác định văn bản luật điều chỉnh chính là một trong các vấn đề cơ bản, quan trọng mang tính quyết định đến hiệu quả áp dụng pháp luật. Dưới khía cạnh tiếp cận của Luật Thương mại, trong quan hệ Hợp đồng cho thuê hàng hóa một hoặc các bên tham gia có thể là thương nhân, có đăng ký kinh doanh, chính vì vậy, mục đích của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng có thể đều có chung mục đích là tìm kiếm lợi nhuận. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật thương mại không bắt buộc cả hai bên tham gia giao dịch cho thuê đều phải đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận mới được xem là quan hệ kinh doanh thương mại.
Ba là, nhiều vấn đề về quyền lợi của các Bên thuê và Bên cho thuê còn bị bỏ ngõ, chưa được quy định rõ ràng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động cho thuê, một số quyền và nghĩa vụ của Bên thuê và Bên cho thuê đã được đề cập cụ thể. Qua phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng, có thể thấy còn khác nhiều các vấn đề mà pháp luật chưa quy định rõ ràng và vẫn đang bỏ ngõ như quy định đối với các thương nhân là tổ chức không có tư cách pháp nhân, đối tượng hàng hóa được phép cho thuê, nghĩa vụ cung cấp thông tin, trách nhiệm gánh chịu tổn thất,… Mặc dù Luật Thương mại 2005 đề cao tinh thần tự nguyện thỏa thuận của các cá nhân, tổ chức tham gia bằng việc cho phép các bên trong hợp đồng thỏa thuận “hợp lý”, không vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội nhưng Bên thuê và Bên cho thuê lại có quyền lợi đối lập nhau trong quan hệ hợp đồng cho thuê, quyền của bên này lại là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Chính vì vậy, cơ sở để xác định mức độ “hợp lý” sẽ do chính Bên thuê và Bên cho thuê tự thống nhất thỏa thuận hay nói cụ thể là được xây dựng từ việc họ tự dung hòa quyền lợi của mình với bên còn lại. Điều này sẽ khó thực hiện khi giữa các bên phát sinh mâu thuẫn, không thể ngồi lại để bàn bạc và tìm tiếng nói chung. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Bốn là, thiếu văn bản hướng dẫn áp dụng, quy định chi tiết các quy định về cho thuê hàng hóa trong Luật Thương mại 2005. Mặc dù sự ra đời của Luật Thương mại 2005 đã chính thức thừa nhận cho thuê hàng hóa chính là một trong các hình thức kinh doanh thương mại ở nước ta, song hiện nay trong hệ thống các văn bản pháp luật, quan hệ cho thuê hàng hóa cũng như Hợp đồng cho thuê hàng hóa chủ yếu chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự mà không có các văn bản khác như nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Những quy định của Luật Thương mại về hoạt động cho thuê hàng hóa còn khá hạn chế, sơ sài và chưa quy định rõ nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Thêm vào đó, vẫn còn nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau giữa hoạt động cho thuê hàng hóa trong lĩnh vực thương mại và cho thuê tài sản trong lĩnh vực dân sự dẫn đến tình trạng rất khó để phân biệt và áp dụng pháp luật khác nhau. Nhìn chung, số lượng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thương mại khá nhiều và đa dạng, bao quát điều chỉnh ở nhiều hoạt động và khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Nếu như các hoạt động phổ biến như thương mại, logistic, xúc tiến thương mại, nhượng quyền thương mại… đã được quan tâm bằng nhiều văn bản hướng dẫn khác nhau thì các quy định pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa chưa có những quy định cụ thể về hướng dẫn thi hành. Nói cách khác, mặc dù đây là một trong các hoạt động kinh doanh diễn ra phổ biến trong cuộc sống thường nhật và có xu hướng ngày càng tăng về số lượng và giá trị kinh tế tuy nhiên khi đặt trong tổng thể quy định pháp luật, hoạt động cho thuê hàng hóa chưa thực sự nhận được quan tâm của nhà làm luật, nhà nghiên cứu.
2.2.5.2. Nguyên nhân của những hạn chế
Những hạn chế, bất cập còn tồn đọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa ở nước ta là do xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó phải kể đến một số nguyên nhân chính sau đây:
Thứ nhất, những quy định pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa ở nước ta còn chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn. Nhiều quy định của Luật Thương mại 2005 về hoạt động cho thuê hàng hóa còn mang tính bao quát, chung chung, chưa thật sự rõ ràng. Trong khi đó, kể từ khi văn bản luật này sự ra đời, cho thuê hàng hóa đã chính thức được xem là một hoạt động thương mại và có nhiều sự phát triển, thay đổi cùng với sự vận hành và phát triển của kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, nhiều quy định về hoạt động cho thuê hàng hóa ở Luật Thương mại còn mang tính bao quát, chung chung, chưa thật sự rõ ràng và đáp ứng với yêu cầu thực tiễn. Một số vấn đề phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng chưa được quy định hoặc quy định một cách chưa thống nhất, không được hướng dẫn rõ ràng, kịp thời dẫn đến sự lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật và làm giảm hiệu quả thực thi pháp luật. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Thứ hai, trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của các cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh thương mại còn chưa cao. Bên thuê và Bên cho thuê chính là chủ thể chính tham gia giao dịch cho thuê hàng hóa, vì vậy ý thức của họ chính là nguyên nhân tác động trực tiếp đến hiệu quả áp dụng pháp luật. Những điều khoản trong hợp đồng được xây dựng bởi ý chí, nhận thức của chủ thể tham gia, nếu như các điều khoản trong hợp đồng chưa được xây dựng một cách chặt chẽ, đúng pháp luật và cân bằng giữa quyền lợi của các bên sẽ dễ dẫn đến các mâu thuẫn và tranh chấp phát sinh. Chính bởi trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của các cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh thương mại còn chưa cao đã dẫn đến tình trạng không hiểu hoặc hiểu sai quy định pháp luật, vi phạm hợp đồng bởi lỗi vô ý hoặc cố ý để trục lợi, gây ra các thiệt hại về vật chất, phi vật chất cho chính họ và người bị vi phạm, một số cá nhân, tổ chức chưa linh hoạt, lúng túng khi áp dụng quy định pháp luật và thỏa thuận của hợp đồng trong việc xử lý các mâu thuẫn, xung đột phát sinh.
Thứ ba, trình độ pháp lý của một số đội ngũ cán bộ cơ quan nhà nước còn chưa cao. Cơ quan giải quyết tranh chấp đóng vai trò quyết định để áp dụng quy định pháp luật đưa ra phán quyết, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ Hợp đồng cho thuê hàng hóa . Song, những hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ đã dẫn đến nhiều tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng này chưa được giải quyết một cách triệt để, đúng pháp luật, dẫn đến thời gian giải quyết kéo dài, xâm phạm đến quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về Hợp đồng cho thuê hàng hóa, Chương 2 đã phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về hoạt động cho thuê hàng hóa và Hợp đồng cho thuê hàng hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Qua đó, có thể thấy rằng pháp luật đã và đang từng bước hoàn thiện nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các chủ thể tham gia giao dịch cho thuê hàng hóa ở nhiều phương diễn khác nhau, đặc biệt là các quy định về xác định chủ thể tham gia và đối tượng của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của Bên thuê và Bên cho thuê,…
Hợp đồng cho thuê hàng hóa chủ yếu chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự 2015, qua thực tiễn áp dụng pháp luật đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, những quy định pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật Thương mại 2005 dường như cũng xuất hiện nhiều hạn chế, bất cập, như chưa quy định về phương thức giao hàng, nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn sử dụng hàng hóa, xác định đối tượng tài sản có thể trở thành hàng hóa cho thuê trong lĩnh vực thương mại chưa đáp ứng với các yêu cầu thực tiễn,… Sở dĩ các hạn chế, bất cập còn tồn đọng là xuất phát bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó phải kể đến trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của Bên thuê và Bên cho thuê, những bất cập của pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa và trình độ pháp lý của đội ngũ cán bộ cơ quan nhà nước còn chưa cao. Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về Hợp đồng cho thuê hàng hóa nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thương nhân, cá nhân, tổ chức khác trong xã hội, tạo động lực cho sự phát triển của hoạt động thương mại nói chung và hoạt động cho thuê hàng hóa nói riêng. Luận văn: Thực trạng hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Luật.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Kiến nghị pháp luật về hợp đồng cho thuê hàng hóa

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
