Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch của vùng
2.1.1 Vị trí địa lý
- Vùng Tây Bắc chính thức gồm 4 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu và có thêm một phần hữu ngạn sông Hồng của hai tỉnh là Lào Cai và Yên Bái.
- Diện tích tự nhiên: 3.610.140 ha, chiếm 10% diện tích cả nước.
- Dân số (1995): 2.088 nghìn người, chiếm 2,82% dân số cả nước.
- Tây Bắc có vị trí quan trọng về an ninh. quốc phòng vì có đường biên giới chung với Trung Quốc và Lào dài 870 km.
- Là vùng đầu nguồn xung yếu của sông Đà, nơi có các nhà máy thuỷ điện lớn của cả nước, mái nhà xanh của đồng bằng Bắc Bộ.
- Giải biên giới có các cửa khẩu lớn, là các cửa khẩu ra vào quan trọng để giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế hiện tại cũng như tương lai trong những năm tới.
- Tây Bắc nằm gần các vùng đông dân, tiềm lực khoa học, công nghệ, khoáng sản và nguồn nhân lực lớn… là đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, đây là điều kiện thuận lợi để Tây Bắc phát triển kinh tế.
2.1.2 Địa hình
Núi cao, dốc lớn, chia cắt mạnh, phần lớn lãnh thổ là núi cao và núi trung bình với nhiều đỉnh núi cao từ 2090 – 3080m. Xen kẽ giữa các dãy núi cao là sông, suối, thung lũng hẹp, làm cho đất đai bị chia cắt mạnh, hiếm có những giải đất bằng rộng và liền nhau, gây ra nhiều trở ngại trong việc bố trí sản xuất. Việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, xây dựng…) rất tốn kém nhưng hiệu quả phát huy thấp, việc giao lưu kinh tế, đi lại giữa các huyện, tỉnh trong vùng và ngoài vùng gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi còn gây ra hậu quả nghiêm trọng, lũ quét, sụt đất… đã diễn ra trong mấy năm vừa qua ở Lai Châu và Sơn La gây thiệt hại nhiều tỷ đồng tài sản của Nhà nước và của nhân dân.
2.1.3 Điều kiện khí hậu Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Không đến mức khắc nghiệt như các vùng khác, nhưng cũng có những yếu tố khí hậu bất thuận lợi như gió nóng, mưa đá vào mùa hè, sương muối, băng giá vào mùa đông ở thung lũng, núi cao, gây ra những hiệu quả xấu cho sản xuất và đời sống.
2.1.4 Kinh tế Tây Bắc
Vẫn phát triển chậm so với nhiều vùng trong cả nước, đang đứng trước nhiều khó khăn gay gắt. Tổng GDP năm 1995 mới chiếm 1,73% so với cả nước, GDP/người chỉ bằng 61,1% so với mức trung bình của cả nước, tỷ lệ huy động ngân sách và tích luỹ đầu tư từ GDP đều thấp so với cả nước. Thu không đủ chi, tỉnh thu ngân sách cao nhất như Hoà Bình cũng mới đảm bảo được 49% của chi, còn tỉnh thu thấp như Lai Châu chỉ đảm bảo được 15% của chi thường xuyên, số ngân sách thiếu hụt phải trông chờ Trung Ương viện trợ. Cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm, tỷ trọng nông lâm nghiệp còn chiếm lớn (59%), công nghiệp, xây dựng, dịch vụ chiếm có 29,7%. Công nghiệp vùng quá nhỏ bé (trừ thủy điện Hòa Bình) nên chưa có tác động nhiều đến nông – lâm nghiệp. Số lượng, giá trị hàng hoá xuất ra khỏi vùng còn ít, chủ yếu là xuất nguyên liệu, số lượng mặt hàng ít, sức cạnh tranh kém, sản xuất nông lâm nghiệp tuy có tiến bộ nhưng vẫn còn lạc hậu so với nhiều vùng, phương thức canh tác nương rẫy, chọc lỗ bỏ hạt vẫn còn tồn tại trong một số dân tộc, nên năng suất nông nghiệp còn thấp, chỉ bằng 40 – 50 % so với mức trung bình của cả nước. Phân công lao động chưa có chuyển biến tích cực, lao động nông lâm nghiệp còn chiếm tới 85,4%, là vùng đất rộng, người thưa nhưng còn tới 9,3% lao động chưa bố trí được việc làm, ở một số vùng nông thôn rộng lớn các ngành thương mại dịch vụ chưa phát triển. Những nơi có cửa khẩu, việc lợi dụng phát huy còn yếu. Các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hoạt động yếu; du lịch tuy có tiềm năng nhưng chưa được phát huy đầy đủ. Công tác giáo dục, y tế văn hóa, xã hội còn nhiều yếu kém… đây đang là những vấn đề nổi cộm cần quan tâm. Đời sống nhân dân vùng sâu, xa, biên giới còn nhiều khó khăn, phân hóa giàu nghèo rõ rệt. Số hộ đói nghèo còn nhiều (toàn vùng tới trên 40%, vùng cao xa 70%), số người mù chữ chiếm trên 50% dân số, các vùng cao, xa chiếm trên 80%, tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, mê tín còn nhiều là những khó khăn trở ngại lớn cho quá trình phát triển.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.5 Trình độ dân trí Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Nhìn chung còn rất thấp và không đồng đều giữa các dân tộc và giữa các tiểu vùng, dân tộc Kinh, dân tộc Thái trình độ dân trí có khá hơn. Số người được đào tạo là người các dân tộc ít người còn quá ít, trình độ văn hoá giữa các dân tộc cũng khá chênh lệch, người Kinh hầu như không còn người mù chữ, số người có trình độ văn hoá cấp một, cấp hai cũng tương đối nhiều, còn chiếm khoảng 70 – 80%, số có trình độ văn hoá cấp I, cấp II thì rất ít. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vẫn ở mức cao (3,1% năm). Hiện nay còn 49,6% số người trong độ tuổi lao động còn mù chữ, số người được đào tạo có trình độ cao đẳng và đại học so với cả nước chỉ chiếm 1,7%, đang là trở ngại lớn trong quá trình đổi mới và tiếp thu khoa học, kĩ thuật, chuyển giao công nghệ vào sản xuất và phát triển kinh tế xã hội của vùng.
2.1.6 Cơ sở hạ tầng
Hết sức yếu kém, về đường giao thông, có 1300 km đường quốc lộ chạy qua, lòng đường tương đối rộng và nền đường phần lớn đã được cứng hoá bằng đá, nhưng mặt đường rất xấu, phần lớn là đá, đất trộn với nhau rải lổn nhổn, xe cộ đi lại hết sức khó khăn, tỷ lệ mặt đường rải nhựa chỉ chiếm khoảng 9%. Đường tỉnh, đường huyện, đường xã thì phần lớn là đường hẹp, nền, mặt đường hầu hết là bằng đất gồ ghề đi lại khó khăn trong tất cả các mùa. Giao thông nông thôn chậm phát triển, đến nay vẫn còn trên 40 xã chưa có đường ôtô vào được đến trung tâm. Giao thông tuyến trục dọc còn thiếu và xấu nhưng cũng còn đi lại được, các trục giao thông tuyến ngang thì hầu như chưa phát triển nên việc giao lưu kinh tế và sự đi lại của nhân dân trong vùng với nhau là rất khó khăn, hầu hết phải đi vòng (gần mà hoá xa), tốn rất nhiều công sức và thời gian. Tuy có đường thuỷ, đường hàng không nhưng chưa được khai thác triệt để do thiếu đầu tư.
Về thuỷ lợi và cấp nước cũng còn nhiều yếu kém, hầu hết là những công trình vừa và nhỏ, tạm cung cấp nước tưới cho lúa là chủ yếu, chưa cung cấp được nước tưới cho cây trồng khác. Nói tóm lại, công tác thuỷ lợi chưa thể đảm bảo cho nông nghiệp phát triển một cách toàn diện với nhịp độ cao. Việc cấp nước sinh hoạt hầu hết là tự chảy, ngay các thị xã cũng chưa có hệ thống cung cấp nước hợp vệ sinh, dân cư khu vực nông thôn dùng nước suối để ăn uống tắm giặt là chủ yếu. Mấy năm gần đây, do có chương trình nước sạch nông thôn, nước sinh hoạt vùng cao nên số lượng bể chứa nước được xây dựng nhiều, tuy nhiên nước sinh hoạt vẫn đang còn khó khăn cho vùng cao, sâu, xa.
Về điện, phần lớn khu vực nông thôn chưa có điện, thông tin liên lạc chưa phát triển, cơ sở giáo dục, y tế còn thiếu nhiều, đơn sơ và lạc hậu. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
2.1.7 Hệ thống đô thị hạt nhân (thị xã, thị trấn, thị tứ) phát triển chậm, nhiều tiểu vùng còn trống vắng, dân số đô thị toàn vùng mới chiếm 1,44% nên tác động của đô thị ra các vùng xung quanh rất yếu.
2.1.8 Chênh lệch về thu nhập, dân trí giữa các tỉnh, các dân tộc trong vùng tương đối lớn, đây là trở ngại cho quá trình phát triển. (Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch Đầu tư)
2.2 Tài nguyên du lịch
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng: Hồ, hang động, đảo trên hồ, rừng nguyên sinh, các khu di tích lịch sử đã được xếp hạng nổi tiếng như Điện Biên Phủ, nhà tù Sơn La, di tích văn hoá và vốn văn hoá truyền thống của các dân tộc, các cảnh quan thiên nhiên… là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế.
- Địa hình:
Đặc điểm nổi bật của địa hình vùng Tây Bắc là địa hình núi bị chia cắt phức tạp và có độ dốc khá lớn theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
Tài nguyên địa hình có giá trị nhất đối với hoạt động du lịch ở vùng Tây Bắc là địa hình núi cao và các dạng địa hình Karst. Quá trình xâm thực đá vôi của nước đã tạo nên các dạng địa hình karst muôn hình muôn vẻ, từ những cánh đồng karst đến những khu vực núi sót, từ những dãy núi tai mèo đến những hang động rộng lớn, kỳ ảo… tất cả đã tạo nên những cảnh quan hùng vĩ, hấp dẫn du khách.
Một trong những vùng Karst điển hình được nhắc tới của vùng nằm trên tỉnh Hoà Bình là dãy núi đá vôi phía Tây Bắc huyện Mai Châu thuộc xã Pà Cò và dải núi uốn nếp thấp có độ cao 500 –600m theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ Nam Sơn, Ngô Lương (huyện Tân Lạc) đến Ngọc Sơn, Tự Do (huyện Lạc Sơn). Quá trình Karst đã tạo cho vùng núi này vô số các hang động có giá trị về mặt khảo cổ, đặc biệt là hang Muối. Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh Hoà Bình còn có hơn 70 di tích khảo cổ hang động và núi đá nằm rải rác ở các huyện thị. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Như vậy, có thể nói địa hình Karst có giá trị lớn đối với hoạt động du lịch nơi đây. Trong đó, có một số hang động vừa chứa đựng các giá trị nhân văn phục vụ cho du lịch, vừa là tài nguyên tự nhiên. Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch và thu hút du khách, đặc biệt là các loại hình du lịch tham quan và mạo hiểm.
- Khí hậu
Khí hậu vùng Tây Bắc mang tính chất nhiệt đới gió mùa rõ rệt với mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa và một mùa hè dài, nóng, mưa nhiều. Tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm khoảng 120 – 128 Kcal/ cm2, cân bằng bức xạ trung bình hàng năm đạt tới 80 Kcal/cm2. Tổng số giờ có nắng trong năm trung bình nhiều năm thường đạt hơn 1.500 giờ. Tổng số giờ nắng trong năm có sự khác nhau giữa các khu vực trên địa bàn tỉnh tỷ lệ nghịch với độ cao địa hình. Thời kỳ nhiều nắng nhất trong năm là từ tháng V đến tháng X. Trong đó lượng bức xạ mặt trời lớn nhất trong năm rơi vào tháng VII và thấp nhất vào tháng I.
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm vào khoảng 23OC, tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng VII, trung bình từ 27O-C -29OC, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng I, trung bình từ 15,5OC – 16,5OC.
Như vậy, tính chất gió mùa đã tạo nên sự khác biệt rõ rệt về thời tiết của vùng. Trong các tháng XII, I và II nhiệt độ không khí giảm đi rõ rệt, nhiệt độ trung bình tháng giảm xuống dưới 20OC. Ngược lại, vào mùa hè, ngay từ tháng III đến tháng XI không có tháng nào nhiệt độ trung bình xuống dưới 20OC. Nhìn chung, chế độ nhiệt của vùng Tây Bắc đối với con người là tương đối dễ chịu, thuận lợi cho khai thác du lịch.
- Sông – hồ
Tài nguyên nước của vùng Tây Bắc khá phong phú với mạng lưới sông suối khá dày đặc và phân bố khá đều trên địa bàn của vùng. Sông lớn nhất chảy qua địa phận Hoà Bình là sông Đà, sông Bôi và sông Bưởi. Còn Sơn La thì hầu như toàn bộ diện tích của tỉnh nằm trên lưu vực của hai con sông: Sông Đà và sông Mã.
Hồ Thác Bà của tỉnh Yên Bái là hồ nước nhân tạo có diện tích mặt nước 23.400 ha, có 1.331 đồi đảo với thảm thực vật và cảnh quan sinh thái đa dạng. Nước hồ trong xanh, in bóng những vạt rừng già bao quanh hồ. Hàng ngàn đồi đảo trên hồ với các hang động như hang Hùm, hang Cẩu Cuôi, động Bạch Xà… và đền Thác Bà luôn tạo nên sự cuốn hút đối với du khách.
Hồ Thác Bà không chỉ là một thắng cảnh đẹp mà còn là một di tích lịch sử. Tại đây vào năm 1285 đã diễn ra trận Thu vật do Trần Nhật Duật chỉ huy đánh tan một đạo quân Nguyên Mông. Có dãy núi Cao Biền soi bóng ven hồ. ở vùng thượng hồ còn có một số nơi là cơ sở hoạt động của các cơ quan trung ương thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Giữa hồ Thác Bà có động Mông Sơn là nơi Tỉnh ủy Yên Bái làm việc trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Nhà máy thủy điện Thác Bà là công trình thủy điện đầu tiên ở nước ta được xây dựng tại khu vực hồ này.
Hồ Thác Bà là một thắng cảnh đẹp, nơi đang có kế hoạch phát triển thành một trung tâm du lịch sinh thái, kết hợp giữa giải trí trên hồ và leo núi, thám hiểm rừng. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Nhìn chung, nguồn nước của vùng Tây Bắc tương đối phong phú và đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục vụ cho sản xuất cũng như du lịch. Do địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lại lớn nên phần lớn các con sông có dòng chảy mạnh, nhiều thác ghềnh, không thuận lợi cho việc áp dụng loại hình du lịch trên sông. Tuy nhiên, những thác ghềnh, sự uốn khúc, chia cắt dòng của các con sông lại tạo nên những phong cảnh thiên nhiên rất hùng vĩ, thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lịch tham quan, mạo hiểm, du lịch sinh thái.
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
- Các di tích lịch sử văn hoá và nghệ thuật
Xét về mặt chất lượng, các di tích ở vùng Tây Bắc có giá trị khá cao, đặc biệt là các di tích khảo cổ như là những vết tích cách đây hàng ngàn năm của nền “Văn hoá Hoà Bình” – nền văn hoá lúa nước đầu tiên còn lưu lại trong các hang động, mái đá mà các nhà khảo cổ học đã khai quật được. Hay các di tích lịch sử cách mạng như nhà tù Sơn La, quần thể di tích cách mạng Điện Biên Phủ…Các di tích này có giá trị rất to lớn cho phát triển du lịch chuyên biệt và sinh thái của vùng.
- Nhà tù Sơn La
Nhà tù Sơn La do người Pháp xây dựng năm 1908 và mở rộng vào những năm 1930 – 1940. Lúc đầu chỉ là một nhà tù nhỏ hàng tỉnh.
Từ 1930 – 1945 trở thành nơi giam cầm hàng ngàn người Việt Nam yêu nước. Trong nhiều năm, tại đây nhiều người đã trở thành cán bộ chủ chốt của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Ðến khu di tích cách mạng nhà tù Sơn La, thăm lại các xà lim ngầm, xà lim chéo, trại ba gian, trại lớn cũ cùng với hàng trăm hiện vật, người xem chứng kiến hoàn cảnh sống cơ cực của tù nhân, khâm phục ý chí kiên cường của họ trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù dân tộc.
Di tích nhà tù Sơn La được Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng năm 1962 là một trong nhiều di tích cách mạng của cả nước. Bên cạnh khu di tích là nhà Bảo tàng tổng hợp của tỉnh đang được mở rộng với những gian trưng bày mới có nhiều hiện vật quí giới thiệu truyền thống lịch sử, văn hoá của cộng đồng 12 dân tộc đang đoàn kết cùng nhau xây dựng Sơn La thành tỉnh giàu có của Việt Nam. Hàng năm Bảo tàng tổng hợp của tỉnh và di tích cách mạng nhà tù Sơn La đón hàng chục nghìn khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
- Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ
Vị trí: Chiến trường Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Điện Biên, cách Tp. Hà Nội khoảng 500km về phía tây.
Đặc điểm: Chiến trường Ðiện Biên là một di tích lịch sử ghi lại chiến công oanh liệt của quân và dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến anh dũng chống thực dân Pháp.
Từ Hà Nội theo quốc lộ 6 qua Sơn La, Thuận Châu, vượt đèo Pha Ðin sang Tuần Giáo rồi rẽ theo quốc lộ 279 vào Ðiện Biên. Thung lũng Ðiện Biên bốn bề là núi bao bọc với nhiều ngọn đồi ở phía đông và cánh đồng Mường Thanh dài 20km, rộng 6km, có sông Nậm Rốn chảy qua nên vùng đất Ðiện Biên này rất màu mỡ. Từ cuối năm 1953 thực dân Pháp đã đổ quân chiếm đóng Ðiện Biên và thành lập ở đây một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh được trang bị nhiều vũ khí hiện đại.
Tại thung lũng Ðiện Biên đã diễn ra cuộc chiến đấu cực kỳ anh dũng của quân dân Việt Nam suốt 55 ngày đêm với đội quân viễn chinh xâm lược của thực dân Pháp (13/3/1954 – 7/5/1954), bắt sống tướng Ðờ Catri (De Castries) và toàn bộ ban chỉ huy, loại khỏi vòng chiến đấu 16.000 quân địch. Chiến thắng Ðiện Biên Phủ đã gây một tiếng vang lớn chấn động địa cầu, khắp năm châu đều biết đến Ðiện Biên Phủ – Việt Nam.
Các di tích nổi bật của chiến trường Ðiện Biên năm xưa là đồi A1, C1, C2, D1, cứ điểm Hồng Cúm, Him Lam, đồi Ðộc Lập, cầu và sân bay Mường Thanh, hầm chỉ huy của tướng Ðờ Catri.
Quần thể di tích Sở chỉ huy chiến dịch nằm ở xã Mường Phăng, cách thành phố Ðiện Biên Phủ gần 30km, bên cạnh khu di tích hồ Pá Khoang cảnh đẹp như trong thần thoại. Nơi làm việc của tướng Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái là một con đường hầm dài 320m, đào xuyên vào lòng một quả đồi để tránh bom và đạn đại pháo. Những bậc đá dẫn lên miệng hầm giờ đã phủ một lớp rêu xanh dày và xanh mượt như trải thảm. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Ðiện Biên Phủ từ xưa vừa là nơi giao lưu văn hóa và kinh tế của các dân tộc vùng biên ải Việt – Lào – Hoa và vừa là vùng tranh chấp thế lực giữa các lãnh chúa phong kiến. Trong nhiều thế kỷ, chiến tranh đã bao lần diễn ra trên cánh đồng Mường Thanh. Mãi đến năm 1777, phủ Ðiện Biên mới chính thức được thành lập, cuộc sống yên bình trở lại, dân cư bắt đầu tụ tập, ổn định và xây dựng cuộc sống. Do vị trí địa lý độc đáo, nơi “một tiếng gà gáy ba nước đều nghe thấy”, trong cùng lòng chảo khá phồn thịnh, nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa bản địa, người Lào, người Myanmar và cả các dân tộc miền nam tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Từ Ðiện Biên, hàng hoá-chủ yếu là hàng nông thổ sản của vùng Tây Bắc, được vận chuyển qua cửa khẩu Tây Trang, cách thành phố 30km về phía Tây, để sang Lào, Thái Lan và Myanmar, đổi lấy hàng tiêu dùng.
Bên dưới vẻ phù hoa của Phố Cũ, đằng sau nét tráng lệ của những con đường và biệt thự nơi Phố Mới, có một nét đẹp riêng của phủ Ðiện Biên dễ làm say lòng khách phương xa: người Kinh, người Thái, người H’ Mông… mỗi dân tộc có lối sống riêng, có nền văn hoá riêng, trang phục riêng nhưng đều thật thuần khiết và mến khách. Ta có thể gặp họ bất cứ ở đâu, trong buổi chợ sớm bên cầu Mường Thanh, ven con đường bụi bặm dẫn về bản, trong phòng đợi của sân bay Ðiện Biên… Những con người ấy, cùng với thiên nhiên nguyên sơ tươi đẹp lại thấm đẫm những bi hùng của lịch sử ấy, mới đích thực là vốn quý, là sức hấp dẫn của Ðiện Biên Phủ mà không nơi nào có được.
Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã có di tích được công nhận là một trong những di sản văn hoá dân tộc như “Bia thơ Lê Lợi “. Văn thơ bao gồm 135 chữ Hán, trong đó có 8 câu thơ luật Đường được khắc chìm trên núi đá vôi, là một lời dạy về cách trị dân giữ nước. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đỉnh đồi Ông Thượng thuộc TX Hoà Bình không những là nơi giáo dục truyền thống, nhắc nhở cho thế hệ mai sau luôn ghi nhớ công ơn của Người mà còn là một phần đặc biệt không thể thiếu trong quần thể kiến trúc – văn hoá – xã hội trên sông Đà ngày hôm nay.
- Các lễ hội
Lễ hội là một trong những hoạt động văn hoá tinh thần có giá trị đối với nhân dân ta. Trong lễ hội luôn bao hàm một tâm tưởng vừa kín đáo, sâu xa, vừa lan toả bao trùm là sự thờ cúng các vị thần thánh, sự nhớ ơn đối với tổ tiên, với những người có công. ở lễ hội con người luôn được hoà mình sống trong một cộng đồng làng xóm với những nét truyền thống được hình thành từ xa xưa, được sàng lọc và truyền lại cho đến nay. ở Tây Bắc, lễ hội là một trong những tài nguyên nhân văn có giá trị đối với hoạt động du lịch của vùng. Tiêu biểu nhất là “hội Sắc bùa” của người Mường, “hội Chá chiêng” của người Thái.
Hội “Sắc bùa”: khi mùa xuân đến, tiếng cồng xuân vang rộn rã khắp bản Mường, trong dịp này các Mường tổ chức các phường chiêng, mỗi phường có ít nhất là 15-16 người gọi là “phường bùa”, trong hội có âm nhạc múa hát tập thể, hát giao duyên, các trò chơi bắn nỏ, tung còn… Thực chất của hội là hoạt động sinh hoạt văn nghệ không có nghi lễ cúng mo, then. Ngoài hội mùa xuân, các dịp lễ khác trong năm đều có thể tổ chức hội “Sắc bùa”.
Hội “Chá chiêng”: ngày hội của người Thái giống hội “Sắc bùa” của người Mường ở điểm cũng là sinh hoạt văn hoá – văn nghệ nhưng khác ở chỗ có nghi lễ cúng mo, then. Hội được diễn ra trong một ngày và kéo dài suốt đêm. Trong hội có múa, hát, diễn trò, uống rượu cần, hái hoa xem vận mệnh. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Ngoài ra còn có các lễ hội của người Tày vào mùa xuân (từ mùng 3- mùng 5 Tết Nguyên Đán), hội xuân leo núi của người H‟Mông vào đầu năm hay hội cầu mưa vào những tháng khô hạn…Các lễ nghi của các dân tộc như cưới hỏi, mừng nhà mới, mừng được mùa… rất độc đáo và hấp dẫn du khách. Khu vực có chùa, đền thì lễ hội thường được tổ chức vào mùa xuân hàng năm. Khách thập phương tới đây để dâng hương, du ngoạn nhằm giải toả những điều phiền muộn và cầu xin phước lành, may mắn cho một năm mới.
- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Địa bàn Tây Bắc là nơi cư trú của rất nhiều dân tộc anh em như dân tộc Mường, dân tộc Kinh, các dân tộc Thái, Tày, H‟Mông, Dao. Dân số của vùng chủ yếu là người dân tộc ít người. Đây chính là yếu tố tạo nên sự đa dạng, nét độc đáo của văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc – sức hấp dẫn chủ yếu đối với khách du lịch thời gian qua, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Nét độc đáo của văn hoá các dân tộc ít người ở vùng cao Tây Bắc thể hiện qua hình thức quần cư và kiến trúc nhà ở, lễ hội, ẩm thực, nghệ thuật múa hát, thi ca, trang phục, nghề thủ công truyền thống…
Hình thức quần cư và kiến trúc nhà ở: Một trong những bản sắc văn hoá độc đáo còn lưu giữ được của các dân tộc ít người ở Tây Bắc chính là phong cách kiến trúc truyền thống, thể hiện rõ nét nhất qua dạng quần cư làng bản và kiến trúc nhà sàn. Cũng là một kiểu quần cư làng bản, cùng một dạng kiến trúc nhà sàn, song ở mỗi dân tộc như: Thái, Mường, Tày… đều có những đặc trưng riêng biệt.
Bản làng người Mường rất dễ nhận thấy bởi nhiều loại cây ăn trái và lấy gỗ có trong vườn. Cũng như dân tộc Thái, Tày, nhìn chung về bố cục trong nhà sàn dân tộc Mường phản ánh một số trật tự xã hội mang tính phụ quyền. Nhà được chia thành nhiều buồng: có nơi dành riêng cho nam giới để tiếp khách, sinh hoạt và nơi thờ tổ tiên, nơi dành riêng cho công việc bếp núc và thêu thùa của phụ nữ… Bản Mường Tây Bắc nói chung còn giữ được nguyên vẹn những phong tục, tập quán vô cùng phong phú và độc đáo của dân tộc Mường như các nếp nhà sàn truyền thống, hệ thống dẫn nước, nếp sinh hoạt, phương thức làm ruộng, lễ hội truyền thống… Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Bản làng của người Thái cũng được xây dựng gần giống với người Mường với đặc trưng là nhà sàn. Nhưng nhà sàn của người Thái rộng hơn và được sắp xếp có qui củ hơn so với nhà sàn của người Mường. Cách tổ chức không gian trong bản làng người Thái cũng trật tự hơn so với bản làng người Mường và bản làng người Tày, Dao hay Mông. Những bản làng của người Thái hiện đang được khai thác cho hoạt động du lịch tập trung ở khu vực thung lũng Mai Châu, huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình như bản Văn, bản Lác, bản Tòng…nằm dưới các chân núi, ven các cánh đồng ruộng bậc thang. Không gian yên bình nơi đây luôn có sức hấp dẫn lớn đối với du khách.
Nhạc cụ dân tộc : Nhạc cụ chiêng và diễn tấu chiêng là một loại hình nghệ thuật âm nhạc có từ rất xa xưa và có vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào Mường. ở các lễ hội, dịp Tết, dịp cưới xin, khi ma chay hay khi đón khách, chiêng đều được sử dụng trong phường bùa đệm cho hát, cho múa, sử dụng để tập hợp quần chúng làm hiệu lệnh khi săn bắn, báo động…
Từ xa xưa, trong các Mường– một dàn chiêng cồng đủ bộ phải có 12 chiếc. Người ta cho rằng dàn chiêng như vậy là biểu tượng của 12 tháng trong năm. Luôn đi cùng với đời sống văn hoá tinh thần của người Mường, nhạc cụ cồng chiêng đã phát triển trên một trình độ cao, hình thành nên một loại hình nghệ thuật sân khấu mới. Bên cạnh dàn chiêng là sáo Ôi – loại sáo được làm từ một ống nứa đường kính 2cm và dài 70cm. Sáo có âm thanh trầm bổng và sâu lắng, có thể diễn độc tấu hoặc đệm hát dân ca Mường. Ngoài ra người Mường còn có các nhạc cụ khác như khèn, đàn tam, đàn tứ,… tất cả tập hợp thành một dàn nhạc sống động và mang nét độc đáo của người Mường.
Người Thái có nhạc cụ truyền thống là trống đồng, khèn bì, pí (sáo), đàn tà pu… Ngưòi H‟Mông với nhiều bản nhạc không lời phản ánh tất cả hiện thực cuộc sống thông qua các nhạc cụ như đàn môi, kèn, sáo, khèn lá… Những làn điệu khèn như thể hiện tình cảm của con người, lúc tha thiết, lúc du dương, gợi nhớ, sống động.
Nghệ thuật múa hát: Múa hát là những hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ luôn có trong đời sống của các dân tộc Tây Bắc. Mỗi dân tộc đều có những làn điệu múa hát riêng biệt, mang bản sắc văn hoá và phong tục tập quán của dân tộc mình.
Dân tộc Mường có những làn điệu ví, hát ru… mỗi loại mang một nội dung khác nhau. Đồng thời nghệ thuật Mường cũng phát triển từ xa xưa đến nay với nhiều loại múa như trong tang ma (tế kiếm, dâng cơm, dâng lễ) rất nghiêm trang. Múa trong trò đồng dao của trẻ con : “Nàng Khọt”, “Mặt Nạ” đầy ngộ nghĩnh hay những điệu múa nhịp nhàng uyển chuyển, tươi vui trong các ngày hội mùa như : múa trống đồng, múa sạp. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Người Thái cũng có những làn điệu hát xoè, hát khắp có giá trị nghệ thuật không kém những làn điệu múa, hát của dân tộc Mường. Điệu xoè Thái cũng là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian phát triển mạnh, có cội nguồn từ xa xưa và có những điệu xoè khác nhau : xoè ống bổng, xoè chá, xoè vòng, mừng nhà mới.
Ngoài ra chúng ta cần nhắc đến các làn điệu múa, hát của người H‟Mông, người Dao, các làn điệu dân ca, lượm coi của người Tày…Tuy nhiên, hiện nay các làn điệu này còn chưa được nghiên cứu phát triển và khai thác có hiệu quả cho hoạt động du lịch. Trong tương lai, Tây Bắc cần có sự nghiên cứu, đầu tư nhằm khai thác vốn văn hoá của các dân tộc, phục vụ tốt hơn cho du lịch.
Kho tàng văn học dân gian : Các dân tộc Tây Bắc có một kho tàng văn học dân gian tương đối lớn, gồm nhiều thể loại : truyện cổ, truyện kể, truyện ngụ ngôn, thần thoại, ca dao, tục ngữ… Dân tộc Mường có những sử thi nổi tiếng như : Đẻ đất, Đẻ nước, dân tộc Thái có sử thi : ẵm ệt luông. Ngoài ra còn phải kể đến các trường ca của người Mông như: Tiếng hát người làm dâu, Tiếng hát người mồ côi… là những áng thơ đặc sắc vẫn còn giữ cho đến ngày nay cùng hàng loạt các truyện ngụ ngôn, thần thoại phản ánh cuộc sống lao động của con người, tình cảm yêu thương của con người với nhau và những hy vọng, mơ ước của con người gửi vào đó.
Truyện cười của các dân tộc cũng là một kho tàng vũ khí dùng để đả kích giai cấp thống trị, các quan lang xưa kia. Trong đó, người Tày cũng có hai mảng văn học như người Kinh : văn chương truyền miệng, văn học thành văn.
Như vậy có thể thấy kho tàng văn học dân gian của các dân tộc Tây Bắc rất phong phú, có giá trị. Đây là những tài nguyên quý giá để hình thành nên những sản phẩm du lịch văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc, cuốn hút du khách tới vùng cao Tây Bắc.
Nghề thủ công và trang phục truyền thống: Nghề thủ công của các dân tộc ở Tây Bắc chủ yếu là nghề dệt thổ cẩm, đan lát… Từ những bàn tay và khối óc sáng tạo, họ đã tạo ra những tấm thảm vải tràm, lanh với nhiều sắc màu khác nhau và màu tràm đã đi vào trang phục đời sống, được chấp nhận như một biểu tượng truyền thống. Ngoài ra, trước kia các dân tộc còn có nghề rèn, đúc đồng, chạm bạc, nhưng cho đến nay gần như không còn nữa.
Về trang phục dân tộc truyền thống, ở Tây Bắc có bao nhiêu dân tộc thì có bấy nhiêu trang phục truyền thống khác nhau. Nhìn chung trong trang phục các dân tộc ta thấy có một điểm chung là dùng khăn, áo váy, thắt lưng của nữ, đồ trang sức bằng bạc như vòng cổ, vòng tay…chỉ khác kiểu cắt may, hoa văn trang trí, mầu sắc.
- Dân tộc Mường : Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Người Mường, trang phục nữ có những chiếc váy bó sát thân, cạp hoa với những đường nét hoa văn tinh tế mô phỏng hoa văn trên mặt trống đồng phô trước ngực, chiếc áo cánh lửng, vòng kiềng, khăn đội đầu, áo choàng buộc cạp thắt lưng xanh. Còn nam phục thì áo ngắn, áo chùng, quần thắt lưng, khăn, dáng khoẻ khắn, vừa vặn. Nói chung trang phục Mường không diêm dúa, không dư thừa mầu sắc và cũng không quá kín đáo, thậm chí trang phục của phụ nữ Mường còn được đánh giá là hết sức độc đáo và gợi cảm. Nét gợi cảm không lộ liễu mà ẩn trong những sắc thái riêng qua đường nét may, qua mầu sắc trang trí.
- Dân tộc Thái :
Người Thái có trang phục đa dạng và độc đáo nhưng rất nhẹ nhàng, màu phổ biến là màu xanh và trắng với hoa văn trang trí mang biểu tượng thiên nhiên đa dạng: chim muông, cây cỏ, mặt trời… trong đó, những chiếc thắt lưng và khăn piêu của các cô gái Thái, cũng giống như những chiếc cạp váy của các cô gái Mường, thực sự là những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo.
- Dân tộc H’Mông:
Người H‟Mông thường sống ở sườn núi sơn nguyên, có độ cao trung bình 700-800m. Họ thường tạo riêng cho mình các làng, nhà của người Mông thường quay lưng vào núi, nhà 3 gian hoặc 5 gian làm bằng gỗ.
Những sinh hoạt văn hóa của người H‟Mông thường gắn với chợ phiên, ngày tết, ngày lễ, các cuộc sinh hoạt văn hóa này thường mang tính giao hòa gặp gỡ, mừng đón xuân về, ăn mừng vào vụ mùa…bên cạnh đó còn có những lễ hội khác khuyến khích sức mạnh và lòng dũng cảm như: Tổ chức đua ngựa, bắn cung, bắn nỏ.
Người H‟Mông có tiếng hát làm đầu và nghề rèn đúc khoan nòng súng kíp. Điệu múa ô theo tiếng khèn thường gặp nhất trên các bản có dân tộc H‟Mông sinh sống. Các nhạc cụ của người H‟Mông từ đơn giản như những chiếc lá làm kèn đến những chiếc sáo, chiếc khèn thể hiện những nhạc cụ tinh tế, đầy khéo léo sáng tạo.
Người phụ nữ H‟Mông có trang phục mầu chàm, mặc áo dài tới đầu gối, xẻ giữa có thêu hoa văn bằng chỉ mầu tại nẹp áo. Bên ngoài khoác một áo gilê cánh dài, có cổ thêu hoa văn làm bằng sợi lanh kèm theo một thắt lưng được thêu rất tỉ mỉ với các hoa văn hình chữ S nằm ngang, phụ nữ Mông mặc quần cộc đến đầu gối, quấn xà cạp tại ống chân, đi dép nhựa hoặc giày vải, đầu để tóc dài quấn trong khăn xếp. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Nam giới có trang phục mầu chàm, mặc quần rộng ống dài, áo sơ mi thường được thêu ở hai cổ tay, một áo cánh gilê ở bên ngoài dệt bằng lanh, áp cổ thêu hoa văn.
Khách du lịch đến vùng dân tộc H‟Mông chứng kiến những vật phẩm như: dao tự rèn đúc, khẩu súng kíp…. tất cả đều làm bằng thủ công nhưng rất tinh xảo. Tiếp đến du khách được ngắm nhìn những bộ váy áo rực rỡ của các cô gái H‟Mông mà chính họ phải tự tay làm trong một năm mới hoàn thành.
- Dân tộc Dao:
Người Dao thường cư trú tại một vùng nhất định, người Dao thường sống ở lưng trừng núi, người Dao có hai kiểu nhà, nhà đất và nhà sàn, bộ phận ở nhà đất đông hơn.
Trang phục của đồng bào Dao nhất là phụ nữ rất phong phú, chất liệu chủ yếu là vải sợi bông tự dệt, mầu nền phần nhiều là mầu chàm, mầu xanh đen. áo của phụ nữ dao phần lớn là áo dài, cài cúc thẳng giữa ngực hoặc khép hai vạt lại rồi thắt lưng, quần ống hẹp, phụ nữ dao đỏ trên yếm đính những tua bông màu đỏ rất đẹp, trên đầu đội khăn đen thêu hoa nhiều màu.
Nếu nói bản sắc văn hoá dân tộc thì vô cùng phong phú, đa dạng, những mặt hàng thổ cẩm văn hoa đặc trưng, chiếc khăn piêu của thiếu nữ Thái, vành khăn quấn đầu của người H‟ Mông, tiếng khèn bè dập dìu đêm khuya, chiếc gùi tre, ống nước… chỉ khái quát như vậy cũng đã thấy một tài nguyên quý giá cho nền công nghiệp du lịch vùng Tây Bắc vươn tới.
Sự độc đáo của trang phục các dân tộc vùng Tây Bắc là một nét văn hoá góp phần làm tăng sức hấp dẫn đối với du khách.
Văn hoá ẩm thực: Không những nổi tiếng về những cảnh đẹp hay các phong tục truyền thống, các dân tộc sinh sống trong vùng Tây Bắc còn có nền văn hoá ẩm thực phong phú với những món ăn dân tộc độc đáo và hấp dẫn, ngon miệng được truyền tụng từ lâu. Các món ăn đặc sản như măng chua, chả lá lốt, chả lá bưởi, cơm lam … hoà cùng hương vị men lá thơm ngon của rượu cần sẽ làm say lòng du khách.
2.2.3 Các yếu tố kinh tế xã hội Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp và đứng trước nhiều khó khăn. Tuy mấy năm gần đây nền kinh tế của các tỉnh đã có khởi sắc, xuất hiện một số điển hình làm ăn khá là nhân tố thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của vùng, sản xuất nông lâm, công nghiệp và dịch vụ phát triển, đời sống nhân dân có sự cải thiện, an ninh quốc phòng giữ vững. Tuy nhiên kinh tế Tây Bắc vẫn phát triển chậm so với nhiều vùng trong cả nước, đang đứng trước nhiều khó khăn gay gắt. Tổng GDP năm 1995 mới chiếm 1,73% so với cả nước, GDP/người chỉ bằng 61,1% so với mức trung bình của cả nước, tỷ lệ huy động ngân sách và tích luỹ đầu tư từ GDP đều thấp so với cả nước. Thu không đủ chi, tỉnh thu ngân sách cao nhất như Hoà Bình cũng mới đảm bảo được 49% của chi, còn tỉnh thu thấp như Lai Châu chỉ đảm bảo được 15% của chi thường xuyên, số ngân sách thiếu hụt phải trông chờ Trung Ương viện trợ. Cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm, tỷ trọng nông lâm nghiệp còn chiếm lớn (59%), công nghiệp, xây dựng, dịch vụ chiếm có 29,7%. Công nghiệp vùng quá nhỏ bé (trừ thủy điện Hòa Bình) nên chưa có tác động nhiều đến nông – lâm nghiệp. Số lượng, giá trị hàng hoá xuất ra khỏi vùng còn ít, chủ yếu là xuất nguyên liệu, số lượng mặt hàng ít, sức cạnh tranh kém, sản xuất nông lâm nghiệp tuy có tiến bộ nhưng vẫn còn lạc hậu so với nhiều vùng, phương thức canh tác nương rẫy, chọc lỗ bỏ hạt vẫn còn tồn tại trong một số dân tộc, nên năng suất nông nghiệp còn thấp, chỉ bằng 40 – 50 % so với mức trung bình của cả nước. Phân công lao động chưa có chuyển biến tích cực, lao động nông lâm nghiệp còn chiếm tới 85,4%, là vùng đất rộng, người thưa nhưng còn tới 9,3% lao động chưa bố trí được việc làm, ở một số vùng nông thôn rộng lớn các ngành thương mại dịch vụ chưa phát triển. Những nơi có cửa khẩu, việc lợi dụng phát huy còn yếu. Các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hoạt động yếu; du lịch tuy có tiềm năng nhưng chưa được phát huy đầy đủ. Công tác giáo dục, y tế văn hóa, xã hội còn nhiều yếu kém… đây đang là những vấn đề nổi cộm cần quan tâm. Đời sống nhân dân vùng sâu, xa, biên giới còn nhiều khó khăn, phân hóa giàu nghèo rõ rệt. Số hộ đói nghèo còn nhiều (toàn vùng tới trên 40%, vùng cao xa 70%), số người mù chữ chiếm trên 50% dân số, các vùng cao, xa chiếm trên 80%, tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, mê tín còn nhiều là những khó khăn trở ngại lớn cho quá trình phát triển. (Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch Đầu tư)
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ diễn ra chậm, đội ngũ lao động dịch vụ chiếm tỷ trọng quá thấp trong tổng số, không những thế, trình độ nói chung của lao động ở đây lại thấp dẫn đến tình trạng thiếu lao động chuyên nghiệp có trình độ và lao động nói chung cho phát triển du lịch. Điều này dẫn đến chất lượng dịch vụ du lịch không cao, ảnh hưởng đến chất lượng tour và sự hài lòng của khách, làm giảm sức hấp dẫn du lịch và giảm chi tiêu của khách khi đến vùng Tây Bắc.
Đại bộ phận dân cư của tỉnh hiện sống bằng nghề nông. Điều này là hạn chế đối với phát triển du lịch của vùng Tây Bắc ở 2 điểm: thứ nhất thu nhập từ nghề nông thấp dẫn đến mức sống thấp nên người dân ít có điều kiện thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi du lịch dẫn đến hạn chế nguồn khách nội tỉnh; thứ hai như ở trên đã đề cập là trình độ lao động trong khu vực này không cao nên ngay cả khi phát triển du lịch cộng đồng thì khả năng đáp ứng của người dân trong việc cung cấp dịch vụ cho du khách cũng sẽ hết sức hạn chế. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Các sản phẩm của các ngành kinh tế ở vùng Tây Bắc, đặc biệt là sản phẩm ngành nông nghiệp có ý nghĩa khá quan trọng đối với phát triển du lịch. Ngoài việc cung cấp nguồn lương thực thực phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của du khách, các sản phẩm của ngành nông nghiệp cùng với sản phẩm của ngành thủ công nghiệp còn là nguồn cung cấp các đặc sản, đáp ứng nhu cầu mua sắm cho du khách.
2.2.4 Cơ sở hạ tầng
2.2.4.1. Hệ thống giao thông
- Giao thông đường bộ :
Kết cấu hạ tầng hết sức yếu kém, về đường giao thông, có hơn 1300 km đường quốc lộ chạy qua, lòng đường tương đối rộng và nền đường phần lớn đã được cứng hoá bằng đá, nhưng mặt đường rất xấu, phần lớn là đá, đất trộn với nhau rải lổn nhổn, xe cộ đi lại hết sức khó khăn, tỷ lệ mặt đường rải nhựa chỉ chiếm khoảng 9%. Đường tỉnh, đường huyện, đường xã thì phần lớn là đường hẹp, nền, mặt đường hầu hết là bằng đất gồ ghề đi lại khó khăn trong tất cả các mùa. Giao thông nông thôn chậm phát triển, đến nay vẫn còn trên 40 xã chưa có đường ôtô vào được đến trung tâm. Giao thông tuyến trục dọc còn thiếu và xấu nhưng cũng còn đi lại được, các trục giao thông tuyến ngang thì hầu như chưa phát triển nên việc giao lưu kinh tế và sự đi lại của nhân dân trong vùng với nhau là rất khó khăn, hầu hết phải đi vòng (gần mà hoá xa), tốn rất nhiều công sức và thời gian. Tuy có đường thuỷ, đường hàng không nhưng chưa được khai thác triệt để do thiếu đầu tư. (Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch Đầu tư)
Mấy năm trở lại đây, nhìn chung đường giao thông ngày càng mở mang và vững chắc, việc nâng cấp làm lại đường xá đã làm cho việc giao lưu giữa các huyện, các vùng ngày càng thuận lợi. Mạng lưới giao thông nông thôn được củng cố, hệ thống đường dân sinh, đường thôn bản được xây dựng và qui chuẩn dần, bước đầu là loại đường cấp thấp.
Các tuyến đường bộ thuộc các cấp ngày càng mở rộng đến các vùng sâu vùng xa là điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tài nguyên cho phát triển du lịch, đặc biệt là các tài nguyên cho phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, những loại hình du lịch được coi là công cụ hữu hiệu cho phát triển du lịch bền vững. Việc phát triển du lịch ở các khu vực này còn có ý nghĩa rất lớn đối với công tác xoá đói giảm nghèo ở đây. Song trong tương lai vẫn còn cần đến sự đầu tư của tỉnh cũng như của các ngành liên quan, nhất là đối với các tuyến đường ở nông thôn, ở các vùng sâu, vùng xa.
- Giao thông đường thuỷ: Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Nhìn chung, hệ thống giao thông đường thủy tại vùng Tây Bắc còn nhiều yếu kém và khó khăn trong vấn đề tiếp cận. Chủ yếu các phương tiện qua lại trên hệ thống các con sông của các tỉnh vùng Tây Bắc như Hòa Bình, Sơn La… đều là những phương tiện thô sơ, không hiện đại do thiếu sự đầu tư thỏa đáng. Các tuyến vận chuyển chủ yếu phục vụ dân sinh, phương tiện phần lớn là thuyền máy, chưa khai thác phục vụ vận chuyển khách du lịch.
- Giao thông đường hàng không:
Cả vùng Tây Bắc hiện nay chỉ mới có sân bay Điện Biên là được đưa vào hoạt động phục vụ vận chuyển khách. Trong tương lai, tỉnh Lào Cai đang xin Chính phủ xây dựng sân bay và mở đường bay từ các sân bay trong nước tới Lào Cai. Tuy nhiên, vận chuyển bằng đường hàng không hiện tại cũng chưa phải là thế mạnh của vùng Tây Bắc.
Như vậy, để có thể mở rộng việc khai thác du lịch ở các vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc ít người thì mạng lưới giao thông còn cần được đầu tư nhiều hơn nữa. Ngay đối với các tuyến đường hiện có cũng cần đầu tư nâng cấp hơn nữa đối với việc tiếp cận, rút ngắn thời gian đi lại để kéo dài thời gian lưu trú của khách cũng như hấp dẫn du khách đến với các điểm du lịch của vùng cao Tây Bắc.
2.2.4.2 Hệ thống thông tin liên lạc
Thông tin liên lạc là điều kiện cơ sở hạ tầng quan trọng, muốn phát triển kinh tế xã hội nói chung và du lịch nói riêng, phải phát triển thông tin liên lạc đồng bộ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và phức tạp của du khách.
Trong tương lai hệ thống thông tin liên lạc sẽ đáp ứng đủ nhu cầu của các cơ sở kinh tế, xã hội và dịch vụ.
2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch vùng Tây Bắc Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Số lượng khách du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và các đặc điểm về thị trường khách là các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ phát triển du lịch của một khu, điểm, vùng du lịch hay là một quốc gia. Các chỉ tiêu về khách phản ánh mức độ phát triển của điểm du lịch, sức hấp dẫn của điểm du lịch, tiềm năng thu hút các thị trường khách của điểm du lịch, xu hướng phát triển, cũng như có thể kiểm nghiệm việc phát triển thị trường khách hiện tại đã đúng định hướng chưa và có phù hợp với điểm du lịch không v.v…
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan nên trên thực tế từ trước đến thời điểm hiện tại chưa có một thống kê, đanh giá chính thức nào về hiện trạng khách du lịch nói riêng cũng như hiện trạng hoạt động, phát triển du lịch của cả vùng Tây Bắc nói chung. Vì vậy, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ xin phép được đưa ra một phần nào những so sánh giữa các địa phương trong vùng nhằm minh họa cho thực trạng phát triển du lịch của vùng mà thôi.
2.3.1 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Hòa Bình
Hoà Bình là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển du lịch. Lượng khách du lịch tới Hoà Bình trong thời gian qua gia tăng khá nhanh, từ 142.000 lượt khách năm 1996 lên đến 208.000 lượt khách vào năm 2000 và 275.000 lượt khách năm 2004, đạt mức tăng trưởng trung bình 7,6%/năm. Mức tăng trưởng này đánh dấu bước triển vọng mới đối với du lịch Hoà Bình. Tuy nhiên, sự gia tăng này không đồng đều giữa khách quốc tế với khách nội địa.
2.3.1.1 Khách du lịch
Khách du lịch quốc tế : Hiện nay số lượng khách du lịch quốc tế đến Hoà Bình còn rất hạn chế; trung bình chỉ chiếm 11% tổng số khách du lịch hàng năm của tỉnh, riêng năm 2004 thậm chí chỉ còn hơn 8,7%. Nếu so sánh với lượng khách quốc tế đến Hà Nội, Ninh Bình hay Hà Tây thì Hoà Bình chỉ đón được lượng khách quốc tế rất nhỏ.
Trong giai đoạn từ 1996 đến 2004 số lượng khách du lịch quốc tế đến Hoà Bình tăng giảm khá thất thường; Năm 1996 đạt 18.300 lượt khách, đến năm 2000 đạt 21.443 lượt, tăng 23,8% so với năm 1996. Sau đó biểu đồ lượng khách quốc tế đến Hoà Bình giai đoạn 2000 đến 2004 có dạng hình sin đi lên (phụ lục 4). Số liệu thống kê đến cuối tháng 12 năm 2005 cho thấy số lượng khách quốc tế đến Hoà Bình năm 2005 tiếp tục tăng (đạt 28.800 lượt khách). Đây là dấu hiệu đáng mừng cho du lịch Hòa Bình. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Khách du lịch quốc tế đến Hoà Bình có ngày lưu trú bình quân tăng nhanh trong giai đoạn vừa qua. Năm 2004 khách du lịch quốc tế có ngày lưu trú trung bình đạt 1,5 ngày (tăng 0,5 ngày so với năm 2000). Đây là mức gia tăng tương đối lớn. Sự gia tăng ngày lưu trú trung bình của khách, đặc biệt là khách quốc tế đến Hoà Bình, cho thấy các sản phẩm du lịch đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của khách, cũng như có tính hấp dẫn hơn.
Mức chi tiêu trung bình/ngày của khách quốc tế đến Hoà Bình còn rất thấp so với mức chi tiêu trung bình khách của cả nước. Tuy nhiên con số này cũng đang gia tăng với tốc độ khá. Năm 2000 mức chi trung bình của khách quốc tế mới đạt xấp xỉ 10USD/ngày nhưng đến năm 2004 đã đạt 20USD/ngày. Mức chi tiêu trung bình gia tăng bên cạnh nguyên nhân do sự gia tăng của giá cả còn có nguyên nhân khác nữa là do các sản phẩm và dịch vụ du lịch của Hoà Bình đã bước đầu được chú ý nâng cấp chất lượng và đa dạng hoá loại hình nhằm hấp dẫn khách hơn, thu hút khách chi trả nhiều hơn.
Khách du lịch nội địa : Khách du lịch nội địa là thị trường khách chính của Hoà Bình. Số lượng khách du lịch nội địa đóng vai trò quan trọng, nâng tổng số khách du lịch đến Hoà Bình ngang bằng với nhiều tỉnh có ngành du lịch phát triển. Tuy nhiên, khách du lịch nội địa có khả năng chi trả thấp và do đó khả năng đóng góp cho tổng doanh thu của ngành còn hạn chế. Tuy nhiên nếu có những chính sách, những định hướng về sản phẩm, giá cả phù hợp thì sẽ hấp dẫn và thu hút được thị trường khách nội địa ở các tỉnh phụ cận. Với những thị trường này thì các sản phẩm du lịch của Hoà Bình có khả năng đáp ứng và cạnh tranh.
So sánh với các tỉnh phụ cận như Hà Nam, Sơn La, Phú Thọ thì Hoà Bình có lượng khách du lịch nội địa khá lớn song con số này lại khá khiêm tốn so với hai tỉnh liền kề là Ninh Bình và Thanh Hoá, đặc biệt là còn quá ít so với Hà Tây và Hà Nội. Tuy nhiên, lượng khách nội địa đến Hoà Bình cũng có mức tăng trưởng trung bình cao, tăng 8,7%/năm (thời kỳ 1998 – 2004). Năm 2004 có 251.000 lượt khách nội địa đến Hoà Bình, tăng 12,5% so với năm 2003.
Ngày lưu trú trung bình của khách du lịch nội địa đến Hoà Bình không cao. Trong giai đoạn 2000- 2004 chỉ tiêu này ít thay đổi và chỉ đạt khoảng 1,2 ngày. So sánh với các địa phương khác thì số ngày lưu trú trung bình của khách nội địa ở Hoà Bình còn thấp. Với số ngày lưu trú trung bình thấp như hiện nay thì khả năng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh khách sạn còn gặp nhiều khó khăn. Như vậy, vấn đề tạo sản phẩm mới và đa dạng các dịch vụ du lịch để kéo dài ngày lưu trú trung bình của khách và tăng nhu cầu sử dụng các dịch vụ lưu trú để tăng mức chi tiêu của khách là rất cần thiết.
Khách du lịch nội địa có mức chi tiêu trung bình/ngày ít biến động trong thời gian qua; trong hai năm trở lại đây có mức tăng trưởng thấp. So với năm 2000, mức chi trung bình của khách du lịch nội địa đến Hoà Bình đã tăng lên 60.000đ/ngày, đạt hơn 150.000đ/khách/ngày. Trong định hướng phát triển du lịch của Tỉnh một mặt thu hút ngày càng nhiều số lượng khách, mặt khác xây dựng các sản phẩm phù hợp để lưu giữ khách dài ngày và tăng khả năng chi tiêu của khách, từ đó nâng cao doanh thu và hiệu quả kinh doanh du lịch. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
2.3.1.2. Doanh thu du lịch
Doanh thu từ du lịch bao gồm tất cả các khoản thu do khách du lịch chi trả, như doanh thu từ lưu trú và ăn uống; từ vận chuyển khách du lịch; từ bán hàng lưu niệm và từ các dịch vụ khác v.v…Từ năm 2000 đến năm 2004 lượng khách du lịch đến Hoà Bình có xu hướng gia tăng kéo theo sự tăng trưởng về doanh thu. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở vật chất còn nhiều yếu kém, hệ thống khách sạn chưa đồng bộ, hệ thống nhà hàng còn đơn điệu, chưa có nhà hàng cao cấp, có ít các món ăn đặc sản của địa phương… chưa đáp ứng được cho nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch là những nguyên nhân chính khiến doanh thu du lịch Hoà Bình còn thấp và làm ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch của tỉnh.
Theo số liệu của Sở Thương mại – Du lịch Hoà Bình, trong vòng 6 năm trở lại đây doanh thu du lịch đã có những chuyển biến nhất định. Tốc độ tăng trưởng bình quân về doanh thu giai đoạn 1998 – 2004 đạt 16% (năm 1998 đạt 9,25 tỷ đồng và đến năm 2004 con số này đã tăng lên 22,5 tỷ đồng). Cơ cấu doanh thu của khách quốc tế và nội địa có sự khác nhau rõ rệt:
- Khách quốc tế chi chủ yếu cho lưu trú và ăn uống (khoảng 60 – 65%); chi cho mua sắm hàng hóa lưu niệm, khoảng 15 – 20%; còn lại là chi cho vận chuyển và các dịch vụ khác.
- Khách nội địa chi nhiều cho lưu trú và ăn uống, chiếm khoảng 70 – 95% tổng doanh thu du lịch nội địa.
2.3.1.3. Tổng sản phẩm ngành du lịch (GDP)
Giai đoạn 2000 – 2004, tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước đạt khoảng 12,7%, trong đó tỷ trọng GDP của ngành thương mại – dịch vụ chiếm trung bình 38,2% với mức tăng trưởng bình quân đạt 9,7%. Nằm trong khối thương mại – dịch vụ, năm 2004 tổng sản phẩm quốc nội ngành du lịch Việt Nam đạt 18,2 ngàn tỷ đồng.
Thời gian gần đây, nền kinh tế của Hoà Bình đã có bước phát triển đáng kể. Cơ cấu nền kinh tế toàn tỉnh có xu hướng chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ mặc dù tốc độ còn chậm. Năm 2000 tỷ trọng ngành công nghiệp đạt 16,74% thì đến năm 2003 đã chiếm tỷ trọng 19,5%.
Việc đầu tư xây dựng các khu công nghiệp dọc hai bờ sông Đà khu vực TX Hoà Bình chắc chắn sẽ góp phần làm thay đổi căn bản bức tranh toàn cảnh về phát triển kinh tế của tỉnh, tạo động lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh những năm tiếp theo. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, được xác định là ngành kinh tế chủ đạo, thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác [85]. Tuy nhiên đóng góp của ngành du lịch vào tổng GDP của toàn tỉnh còn rất khiêm tốn, năm 2003 GDP ngành du lịch Hoà Bình đạt xấp xỉ 19,51 tỷ đồng và chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 0,99% trong tổng GDP toàn tỉnh. Điều này khẳng định doanh thu du lịch Hoà Bình còn thấp, ngành du lịch Hoà Bình mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển, chưa phát huy được hết tiềm năng sẵn có của mình.
2.3.1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm các cơ sở lưu trú, cơ sở phục vụ ăn uống, các cơ sở thể thao và vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển và các cơ sở phục vụ du lịch khác. Chính vì vậy cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là một trong những cấu thành quan trọng của sản phẩm du lịch, là tiêu chí cho sự lựa chọn của du khách. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là yếu tố tạo nên sự độc đáo, sự khác biệt của sản phẩm du lịch, tạo dựng hình ảnh riêng cho một điểm du lịch.
Cơ sở lưu trú: Cơ sở lưu trú bao gồm, khách sạn, nhà nghỉ, motel, làng du lịch, khu du lịch, bungalow… Việc thiết kế và phát triển các loại hình cơ sở lưu trú hợp lý không những sẽ tạo ra sự độc đáo, hấp dẫn của điểm du lịch, mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả đầu tư.
Trong những năm gần đây, hệ thống cơ sở lưu trú tỉnh Hoà Bình đã có sự phát triển về số lượng và chất lượng. Năng lực cơ sở lưu trú toàn tỉnh năm 1991 là 5 khách sạn, nhà nghỉ với 99 phòng, đến năm 2004 số cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh tăng lên 79 khách sạn, nhà nghỉ với 859 phòng và 2.322 giường. Tốc độ tăng trưởng về cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh trung bình cho cả giai đoạn bao gồm: tăng trưởng về cơ sở là 23,65%/năm và tăng trưởng về số phòng là 18%.
Hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ đều tập trung ở TX Hoà Bình trên các phường chính như Phương Lâm, Đồng Tiến, các nhà nghỉ phân bố cả ở khu vực thị xã lẫn ở các khu điểm du lịch. Tuy nhiên, ngay ở các điểm du lịch chính như Mai Châu, Kim Bôi thì cơ sở lưu trú cũng như các tiện nghi phục vụ du lịch khác còn rất hạn chế về số lượng và chất lượng.
Xét về cơ cấu cơ sở lưu trú cho thấy, đến nay trong tổng số 79 khách sạn, nhà nghỉ đã có 8 khách sạn được xếp hạng với tổng số phòng được xếp hạng là 312 phòng và 593 giường, chiếm hơn 10% số cơ sở; 39,8% số phòng và 25% số giường.
Nhìn chung hệ thống cơ sở lưu trú toàn tỉnh có quy mô vừa và nhỏ. Có tới 65/79 khách sạn (chiếm 82,2% số khách sạn) có quy mô dưới 20 phòng; có 11 khách sạn có quy mô từ 20 đến 50 phòng (chiếm 13,9%). Chỉ có 3 khách sạn có quy mô trên 50 phòng là khách sạn Sông Đà (87 phòng), khách sạn nhà nghỉ du lịch Công đoàn (83 phòng) và khu du lịch sinh thái V-Resort (58 phòng). Nhìn chung chất lượng khách sạn không cao và chỉ đáp ứng được nhu cầu lưu trú tối thiểu của khách du lịch. Ngoài dịch vụ ăn và ngủ, một số khách sạn hiện nay phát triển thêm dịch vụ xông hơi và karaoke.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh chưa có dự án khách sạn nào của liên doanh nước ngoài. Nguyên nhân là do tài nguyên du lịch của Hoà Bình còn ở dưới dạng tiềm năng, cơ sở hạ tầng chưa phát triển nên kém sức thu hút đối với các nhà đầu tư và khách du lịch trong và ngoài nước.
Cơ sở ăn uống: Các cơ sở ăn uống rất phong phú, đa dạng về loại hình bao gồm nhà hàng, quán cà phê, quán rượu, quán ăn nhanh… Các cơ sở phục vụ ăn uống có thể nằm trong các cơ sở lưu trú nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và giao lưu của khách đang lưu trú tại các khách sạn, cũng có thể nằm độc lập bên ngoài các các cơ sở lưu trú, ở các điểm tham quan du lịch, trong các cơ sở vui chơi giải trí… nhằm phục vụ các đối tượng khách khác nhau là khách du lịch cũng như dân cư địa phương. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Hiện nay Hoà Bình có khoảng 50 phòng ăn nằm trong các cơ sở lưu trú với khoảng trên 1.200 chỗ ngồi chuyên phục vụ các món ăn Âu, á đáp ứng nhu cầu của khách lưu trú. Các cơ sở dịch vụ ăn uống bên ngoài khách sạn, tại các điểm du lịch, đặc biệt là tại các bản làng dân tộc… cũng tương đối phát triển. Ngoài ra còn có các cửa hàng ăn uống tư nhân nhỏ phục vụ chủ yếu các món ăn Việt Nam bình dân nằm ở khu vực TX Hoà Bình và các thị trấn huyện lỵ.
Các cơ sở thể thao, vui chơi giải trí và cơ sở phục vụ du lịch khác: Nhiều tài nguyên du lịch của Hoà Bình còn ở dạng tiềm năng, các khu du lịch chưa được đầu tư phát triển đồng bộ nên các cơ sở thể thao, vui chơi giải trí và các cơ sở phục vụ du lịch khác ở các điểm tham quan và ở các khu du lịch chưa phát triển. Hiện nay mới chỉ có một vài dịch vụ massage, karaoke, sân khấu ngoài trời ở trong các khách sạn. Các cơ sở thể thao vui chơi giải trí và các cơ sở khác phục vụ tham quan du lịch vẫn còn yếu kém. Hoà Bình có thể phát triển các điểm tham quan nhằm thu hút khách như vườn cây ăn trái, các trang trại, các cửa hàng bán các đồ thủ công mỹ nghệ của địa phương phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách.
2.3.1.5. Lao động trong du lịch
Lao động trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến chất lượng dịch vụ và góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch. Trong du lịch hơn bất cứ ngành nào khác, số lượng và chất lượng đội ngũ lao động được đánh giá là một trong các chỉ tiêu rất quan trọng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Ngành cũng như về hiệu quả kinh doanh.
Về số lượng đội ngũ lao động: Trong những năm qua, cùng với sự gia tăng số lượng khách đến, sự phát triển của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch…, lực lượng lao động trong du lịch Hoà Bình có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Giai đoạn từ 1991 đến 2004 số lượng lao động tăng trung bình 11%/năm. Năm 1991 toàn tỉnh mới có 175 lao động, đến năm 2000 tăng lên 484 lao động và hiện nay (năm 2004) có 750 người. Lực lượng lao động ngành du lịch và dịch vụ tăng nhanh là nhờ sự quan tâm của Nhà nước trong việc đầu tư phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng của tỉnh. Điều đó đã tạo thuận lợi cho ngành du lịch Hoà Bình phát triển, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động. Năm 2000 thu nhập bình quân của người lao động vào khoảng 500.000 đồng/ người/ tháng và đến năm 2004 con số này tăng lên khoảng 700.000đồng/ người/ tháng. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Ngoài số lượng lao động thuộc các đơn vị thuộc doanh nghiệp nhà nước, số lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ trực tiếp khách du lịch trong các lĩnh vực dịch vụ như lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách du lịch v.v…
Như vậy, về số lượng đội ngũ lao động trong du lịch ở Hoà Bình hiện nay được đánh giá là tương đối đủ để phục vụ đáp ứng nhu cầu của hoạt động du lịch. Mặc dù vậy, trong xu hướng phát triển du lịch chung của cả nước, thời gian tới ngành du lịch Hoà Bình cần chú trọng công tác đào tạo lại và đào tạo mới đội ngũ cán bộ ngành nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch.
Về chất lượng đội ngũ lao động: Có thể thấy trong tổng số 750 lao động trong ngành thuộc doanh nghiệp nhà nước, tỷ lệ lao động có trình độ đại học chiếm tỷ trọng 20%. Tỉnh luôn có chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực dưới nhiều hình thức như mở các khóa đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn tại chỗ, hoặc cử cán bộ đi học tại nhiều trường đại học v.v… Do đó số lao động trong các đơn vị khách sạn, nhà hàng, lữ hành phần lớn đều được đào tạo tốt về chuyên môn nghiệp vụ.
Đối với số lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thì hầu hết còn chưa được qua đào tạo nghiệp vụ. Tại các cơ sở lưu trú, nhà hàng ngoài quốc doanh, quy trình phục vụ khách còn rất nhiều hạn chế, do đó chưa đảm bảo phục vụ khách theo đúng tiêu chuẩn, đặc biệt là phục vụ khách quốc tế.
2.3.1.6. Đầu tư vào lĩnh vực du lịch
Thu hút đầu tư là một trong những phương thức kích thích ngành du lịch phát triển nhanh. Các dự án đầu tư du lịch không những là yếu tố mới để thu hút khách du lịch mà còn tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Đầu tư trong nước: Trong những năm qua để phục vụ lượng khách đến Hoà Bình ngày một tăng, công tác đầu tư vào lĩnh vực du lịch bắt đầu được quan tâm phát triển, đặc biệt là đầu tư trong nước.
Đầu tư trong nước đã góp phần cải thiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch và làm tăng năng lực khách sạn của Tỉnh từ 5 khách sạn, 99 phòng năm 1991 lên 79 khách sạn, 859 phòng năm 2004. Các nội dung đầu tư bao gồm: xây mới, thay thế, bổ sung trang thiết bị mới, phát triển dịch vụ ăn uống và các dịch vụ khác trong các khách sạn nhà hàng đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho khách du lịch. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Chương trình hành động quốc gia về du lịch, Chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch với vốn đầu tư 100% từ ngân sách quốc gia dành cho phát triển du lịch đã đầu tư cho Hoà Bình hơn 87 tỷ đồng giai đoạn 2001-2005 để đầu tư cơ sở hạ tầng đến các khu, điểm du lịch của tỉnh. Sơ bộ ước tính đến hết năm 2005 khối lượng công trình thực hiện được khoảng hơn 30% vốn đầu tư. Số vốn còn lại sẽ tiếp tục đưa vào thực hiện kế hoạch 2006 – 2010. Mặc dù mới chỉ thực hiện được hơn 30% khối lượng nhưng các công trình này đã phát huy tác dụng thu hút khách đến các điểm du lịch được đầu tư, trong đó hiệu quả nhìn thấy rõ nhất là dự án đường giao thông vào các khu du lịch Giang Mỗ, động Tiên Phi và thị trấn Mai Châu.
Giai đoạn tiếp theo, bên cạnh việc tiếp tục thực hiện đầu tư số vốn còn lại, Hoà Bình có dự kiến hàng loạt các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng với nguồn vốn Trung ương và địa phương kết hợp.
Tuy nhiên việc đầu tư vào các lĩnh vực du lịch khác như xây dựng khu du lịch, khu vui chơi giải trí, thể thao, lữ hành, vận chuyển khách… vẫn chưa được chú trọng.
Đầu tư nước ngoài: Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh Hoà Bình đã có 4 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang hoạt động. Trong đó 1 công ty trồng và chế biến rau quả xuất khẩu, 1 công ty chế biến lâm sản xuất khẩu, 1 công ty sản xuất và lắp ráp linh kiện điện, điện tử xuất khẩu và một công ty sản xuất nước giải khát và nước khoáng đóng chai. Các dự án này bước đầu hoạt động đã đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội đáng kể. Ngoài việc đem lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư các dự án này đã tạo việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương, tăng thu ngân sách và tăng giá trị xuất khẩu của địa phương.
Tuy nhiên cho đến nay Hoà Bình vẫn chưa thu hút được các dự án đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực du lịch. Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do:
- Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, khả năng cung cấp về điện, nước, thông tin liên lạc… cho nhu cầu khách du lịch chưa đảm bảo.
- Chưa xây dựng xong quy hoạch chi tiết cho các điểm du lịch trọng điểm.
Trong giai đoạn từ nay đến 2010, để thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài vào du lịch, Hoà Bình cần sớm hoàn thiện các quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết cũng như xây dựng các dự án tiền khả thi cho các trọng điểm du lịch của tỉnh, đặc biệt ở khu vực Thành phố Hoà Bình, huyện Mai Châu và Kim Bôi.
2.3.2 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Hòa Bình Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Tỉnh Hoà Bình có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn và phân bố khá tập trung. Có giá trị nhất đối với hoạt động du lịch của Hoà Bình là các hang động karst, suối nước khoáng nóng Kim Bôi, hồ sông Đà hùng vĩ, các cánh rừng nguyên sinh Hang Kia-Pà Cò, Thượng Tiến, Phu Canh, các di tích lịch sử, cách mạng, các di chỉ khảo cổ và đặc biệt là các truyền thống văn hoá của các dân tộc Mường, Thái, Dao, Tày, Mông…
Các sản phẩm du lịch chủ yếu có thể cung cấp cho du khách từ nguồn tài nguyên du lịch ở Hoà Bình bao gồm các tour du lịch sinh thái, các tour du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh ở các suối khoáng, các tour du lịch chuyên đề thể thao như: leo núi mạo hiểm, vượt thác, thám hiểm hang động, chơi golf, câu cá…, các tour du lịch chuyên đề tìm hiểu văn hoá các dân tộc ít người, các tour du lịch tham quan các di tích lịch sử, các tour du lịch tín ngưỡng, các tour du lịch văn hoá kết hợp tham quan thắng cảnh và các tour du lịch tổng hợp.
Các yếu tố kinh tế xã hội bao gồm sự phát triển của các ngành kinh tế, dân cư, giáo dục … của Hoà Bình có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh. Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh thấp hơn mức bình quân cả nước, dân cư phần lớn là đồng bào dân tộc ít người, tỷ lệ lao động được đào tạo thấp, lao động trong ngành du lịch hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng… dẫn đến sự hạn chế trong đầu tư, hạn chế trong khả năng đáp ứng nhu cầu khách và kết quả là hoạt động du lịch chỉ tập trung ở một số ít trong số rất nhiều điểm tài nguyên có giá trị của tỉnh.
Hệ thống cơ sở hạ tầng của Hoà Bình mặc dù còn nhiều hạn chế, song hiện tại, các điểm du lịch chủ yếu của tỉnh cũng có thể tiếp cận được một cách khá thuận lợi thông qua mạng lưới đường quốc lộ và tỉnh lộ. Tuy nhiên, để khai thác hết lợi thế về tài nguyên cho phát triển du lịch bền vững thì hệ thống này cần được đầu tư nhiều hơn nữa mới có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và du lịch nói riêng, đặc biệt là hệ thống cấp điện và hệ thống cấp thoát nước.
Tổ chức lãnh thổ du lịch Hoà Bình hiện tại chưa khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch phong phú cũng như lợi thế vị trí của Hoà Bình trong mối quan hệ với Thủ đô Hà Nội. Đóng góp của du lịch trong nền kinh tế quốc dân của tỉnh tăng trưởng với tốc độ không đáng kể trong giai đoạn 19982004.
Mặc dù chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có nhưng hiện tại du lịch Hoà Bình cũng đã có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Con số 1% GDP là quá ít ỏi nhưng đó mới chỉ tính riêng lĩnh vực khách sạn, nhà hàng. Các dịch vụ như vận chuyển, thương mại, dịch vụ khác cũng có những nguồn thu đáng kể từ du lịch.
Sự phát triển du lịch ở Hoà Bình thời gian qua cũng tạo được cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận dân cư địa phương. Nhờ đó, cuộc sống của đồng bào nơi có các điểm du lịch đang khai thác đã khá lên rất nhiều.
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 3 điểm du lịch có ý nghĩa giá trị quốc gia và quốc tế bao gồm điểm du lịch suối nước khóng nóng Kim Bôi, đập thuỷ điện và hồ Hoà Bình, bản Lác và khu vực thung lũng Mai Châu, còn lại là các điểm có ý nghĩa giá trị vùng và địa phương. Các cụm du lịch đã bắt đầu hình thành song mới chỉ có 1 cụm du lịch Kim Bôi khai thác có hiệu quả cao, 2 cụm có hiệu quả nhưng chưa cao là cụm du lịch thị xã Hoà Bình và cụm du lịch Mai Châu, còn 2 cụm du lịch Tân Lạc và Lương Sơn đang ở dạng tiềm năng. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Tổ chức lãnh thổ du lịch Hoà Bình hiện tại được xác định tại quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh năm 1999 với quan điểm kinh tế là chủ đạo. Tuy nhiên, do đặc điểm của tài nguyên du lịch nên tổ chức lãnh thổ hiện đã tập trung khai thác vào các điểm, các cụm du lịch phù hợp với quan điểm phát triển bền vững. Nhưng các kế hoạch phát triển, các loại hình du lịch, các sản phẩm cụ thể… cách thức tổ chức và quản lý hoạt động du lịch ở đây còn chưa tính nhiều đến phát triển bền vững. Do vậy, kết quả đánh giá cho thấy sự phát triển du lịch ở Hoà Bình thời gian qua còn thiếu tính bền vững.
2.3.3 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Sơn La
2.3.3.1 Hoạt động và kết quả chủ yếu của du lịch Sơn La (2000 -2004)
Giai đoạn (2000 – 2004) là 5 năm đất nước ta thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – Xã hội. Tổng sản phẩm trong nước năm 2004 tăng gấp đôi so với năm 2000. Kết cấu hạ tầng kinh tế – Xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều. Nền kinh tế từ tình trạng hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Những thành tựu đã được nêu rõ trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng.
Đối với Sơn La, nền kinh tế – Xã hội của tỉnh đã có sự chuyển biến rõ rệt, với mức tăng bình quân 9,5%/năm. Trong kết quả chung của tỉnh có sự đóng góp của hoạt động du lịch. Nhưng cần phải khái quát rằng du lịch Sơn La trong 5 năm 2000 – 2004 mới khai thác hết sức sơ khai tiềm năng của mình. Có thể ví du lịch Sơn La trong giai đoạn này như đứa bé mới chào đời và còn đang chập chững tập đi. Nếu chỉ căn cứ vào tốc độ tăng trưởng thì dễ có xu hướng đánh giá lạc quan về du lịch Sơn La. Phải thừa nhận sự nỗ lực cố gắng của ngành du lịch Sơn La nhưng dù sao thì đó mới chỉ là kết quả ban đầu vừa mò mẫm tìm tòi, vừa học hỏi để hình thành các mô hình làm ăn đáp ứng những đòi hỏi trước mắt của thị trường du lịch.
2.3.3.2 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật của hoạt động du lịch bao gồm hệ thống các cơ sở lưu trú, ăn uống, các cơ sở vui chơi giải trí, nghỉ ngơi, thể thao, các điểm, các khu du lịch, các phương tiện vận chuyển, chưa kể các di tích lịch sử, văn hoá và hướng dẫn tham quan du lịch. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Về cơ sở lưu trú: Những năm đầu thập niên này, Sơn La chỉ có 4 khách sạn với 80 phòng nghỉ, trong đó có 10 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đến năm 2004, toàn tỉnh có 61 cơ sở lưu trú và 4 điểm du lịch tham gia hoạt động kinh doanh.
Trong đó có 60 cơ sở lưu trú đã thẩm định phân loại hạng: 8 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao, 7 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao, 4 khách sạn đủ tiêu chuẩn, 41 nhà nghỉ đủ tiêu chuẩn đón khách, tổng số phòng nghỉ 842 phòng, nhưng tiện nghi chủ yếu mới đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của khách.Cơ sở hạ tầng liên quan mật thiết như điện, nước đều chưa thật sự ổn định. Quy mô của cơ sở lưu trú còn quá nhỏ, thiếu đồng bộ giữa ăn, nghỉ, vui chơi, hội thảo. Phần lớn là dưới 30 phòng, chưa có khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao trở lên (bảng 2.3 và 2.4)
Bảng 2.3: Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch Sơn la
Bảng 2.4: Tổng hợp năng lực hoạt động của cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh sơn la
Các cơ sở lưu trú đều có cơ số phục vụ ăn uống nhưng hệ thống nhà hàng, quán ăn chủ yếu là bình dân, chưa đáp ứng được thực khách có nhu cầu cao. Đặc sản truyền thống ẩm thực của vùng chỉ được tổ chức ở một số ít nhà hàng, nhưng trình độ phục vụ còn nhiều hạn chế, thiếu hấp dẫn.
Về hệ thống cơ sở tham quan, vui chơi giải ttrí, thể thao, điểm du lịch, khu du lịch còn quá ít. Phần lớn mới kể tên và để hoang sơ, chưa có đầu tư vào hạ tầng và các dịch vụ kèm theo. Chỉ riêng có bảo tàng Sơn La trong đó có nhà ngục Sơn La được đầu tư của Nhà nước là đáp ứng được các điều kiện hướng dẫn và phục vụ khách tham quan.
Về phương tiện vận chuyển khách du lịch thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Thực chất chưa có đội xe du lịch riêng biệt. Khách du lịch bằng đường bộ chủ yếu do các đơn vị ở các tỉnh bạn đảm nhận. Khách có nhu cầu du lịch đường sông, chủ yếu là thuê mướn thuyền nhỏ của dân. Không có xe chuyên dụng hoạt động ở địa bàn khó khăn.
2.3.3.3 Đội ngũ lao động trong ngành du lịch Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Sở Thương mại và Du lịch Sơn La, năm 2000 có 310 lao động trong ngành du lịch. Hết năm 2004, số lao động đó mới là 507 người. Hiện tỉnh đang xếp hoạt động du lịch trong các ngành dịch vụ nói chung, trình độ lao động trong ngành du lịch hầu hết là trung cấp, trong đó chuyên ngành được đào tạo trong ngành du lịch chiếm con số nhỏ. Chỉ tiêu lao động trên một phòng khách sạn mới đạt trung bình là 0,8 còn rất thấp so với bình quân từ 1,2 – 1,7 lao động /phòng. Cả tỉnh chưa có hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ bởi vì các đơn vị mới tổ chức kinh doanh khách sạn, nhà hàng chứ chưa quan tâm tổ chức kinh doanh lữ hành. Nhân viên các đơn vị làm du lịch mặc dầu thường xuyên phải tiếp xúc với người nước ngoài nhưng trình độ ngoại ngữ còn non kém. Một số đơn vị có năng lực ngoại ngữ thì chủ yếu là tiếng Anh, các ngoại ngữ thông dụng khác như Pháp, Nhật, Trung Quốc, Nga còn ở trình độ rất hạn chế. Nhiều đơn vị đăng ký kinh doanh khách sạn nhưng thực chất về cơ sở vật chất cũng như trình độ cán bộ nhân viên đều không đảm bảo tiêu chuẩn của một khách sạn.
Bảng 2.5: Tình hình lao động của nghành du lịch Sơn la.
2.3.3.4 . Những kết quả chủ yếu trong hoạt động kinh doanh du lịch
Khách du lịch đến Sơn La bao gồm cả khách trong nước và quốc tế.
Khách trong nước bao gồm khách nội địa đi du lịch thuần tuý khoảng 30% và khách đi công tác kết hợp tham quan du lịch Tây Bắc khoảng 70%, khách trong nước tăng nhanh trong 5 năm qua với tốc độ tăng bình quân khoảng trên 20% mỗi năm và đạt 137.086 lượt trong năm 2004.
Khách quốc tế tuy còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số khách du lịch nhưng tốc độ tăng cũng đáng kể. Đầu năm 2000 có 6.500 lượt khách quốc tế. Đến cuối năm 2004 là 11.394 lượt. Khách quốc tế đến Sơn La có quốc tịch của 21 nước nhưng chủ yếu vẫn là khách du lịch từ Pháp, chiếm trên 50%.
Bảng 2.6: Cơ cấu khách du lịch (%/tổng số)
Doanh thu, lợi nhuận của hoạt động du lịch tăng tương đối đều đặn và đáng kể qua các năm. tuy nhiên kết quả chưa tương xứng với tiềm năng du lịch. Nhưng nếu có kế hoạch đầu tư khai thác hợp lý, các chỉ tiêu này có khả năng tăng nhanh và đóng góp đáng kể cho GDP của tỉnh. Đặc biệt trong 5 năm gần đây, một số chỉ tiêu chính của hoạt động du lịch đã có những biến chuyển đầy tích cực. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu chính của hoạt động du lịch
2.3.3.5 Công tác quy hoạch và đầu tư phát triển du lịch
Do yêu cầu của phát triển du lịch Sơn La, công tác quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Sơn La đã được UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo và Sở Thương mại Du lịch tích cực tổ chức thực hiện. Từ năm 1997, công tác quy hoạch đã được xúc tiến. Và ngày 11/01/2001, UBND tỉnh Sơn La đã có Quyết định số 103/QĐ – UB về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển thương mại và du lịch Sơn La thời kỳ 2000 – 2010 (cùng thời điểm đó, cả nước mới chỉ có hơn 30 tỉnh thành có quy hoạch tổng thể phát triển du lịch). Trong năm 2000, Sơn La đã xúc tiến xây dựng vài dự án quy hoạch chi tiết đầu tư một số điểm, khu du lịch như: Khu du lịch nghỉ dưỡng, suối nước nóng bản Mòng, bản văn hoá dân tộc bản Bó.
2.3.3.6. Công tác quản lý Nhà nước về du lịch :
Từ năm 2000, tỉnh đã tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước về du lịch, bộ phận quản lý du lịch thuộc Sở Thương Mại Du lịch được hình thành(1996). Giúp cho Sở Thương mại Du lịch và UBND tỉnh kịp thời triển khai các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch. Xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển du lịch hàng năm; quản lý Nhà nước đối với các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh; phối hợp với các ngành hữu quan trong việc kiểm tra, kiểm soát trong các khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ. Hướng dẫn các đơn vị kinh doanh thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về du lịch; phối hợp với các bộ phận công tác của các sở, ban ngành hữu quan và UBND các huyện, thị trong việc xây dựng quy hoạch phát triển du lịch và đầu tư xây dựng, tôn tạo các di tích, các điểm du lịch .v.v…Tuy nhiên với địa bàn rộng và khó khăn như Sơn La, với yêu cầu của phát triển du lịch, số cán bộ chuyên trách công tác du lịch chỉ từ 2 – 3 người sẽ gặp không ít khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Như đã khái quát trên đây, hoạt động và kết quả chủ yếu của du lịch Sơn La 5 năm (2000 – 2004). ở thời điểm du lịch Việt Nam kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống của mình thì hoạt động của du lịch Sơn La chưa đầy 15 năm. Hoạt động mới mẻ, mang tính sơ khai, tự phát, kết quả ban đầu đạt được còn hết sức ít ỏi. Nhưng dù sao, đó cũng là những viên gạch đầu tiên để xây dựng nền móng cho việc khai thác tiềm năng du lịch vốn có của tỉnh. Để có thể hy vọng du lịch Sơn La sẽ là một trong những hướng đi nhanh nhất cho sự nghiệp xoá đói, giảm nghèo, ngoài ý nghĩa giá trị kinh tế đã nêu trong bảng tổng hợp thực hiện các chỉ tiêu ở trên. Các đơn vị hoạt động du lịch đã đóng góp đáng kể phục vụ cho các hoạt động của tỉnh, nhất là công tác đối nội, đối ngoại và góp phần ổn định an ninh trật tự, phát triển kinh tế – Xã hội khu vực Tây Bắc.
2.3.4 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Sơn La Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Từ thực trạng hoạt động du lịch Sơn La phân tích phần trên có thể rút ra một số nhận xét sau:
Một là, trong bảng 6 đã phản ánh kết quả cụ thể của du lịch Sơn La qua 5 năm hoạt động. Đánh giá tổng quát, năm 2000 Sơn La đón 70.000 khách, trong đó có 6.500 khách quốc tế. Nếu so với cả nước năm 2000 đón 2 triệu khách quốc tế và 11 triệu khách nội địa thì Sơn La mới chiếm tỷ lệ 0,32 % khách quốc tế và 0,58% khách nội địa, một tỉnh giàu tiềm năng du lịch như đã trình bày ở phần trên, có diện tích tự nhiên chiếm hơn 4% tổng diện tích cả nước, một tỉnh có dân số chiếm hơn 1% dân số cả nước; Nhưng số lượng khách du lịch như vậy là quá thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của mình.
Hai là, cũng qua kết quả phản ánh và trên cơ sở nghiên cứu thực tế ở Sơn La chúng ta thấy rằng: Mặc dù ra đời muộn, phát triển chậm, nhưng du lịch Sơn La vẫn không khắc phục được tình trạng khập khiễng trong toàn bộ hoạt động. Có thể nói rằng: Lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ) mới chỉ là 1/3 trong nội dung hoạt động du lịch. Hai phần quan trọng còn lại là việc tổ chức các điểm, các khu du lịch bao gồm các di tích lịch sử, di tích văn hoá, cảnh quan thiên nhiên, điểm vui chơi giải trí tham quan… và bộ máy tổ chức khai thác, giới thiệu, thu hút, hướng dẫn phục vụ du lịch; Bao gồm cả người và phương tiện vận chuyển du khách, không có một du khách nào đến đây với mục đích là nghỉ ngơi ở khách sạn, tuy rằng khách sạn là điều kiện quan trọng để du khách thưởng thức sản phẩm du lịch ở đây. Nhưng sản phẩm du lịch đặc trưng ở đây rõ ràng không thể là khách sạn. Một trong các tỉnh nghèo nhất ở một đất nước nghèo trên thế giới không thể có tiềm năng về phát triển khách sạn. Vậy sản phẩm du lịch đặc trưng ở Sơn La là gì? Tổ chức giới thiệu, khai thác nó như thế nào? Nếu là hướng dẫn viên du lịch chúng ta sẽ dẫn khách đến đâu và nói gì với khách? Đáp án cho 3 câu hỏi này chưa được chuẩn bị chu đáo. Điểm du lịch có thể kể tên được nhiều nhưng thiếu nội dung khi giới thiệu với du khách. Hay nói cách khác, chúng ta chưa thổi được hồn vào các di tích lịch sử văn hoá … Đường khó đi, cơ sở phục vụ chưa có, không đảm bảo an toàn, bài bản giới thiệu chắp vá, chưa có ai được cấp thẻ hướng dẫn viên… Vậy là việc đầu tư vào sản phẩm du lịch đặc trưng còn quá ít so với đầu tư vào khách sạn. Có những năm, việc đầu tư xây dựng cơ sở lưu trú được nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều người quan tâm quá mức. Nhiều dự án xây dựng khách sạn đã và đang được triển khai hoặc đang được xem xét, phê duyệt. Trên dọc đường quốc lộ 6, ở bất cứ huyện nào các cơ sở lưu trú đủ các thành phần kinh tế mọc lên. Ngay trên địa bàn thị xã không rộng lắm đã có khách sạn của công ty du lịch – Khách sạn Sơn La, công ty du lịch – Khách sạn Công Đoàn, nhà khách UBND tỉnh, khách sạn Hoa Ban 1, khách sạn Hoa Ban 2, khách sạn Phong Lan 1, khách sạn Phong Lan 2, nhà khách Hoa Đào, khách sạn Hoa Hồng, khách sạn Hoa anh đào; nhiều nhà khách của các ngành: Bưu điện Ngần hàng NN &PTNT, Ngoại thương… Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Việc phát triển cơ sở lưu trú một cách tự phát dẫn đến công suất sử dụng phòng ở hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ thấp, một khách sạn có nội, ngoại thất đẹp, có trình độ phục vụ cao, đủ tiêu chuẩn của Tổng cục du lịch ban hành còn rất ít ở Sơn La. Nhưng việc luân phiên hạ giá để tranh khách, tình trạng không có trình độ ngoại ngữ vẫn đón khách nước ngoài là khá phổ biến. Phát triển cơ sở hạ tầng là điều đáng mừng và cần thiết. Tuy vậy, việc xác định tốc độ tăng trưởng kinh tế dù là một quốc gia, một địa phương, một ngành, một đơn vị là vấn đề hết sức quan trọng cần được nghiên cứu cân nhắc nghiêm túc. Khuyến khích sự cạnh tranh lành mạnh trong môi trường kinh doanh bình đẳng để phát triển. Song cần nghiên cứu lời khuyến cáo đặt ra trong hội nghị khách sạn toàn quốc lần thứ 2 được tổ chức tại Quảng Ninh năm 1998 về sự bùng nổ về khách sạn. Ngay từ những bước đi ban đầu, du lịch Sơn La đã bộc lộ sự mất cân đối thiếu đồng bộ khá rõ rệt.
Ba là, về trình độ khai thác tiềm năng du lịch có thể khẳng định: Thế mạnh của du lịch Sơn La là cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái và bản sắc văn hoá dân tộc. Nhiều đoàn khách nước ngoài đã vô cùng thích thú bất ngờ trước vẻ đẹp tự nhiên của núi non hùng vĩ và những truyền thống tập quán, văn hoá của đồng bào các dân tộc Sơn La, thế nhưng tài liệu giới thiệu du lịch của Sơn La còn ít ỏi, đơn điệu chưa “trúng” với cái khách cần. Việc đầu tư trí tuệ để làm ra sản phẩm du lịch, để biến “giá trị” thành “giá trị sử dụng” trong du lịch cũng không kém phần quan trọng như trong lĩnh vực đầu tư vào xây dựng khách sạn nhưng thực tế chưa được quan tâm đúng mức. Việc tổ chức khai thác, thu hút khách du lịch còn non kém hơn. Có thể nói ngắn gọn hơn là tới nay chưa có một đơn vị du lịch nào của tỉnh tổ chức khai thác du lịch tại chỗ. Sơn la hiện đang nhường quyền đó cho các công ty lữ hành của tỉnh bạn, nước bạn, kể cả Nhà nước và tư nhân để bằng lòng hưởng phần lưu trú thường xuyên bị ép giá. Tạm ví các nguồn thu của du lịch thành 3 phần: Thu từ lữ hành, thu từ các dịch vụ vui chơi, giải trí, tham quan… Thu từ dịch vụ lưu trú như gốc, rễ, thân ngọn của “cây du lịch” thì Sơn La mới thu phần ngọn. Có lẽ nguyên nhân chính là chưa có đơn vị nào đủ mạnh trong lĩnh vực này để vươn lên đảm nhận và bình đẳng cùng đồng nghiệp. Được biết, ở Trung Quốc luật pháp quy định việc hướng dẫn du lịch và nguồn thu của nó ở địa phương nào do địa phương đó đảm nhận.
Như vậy, tài nguyên du lịch Sơn La được cho không các đơn vị có năng lực khai thác bởi chính năng lực khai thác của bản thân mình. Thông tin về du lịch Sơn La chưa hoà nhập đầy đủ vào thị trường du lịch trong nước và quốc tế. Du lịch Sơn La nghèo thiếu trầm trọng về thông tin. Sơn La khai thác tiềm năng du lịch của mình còn hết sức sơ khai, tự phát.
Trong những năm gần đây, các loại hình du lịch sinh thái ở Sơn La đã được các công ty du lịch trong và ngoài nước tổ chức nhưng đáng tiếc chưa phải là đơn vị du lịch nào của Sơn La. Đó là các tour leo núi, các tour dã ngoại, các tour xe đạp, các tour bơi thuyền, các tour du lịch kết hợp nghiên cứu môi trường… Và qua nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Sơn La, có thể thấy rằng với hơn 14.055km2, chiếm 4,29% diện tích cả nước. Với địa hình núi sông hùng vĩ, khí hậu thuận lợi, Sơn La có tiềm năng to lớn về phát triển du lịch sinh thái. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Ai cũng biết rằng mục tiêu của du lịch là làm thoả mãn nhu cầu chính đáng của du khách. Sau mỗi chuyến du lịch để lại ấn tượng gì cho du khách? Ăn, ngủ là nhu cầu thiết yếu, trong đó có yếu tố thưởng thức nhưng chẳng phải mục đích của chuyến đi. Thật đơn giản nhưng cũng thật chân lý khi cha ông ta xưa kia đã nói: “đi cho biết đó biết đây…”, nghiệm vào nay là biết đất nước, biết con người. Và cái biết con người đó chủ yếu và trước hết là bản sắc văn hoá dân tộc. Phải chăng đây là thế mạnh của du lịch Sơn La!
2.3.5. Hiện trạng phát triển và đánh giá du lịch tỉnh Lào Cai
Lào Cai là một trong những tỉnh giàu tài nguyên du lịch, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế du lịch. Đó là cảnh quan thiên nhiên của núi rừng; những truyền thống văn hoá giàu bản sắc dân tộc phong phú và hấp dẫn; đặc biệt có cửa khẩu quốc tế Lào Cai rất thuận lợi cho phát triển kinh tế thương mại – du lịch. Chính vì vậy, Chính phủ và Tổng cục Du lịch đã lựa chọn Sa Pa – Lào Cai là một trong những khu du lịch chuyên đề của cả nước để có hướng đầu tư, phát triển.
Những năm qua, du lịch Lào Cai có những bước phát triển đáng mừng, tốc độ tăng bình quân trên 30%/năm. Đến nay, toàn tỉnh đã có trên 180 cơ sở lưu trú với trên 4.000 phòng phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước. Hoạt động du lịch trên địa bàn phát triển phong phú, đa dạng từ khâu tiếp thị, lữ hành, khách sạn, vận chuyển đến các dịch vụ khác. Tỉnh Lào Cai đã xây dựng nhiều nội dung, chương trình, huy động nhiều nguồn lực để đầu tư phát triển đảm bảo đúng định hướng. Du lịch phát triển kéo theo nhiều ngành kinh tế khác cùng phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao trình độ dân trí và làm đẹp thêm cảnh quan môi trường.
Phát huy thế mạnh của mình, trong những năm qua, du lịch Lào Cai đã có những bước phát triển vững chắc, từng bước trở thành trung tâm du lịch – thương mại của vùng Tây Bắc đất nước. Sự thành công của các sự kiện văn hóa – du lịch mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế như cuộc đua thể thao mạo hiểm Raid Gauloises, lễ hội Du lịch Bắc Hà, lễ hội xuân Đền Thượng, lễ hội 100 năm du lịch Sa Pa, Hội chợ Thương mại quốc tế Việt – Trung… đã thể hiện sự lớn mạnh của du lịch Lào Cai trong thời gian qua. Tốc độ tăng GDP bình quân năm toàn tỉnh đạt trên 10%, trong đó riêng ngành Du lịch đạt 30 %/năm. Cơ cấu kinh tế – xã hội của Lào Cai đang trong giai đoạn tăng dần tỷ trọng thương mại – du lịch dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.
Trong những năm qua, ngành Du lịch đã phối hợp với ngành Văn hóa phục hồi và tổ chức nhiều lễ hội văn hóa tiêu biểu nhằm đa dạng hóa các loại hình du lịch thu hút khách. Với lợi thế cửa khẩu quốc tế Lào Cai – Hà Khẩu ngành Du lịch đã và đang tập trung khai thác thị trường khách Trung Quốc bằng nhiều biện pháp : Xây dựng các chương trình du lịch theo thị hiếu của khách Trung Quốc, tổ chức các hình thức quảng bá, tuyên truyền tại các hội chợ giữa hai nước, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh, kéo dài thời gian mở cửa khẩu đến 22h… Do vậy, lượng khách Trung Quốc đến du lịch Lào Cai liên tục tăng qua các năm : Năm 2003 đạt 54.000 lượt, chiếm 40% trong tổng lượng khách quốc tế đến với Lào Cai. Năm 2004, mặc dù có nhiều thay đổi trong cơ chế, chính sách của Trung Quốc và Việt Nam, song Lào Cai vẫn đón được 480.000 lượt khách. Sang năm 2005 hưởng ứng cùng các ngày lễ lớn của cả nước 3 tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ ký kết biên bản hợp tác tổ chức năm du lịch hướng về cội nguồn, đây là sẽ cơ hội tốt để tuyên truyền quảng bá nhiều hơn cho các điểm du lịch hấp dẫn của Lào Cai cho du khách trong và ngoài nước và tạo tiền đề cho các năm tiếp theo. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Hoạt động du lịch phát triển không ngừng, việc mở rộng giao lưu cải thiện đời sống tinh thần cho nhân dân góp phần phát triển nền kinh tế – xã hội bảo đảm an ninh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Tuy nhiên hoạt động du lịch càng phát triển mạnh thì vấn đề đặt ra là bảo tồn môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn, những sản phẩm văn hóa địa phương trước sự thâm nhập của dòng khách ngày càng tăng và sự thương mại hóa của thị trường. Vấn đề quản lý khách du lịch, giáo dục khách du lịch, định hướng thị trường, là những yếu tố quan trọng trong bảo tồn các giá trị văn hóa của cộng đồng – là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch lâu dài và bền vững.
Hiện nay, công tác tổ chức quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Lào Cai do sở Thương mại và Du lịch đảm nhiệm. Sở Thương mại – Du lịch Lào Cai đã tham mưu giúp ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện những công việc liên quan đến công tác quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn. Để khai thác một cách hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của tài nguyên du lịch của tỉnh, trong những năm qua, tỉnh Lào Cai đã xây dựng nhiều chương trình, đề án để phát triển kinh tế du lịch, trong đó có Đề án phát triển kinh tế du lịch Lào Cai giai đoạn 2001 – 2005 và đến năm 2010. Quá trình triển khaim, thực hiện đã khẳng định đúng vị trí, vai trò của du lịch Lào Cai trong chiến lược kinh tế, xã hội của tỉnh, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, mở rộng hợp tác trong nước, quốc tế và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.
2.3.5.1 Kết cấu hạ tầng.
a) Giao thông.
- Đường bộ: Có 4 tuyến đường quốc lộ đi qua trong đó quốc lộ 70 à tuyến đường quan trọng nhất. Đây là tuyến đường xuyên á nối liền giữa vùng Tây Nam – Trung Quốc với Việt Nam và các nước ASEAN. Đường Tỉnh lộ và đường giao thông nông thôn, hiện nay đã có đường ôtô đến tất cả các xã phường trong Tỉnh.
- Đường sắt: Có 2 tuyến đường sắt chính đó là tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội – Lào Cai – Hà Khẩu – Côn Minh và tuyến đường sắt chuyên dụng Phố Lu – Cam Đường.
Tuy nhiên đường sắt, hệ thống tín hiệu, toa xe, công tác dịch vụ vệ sinh và nhà ga chất lượng còn thấp và lạc hậu nên chưa đáp ứng được nhu cầu ddi lại của khách du lịch và nhân dân. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
- Đường thuỷ: Sông Hồng, sông Chảy là hai con sông chính chảy qua Tỉnh Lào Cai, Ngoài ra còn rất nhiều sông suối khác có giá trị kinh tế cao nhưng do đặc điểm địa hình núi cao, sông dốc… nên giao thông đường thuỷ còn có nhiều hạn chế.
- Đường hàng không: Hiện Tổng cục hàng không Việt Nam đang tiến hành khảo sát lập dự án, dự kiến đến 2010 sân bay Lào Cai mới được xây dựng.
Hệ thống điện:
Hiện có 9/9 huyện, thị xã và 115 xã phường có điện lưới quốc gia.
Về nguồn điện: đảm bảo cung cấp nhưng hệ thống chưa đảm bảo do hệ thống mạng cũ trước đây chưa đáp ứng nhu cầu, cũng như mĩ quan, an toàn.
- Cấp thoát nước.
Hệ thống cung cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn tại thị xã Lào Cai và hầu hết các huyện cùng với hệ thống giếng khoan, nước lần đang cung cấp cho 42% dân số toàn Tỉnh.
Hệ thống thoát nước chủ yếu tập trung ở một số khu đô thị nhưng chất lượng và xử lý chưa đảm bảo, hàm lượng độc tố và mùi còn cao. Một số khu đô thị du lịch hầu như đều lợi dùng thế núi dốc, tự chảy chưa qua xử lý theo tiêu chuẩn quy định.
- Thông tin liên lạc.
Bưu chính viễn thông là một trong những ngành có bước tiến nhanh chóng về số lượng cũng như chất lượng, mạng lưới hầu hết có trên các huyện thị xã, bước đầu đã đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội của Tỉnh và trong hoạt động du lịch.
2.3.5.2. Cơ sở vật chất chuyên ngành du lịch
a) Cơ sở lưu trú:
- Nhận xét, đánh giá:
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch là một yếu tố quan trọng cấu thành của sản phẩm du lịch. Việc thiết kế phát triển tiện nghi phù hợp không những tạo nên sự hấp dẫn của khu, điểm du lịch, mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế qua đầu tư, khai thác.
Trong những năm qua, được sự quan tâm, đầu tư của các cấp, các ngành tỉnh Lào Cai đã bước đầu hình thành nên các khu, điểm du lịch với hệ thống cơ sở vật chất đủ điều kiện phục vụ du lịch. Tuy nhiên các khu, điểm du lịch và việc đầu tư xây dựng còn mang tính tự phát, do chưa có quy hoạch cụ thể, quy mô nhỏ, nên đã hạn chế chất lượng chưa đủ mạnh để phục vụ cho khách du lịch. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Cơ sở lưu trú tại Lào Cai tập trung chủ yếu ở Sa Pa ( khoảng 70%), thị xã Lào Cai (khoảng 20%), còn lại ở Bắc Hà, Bảo Yên, Bảo Thắng. Hiện nay, tại một số bản làng còn có loại hình lưu trú tại gia ( homestay), tập trung ở một số như Tả Van, Thanh phú, Bản Hồ, Sín Chải…
Tuy nhiên ngoài các khách sạn lớn của nước ngoài, các doanh nghiệp lớn được đầu tư với chất lượng cao như: Victoria, liên doanh Singapore, Công ty Du lịch Lào Cai v.v… còn lại các cơ sở lưu trú khác chất lượng còn yếu kém, đầu tư thiếu đồng bộ, không theo một quy chuẩn, dẫn đến xhất lượng các công trình không đạt tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy công suất sử dụng phòng trung bình/năm đạt hiệu quả kinh tế chưa cao.
- Cơ sở ăn uống:
Hiện có hàng trăm nhà hàng chuyên doanh và các nhà hàng nằm trong khách sạn với hàng nghìn chỗ ngồi đáp ứng nhu cầu của khách. Tuy nhiên thực đơn còn đơn điệu, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa được quan tâm đúng mức.
- Cơ sở thể thao và vui chơi giải trí.
Hoạt động tiêu khiển chính của khách chủ yếu dựa vào cảnh quan thiên nhiên như: đi bộ ngắm cảnh, dạo phố, đi chợ, tham quan hiểu biết về văn hoá các dân tộc… vì vậy việc quy hoạch đầu tư các cơ sở thể thao và dịch vụ vui chơi giải trí đã được quan tâm.
- Các sơ sở thương mại và dịch vụ.
Mua sắm hàng hoá, đặc sản địa phương và đồ lưu niệm là một nội dung hấp dẫn khách du lịch đặc biệt là thổ cẩm của Lào Cai.
Hệ thống các chợ, cửa hàng, trung tâm thương mại chủ yếu tập trung ở một số khu đô thị lớn ở Tỉnh và huyện, bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của nhân dân và khách du lịch. Nhưng hệ thống này chất lượng còn thấp, quy mô nhỏ chưa đảm bảo an toàn, các sản phẩm hàng hoá còn thiếu và chưa đa dạng.
2.3.5.3. Khách du lịch.
- Nhận xét, đánh giá: Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của các Bộ, ban ngành Trung ương và địa phương, du lịch Lào Cai đã có những bước phát triển nhanh, được thể hiện trong giai đoạn 2001 – 2005. Tổng số lượng khách từ năm 2001 đến năm 2005 Lào Cai đón 1.956.000 lượt khách, mức tăng bình quân giai đoạn này là 17,5%.
Trong điều kiện cơ sở hạ tầng còn thiếu, cùng với chính sách phát triển du lịch chưa hợp lý, công tác quản lý còn nhiều yếu kém, thì mức tăng trưởng đã đạt được là rất cao. Điều đó cho thấy những ảnh hưởng về mặt môi trường, văn hoá – xã hội do việc tăng lượng khách này.
a) Khách du lịch nội địa
- Lý do tới sapa
Lý do: đối với khách Việt Nam thì Sapa được biết đến như một trạm khí hậu lý tưởng để tránh cái nóng trong thành phố như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… Họ đến dây do khí hậu mát mẻ 96%, do phong cảnh 82%. Tìm hiểu các nhóm dân tộc không phải là mục tiêu đến của khách du lịch nội địa.
Về phương tiện và nguồn khách: Chủ yếu sử dụng tàu và xe hơi tư nhân. Nguồn khách Hà Nội chiếm 40%, còn các nơi khác, trong đó các tỉnh phía Nam (Hồ Chí Minh) chiếm tới 1/2 khách nội địa.
Độ tuổi: Thế hệ trẻ (dưới 35 tuổi) chiếm 74%, còn nếu nhìn rộng hơn khách có độ tuổi dưới 50 chiếm 96%. Đa số đi theo nhóm bè bạn hoặc cùng gia đình (con số trung bình là 5 người/nhóm).
Thời gian lưu trú: Từ 2 ngày – 1 tuần. Cụ thể: 4 – 6 ngày chiếm 35%, 3 ngày chiếm 31%, nghỉ cuối tuần chiếm 27% còn lại hơn 1 tuần hoặc chỉ 1 ngày chiếm 3 – 4%.
Khả năng chi trả; qua điều tra cho thấy khách Việt Nam chi tiêu từ 20.000đ đến 200.000đ và sử dụng phương tiên giao thông 70.000đ/ngày ,như vậy daonh thu hàng năm từ khách nội địa lưu lại sapa là khoảng 500.00-700.000 USD.Mức chi tiêu cho mua sắm hàng hoá thủ công địa phương bình quân từ 30.000đ đến 40.000đ,như vậy thu nhập từ nguồn khách nội địa trong các thôn bản xung quanh sapa khoảng từ 60.000-80.000 USD/năm.
- b) Khách quốc tế; Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Động cơ; Hai động cơ chính của khách nuớc ngoài là phong cảnh và dân tộc,đồng thời là du lịch thể thao-mạo hiểm, tuy nhiên một số hiện trạng thởi tiết đã làm cho một số hoạt động này kiếm phát triển.
Quốc tịch; Khách Châu Âu chiếm khoảng 58%(chiếm đa số),sau đó là Mỹ 16%,úc 13%,Canada 6%,Trung Quốc chiếm có 4%.
Độ tuổi: Số khách co độ tuổi duới 35 chiếm khoảng 51%,độ tuổi từ 35-50 chiếm khoảng 44%.
Mức chi tiêu; Mức chi tiêu của khách nuớc ngoài từ 20-70USD/ngày,chi phí cho viẹc đi lại khoảng 35-40USD/ngày,thời gian lưu trúng bình 3 ngày,như vậy nguồn thu hằng năm của khách nuớc ngoài từ 2,5-3 triệu USD.Và chi cho hoạt động mua bán hàng hoá địa phương vào khoảng 40-80 USD,như vậy thu nhập cảu các dân tộc thiểu số hàng năm từ khách này la 1,1-1.4 triệu USD,chiếm 40-50% tổng chi phí của khách nuớc ngoài .
- c) Nhu cầu của khách khi đến Lào Cai
Đỉnh Phanxiphăng-SaPa
Nhu cầu vệ sinh;Về điểm này tất cả du khách nuớc ngoài hay du khách Việt Nam đêu mong muốn một môi trường trong lành và sạch sẽ hơn .Khách quốc tế rất phê phán về việc vệ sinh của các cơ sở mà họ đã sử dung, nhiều người cho biết họ đã bị ốm sau khi ăn thức an ở trong một số các nhà hàng.
Bảo tôn danh thắng và bảo vệ tài nguyên môi trường ;Toàn bộ du khách nội địa hay nuớc ngoài đều phàn nàn về việc xây dựng các nhà nghỉ ,khách sạn khắp nơi mà không có sự hài hoà, đồng thời việc tăng nhanh lượng khách đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới cảnh quan thiên nhiên, ảnh hưởng tới các di sản xưa.Chính vì vậy việc nâng cao hiểu biết và ý thúc bảo vệ thiên nhiên cần được quan tâm và thực hiên tốt.
Nhu cầu đa dạng hoá các hoạt động; Các khu trung tâm đô thi du lịch còn nghèo nàn và chưa được tổ chức khoa hoc, vẫn còn nhiều yếu kém và hạn chê, thiếu tính hấp dẫn.Các khu dịch vụ bổ xung còn thiếu như các quán bar, vũ trường,cả khu vui chơi như công viên ,vườn hoa công cộng cũng đang là vấn đề đối với du lịch Lào Cai .
Hàng lưu niêm; Các mặt hang lưu niêm còn han chế chưa có tính địa phương cao, các mặt hàng chủ yếu nhập từ Trung Quốc mà gần như đâu đâu cũng có.Đồng thời việc đeo bám khách để bán hàng cũng là vấn nạn, nhiều du khách đã phải khó chụi,bất tiện vì hành động này.Những hành động này đang huỷ hoại sức hấp dẫn,gây thiệt hại đáng kể cho ngành thương mại ,du lịch Lào Cai . Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Các trạm thu phi; Đối với khách Việt Nam cho rằng việc thu phí là việc nên làm để góp phàn bảo tồn, bảo vệ, chăm sóc cảnh quan thiên nhiên.Nhưng với khách nuớc ngoài họ lại cho rằng viêc thu phí là hiện tượng tiêu cực, họ không biết cái mà họ nhân được khi đã trả tiền cho dịch vụ này là gì, họ cảm thấy như bị lừa gạt.Chính vì thế một số du khách đã từ trối tham gia đến những bản làng khi nghe đến phải trả tiền.
2.3.5.4 Các thành phần tham gia du lịch
a) Các nhóm dân tộc và các công ty kinh doanh du lịch
Nói đến Sapa phải kể đến lực lượng chính tham gia vào du lịch đó là các dân tộc thiểu số trong các trung tâm du lịch như; Sapa hay trong chính các thôn bản của họ.Mặc dù bị kéo theo vào ngành công nghiệp du lịch nhưng lợi nhuận mà họ thu được rất nhỏ so với các công ty lư hành nhờ bán tour du lịch chính vì vậy dễ xảy ra bất mãm, kèm theo những phản ứng tiêu cực.Như vậy cần phải cân đối lại doanh thu cho hợp lý tránh tình trạng phản ứng tiêu cực như đã xảy ra ở một số nước.
- Nhận xét, đánh giá:
Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vưc du lịch đã đăng ký kinh doanh tương đối nhiều và đa dạng, tuy nhiên số doanh nghiệp hoạt động chính thức và có hiệu quả thì chưa nhiều, chỉ khoảng 1/3 trong số những doanh nghiệp trên.
b) Lực lượng lao động
- Nhận xét, đánh giá:
Hiện nay lao động tại các cơ sở kinh doanh du lịch có khoảng 4.400 lao động trực tiếp và gián tiếp, nhưng lao động qua đào tạo chuyên ngành du lịch chỉ chiếm 25%; về trình độ ngoại ngữ rất ít, nhân viên phục vụ được đào tạo về ngoại ngữ, hoặc có khả năng giao tiếp thành thạo ngoại ngữ với du khách còn thiếu, thiếu nhân viên chuyên môn và đầu bếp có trình độ tay nghề cao.
Từ năm 2001 đến nay, ngành Thương mại – Du lịch Lào Cai đã phối hợp với các ngành: Lao động – Thương binh – xã hội, UBND huyện Sa Pa và các trường đào tạo do Trung ương tổ chức, các lớp đào tạo bồi dưỡng các kiến thức về du lịch như: hướng dẫn du lịch, lễ tân khách sạn, buồng, bar, bếp…cho các lao động đang trực tiếp kinh doanh và phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn; và một số các hướng dẫn viên thôn bản cho đối tượng là các em người dân tộc thiểu số, với số lượng lao động như trên đã phần nào đáp ứng được yêu cầu về trình độ của lao động trong ngành du lịch.
- Hướng dẫn viên du lịch Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
Khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế mong muốn hiểu biết hơn về thiên nhiên và dân tộc,nhưng thực tế họ đã rất thất vọng do trình đọ yếu kém về hiểu biết của hướng dẫn viên trong các lĩnh vực:Múa truyền thống,phong tục,trang phục truyền thống,kiểu cư trú…Ngoài ra do việc giao tiếp giữa các dân tộc và hướng dẫn viên là sợi dây liên kết nhưng trường hợp nay thật hiếm.Cũng vì lẽ do du khách thích đọc các cuốn sách giới thiệu vể các dân tộc khác nhau sống trong khu vực sapa hoặc có thể hỏi thông tin ở một trung tâm thông tin du lịch mà trung tâm này cần phải có khả năng cung cấp các thông tin hữu ích liên quan đến các nhóm dân tộc và môi trường.
- Cán bộ quản lý trong kinh doanh du lịch
Phần lớn cán bộ quản lý trong các cơ sở kinh doanh du lịch chưa qua đào tạo về chuyên ngành du lịch (số đã qua đào tạo về chuyên ngành chỉ chiếm 2,73%),trình độ ngoại ngữ yếu,một số đã qua đào tạo các chuyên ngành kinh tế khác nhưng không thuộc lĩnh vực du lịch ,đồng thời hệ thống cán bộ quản lý chủ yếu tập chung ở tỉnh,các huyên hầu như không có.Đây là một trở ngại lớn cho công tác điều hành,phát triển hoạt động kinh doanh của các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiên nay.
- Nhân viên phục vụ trong cơ sở lưu trú và nhà hàng
Hiện nay cơ sở kinh doanh du lịch có khoảng 1600 lao động, nhưng lao động qua đào tạo chuyên ngành du lịch chỉ chiếm 25%;về trình độ ngoại ngữ rất ít Nhân viên phục vụ được đào tạo về ngoại ngữ,hoặc có khả năng giao tiếp thành thạo ngoại ngư với du khách.Thiếu nhân viên chuyên môn và đầu bếp có trình độ tay nghề cao.
2.3.5.5 Hiện trạng công tác quản lý của Nhà nước và của sở thương mại-du lịch Lào Cai
- Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch
Việc xây dựng, điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch đã góp phần tích cực vào việc quản lý, bảo vệ khai thác tài nguyên du lịch được đúng hướng và chủ động. Tuy nhiên so với việc lập và quy hoạch của thế giới thì công tác quy hoạch của Lào Cai vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, chiến lược, việc định hướng thì đúng nhưng thiếu thực tế và cụ thể nên khó mà thực hiên được.
- Các cơ chế chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư
Bảng 2.12 : Đầu tư cho phát triển du lịch thời kỳ 2001 – 2005:
Lào Cai đã thực hiện các chính sách mở cửa và khuyến khich các nhà đầu tư trong nước và nuớc ngoài như giúp đỡ giải phóng mặt bằng, miễn tiền thuê đất, hỗ trợ đào tạo nhân viên, miễn giảm thuế, đảm bảo các quyền về cư trú, đi lại…Chính vì thế trong những năm gần đây các dư án đầu tư vào Lào Cai nhìn chung khá đa dạng cả về lĩnh vực và hình thức đầu tư.Tuy nhiên các dư án lớn về du lịch vẫn rất ít, vì vậy Lào Cai cần phải có nhiều biện pháp hơn nữa để thu hút đầu tư xây dựng Lào Cai thành thành phố du lịch bền vững, chất lượng cao.
- Công tác tuyên truyền quảng bá
Đã được quan tâm đúng mức và tích cực,tuyên truyền trên các thông tin đại chúng, thông qua các lễ hội, hội chợ, hội thảo… Mặc dù đã được quan tâm nhưng công tác tuyên truyền quảng bá mới chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp, chưa xây dựng được thương hiệu quảng bá cho riêng ngành du lịch Lào Cai nên hiêu quả kinh doanh còn thấp.
- Kết luận và nhận xét đánh giá chung thực trạng phát triển du lịch vùng Tây Bắc
Nhìn chung, Tây Bắc là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế du lịch nói riêng. Tuy nhiên hiện tại các địa phương trong vùng vẫn chưa khai thác tôt và hiệu quả các tiềm năng đó. Trên thực tế, khách đi du lịch lên vùng Tây Bắc chủ yếu là tập trung ở ba tỉnh Hòa Bình, Điện Biên và Lào Cai. Chính những lý do đó khiến cho việc thống kê chung cho cả vùng gặp rất nhiều khó khăn. Và điều đó chứng tỏ sự phối hợp không đồng bộ giữa các địa phương với nhau. Ngoài ra, thực trạng về hạ tầng cơ sở mà đặc biệt là về vấn đề giao thông, thông tin liên lạc cũng còn nhiều bất cập. Tuy tiềm năng du lịch có nhiều song vẫn đang loay hoay chưa có hướng đi cụ thể khả thi nào để có thể đẩy mạnh hoạt động khai thác du lịch của cả vùng phát triển đúng với tiềm năng vốn có của địa phương. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tại Tây Bắc Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Tây Bắc

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam