Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoạt động du lịch và tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của người thái ở Mai Châu-Hòa Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Văn hóa-xã hội truyền thống của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình 

2.1.1. Nhà cửa

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường chọn nơi có địa thế đẹp, thuận tiện cho cuộc sống, quần cư thành bản, mường. Nhà sàn thường được dựng ven thung lũng, nhìn ra cánh đồng hoặc sông, suối. Ngôi nhà lý tưởng của họ là “Vườn rau chân cầu thang, ao cá trước nhà, máng nước giội giữa sàn”.

Nhà sàn được dựng lên giữa vườn. Vườn nhà của người Thái thường nghèo nàn về cây cối, không có qui hoạch cụ thể, đặc biệt là hầu như không bao giờ có cây cảnh. Điều này là do thói quen lâu đời, mặt khác gia súc và gia cầm của tất cả các gia đình trong bản đều nuôi thả rông, do vậy việc qui hoạch, trồng vườn gặp nhiều khó khăn.

Nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có dáng dấp nhà sàn vùng Hoàng Liên Sơn, Lai Châu hơn là nhà sàn người Thái vùng Sơn La. Nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình vẫn giữ được nét truyền thống, thoáng mát, hợp với cảnh thung lũng của vùng nhiệt đới.

Nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình là kiểu nhà sàn bốn mái gồm hai mái chính và hai mái phụ ở hai đầu hồi vuông góc. Mái nhà hiện nay đã được nâng cao, không hạ thấp che quá nửa tường vách như xưa. Hai đầu hồi là hai thang gỗ để lên sàn nhà, các thang gỗ có số bậc thang lẻ.

Cột thường là cột tròn, gỗ tốt, không mọt, được chọn rất kỹ, qua nhiều năm mới đủ cột để làm nhà. Mái thường lợp bằng cỏ tranh, sàn là cây tre mai (mạy mai) được lột phẳng cả cây, ghép cây nọ nối cây kia, giàn trải trên cùng một mặt phẳng.

Một điều đặc biệt của nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng như của người Thái các vùng khác là dựng nhà họ chỉ dùng rìu để đẽo, chặt, làm các mộng-không dùng các loại chàng, đục của thợ mộc; sử dụng các móc gỗ-không hề sử dụng đinh, vít. Tuy chỉ có vậy, nhưng nhà dựng nên rất chắc chắn-gió, lốc lớn cũng không bị sập nhà bao giờ (chỉ đôi khi bị tốc mái).

Bước lên nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình sẽ thấy một không gian thoáng, mát, sáng sủa và rộng rãi. Tầm nhìn không bị chắn bởi các vách ngăn nhà hoặc các hàng cột giữa bởi vì người Thái rất ít dùng vách ngăn trên sàn, không dùng cột giữa vì các xà ngang là gỗ to, tốt đủ sức đỡ mái nhà đồ sộ. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Bố cục trong nhà của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình phản ánh một trật tự xã hội mang tính phụ quyền thời xa xưa, đề cao người chủ gia đình cũng như đàn ông trong nhà, đồng thời cũng thể hiện tính hợp lý cao độ của một nền nông nghiệp trồng lúa. Bố cục trong nhà không phụ thuộc vào số gian của nhà mà phụ thuộc vào qui định chặt chẽ theo luật lệ.

Trong nhà thường chia thành hai phía: phía trên và phía dưới. Phía trên là nơi để bàn thờ, nơi ở của các bậc cao niên, thường là ở phía cửa vào nhà, phụ nữ ít được qua lại. Phía dưới là nơi để các thứ vặt hàng ngày, nơi con cháu ở, phụ nữ có thể qua lại.

Trong nhà cũng rất ít đồ đạc, không giường, không tủ, không bàn ghế.

Khách đến thường trải chiếu ngồi hoặc ngồi trên ghế mây.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Trang phục  

Trang phục thường là một trong những nét văn hóa đặc trưng cho từng dân tộc. Người Thái có nền văn hóa hàng ngàn năm, có nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp, là một trong các dân tộc thiểu số đông nhất, do vậy đã giúp họ giữ được nhiều nét đặc trưng trong trang phục.

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có các kỹ thuật rất độc đáo trong việc chế tạo màu để nhuộm, dệt, pha màu cho vải, sợi. Các kỹ thuật đó gắn liền với các sản phẩm của thiên nhiên như màu đỏ từ cây tô mộc (mạy cô pha), màu vàng từ củ nghệ, màu đen từ cây chàm (mạy hoán), phối hợp màu cây tô mộc và cây chàm tạo màu xanh. Họ còn giỏi về cả nghề cơ khí, kim hoàn, giỏi về nghệ thuật trang trí. Tất cả các đồ trang sức đeo trên người từ vòng cổ, vòng tay, hoa tai, trâm cài đầu, xà tích, cúc áo đều do họ tự chế tác.

Trang phục của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình được phân biệt theo lứa tuổi, giới tính, trước kia còn phân biệt theo địa vị xã hội nhưng ngày nay không còn nữa. Trang phục còn được chia ra trang phục ngày thường, trang phục ngày lễ

2.1.2.1.Trang phục nữ

Bộ trang phục của phụ nữ gồm: áo ngắn (xửa cóm), áo dài (xửa chái và xửa luống), váy (xỉn), khăn (khăn), nón (cúp), xà cạp (pe păn khạ) xà tích (xai xói), hoa tai (tòng liu), vòng tay (poọc khen) bằng bạc (hoặc đồng).

Áo ngắn (xửa cóm) là một trong nét khác biệt của người Thái, áo may bó sát người, chỉ dài đến cạp váy, làm tôn các đường nét đẹp của người phụ nữ. Vào ngày thường, phụ nữ Thái Mai Châu-Hòa Bình chỉ dùng áo ngắn màu chàm tết nút khuy vải. Khi đi chơi đêm, hội hè họ thường mặc xửa cóm có màu đẹp, đính khuy bạc hình bướm, nhện hay hoa ở ngực áo.

Phụ nữ người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình còn có hai loại áo dài: Xửa chải-loại áo dài kiểu 5 thân, cài cúc bên trái cổ, chỉ phụ nữ có chồng mới mặc và chỉ mặc khi ở nhà chồng vào lúc hội hè, cưới xin.

Váy (xỉn) của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình là loại váy ống (khâu thành hình ống), váy trơn không có trang trí. Khi mặc váy thường cuốn chặt thắt lưng. Do mặc váy, nên người phụ nữ luôn thể hiện nét tinh tế trong cách ngồi và đi lại.

Thắt lưng (xai eo) thường bằng tơ tằm hoặc sợi bông màu xanh, tím cẩm, giữ cho cạp váy quấn chặt eo. Thường phụ nữ trẻ chọn thắt lưng màu xanh, người đứng tuổi chọn màu tím.

Khăn (piêu) của phụ nữ Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trước kia là không thể thiếu được, nó như là chiếc nón của người Kinh. Tuy vậy, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình đã không sử dụng khăn piêu từ rất lâu vì do ảnh hưởng của văn hóa của người Mường. Khăn piêu đã được thay thế bằng khăn quấn đầu màu trắng như người Mường cách đây vài thế kỷ. Cùng với khăn, các loại trâm cài đầu cũng được đặc biệt chú ý. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Người phụ nữ Thái rất chú ý đến mái tóc. Mái tóc phụ nữ Thái dài, dày và óng mượt, được cài trâm bạc để thõng tạo nên sự mềm mại. Mái tóc, váy ngang đầu gối, áo ngắn bó sát người, tính tình nhẹ nhàng, ít nói, đi đứng khoan thai đã tạo cho người phụ nữ Thái luôn luôn có một sự dịu dàng, duyên dáng riêng biệt, nổi bật trong khung cảnh núi rừng, làng bản hùng vĩ và lên thơ-kể cả lúc họ đi làm hay trong ngày lễ hội.

Bên cạnh các trang phục chủ yếu trên, người phụ nữ Thái Mai Châu-Hòa Bình còn sử dụng khá nhiều đồ trang sức bằng bạc, trong đó quan trọng nhất vòng tay, xà tích.

Vào ngày lễ hội, người phụ nữ bao giờ cũng mặc đẹp nhất: khăn trắng, áo ngắn trắng, váy đen ánh mịn đính cạp rồng, cạp phượng, thắt giải lưng màu xanh, cổ tay đeo 2-3 đôi vòng bạc, chùm dây xà tích bạc uốn lượn bên hông.

Các em bé gái cũng mặc áo cóm nhưng nhỏ hơn, màu sắc giản dị hơn, đeo vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, mùa đông đội mũ vải theo hình đầu. Phụ nữ về già, thường ăn mặc giản dị hơn nhiều. Phụ nữ có tuổi rất chịu khó trong việc dạy giỗ con cháu trong việc nội trợ, dệt vải, may vá, thêu thùa, cách ăn mặc, cư xử, đi đứng….

2.1.2.2. Trang phục nam giới

Trang phục của nam giới đơn giản, ít màu sắc, không diêm dúa như trang phục của phụ nữ và trẻ em. Trang phục nam gồm: áo, quần, thắt lưng, khăn.

Áo gồm hai loại: áo cánh ngắn và áo cánh dài. Áo nam giới màu chàm, nút khuy ở nách trái, thân dài chấm mông, tay áo nhỏ, 2 túi vạt trước, cổ đứng, tròn, cao khoảng 2 cm, nút áo bằng đồng hoặc vải.

Quần dài, ống rộng, cạp quần hơi loe, khi mặc gấp lại một bên, thắt lưng bằng sợi gai có khuy nút để giữ cho chắc. Quần thường nhuộm màu xanh chàm hoặc màu nâu. Khi có việc đi xa, hoặc dự lễ hội, nam giới thường thắt thêm giải lưng xanh (hoặc đỏ) nịt gọn áo, đầu có tua của dây để đằng trước.

Vào các dịp cưới xin, lễ hội, nam giới còn mặc áo dài may bằng chàm kiểu 5 thân (vì tà), có thân trong trắng. Khi mặc áo này, bao giờ cũng có áo trong, màu trắng, áo dài ở ngoài màu chàm, để lộ cổ áo trắng bên trong tỏ vẻ trang trọng, kiểu cách.

Nam giới thường sử dụng 2 loại khăn: khăn dài-quấn quanh đầu, giống khăn xếp, dùng trong ngày lễ, hội; khăn trọc ngắn-dùng trong lao động, quấn hình chữ V, ngược quanh đầu.

Với các em trai nhỏ, trang phục thường là vải dệt carô, hoặc sọc đứng nét nhỏ, màu nâu đen, đen trắng. Mùa đông, đội mũ trùm đầu, mũ gồm nhiều mảnh vải, màu sắc khác nhau, ghép lại thành mũ. Đàn ông cao niên thường mặc áo dài, thắt dải lưng chàm hoặc tơ vàng, răng nhuộm đen.

2.1.3. Ẩm thực Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trước kia đời sống chủ yếu dựa vào trồng lúa nước, săn bắt, nuôi trồng và hái lượm. Cũng chính vì vậy trong ẩm thực cũng phản ánh đúng thực trạng trên. Các sản vật từ săn bắn và hái lượm đóng vai trò khá quan trọng trong bữa ăn hàng ngày: rau, củ, quả, măng, cá, tôm, ốc, chim, thú, nhuyễn thể dưới nước và trên cạn.

2.1.3.1. Các món ăn từ lúa gạo và lương thực khác

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng như các tộc Thái ở các vùng khác sử dụng gạo nếp là chính. Gạo nếp được ngâm qua một đêm, vo sạch và đồ bằng chõ đồ. Sau khi xôi đồ chín, quạt nguội, đánh tơi, cho vào ép khẩu (đan bằng tre) hoặc quả bầu khô. Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình còn chế biến bánh tét, bánh gio, xôi màu, khẩu hang, khẩu lam (cơm lam).

Khẩu lam (cơm lam) là món được nhiều người ưa thích, được nấu bằng thứ gạo nếp ngon nhất; gạo được cho vào ống tre (tre gai, ống vừa phải, không già và cũng không non, đốt tre không dài quá và cũng không ngắn quá), sau đó nướng bằng lửa. Đây là món ăn không thể thiếu được trong các tết, lễ hội, đón khách quí.

2.1.3.2. Các món ăn từ rau

Rau quả được chế biến thành các món ăn độc lập hoặc nấu với các nguồn thực phẩm khác như cá, thịt. Rau đồ là món ăn thường ngày của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, được đồ bằng hày. Măng là loại rau rừng quan trọng của người Thái, đặc biệt măng bương được họ ngâm chua, có thể sử dụng trong cả năm.

Các chất béo có nguồn gốc từ thực vật cũng được dùng phổ biến và lâu đời. Vừng, lạc, đậu tương, đậu xanh được người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình sử dụng, chế biến thành các món ăn thường ngày. Tương của người Thái khác với tương của người Kinh về cách chế biến và mùi vị.

Người Thái sử dụng nhiều hoa quả thay cho gia vị hàng ngày: me, muỗm, sung, chuối xanh. Họ ưa thích vị chua, ngọt, đắng, cay.

2.1.3.3. Các món ăn chế biến từ thuỷ sản Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Cá, các thuỷ sản khác là nguồn thực phẩm quan trọng của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, vì trước kia, trong thiên nhiên nguồn thức phẩm này khá dồi dào. Các món thuỷ sản được chế biến rất nhiều món, đa dạng, phong phú nhưng gần gũi nhất với họ là món cá (pa) nướng. Cá nướng có nhiều loại, được chế biến khác nhau: pa pỉnh, pa pỉnh tộp, pa chí, pa óm, pa xổm.v.v. Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng rất thích ăn cá gỏi (pa cỏi).

Người Thái Mai Châu-Hòa Bình còn chế biến nhiều loại cá lên men thành cá mắm (gọi là mẳm). Có 2 loại mẳm: mẳm đí: làm từ cá nhỏ, tép; mẳm pa: làm từ cá to. Mẳm có thể để hàng năm, dùng ăn sống, chế biến các món khác.

Pa xổm (cá chua) là món ăn được người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình khá ưa chuộng, thường được làm từ cá to, cách thức làm giống mắm cá nhưng không cho nhiều ớt mà cho nhiều thính, một ít rượu để gây men cá. Cá chua dùng được lâu ngày, ăn sống hoặc qua chế biến.

2.1.3.4. Các món ăn chế biến từ thịt

Thịt được chế biến tương đối giống các món từ cá. Ngoài thịt nướng, hong khói còn chế biến thành lạp xúc, nậm pịa, nhựa mịn, năng xốm, …..

Nậm pịa (nước hỗn hợp phèo) là món ăn độc đáo, chế biến từ phần ruột non tiếp giáp ruột già của các động vật nhai lại (trâu, bò, dê, hoẵng, nhím).

Nậm pịa là món không thể thiếu được trong các ngày lễ hội lớn, đón khách quí.

Nhựa mịn (thịt mủn): thịt để một thời gian cho thớ thịt có mùi nặng, sau đó cắt nhỏ cho vào ống, bỏ gia vị, đốt cho thịt chín, dùng đũa chọc thành món canh nhuyễn, dùng ăn với xôi.

Năng xốm (da chua) được chế biến như món nem chua của người Kinh.

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thích sử dụng tiết sống và chín. Khi cắt tiết trâu, bò người ta thường uống tiết sống bằng cách cho ống nứa đầu vót nhọn vào dòng tiết đang chảy hứng lấy máu và uống trực tiếp luôn. Tiết hãm còn được dùng đánh tiết canh, luộc để ăn chín. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

2.1.3.5. Gia vị và khẩu vị

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường sử dụng các gia vị đặc biệt mạnh như cay, chua, đắng. Họ ưa dùng tỏi, ớt, hành, nghệ, xả, gừng, riềng, rau thơm. Họ thường xuyên sử dụng ớt trong các món ăn, ớt tươi, ớt nướng ròn và giã nhỏ cho vào thức ăn.

Gia vị chua được dùng phổ biến hàng ngày, đặc biệt được dùng chế biến một số thực phẩm để lâu ngày như dưa, măng, cá, thịt. Nhiều loại quả, lá chua được sử dụng thường xuyên làm món ăn hoặc làm gia vị. Vị đắng cũng là vị được ưa chuộng. Đặc biệt người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình ưa dùng bột gạo để nấu canh tạo độ sền sệt. Bột gạo vừa tạo độ ngọt và làm thức ăn sánh, tạo món ăn thích hợp với sử dụng đồ nếp.

2.1.3.6. Đồ uống

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng như đa số các dân tộc khác ít dùng đồ uống kết hợp với ăn hàng ngày, đồ uống thường chỉ dùng vào ngày lễ, tết và tiếp khách. Rượu có 2 loại, rượu cất và rượu cần.

Rượu cần (lẩu xá) là loại rượu đặc biệt chỉ làm bằng gạo, ngô và lá men rừng, được lên men kín trong các vại, chôn kín ít nhất 30 ngày. Rượu cần thường được uống vào ngày lễ, đón khách quí, mọi người đều uống như nhau và uống bằng cần trúc.

Rượu cất của người Thái được cất chủ yếu từ gạo, sắn và men lá rừng. Có hai loại rượu cất: lẩu chôn và lẩu xơ.

Lẩu xơ là rượu nặng, thường làm bằng gạo nương Mèo (giống lúa của người H’Mông) và men lá. Họ chưng cất rượu, lấy rất ít, do vậy rượu rất nặng, uống ít nhưng đã say.

Lẩu chôn là rượu nhẹ, thường làm bằng sắn, gạo, chưng cất lấy nhiều, rượu nhẹ, uống nhiều cũng khó say.

2.1.3.7. Cơ cấu bữa ăn

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường ăn 3 bữa/ngày; bữa chính là bữa chiều. Bữa phụ ăn đơn giản thường là xôi, bữa chính ngoài xôi, có thức ăn như cá, thịt, rau, cơm tẻ, đồ uống. Cơm xôi chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu bữa ăn, thường chiếm 80-90%. Trong ngày lễ thì số lượng và khối lượng thức ăn tăng lên nhiều và luôn kèm đồ uống.

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường ăn bốc, không chan canh vào cơm nếp. Việc sắp xếp bày bàn, trang trí các món ăn cũng như trong bữa ăn rất đơn giản, không cầu kỳ.

2.1.4. Văn hóa ứng xử của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình 

2.1.4.1. Bố mẹ và con cái Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Người Thái trước kia trong một gia đình thường nhiều thế hệ với rất nhiều thành viên nhưng luôn luôn sống hòa thuận, rất ít khi xảy ra va chạm hay xích mích. Bố mẹ và con cái trong gia đình người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình ít khi to tiếng với nhau.

Trong gia đình, bố mẹ coi con dâu, con rể như là con ruột. Nhà không có con trai, bố mẹ cưới rể về ở. Chàng rể có bổn phận chăm sóc bố mẹ vợ như bố mẹ mình. Con dâu khi về nhà chồng vẫn có quyền đi lại gia đình mình và ở lại đó một thời gian dài. Họ cũng không phân biệt con đẻ, con nuôi, con vợ lẽ, con vợ cả, con chung, con riêng-chỉ có phân biệt con trai và con gái, con trưởng và con thứ. Khi chia của cải, người con trưởng thường được hơn. Con gái tuy không được chia phần nhưng luôn được bố mẹ gây dựng vốn khi cưới chàng rể về nhà.

Hôn nhân của con cái thường được cha mẹ tôn trọng. Trai gái có quyền đi lại thăm hỏi nhau, sau đó mới báo bố mẹ cũng được.

2.1.4.2. Vợ chồng

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có tục ở rể từ một đến ba năm. Qui định này đã phần nào đó hạn chế quyền lực của chế độ phụ quyền, tạo cho cuộc sống vợ chồng bình đẳng hơn và có trách nhiệm hơn.

Trong gia đình, sự lấn át của người chồng có thể hiện nhưng không mạnh, khi làm gì vợ-chồng thường bàn bạc với nhau. Khách đến nhà chồng tiếp chuyện, vợ lo phục vụ. Người chồng thường lo việc nặng hơn như cày, bừa, chài lưới, kiếm gỗ, dựng nhà. Người vợ lo nội trợ, chăm sóc con, nương rẫy, cấy hái, dệt vải, chăn nuôi.

Mặc dù khi là thanh niên, quan hệ yêu đương của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình tương đối mở, nhưng khi đã là vợ chồng thì lại có những luật lệ rất khắt khe về trách nhiệm giữa người vợ-người chồng, đặc biệt là khi ốm đau.

2.1.4.3. Anh em ruột thịt

Khi còn ở với cha mẹ, anh em ruột thịt chịu sự chỉ dạy của các bậc cao tuổi trên mình. Anh em chung nhà thường nhìn nhau, tự giác trong công việc, ít khi để cha mẹ nhắc nhở. Anh em bao giờ cũng có ý thức giúp nhau. Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng như người Thái ở vùng khác, tối kỵ anh em mắng mỏ nhau. Trong luật lệ có qui định xử phạt tiền, rượu, lợn nếu anh em mắng mỏ nhau, và còn bị làng xóm chê cười. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

2.1.4.4. Quan hệ gia đình và khách

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình đặc biệt mến khách, khách đến chơi thăm hoặc nhờ vả đều được đón tiếp trọng thị, trong đó quí nhất là khách bên nhà vợ. Khách đến nhà, bà chủ vận quần áo đẹp ra đón khách, trải chiếu đẹp cho khách và chồng ngồi trò truyện. Khi có khách quí đến nhà-gia đình bắt gà chíp làm thịt sáo măng đãi khách, khách đại quí-thịt gà đang ấp đãi khách. Họ quan niệm gà con đang lớn, gà mái đang ấp mà thịt đãi khách thì có nghĩa không còn tiếc khách điều gì nữa.

Trước lúc ăn cơm, bao giờ cũng có chậu nước sạch, khăn mặt sạch để dành cho khách sử dụng. Trong khi ăn cơm, khách và chủ không nói chuyện khích bác, mà thường nói chuyện vui, vợ và con gái người chủ thường xuyên tiếp nước, phục dịch khách.

2.1.4.5. Quan hệ làng bản

Ngay từ thời xa xưa, người Thái phải chống chọi với thú dữ, giặc cướp, chính vì vậy mối quan hệ làng bản là mối quan hệ cộng đồng được hình thành và phát triển từ rất xa xưa. Người Thái vùng Mai Châu-Hòa Bình cũng như người Thái ở vùng khác dựng nhà nọ cách gần nhà kia, nhà nọ gọi nhà kia nghe rõ. Trên thực tế, rất ít khi xảy ra xung đột lớn trong bản, sự xung đột này thường chỉ xảy ra giữa các bản với nhau. Trong một bản, tính cộng đồng rất cao, có việc, vui, buồn cả bản đều giúp đỡ hoặc chia sẻ, kể cả không cùng dòng họ. Điều này thể hiện rất rõ khi một gia đình làm nhà, rất nhiều người trong bản đến giúp-mặc dù làm nhà kéo dài hàng mấy tháng liền. Ngày dựng nhà cả bản đến giúp, các phất tranh lợp mái được nhiều người trong bản mang góp tặng.

Trong việc tang lễ, ma chay họ lại càng thể hiện rõ tính cộng đồng. Khi trong bản có người già mất, không ai bảo ai, cả bản kéo đến, mỗi người một tay, cắt cử lo toan công việc. Đặc biệt, dù không là họ hàng nhưng người trong bản đến lễ tang đều tự giác quấn khăn tang lên đầu.

Người Thái lên án gay gắt những người lười biếng, trộm cắp. Đặc biệt đối với việc trộm cắp có hình phạt rất nghiêm khắc. Chính vì vậy, người Thái có thể để lúa chín trên ruộng, nương, làm kho lúa ở ngoài đồng mà không lo bị mất trộm. Họ sống với nhau bằng lòng trung thực, căm ghét sự dối trá.  Trong quan hệ trai gái, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình khá mở khi còn yêu đương, nhưng họ không chấp nhận việc loạn luân hay ngoại tình. Đây là điều xã hội lên án gay gắt nhất và bị xử phạt nặng nhất.

Trong xã hội cổ truyền của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, mẫu người lý tưởng không phải là người trong đạo Khổng-không phải là người lắm tiền nhiều của, mà là người biết lo việc chung của bản, mường, sẵn sàng xả thân giúp đỡ người khác.

2.1.5. Phong tục Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

2.1.5.1. Tục lệ cưới xin

Người Thái theo chế độ một vợ-một chồng, rất hiếm trường hợp đa thê, đa thê chỉ xảy ra ở các dòng họ quí tộc.

Do không bị ảnh hưởng của Nho giáo, nên thanh niên nam nữ có rất nhiều điều kiện để tìm hiểu nhau. Thanh nam có thể tự do đến nhà thanh nữ tìm hiểu, trò chuyện thâu đêm tại trên nhà hoặc dưới sàn nhà của người thanh nữ.

Thủ tục cưới xin qua khá nhiều nghi lễ, sau đó chàng rể mới đón cô dâu về nhà mình. Ở nhà trai 3 ngày, chàng rể đưa cô dâu về nhà mẹ vợ; mang theo lễ gà, rượu. Nhà gái tổ chức bữa cơm đón rể, làm lễ nhập phòng cho phép vợ chồng chung chăn gối. Người chồng ở rể từ 1-3 năm, nếu nhà vợ khó khăn có thể phải ở lâu hơn. Tục lệ cưới xin của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có xu hướng tôn trọng vai trò của người phụ nữ.

2.1.5.2. Tục lệ trong sinh nở

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình quan niệm sinh con là niềm vui của cả gia đình và là sự ban thưởng của trời đất, tạo hóa. Chính vì vậy, sự ra đời của những đứa trẻ luôn là niềm mong ước và hạnh phúc gia đình.

Cũng do quan niệm trên nên khi người phụ nữ mang thai và sau khi đẻ được chú ý và chăm sóc khá chu đáo. Khi mang thai phụ nữ không phải làm việc nặng, thường chỉ làm việc nội trợ ở nhà. Khi người phụ nữ trở dạ, được chuyển gần bếp lửa và sinh nở tại đó. Bếp lửa xua tan giá rét, sưởi ấm cả mẹ và con. Trong vòng 6 tháng ròng sau khi sinh, người mẹ và đứa trẻ được ở gần bếp lửa, người mẹ được kiêng cữ rất kỹ.

Một điều đặc biệt, người Thái có rất nhiều các bài thuốc dân gian để dưỡng thai, tăng sữa, thậm chí có cả các bài thuốc tránh thai trong một thời gian nhất định, khi nào không muốn tránh mà cần sinh nở thì vẫn sinh nở được. Ngày nay các bài thuốc này vẫn được một số người Thái sử dụng.

2.1.5.3 Tang lễ Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Tang lễ của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thực hiện qua 8 bước:

  • Lễ tắm xác: Khi người chết vừa tắt thở, con cháu vuốt mắt, tắm rửa bằng nước ấm, thơm, sau đó lau người, mặc đồ, trang điểm. Bộ đồ niệm thường là trang phục ngày hội, may theo lối cổ. Đồ trang sức cũng có thể đeo cho người chết, thường là đồ bằng bạc, rất kiêng chôn theo người chết các đồ bằng sắt, đồng.
  • Lễ niệm: Người chết được đặt trên chiếc đệm rộng 0,3-0,4 m, dài 1,82,0 m. Dưới đệm là chiếu cói nhỏ, viền đỏ xung quanh. Người nhà dùng chỉ buộc hai ngón tay cái, hai ngón chân cái vào nhau, dùng một miếng vải vuông buộc lấy cằm để tránh miệng há ra khi xác cứng dần lại. Khi niệm xong, con cháu đặt một mâm cúng thịt gà, bát xôi, đôi đũa. Lúc đó tang chủ mới đánh một hồi chiêng, chính thức báo cho dân làng biết về việc tang lễ.
  • Lễ nhập quan: Quan tài làm bằng gỗ tốt hình tròn, khoét theo lòng thuyền, mép quan tài lắp mộng kín. Trước khi nhập xác, người ta bỏ tro bếp, bông lau vào lòng quan tài, sau đó là lớp phên tre cứng, ngăn giữa tro và xác người.
  • Lễ tạ ơn cha mẹ: Thường con cháu giết một con lợn để cúng. Thày mo được mời đến, thay lời con cháu nói lên công lao nuôi nấng dạy dỗ của cha mẹ, cầu mong cha mẹ che chở cho con cháu khỏi ốm đau, nghèo khó, làm ăn phát đạt…
  • Lễ chính: Tang chủ giết lợn to làm lễ chính cúng bố mẹ, các con gái ra ở riêng mỗi người góp một con lợn nhỏ hơn. Họ, hàng, dân bản tuỳ gần xa, khả năng, tình cảm của mình mà giúp tiền, gạo, rượu, thực phẩm.v.v.
  • Lễ đưa tang: Quan tài được khiêng tay từ trên nhà sàn xuống sân, đặt lên gác nghỉ để con cháu ngồi xổm khóc dưới quan tài. Sau đó, dân làng mỗi giúp khiêng quan tài, thắp 4 ngọn nến ở bốn góc, chụp nhà xe bằng vải màu làm bằng khung tre, hình mái nhà trùm kín quan tài. Trên đường đi, chiêng trống đánh mở đường. Nếu là nam giới, còn bắn súng kíp mở đường.
  • Lễ đưa cơm cuối cùng: Lễ này được thực hiện ngay trong ngày chôn cất người quá cố hoặc sáng hôm sau. Con cháu mổ gà, đưa cơm cúng tại nhà mồ.
  • Lễ rửa nhà: Sau 2-3 ngày, khi việc tổ chức chôn cất xong, tang chủ mổ gà mời ông thấy mo đến xua đuổi tà khí. Khi làm xong thủ tục, người nhà sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn, nỗi buồn thương người quá cố nguôi dần.

2.1.5.4. Tục làm hiếu

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình quan niệm khi ông bà, bố mẹ chết, hồn chưa lên được mường trời vẫn còn phải chịu cực nhọc, nắng gió trên trần gian. Vì vậy, con cháu muốn mát mẻ trong làm ăn thì phải làm lễ hiếu. Đây là một hủ tục, mê tín dị đoan và đặc biệt tốn kém về vật chất và về thời gian. Việc làm hiếu được tiến hàng 8 ngày, sắp đặt chặt chẽ:

  • Ngày thứ nhất: Lễ đón ma về. Giết lợn cúng, tối giết gà. Các nàng dâu đứng lên dàn chầu quạt, mặc tang phục, nét mặt từ bi. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.
  • Ngày thứ hai: Lễ nhập quan. Hồn người chết hiện về nhập vào cỗ quan tài mới của mình. Gia chủ mổ một trâu làm cỗ lễ.
  • Ngày thứ ba: Lễ đưa hồn người chết nhập quan. Mổ một trâu hoặc một bò. Ngày thứ tư: Lễ đưa hồn người chết trở lại bãi tha ma. Gia chủ giết nhiều trâu, bò, nếu có thể mỗi người làm ma một đầu đại gia súc làm lễ, ăn uống linh đình.
  • Ngày thứ năm: Lễ cho hồn người chết chuẩn bị lên Mường Trời. Gia chủ giết, một trâu, một bò, da được lột sạch, làm trống to, trống nhỏ.
  • Ngày thứ sáu: Lễ dâng cỗ lớn. Gia chủ mổ một bò cúng tại nhà mồ.
  • Ngày thứ bảy: Lễ đưa cơm giữa hoặc cuối cùng, mổ lợn cúng tại nhà mồ. Cúng xong, con cháu sửa sang mồ mả. rào vách.
  • Ngày thứ tám: Lễ rửa. Gia chủ mổ gà cúng, mời thày mo về xua đuổi tà khí, đem lại sạch sẽ, yên bình cho gia chủ. Tục làm hiệu kết thúc.

2.1.6. Lễ hội

2.1.6.1. Hội cầu mưa

Vào tháng ba, tháng tư hễ trời hạn hán là người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình tổ chức hội cầu mưa, hội tổ chức theo bản. Tham gia hội đông nhất và nhiều nhất là nam nữ thanh niên. Tầng lớp trung niên thì ở nhà sẵn sàng đón tiếp đoàn hát cầu mưa.

Vào dịp tổ chức hội cầu mưa, hầu như mọi sinh hoạt trong bản đều hướng về hội cầu mưa. Trai gái trong làng theo hội hát xướng và thực hiện các thủ tục. Năm sáu ngày sau, nếu trời không mưa thì bản lại tiếp tục thực hiện các hội cầu mưa tương tự.

2.1.6.2. Hội cầu phúc bản Mường

Hội cầu phúc bản (xên bản), hội cầu phúc mường (xên mường) thường tổ chức vào khoảng tháng tám, thời điểm tiết trời mát mẻ, lúa đồng đang ở thì con gái. Cứ hai năm tổ chức hội xên bản thì năm thứ ba sẽ xên mường.

Hội xên bản, thực chất là lễ nghi nông nghiệp cầu nguyện mùa màng tươi tốt trong văn hóa truyền thống của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình. Trong ngày hội xên bản, không tổ chức vui chơi, giải trí. Mọi người vẫn nặng nề vì tâm lý lo sợ sâu bệnh, mất mùa. Hội xên bản trước kia nhiều khi bị các tầng lớp sai nha, quí tộc lợi dụng đặt thêm các nghi lễ nhằm bóc lột người dân để ăn chơi phè phỡn.

Hội xên mường được tổ chức với qui mô và không khí khác hẳn. Trong những năm được mùa, đời sống ấm no, hội được tổ chức rất lớn, với sự tham gia của nhiều người tài giỏi, các chức sắc của toàn mường.

Ngày đầu tiên của hội, đám rước bắt đầu đi từ nhà tạo mường ra đình làng. Đi đầu đoàn là tạo mường và các chức sắc của mường, áo quần là lượt the nhung, cờ xí, võng lọng rợp trời. Tới đình làng, vị mo già làng (ông đẳm), mặc áo thụng xanh, đầu đội mũ đuôi én màu đỏ tiến lên án thư, đọc điếu văn mở đầu, sau đó rung chuông mở màn chính cho lễ hội. Lập tức hai con trâu được mang ra một bãi rộng để giết thịt. Cuộc vui chơi của ngày hội được bắt đầu.

Ngày thứ hai của hội xên mường là ngày thi bắn súng hoả mai và bắn nỏ. Đây là cuộc thi được nhiều người quan tâm dự thi và đến xem, cũng là dịp thi tuyển nhân tài cho mường. Người tài giỏi nhất cuộc thi được nhận giải thưởng và được phong chức tuần mường, ban thưởng đất đai. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Sáng ngày thứ ba, có nhiều trò chơi, đáng chú ý nhất là hội ném còn. Ngoài ra còn có các trò chơi khác như chọi gà, thi chim họa mi, thi trâu béo khoẻ (không thi chọi trâu). Đêm về, lúc trăng lên là cuộc thi hát đối đáp, thi khèn, thi sáo.

2.1.6.3. Lễ cơm mới

Lễ cơm mới (khau mờ) của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình khép lại chu trình sản xuất của một năm, mở ra một năm mới. Gia đình nào cũng làm lễ cơm mới hai lần-trước khi ăn bát cơm chiêm đầu tiên và bát cơm mùa đầu tiên. Ngày khau mờ là niềm vui của dòng họ trong bản, nhưng trách nhiệm lớn lao, vinh hạnh hơn cả là cô dâu trong gia đình đăng cai làm lễ.

Trong ngày lễ khau mờ, trẻ em là đối tượng được quan tâm nhất, các em thường tụ tập nhau lại, được tự do chơi các trò chơi ưa thích, thường là chơi trò đánh thẻ.

2.1.6.4. Sinh hoạt văn nghệ của ngày hội chá chiêng

Trước kia, ở các bản làng người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có các ông mùn, họ thường làm luôn nghề thày mo, bản thân họ là người hiểu biết, có kiến thức khá rộng và sâu về các bài dân ca, văn học, y học cổ truyền. Chính vì vậy, ông mùn thường kiêm tìm thuốc, khám chữa bệnh cho dân bản. Để ràng buộc mọi người và người bệnh mà ông chữa khỏi, 2-3 năm một lần, ông mùn tổ chức hội chá chiêng-ngày các con bệnh xa gần đến thày mùn tạ ơn, thăm hỏi. Hội được tổ chức trọn một ngày, một đêm.

Người dự hội, ngoài các người đến tạ ơn, còn có hàng trăm người trong bản và các bản khác đến tham dự. Văn nghệ trong ngày hội rất phong phú, nhưng chủ yếu là:

  • Múa khăn: Múa tập thể, ngoài tiếng sáo, khèn, các điệu dân ca còn tiếng gõ nhịp của ống bương.
  • Múa kiếm (Xoè kiếm): Là hình thức múa võ, động tác khoẻ manh, đẹp mắt, thu hút sự thán phục của nhiều người.
  • Các trò diễn: là các trò bắt chước tiếng động vật, biểu diễn một số động tác của con người có tật xấu, dị tật, ma quỉ hoặc tiếng động vật kêu: hổ gầm, ma cà rồng (Phỉ cà coóng), ma rừng (Phỉ bài), chàng lười, người mù, người què, kẻ trộm ranh ma.v.v.
  • Hái hoa kết boóc (Bói hoa): Đây là phần cuối của lễ hội. Người chủ nhà trực tiếp hái hoa bằng các lời hát tặng cho từng người đến tạ ơn thông qua cây hoa của mình dựng lên.

2.1.6.5. Hát đối đáp (Khắp tua)

Khắp tua giống hát ví, hát trống quân của vùng đồng bằng-một loại dân ca trữ tình, giao duyên của trai gái. Tuy nhiên, trình tự có thể thay đổi và không nhất thiết mỗi cuộc hát đều phải đủ các bài hát ấy.

 Cũng do khắp tua là sinh hoạt văn hóa lâu đời, thường xuyên, do vậy số lượng các bài hát khắp và tua rất phong phú và đa dạng, từ lời thăm hỏi, chào đón, tình từ, hẹn hò, thề thốt, trong đó hình thức so sánh, ví von, ẩn dụ được sử dụng rất nhiều.

2.1.7. Văn học, nghệ thuật Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

2.1.7.1.Truyền thuyết dân gian

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có hai loại truyền thuyết chủ yếu đó là truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết trong văn học.

Trong truyền thuyết lịch sử thường gắn liền với lịch sử chống thú dữ, thiên tại, chống nạn cát cứ phong kiến tranh đất, tranh mường, đó là truyền thuyết: “Sự tích gốc cây thị ở bản Mỏ”; “Truyền thuyết về hang Khoài”. Ngoài ra còn một số hệ thống truyền thuyết, trong đó nêu cao tình anh em của các tộc Thái anh em như truyền thuyết về 3 anh em người Thái ở Mai ChâuHòa Bình, Mộc Hóa, Mộc Châu. Truyền thuyết về ông Bá Hộ, một Kinh chạy loạn, lấy vợ ở bản Củm (xã Vạn Mai) có công giết giặc, trở thành dòng dõi quí tộc Hà Công đã nói lên tinh thần thượng võ của người Thái ở Mai ChâuHòa Bình.

2.1.7.2. Truyện cười dân gian

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có rất nhiều truyện cười dân gian. Không phải ngẫu nhiên mà Hoàng Bỉnh Chính (1788) trong cuốn Hưng Hóa phong thổ lục, hay Lê Quí Đôn trong” Kiến văn tiểu lục” đều viết: “Đàn ông Mai Châu-Hòa Bình hay nói vui”.

2.1.7.3. Trống đồng người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

Trống đồng Mai Châu-Hòa Bình được phát hiện ngẫu nhiên trên một gò đất cao trong khu ruộng màu mỡ của xã Mai Hạ. Trống đồng Mai Hạ thuộc nhóm thứ hai, loại trống đồng này được tìm thấy ở nhiều nơi tại Hòa Bình, điều đó chứng tỏ trống đồng đã được sử dụng nhiều trong lễ hội, trong các công việc của các dòng họ quí tộc.

Ở Mai Hạ, vào tháng tám khi lúa có đòng, nhân dân làm lễ ở đền Vua, bà Hoàng Hội. Ngày hội có dân đinh là trai tráng trẻ, khoẻ đứng nghiêm trang ngoài cổng, trống đồng của mường, chiềng được mang ra hội. Trong lễ hội người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, trống đồng là hoạt động văn hóa dân gian lành mạnh, hấp dẫn và mang tính cộng đồng cao.

2.1.7.4. Khèn bè Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Cây khèn bè, là loại nhạc cụ độc đáo của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, được nam giới sử dụng rộng rãi. Khi trăng sáng, các thanh nữ rủ nhau lập thành các nhóm 5-7 người kéo sợi, thì cũng là lúc các chàng trai rủ nhau mang khèn đến thổi và vui trò truyện. Họ vui chơi, làm việc đến tận khi trăng mọc. Cũng qua các đêm này, nhiều trai gái đã nên vợ, nên chồng.

Người thạo khèn bè, có thể tạo ra nhiều sắc thái âm thanh, với nhiều hợp âm khác nhau, đặc biệt khèn bè có thể tạo được âm rất trầm, hợp âm đa dạng. Chính vì vậy, âm của khèn bè rất lắng sâu, đa dạng, nhiều thang bậc. Về cơ bản, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, khèn bè có 4 giai điệu chính:

  • Các giai điệu khèn khi dạo quanh bản: tiết tấu nhanh, mạnh, sắc thái vui, nhộn. Tạo nên không khí vui nhộn, tin tưởng, mạnh mẽ, thoáng đáng.
  • Các giai điệu gọi thanh nữ: tiết tấu nhẹ nhàng, vừa phải; sắc thái trữ tình, êm ái. Tạo nên sự xao xuyến, trữ tình dễ làm say lòng các thanh nữ.
  • Các giai điệu an ủi những người đàn bà goá: tiết tấu vừa phải hoặc hơi chậm; sắc thái du dương, tha thiết. Tạo nên sự gợi nhớ quá khứ, vừa nhắc đến việc của người vợ, người mẹ hiện tại.
  • Các giai điệu tạm biệt người yêu: tiết tấu chậm; sắc thái buồn, da diết.

Biểu lộ tình cảm thắm thiết, nhớ nhung, không muốn rời xa.

2.1.7.5. Hoa văn trên mặt vải

Con gái người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình ngoài chăm chỉ, lao động giỏi còn phải biết kéo sợi, dệt vải, khâu gối, đệm, chăn màn.v.v. Những thanh nữ giỏi dệt vải, khâu vá, thêu thùa dù kém nhan sắc cũng dễ lấy chồng, ngược lại có nhan sắc nhưng không biết dệt vải, thêu thùa thì cũng khó lấy chồng.

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có 3 loại mặt nền vải chính:

  • Loại thứ nhất: mặt nền vải (phà) màu trắng với các họa tiết màu đen, xanh, tím, hoặc đỏ. Chất liệu dệt là sợi, khổ rộng 0,40 m, hoa văn chủ yếu là hình cây cối, hoa màu.
  • Loại thứ hai: mặt nền vải màu đỏ, chất liệu chủ yếu là tơ tằm, khổ thường rộng trên 0,40 m. Loại phà này thường được trang trí bằng nhiều họa tiết có màu sắc khác nhau, các hoa văn có thể là hình động vật, cũng có thể là hình cây cối, hoa lá.
  • Loại thứ ba: mặt phà gọi là “đền vọng”, nền màu đỏ, họa tiết nhiều màu, chủ yếu là hình động vật. Chất liệu dệt là tơ tằm, khổ 75-80 cm.

2.1.7.6. Xoè Thái Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

 Xòe là một hình thức múa, một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian khá phổ biến, có cội nguồn từ xa xưa trong các lễ hội của các tộc Thái Việt Nam nói chung và của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình nói riêng. Xòe của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có một số điệu xòe cơ bản sau:

Xòe “ông bổng”: là hình thức múa cổ, đơn sơ, mộc mạc. Mọi người cầm tay nhau nhảy nhót quanh đồng lửa theo nhịp hò sau một buổi săn hoặc quanh vò rượu cần trong các lễ hội, trong ngày vui dựng nhà mới.v.v. Xòe”ông bổng” có trang phục bình thường, không có nhạc, theo các mệnh lệnh tự hô, có sự cổ vũ của người xem, động tác đơn giản, mạnh mẽ, vui nhộn, phóng khoáng.

Xòe chá: thường do các ông mùn tổ chức. Lễ có hai hình thức chính:

xòe chá cang (mổ lợn), xòe chá cáy (mổ gà). Đây là hình thức xòe khá qui mô, được tổ chức chu đáo.

Xòe vòng: được tổ chức vào những dịp hội, lễ lớn cầu phúc bản mường  (xên bản, xên mường), ngày vui của chủ bản, các tạo (mừng nhà mới, mừng con dâu, con rể, đón quan trên…). Trong xòe dân gian còn có xòe đơn lẻ, xòe đôi, xòe đánh máng.

2.2. Sự hình thành và phát triển du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

2.2.1. Tình hình phát triển du lịch ở tỉnh Hòa Bình

Trước kia du lịch ở tỉnh Hòa Bình ít có vai trò quan trọng trong kinh tế xã hội của tỉnh. Trong khoảng hai thập kỷ vừa qua, với chủ trương ưu tiên đẩy mạnh phát triển du lịch, Hòa Bình là một trong các tỉnh đang có du lịch phát triển tương đối mạnh.

Hiện tại Hoà Bình có 87 doanh nghiệp, chi nhánh có đăng ký kinh doanh du lịch (trong đó có một số doanh nghiệp chưa kinh doanh). Có 133 khách sạn, nhà nghỉ, nhà sàn du lịch cộng đồng kinh doanh lưu trú du lịch, trong đó 01 khách sạn 3 sao, 7 khách sạn 2 sao, 2 khách sạn 1 sao, 3 khách sạn đạt tiêu chuẩn, với tổng số 1.251 phòng, 2.326 giường (không tính 42 nhà sàn kinh doanh du lịch cộng đồng).

Về nguồn nhân lực cũng có sự thay đổi đáng kể: năm 2001 có 427 lao động, đến nay có 1.100 lao động-trong đó trên đại học-5 người; đại học – 210 người (19,09%), cao đẳng-125 người (11,36%); trung cấp – 450 người (40,91%); sơ cấp-180 người (16,36%); lao động phổ thông – 130 người (11,82%).

Tỉnh Hoà Bình hiện có trên 30 bản, làng văn hóa dân tộc đang thực hiện chương trình phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, trong đó có các bản thường xuyên thu hút khách trong và ngoài nước đến thăm và được đánh giá cao.

Tốc độ tăng trưởng GDP du lịch tăng cao, tăng bình quân hàng năm 27,9%, GDP du lịch so với GDP chung toàn tỉnh tăng từ 1,89% năm 2001 lên 2,64% năm 2005. Nghị quyết số 05/NQ-TU đề ra mức tăng trưởng đối với du lịch là 10-15% như vậy kết quả thực hiện so với Nghị quyết tăng 17,9%. Trong năm 2006, thu nhập của ngành du lịch tỉnh đạt 86,075 tỉ đồng. Con số này chắc chắn nhỏ hơn nhiều so với thực tế vì hiện nay đóng vai trò chủ đạo trong kinh doanh du lịch của tỉnh là các doanh nghiệp tư nhân.

Hiện nay, tỉnh Hòa Bình có 32 dự án đầu tư vào lịch vực du lịch, với số vốn đăng ký: 1.673,9 tỷ đồng (tương đương 107,3 triệu USD). Các dự án tập trung nhiều vào các khu qui hoạch phát triển du lịch của tỉnh:

  • Khu Lương Sơn: Khu du lịch sinh thái suối Ngọc, vua Bà (xã Tiên Xuân), khu sân gôn Phượng Hoàng (xã Lâm Sơn), khu trượt cỏ Minh Hạnh (xã Yên Chung), khu Vịt cổ xanh.v.v.
  • Khu Kim Bôi: Khu nghỉ điều dưỡng của Liên đoàn lao động tỉnh (83 phòng, 216 giường) ; khu lưu trú, du lịch sinh thái, hội nghị cao cấp V-resort.
  • Khu Mai Châu-Hòa Bình: khách sạn Mai Châu-Hòa Bình (công ty Thiên Minh), khu bảo tồn bản Bước, khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Tổng mức đầu tư được duyệt của các dự án dành cho phát triển du lịch từ 2002-2006 là 96,9 tỷ đồng, trong đó cho xây dựng hạ tầng du lịch: 71,6 tỷ đồng, phát triển làng nghề: 25,3 tỷ đồng. Tổng số vốn đã được cấp đến năm 2006: 45,3 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn đầu tư từ ngân sách địa phương tự bổ sung: 290 triệu đồng. Số còn thiếu 51,6 tỷ đồng. Đến nay đã đưa vào sử dụng 7 dự án, đã phát huy hiệu quả thúc đẩy tốc độ tăng trưởng du lịch bình quân hàng năm tăng từ 15-20%/năm. Như vậy, mức đầu tư cho phát triển du lịch ở tỉnh Hòa Bình còn rất khiêm tốn.

Tỉnh Hòa Bình dự kiến, thu nhập du lịch trên địa bàn tăng bình quân giai đoạn 2007-2010: 31,2% (đến năm 2010 đạt 213,6 tỷ đồng); giai đoạn 20112020: 18% (đến năm 2020 đạt 1.118 tỷ đồng). Đặc biệt tỉnh đang làm dự án trình chính phủ công nhận khu hồ Hòa Bình vào khu du lịch quốc gia.

Các công trình phát triển du lịch, vui chơi giải trí đã và đang được đầu tư ở tỉnh Hòa Bình hiện nay phần lớn là vốn của các công ty tư nhân. Kinh phí của tỉnh và Trung ương chủ yếu phục vụ cho khâu qui hoạch và một phần cho xây dựng hạ tầng.

Với những lợi thế đặc biệt của mình về thiên nhiên, vị trí địa lý, văn hóa xã hội, với chính sách đúng đắn, hợp lý, Hòa Bình chắc chắn sẽ trở thành một tỉnh có du lịch phát triển mạnh.

2.2.2. Sự hình thành, phát triển du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình

Từ năm 1960, một số khách của các đại sứ quán nước ngoài thường thông qua Công ty Du lịch tỉnh Hòa Bình để vào thăm một số bản người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình. Lúc đó huyện không có nhà khách, nên Công ty Du lịch thường cho khách nghỉ tại nhà ông Hà Công Nhấm ở bản Lác và nấu nướng, tổ chức cho khách ăn, nghỉ tại đây. Dần dần, bản Lác và sau đó là bản Pom Coọng (gần sát bản Lác) thành điểm dừng chân và tham quan của khách.

Từ đây, một số nhu cầu tất yếu giữa cung và cầu được hình thành dần dần, đó là nhu cầu lưu trú, ăn uống, dẫn đường cho khách.

Có thể nói rằng những người đặt nền móng đầu tiên cho du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình là một số cán bộ huyện là người địa phương của bản Lác (xã Chiềng Châu), bản Pom Coọng (thị trấn). Vào những năm 1992-1995, ông Hà Văn Tích phụ trách nhà khách của huyện (nay là trưởng ban tài chính huyện) nhiều khi đã đưa khách về ở nhà mình và họ hàng ở bản Pom Coọng vì nhà khách huyện hết chỗ.

Năm 1993, nhà khách huyện được xây dựng nhưng vẫn không đáp ứng đủ chỗ cho khách. Mặt khác, nhiều du khách lại thích nghỉ tại bản Lác, bản Pom Coọng. Từ sự phát triển có tính tự phát trên, đến cuối những năm thập kỷ tám mươi và đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ XX, lượng khách tăng lên đáng kể. Năm 1995, Uỷ ban nhân dân huyện Mai Châu-Hòa Bình lần đầu tiên ban hành qui chế số 400-về một số chế độ, nội qui, tài chính trong việc cho khách lưu trú tại địa phương. Đây là dấu mốc có tính chất hành chính đầu tiên đánh giá sự hình thành du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình. Sau đó các thủ tục hành chính, đăng ký kinh doanh đối với các hộ làm du lịch dần dần được hoàn thiện. Đến năm 1997, thuế thu nhập đã được áp dụng đối với các hộ kinh doanh có giấy phép. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Hiện nay, bản Lác có 110 hộ, hiện có 20 hộ đăng ký kinh doanh du lịch (ngoài ra còn nhiều hộ khác kinh doanh du lịch nhưng không đăng ký với chính quyền). Trong 20 hộ đó hộ Hà Công Hồng có doanh thu lớn nhất (1,5-2 tỉ/năm), có 4 nhà nghỉ lớn, hiện đại, liên hoàn. Các hộ khác doanh thu thấp hơn nhưng cao hơn bản Pom Coọng. Bản Pom Coọng có 60 hộ, có 10 hộ đăng ký kinh doanh du lịch (ngoài ra còn nhiều hộ khác kinh doanh du lịch nhưng không đăng ký với chính quyền). Trong 10 hộ kinh doanh du lịch thì có 4 hộ mạnh nhất, đó là chị Hà Thị Chung, trước là cán bộ nhà khách huyện-có 4 nhà nghỉ (doanh thu 1-1,5 tỉ/năm); ông Khà Văn Vương (bố chị Chung)-2 nhà nghỉ (doanh thu 800-900 triệu/năm); ông Hà Văn Đức (Têu)-2 nhà nghỉ; Hà Văn Hưng-2 nhà nghỉ (doanh thu 400-500 triệu/năm). Các hộ khác có tham gia kinh doanh du lịch có doanh thu thấp hơn-vài chục triệu đồng/năm. Nhiều hộ không đăng ký kinh doanh nhưng trên thực tế vẫn tham gia kinh doanh du lịch.

Ngoài bản Lác, bản Pom Coọng, khu vực gần thị trấn còn bản Nhót (xã Nà Phòn), bản Văn (thị trấn) cũng tham gia kinh doanh du lịch. Bản Văn có 4 gia đình kinh doanh lưu trú, nhưng lượng khách ít và không thường xuyên như bản Lác, bản Pom Coọng. Bản Nhót không kinh doanh dịch vụ lưu trú mà chủ yếu là hướng dẫn, biểu diễn, cung cấp vải, hàng thổ cẩm, thực phẩm phục vụ du khách tại bản Lác và bản Pom Coọng. Các hoạt động này không thường xuyên, doanh thu rất thất thường.

Ngoài các bản người Thái ở quanh thị trấn Mai Châu-Hòa Bình, một số bản ở xa khác cũng tham gia kinh doanh du lịch (lưu trú, phục vụ ăn uống, ca hát…) nhưng lượng khách rất ít, đó là bản Bước (xã Xăm Khoè), bản Vặt (xã Piềng Vế).

2.2.3. Hoạt động kinh doanh du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình

Có thể nói du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình mang nặng tính tự phát và doanh thu còn quá khiêm tốn. Tuy vậy, nó cũng là nguồn sống, thu nhập kinh tế chính của một số bản người Thái và người H’Mông. Kinh doanh du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình gồm chủ yếu kinh doanh lưu trú, kinh doanh phục vụ ăn uống; các hình thức kinh doanh dịch vụ bổ sung: biểu diễn văn nghệ, dẫn đường, bán các sản phẩm lưu niệm, vận chuyển khách.

Cho đến nay, tại Mai Châu-Hòa Bình chưa hình thành một doanh nghiệp du lịch nào. Các hộ kinh doanh du lịch ở các bản có đăng ký kinh doanh, làm nghĩa vụ thuế với nhà nước nhưng không thành lập các công ty. Tất cả các gia đình này đều có liên hệ với một số công ty du lịch ở Hà Nội và một số công ty ở các tỉnh phía nam, đón khách của các công ty đó.

Đa phần du khách đến đây trực tiếp tự trang trải các khoản chi phí với các chủ hộ kinh doanh, có một số khách theo tour trọn gói, công ty đưa khách đến thanh toán chi phí với chủ nhà. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Hiện nay các tour du lịch đến Mai Châu-Hòa Bình thường có 3 tour: 2 ngày và 1 đêm; 3 ngày và 2 đêm; 5 ngày và 4 đêm. Khách thường lựa chọn tour 2 ngày 1 đêm hoặc 3 ngày và 2 đêm; tour 5 ngày và 4 đêm cho đến nay không nhiều du khách.

Các tour thường diễn theo trình tự sau:

  • Tour 2 ngày và 1 đêm: Hà Nội-Mai Châu-Hòa Bình (8h đến 11h)-tham quan, nghỉ đêm- Mai Châu-Hòa Bình-Hà Nội (15h đến 18h).
  • Tour 3 ngày và 2 đêm: Hà Nội-Mai Châu-Hòa Bình (8h đến 11h)- tham quan, nghỉ đêm (2,5 ngày, 2đêm)-Mai Sơn-Hòa Bình: tham quan, nghỉ ngơi tại thị xã (14h đến 17h)-Hòa Bình-Hà Nội (17h đến 18h30).
  • Tour 5 ngày và 4 đêm: Hà Nội-bản Lác (1 ngày, đêm); bản Lác-Pà Cò (1 ngày, 1 đêm); Pà Cò-Hang Kia (1 ngày, 1 đêm); Hang Kia-bản Vặt (Piềng Vế; 1 ngày, 1 đêm); bản Vặt-bản Bước (Xăm Khoè; 1 ngày, 1 đêm); bản Bước-Hà Nội (1 ngày). Kinh doanh du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình gói gọn trong dịch vụ lưu trú, phục vụ ăn uống, dẫn đường và biểu diễn.

Khách du lịch đến Mai Châu-Hòa Bình có xu hướng gia tăng về số lượng và thành phần. Trước kia chủ yếu là người của các nước Tây Âu: Pháp, Anh, Hà Lan, đông nhất là người Pháp. Sau ngày bình thường hóa quan hệ với Mỹ, bắt đầu xuất hiện khách du lịch là người Mỹ, Canada, Tây Ban Nha.

Khách du lịch từ các nước Đông Âu chiếm tỉ lệ rất nhỏ.

Lượng khách trong nước cũng tăng lên đáng kể, nhưng chủ yếu là các đoàn thăm quan, sinh viên các trường đại học và trung học chuyên nghiệp trong nước ở các tỉnh phía bắc. Lượng khách cơ quan, gia đình đến nghỉ ngơi, tham quan, du lịch Mai Châu-Hòa Bình còn rất thấp.

Bảng 2.1. Số lượng, thành phần du khách đến Mai Châu-Hòa Bình từ 2001 đến 2007

Ghi chú:

  • Nguồn: Phòng kinh tế, huyện Mai Châu-Hòa Bình;
  • Tính đến tháng 5 năm 2007;
  • TB/ đoàn: trung bình số người của 1 đoàn.

Biểu đồ tương quan giữa số lượng đoàn và khách trong năm

  • Số lượng đoàn và khách trong nước
  • Số lượng đoàn và khách nước ngoài

Mặc dù số liệu bảng trên có thể khác với thực tế một chút, nhưng qua đó chúng ta cũng có một số nhận định:

  1. Lượng khách du lịch đến Mai Châu-Hòa Bình ngày càng tăng. Ngay năm 2006, lượng khách là 32.338 người (tức trung bình khoảng 10 người dân Mai Châu-Hòa Bình đón tiếp 7 người khách du lịch). Trong đó khách nước ngoài là 8.729 người (chiếm 23,3% số khách du lịch nước ngoài đến tỉnh trong năm 2006).
  2. Lượng khách du lịch là người nước ngoài tăng nhanh hơn so với khách trong nước. Số trung bình đầu người/đoàn tăng nhanh, điều đó chứng tỏ số khách lẻ nhỏ ít dần đi, thay thế bằng các đoàn ngày càng đông hơn. Điều này chứng tỏ, Mai Châu-Hòa Bình ngày càng có sức thu hút với khách nước ngoài hơn.
  3. Lượng khách trong nước tăng chậm. Số trung bình đầu người của một đoàn thấp, điều đó chứng tỏ khách du lịch trong nước đến với Mai Châu-Hòa Bình ở dạng nhỏ, lẻ nhiều hơn là được tổ chức. Như vậy, Mai Châu-Hòa Bình chưa phải là điểm du lịch hấp dẫn đối với khách trong nước. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên-xã hội liên quan đến phát triển du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình:

Cơ sở hạ tầng của Mai Châu-Hòa Bình nói chung và phục vụ cho du lịch nói riêng còn yếu kém. Chỉ cách đường quốc lộ (đường 6) có 5 km, nhưng đường đến thị trấn, đường nội thị vẫn chưa được giải đường nhựa ốphan, đường vào thị trấn nhỏ, đường nội thị nhỏ, các tuyến đường liên xã hầu hết chưa trải nhựa, đường trong các bản (trừ bản Lác, bản Pom Coọng) chưa được trải nhựa hoặc bê tông hóa.

Cả thị trấn hiện có hai nhà nghỉ (khách sạn Anh Đào, nhà nghỉ Ngọc Bách) tổng cộng có 35 phòng. Mai Châu-Hòa Bình chưa có một địa điểm vui chơi giải trí công cộng nào, ngoài nhà văn hóa huyện. Các phương tiện liên lạc truyền thông cũng rất ít. Trong các bản làm du lịch, các hộ kinh doanh mới lắp điện thoại, số ít có fax, chưa hộ nào kết nối internet, và như vậy có nghĩa là việc quảng bá cho du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình còn chưa được quan tâm, đầu tư. Ngay trong cả thị trấn cũng không có một khẩu hiệu, băng rôn, hay bảng chỉ dẫn về du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình. Không khí kinh doanh du lịch chỉ thấy ở các bản phục vụ lưu trú và dịch vụ khác cho khách. Trong các bản đó, dưới sàn nhà bày hàng thổ cẩm, hàng lưu niệm, hầu hết các gia đình có khung dệt ở đặt ở dưới sàn (hoặc trên nhà); các hộ có đăng ký kinh doanh có ghi rõ số nhà của mình.

Các bản kinh doanh lưu trú cho khách du lịch của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình (bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, bản Vặt, bản Bước) phần vệ sinh môi trường khá tốt. Các gia đình không chăn nuôi gia súc, gia cầm, nếu có chăn nuôi thì chuồng trại lại ở khu khác-xa nơi cư trú. Tuy vậy, các bản chưa kinh doanh lưu trú du lịch vẫn còn nhiều bản điều kiện vệ sinh môi trường và ăn ở còn chưa tốt, kể cả bản Nhót-bản ngay thị trấn Mai Châu Hòa Bình và có làm nghề dệt phục vụ du lịch.

Số hộ kinh doanh phục vụ ăn uống trong thị trấn cũng rất ít, khoảng 3-4 hộ, với qui mô rất nhỏ. Thị trấn có duy nhất”Khách sạn Mai Châu-Hòa Bình” của công ty du lịch Thiên Minh ( trụ sở đóng tại Hà Nội) hiện đang trong quá trình xây dựng và đầu tư; đây chính là khu nhà khách của huyện, công ty thuê với thời hạn 20 năm. Khách sạn được đầu tư khá lớn, đón khách tour có thu nhập cao. Cạnh khách sạn Mai Châu-Hòa Bình là hồ nước lớn duy nhất của thị trấn, gần hai bản phát triển du lịch nhất ở Mai Châu-Hòa Bình (bản Lác, bản Pom Coọng).

Chợ thị trấn họp vào các buổi sáng, thường kéo dài 2-3 giờ và cũng không có các hoạt động nhằm mục đích khôi phục phiên chợ phục vụ cho du khách tham quan – đơn thuần chỉ là nhu cầu trao đổi, mua bán.

Điều kiện phục vụ nghỉ ngơi, ăn uống chỉ đáp ứng được đối với khách nước ngoài là những người du lịch văn hóa, du lịch sinh thái với yêu cầu ở mức độ trung bình và chỉ ở trong thời gian ngắn 2-3 ngày. Đối với khách nghỉ nội địa, đặc biệt là khách có nhu cầu cao (nghỉ điều dưỡng, du lịch của các cán bộ công chức) thì hầu như chưa đáp ứng nổi yêu cầu của họ về ăn, ở, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí. Khách nội địa chủ yếu là các đoàn tham quan, học tập của các trường, các cơ quan. Một lượng nhỏ là khách lẻ, chủ yếu là thanh niên đến tham quan, nghỉ ngơi 1-2 ngày.

Trong thập kỷ qua, huyện Mai Châu-Hòa Bình đã được đầu tư vào cho phát triển du lịch nhưng kinh phí còn rất khiêm tốn. Đáng kể nhất kinh phí 2002-2007, Mai Châu-Hòa Bình được đầu tư trên 30 tỉ đồng cho các hạng mục xây dựng đường, cống rãnh, mương dẫn nước, mua xe phục vụ môi trường. Năm 2006, đã đầu tư xây dựng đường bê tông ở bản Lác và Pom Coọng, hệ thống điện, tổng kinh phí là 150 triệu đồng; xây dựng bãi đỗ xe, diện tích trên 2000 m2, khôi phục nghề dệt thổ cẩm ở một số bản (bản Nhót, bản Văn, bản Lác).

2.3. Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Ngày nay đời sống văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình nói chung và của bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, bản Nhót nói riêng có sự thay đổi rất lớn. Sự thay đổi đó bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau: từ sự tiến bộ nhanh chóng của nền kinh tế nước ta, từ sự đầu tư lớn của Nhà nước vào cơ sở hạ tầng, từ sức ép của tốc độ tăng dân số trong vùng, từ sự phát triển của du lịch. Trong các yếu tố đó, tác động của du lịch đến đời sống văn hoá-xã hội là rất lớn. Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội thể hiện trên nhiều mặt khác nhau, có khi trực tiếp và có khi gián tiếp, thường có lợi nhưng đôi khi có sự bất cập. Về tổng thể, du lịch phát triển có nhiều lợi ích khác nhau, trong đó có lợi ích về kinh tế, về phát triển và bảo tồn một số nét đẹp truyền thống trong đời sống văn hóa-xã hội.

2.3.1. Tác động đến xây dựng, trang trí nhà cửa

Ngày nay, những ngôi nhà truyền thống của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình ngày càng hiếm. Những mái nhà dựng theo kiểu xưa: cột tròn, mái tranh, vách nhà và sàn nhà bằng tre mai (tre bương), dựng không cần làm mộc ngày càng ít đi. Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình đã có nhiều sự cải tiến kiến trúc nhà cửa. Kiểu nhà phổ biến hiện nay của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình là: cột gỗ vuông, vách nhà, rui mè, kèo dọc, kèo ngang bằng gỗ xẻ, sàn bằng tre mai, mái nhà bằng ngói (hoặc phibrô ximăng, tôn màu). Hầu hết các nhà sàn đều có 2 cầu thang nhưng đa phần không còn làm hai trái nhà bên.

 Sự thay đổi vật liệu và cấu trúc ngôi nhà của người Thái bắt nguồn từ nhiều yếu tố:

  • Các vật liệu cũ (gỗ tròn to làm cột, tre mai làm sàn nhà, cỏ tranh làm mái) ngày càng hiếm, thậm chí giá thành còn cao hơn các vật liệu thay thế mới (cột gỗ vuông, sàn gỗ ghép, mái ngói);
  • Bị ảnh hưởng kiến trúc và xây dựng của dân tộc Kinh;
  • Người chủ có tiền để mua vật liệu, thuê thợ dựng nhà thay vào việc phải tự kiếm vật liệu từ thiên nhiên và tự xây dựng nhà (người cùng bản giúp đỡ) như trước kia;
  • Quá trình chuẩn bị vật liệu, xây dựng nhà theo kiểu mới rất nhanh, không kéo dài 2-5 năm như quá trình chuẩn bị vật liệu, xây dựng nhà theo kiểu truyền thống trước kia.

Bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, bản Nhót cũng không tránh khỏi các xu thế của các ảnh hưởng trên trong xây dựng nhà cửa. Tuy nhiên, đây là các bản thường xuyên đón khách du lịch, do khách du lịch luôn có nhu cầu được tham quan, được nhìn thấy, sống trong những ngôi nhà truyền thống, trong không khí trước kia của bản, mường người Thái nên người dân ở các bản này đã cố gắng giữ được những nét cũ của ngôi nhà truyền thống. Điều này chúng ta dễ dàng nhận thấy ở các bản có du lịch phát triển mạnh ở Mai Châu-Hòa Bình-bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, đặc biệt là ở bản Lác.

Phân tích các số liệu trong bảng 2.2 ta thấy: Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Bản Lác có 110 ngôi nhà, cho đến nay vẫn giữ được nhiều nét kiến trúc, xây dựng truyền thống: 105/110 nhà (95,5%) cột gỗ, 100/110 (90,1%) nhà sàn nhà bằng tre mai chẻ ghép phẳng, đặc biệt còn giữ được 49/110 (44,5%) mái nhà bằng cỏ tranh. Với 110 nóc nhà, bản Lác là một bản lớn của người Thái, còn giữ được nhiều nét kiến trúc nhà cửa truyền thống đã trở thành một biểu tượng tiêu biểu của một bản dân tộc Thái điển hình. Ngay đầu làng là nhà văn hoá mới xây: một mái nhà sàn khá to, vật liệu và qui cách xây dựng theo kiến trúc ngôi nhà sàn truyền thống. Từ xa, khi chưa vào bản, du khách có thể nhìn thấy ngôi nhà văn hoá, cảm nhận thấy cái nét độc đáo, tạo cảm giác mạnh mẽ và mới lạ, kích thích sự tò mò, tìm hiểu và khám phá của du khách.

Bảng 2.2. Một số tư liệu thống kê về nhà cửa của 4 bản người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

Một điều đáng tiếc trong bản đã xuất hiện 3-4 ngôi nhà làm cột bê tông, một vài gia đình cầu thang đổ bằng xi măng. Đáng tiếc, chỉ với số ít nhà cửa có kiến trúc lạc lõng này đã làm giảm đi khá nhiều tính hợp lý trong qui hoạch, tính khoa học, tính toàn diện của một bản người Thái điển hình, gây phản cảm với khách du lịch. Nếu du lịch không phát triển ở bản Lác thì chắc chắn những ngôi nhà đó sẽ mọc lên rất nhiều, những ngôi nhà sàn truyền thống (cột gỗ tròn và mái lợp cỏ tranh) sẽ dần mất đi. Do vậy sự tồn tại của các ngôi nhà truyền thống ở bản Lác là một minh chứng cho sự bảo tồn được một số bản sắc văn hoá-xã hội truyền thống của người Thái nhờ sự ảnh hưởng tích cực của du lịch. Nhờ du lịch phát triển mà người dân bản Lác đã ý thức được giá trị to lớn trong việc giữ gìn, bảo vệ nét đẹp truyền thống của bản làng, tránh được xu thế bê tông hoá, xi măng hoá, ngói hoá đang thịnh hành và ngày càng phát triển về cả chiều sâu lẫn chiều rộng trong xu thế ngày nay.

Rõ ràng du lịch đã có tác động tích cực rất lớn đến sự bảo tồn và phát triển những ngôi nhà truyền thống của từng gia đình người Thái ở bản Lác nói riêng và cho sự tồn tại tổng thể của một địa danh du lịch văn hoá nổi tiếng của người Thái tỉnh Hoà Bình. Nếu không có du lịch phát triển, chắc chắn bản Lác cũng chỉ còn vài nhà mái lợp bằng cỏ tranh như xưa. Du khách đến tham quan thích những ngôi nhà truyền thống, đặc biệt là các ngôi nhà sàn lớn, cột tròn, mái nhà lợp bằng cỏ tranh. Không một bản người Thái nào ở Mai Châu Hòa Bình còn giữ gìn được nhiều ngôi nhà truyền thống như ở bản Lác. Đây là một trong những yếu tố thu hút du khách, làm cho bản Lác là điểm dừng chân của nhiều du khách nhất ở Mai Châu-Hòa Bình.

Ở bản Lác, hình ảnh “nước ở cầu thang, ao cá sát nhà” không còn phổ biến nhiều như xưa nữa, mặc dù bản Lác nằm ở địa thế thấp nhất trong số các bản kinh doanh du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình. Bản Lác có 10/110 gia đình (chiếm 9,1%) có ao cá ở gần nhà. Các ao cá này tuy không lớn nhưng được gia chủ cải tạo, xây kè bờ, vét nạo sâu và thường xuyên có cá. Hàng ngày, vào buổi chiều nhiều du khách đứng xem các gia chủ bắt cá bằng lưới nhỏ, phục vụ cho chính bữa ăn của du khách. Hoạt động này tuy không phổ biến và thường xuyên nhưng nó cũng tạo ra những giây phút thư dãn và thú vị cho du khách, tạo nên sự phong phú, đa dạng trong đời sống văn hoá-xã hội của khu du lịch-một yếu tố rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của bất cứ khu du lịch văn hoá và sinh thái nào. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Ao cá ở gần nhà còn tạo ra sự độc đáo về sinh thái, tăng thêm sự mát mẻ về mùa hè, tạo sự sảng khoái cho gia chủ và cho cả du khách. Ao cá, vườn rau trước kia đối với họ chỉ đơn thuần liên quan đến bữa ăn hàng ngày, không có ý nghĩa gì đến hoạt động văn hoá, du lịch thì ngày nay nó trở thành một nét độc đáo cho sinh cảnh bản mường, liên quan đến yếu tố đời sống văn hoá-xã hội truyền thống, phục vụ cho mục đích kinh doanh du lịch nhiều hơn là phục vụ cho bữa ăn hàng ngày của gia chủ. Đây cũng chính là một nét tác động tích cực của du lịch đến sự bảo tồn và phát triển những nét văn hoá-xã hội truyền thống của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình. Sự bảo tồn nét văn hoá-xã hội truyền thống này càng trở nên quí giá khi mà đất đai của các hộ gia đình ở đây ngày càng ít, không gian và vườn quanh nhà ngày càng bị thu hẹp. Sự độc đáo, quí giá của những ao cá ở bản Lác còn ở chỗ nó tạo ra sự khác biệt giữa các bản làm du lịch khác-bản Pom Coọng và bản Nhót hầu như không có ao ở gần nhà sàn.

Một tác động khác của du lịch đã ảnh hưởng đến quang cảnh chung của bản Lác: do cần chỗ ở để kinh doanh lưu trú, một số gia đình đã xây liền kề nhau 2-3 nhà sàn, với diện tích khá lớn. Chẳng hạn, gia đình ông Hà Công Hồng ở bản Lác xây dựng 4 nhà liền kề nhau. Theo truyền thống trước kia, người Thái không bao giờ dựng nhà ở sát nhau, nhằm tránh khi hoả hoạn. Tuy nhiên hiện tượng này cũng không phổ biến ở các bản du lịch của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình.

Bản Pom Coọng là bản gần bản Lác nhất, chỉ cách bản Lác 200-300 m, có 60 hộ gia đình. Bản Pom Coọng nằm ở vị trí cao hơn và xa trung tâm thung lũng lớn hơn so với bản Lác. Do tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch nên nhà cửa ở đây cũng còn giữ được nhiều nét truyền thống, tránh được phần lớn những ảnh hưởng của xu hướng bê tông hoá và xi măng hoá. Bản Pom Coọng có 58/60 ngôi nhà (chiếm 96,7%) cột gỗ, 57/60 (chiếm 95,9%) nhà sàn bằng tre mai. Tuy vậy bản Pom Coọng còn ít nhà lợp mái bằng cỏ tranh, chỉ còn 12/60 mái nhà lợp cỏ tranh, chiếm 20,0%.

Không gian ở bản Pom Coọng dường như thoáng đáng hơn bản Lác, nhiều nhà có vườn cây. Vườn và cây cối ở bản Pom Coọng nhiều hơn bản Lác. Giữa bản Lác và bản Pom Coọng có hai vẻ đẹp khác nhau, bản Lác lớn hơn, sầm uất hơn, nằm gần như trung tâm của thung long. Bản Pom Coọng khiêm nhường hơn, là khung cảnh của một bản nằm sát sườn núi của thung lũng, gắn liền với cảnh núi rừng. Bản Lác có cảnh”ao cá” nhưng thiếu cảnh vườn cây, bản Pom Coọng thì có”vườn cây” (25/60-41,7% gia đình có vườn cây) thì thiếu “ao cá”.

Bản Lác và bản Pom Coọng còn có một dòng suối nhỏ chảy qua, toàn bộ mương đã bê tông hoá. Dòng nước bắt nguồn từ suối Mùn, sạch, trong, tạo thêm những nét đẹp pha trộn giữa nước-cây cối-núi rừng và lấy nước phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu trong nông nghiệp. Nước sinh hoạt ở hai bản đều là nước máy, hệ thống ống kẽm đưa đến từng nhà. Các nhà đều đặt hệ thống nước nóng sử dụng cho mình và phục vụ du khách. Đây là kết quả sự đầu tư của Nhà nước và nhân dân nhằm phục vụ cho phát triển du lịch. Do tác động từ nhu cầu của du khách-người dân phải thay đổi và đầu tư xây dựng phục vụ du khách tại nhà. Rõ ràng ở đây, sự phát triển cơ sở hạ tầng do tác động từ hai hướng: 1. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách; 2. Một phần tiền của đóng góp, đầu tư vào xây dựng và phát triển các hạng mục trên là từ kinh doanh du lịch mà có.

Bản Lác và bản Pom Coọng là hai bản có du lịch phát triển mạnh nhất ở Mai Châu-Hòa Bình, du khách đến tham quan và lưu trú nhiều nhất ở bản Lác, sau đó là bản Pom Coọng. Cũng nhờ có tác động của du lịch mà vấn đề vệ sinh môi trường, vệ sinh nhân y ở đây tốt hơn. Các con đường trong bản, đường nối giữa hai bản đều được bê tông hoá, luôn sạch và đẹp. Điều này rất quan trọng cho cảnh quan chung, vệ sinh môi trường, giao thông giữa các bản-nhất là về mùa mưa. Đất miền núi chỉ cần mưa xuống là nhão ra, gắn chặt vào chân và giầy, dép, do vậy nếu không bê tông hóa đường thì việc đi lại của du khách và dân bản trong mùa mưa sẽ cực kỳ khó khăn. Các con đường bê tông là kết quả của sự đầu tư và giúp đỡ của Nhà nước, với nhiều công sức của dân bản. Những đóng góp đó một phần xuất phát từ nhận thức sự cần thiết cho phát triển du lịch, và một phần đầu tư về vật chất là do kinh doanh du lịch mà có. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Một số nhà sàn ở bản Lác, bản Pom Coọng còn có vườn cây ở bên cạnh. Vườn cây của họ hiện nay được qui hoạch tốt hơn: có nhiều cây ăn quả, một số cây cảnh, sạch sẽ về vệ sinh, không có cỏ dại. Ban ngày khách du lịch có thể ra thăm vườn, tự mình hái thử một vài hoa quả của”cây nhà lá vườn”, dạo chơi, ngồi uống nước vào các buổi tối. Việc trồng hoa, cây cảnh không được chú ý, điều đó phần nào giữ được sự nguyên sơ, nhưng có lẽ cũng mất đi một phần đặc sắc, lý thú của cảnh hoa rừng, gió nội.

Cũng do nhu cầu xuất phát từ du lịch, phục vụ du khách, người dân ở đây đã bỏ hẳn nhiều thói quen sinh hoạt mất vệ sinh, thiếu khoa học trước kia. Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường nuôi gia súc, gia cầm ở dưới sàn nhà, đổ chất thải sinh hoạt, tiểu tiện từ trên sàn nhà xuống đất (ở một bên trái nhà), đó là những tập quán rất mất vệ sinh. Ngày nay, ở bản Lác và bản Pom Coọng, tất cả các hộ gia đình đã xây dựng những khu vệ sinh riêng biệt, khang trang, đa số đều là xí xổm, có hệ thống tự hoại 2 ngăn. Người dân trong bản Lác và bản Pom Coọng không nuôi gia súc, gia cầm ở dưới sàn nhà và thậm chí cũng không để trong khuôn viên của bản. Mặt khác, từng hộ gia đình đều thường xuyên tự vệ sinh nhà mình và xung quanh nhà. Hàng tuần trong bản đều có ngày tổng vệ sinh chung. Dọc các con đường của bản có đặt những thùng đựng rác công cộng nhỏ. Phải nói đây là những thay đổi tích cực, là sự tác động trực tiếp của du lịch đem lại cho người dân. Cũng từ kinh doanh du lịch người dân mới có tài chính để đầu tư cho sắm sửa, xây dựng, thay đổi điều kiện, nếp sống vệ sinh của chính mình và phục vụ du khách.

Bản Nhót cách bản Pom Coọng khoảng 1 km và cùng một bên thung lũng với bản Lác, bản Pom Coọng. Bản Nhót có 117 hộ. Người dân bản Nhót chưa kinh doanh dịch vụ lưu trú. Chính vì vậy, ở đây tác động của du lịch thể hiện rất ít. Họ chỉ là người sản xuất và cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, sản phẩm dệt, may, các sản phẩm từ vải thổ cẩm phục vụ cho du khách lưu trú tại bản Lác và bản Pom Coọng. Do sống bằng các sản phẩm nông nghiệp là chính, một phần dệt may thổ cẩm phục vụ du khách nên nhà nào cũng có 1 đến vài khung cửi và nuôi khá nhiều gia súc, gia cầm. Người dân bản Nhót không những chỉ dệt may hàng thổ cẩm phục vụ cho du khách ở Mai Châu-Hòa Bình, mà còn bán sản phẩm của mình cho nơi khác.

Ở bản Nhót, 117/117 nhà sàn (chiếm 100%) cột gỗ, 107/117 nhà mái ngói hoặc mái phibrô ximăng (chiếm 91,5%), 101/117 (86,3%) sàn nhà bằng tre mai. Do ở vị trí gần như dọc đồi nên không có ao cá, nhưng hầu hết nhà đều có vườn cây cạnh nhà-75/117 nhà có vườn cây, (chiếm 64,1%).

Do chưa trực tiếp đón khách du lịch, nên bản Nhót vẫn chưa được đầu tư thỏa đáng: đường trong bản chưa được bê tông hoá hoàn toàn, đặc biệt vấn đề vệ sinh môi trường kém hơn hẳn so với bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn. Hầu hết gia súc, gia cầm được nuôi trong chuồng, trại ở gần nhà ở, vệ sinh ở mức độ trung bình. Các gia đình xây hố xí tự hoại 2 ngăn nhưng chỉ xây đơn giản, không dùng bệt hoặc xổm. Nước sinh hoạt có ống dẫn cung cấp đến tận nhà. Vệ sinh gia đình, vệ sinh môi trường ở mức độ trung bình. Dọc đường cuả bản Nhót đôi khi còn gặp phân trâu, bò. Do vậy, toàn cảnh của bản không thực sự vệ sinh như bản Lác, bản Pom Coọng. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Vào năm 2001-2003, nghề dệt thổ cẩm khá phát đạt, người dân ở bản Nhót dệt rất nhiều thổ cẩm, không khí của bản thời gian đó như một xưởng may dệt. Vào thời kỳ đó, khách du lịch cũng rất hay ghé thăm bản Nhót. Với sự tác động của du khách, với không khí phát triển của nghề dệt thổ cẩm, bản Nhót cũng sống động, vệ sinh gia đình và của bản tốt hơn bây giờ. Thời gian gần đây, đầu ra của vải thổ cẩm gặp khó khăn, nghề dệt thổ cẩm ở bản Nhót đi xuống, từ đó cũng ít khách du lịch đến tham quan bản Nhót. Rõ ràng, du lịch đã tác động một cách rõ rệt đến khung cảnh riêng của từng nhà và của chung cả bản Nhót.

Bản Văn cách bản Nhót khoảng 500 m nằm ở sườn núi bên kia thung lũng, thuộc thị trấn Mai Châu-Hòa Bình, có 69 hộ. Bản Văn có 3-4 gia đình kinh doanh dịch vụ lưu trú. Bản Văn cũng ở vị trí bên sườn thoải của thung lũng nên các hộ rất ít có ao cá, nhưng nhiều hộ có vườn. Trong 69 gia đình; có tới 68/69 ngôi nhà (chiếm 98,5%) cột gỗ, 65/69 sàn nhà (chiếm 94,2%) bằng tre mai, 7/69 mái nhà (chiếm 11,1%) lợp bằng cỏ tranh, có 3/69 gia đình có ao cá (chiếm 4,3%); 22/69 gia đình có vườn cây (chiếm 31,9%). Như vậy, nhà cửa ở bản Văn cũng còn nhiều nét truyền thống, nhưng số lượng mái nhà lợp bằng cỏ tranh còn rất ít.

Vệ sinh môi trường ở bản Văn tốt hơn bản Nhót, đường nội bộ trong bản đã bê tông hoá, gia súc, gia cầm hầu như không để trong bản, vệ sinh môi trường của từng nhà và chung của bản khá tốt. Nhà cửa, đường xá trong bản và vệ sinh của bản Văn gần được như bản Lác, bản Pom Coọng và hơn hẳn bản Nhót- do có sự đầu tư của Nhà nước phục vụ cho sự phát triển du lịch. Bản Văn có nhiều hộ có người nhà là cán bộ thoát ly. Những người này thường tiên phong trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc truyền thống, xây dựng bản làng văn minh, sạch đẹp, họ cũng có điều kiện kinh tế hơn khi muốn đầu tư cơ sở thay đổi nhà cửa, hệ thống vệ sinh, cấp thoát nước.v.v. của gia đình mình. Số du khách đến bản Văn còn rất khiêm tốt (chủ yếu phục vụ lưu trú, ăn uống, biểu diễn, múa, hát).

Cách bày trí trong gia đình cũng thể hiện rõ rệt sự ảnh hưởng của du lịch. Trong bản Lác, bản Pom Coọng, để thuận tiện cho việc đón khách du lịch nghỉ ngơi, sinh hoạt và xem biểu diễn văn nghệ, trên nhà không còn phân chia phía trên, phía dưới, phân khu vực cho người già, người trẻ, không thể hiện tính phụ quyền trước kia.

Bếp lửa ở trên sàn nhà, gác bếp để hóng, sấy thức ăn như trước kia cũng còn rất ít. Một số nhà còn để bếp trên sàn nhà, nhưng thường như là một mô hình, không được sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày như trước kia. Bếp lửa thường dùng vào mùa đông hoặc để giới thiệu như là một nét đặc sắc trong đời sống văn hoá-xã hội cho khách du lịch. Các nhà sàn thường không sử dụng vách ngăn, mành rèm và rất ít đồ đạc. Khách du lịch lên trên nhà là được hưởng luôn một không gian rộng, thoáng mát, sáng sủa.

Đa số các gia đình trong bản Lác, bản Pom Coọng có bếp riêng biệt ở dưới nhà. Các gia đình sử dụng bếp đun củi là chính, một số hộ dùng bếp ga. Nhờ có bếp chuyên biệt như vậy, các gia đình mới phục vụ kịp thời khách du lịch (nhiều khi lên tới hàng trăm người) và không ảnh hưởng đến nơi ở, đi lại và sinh hoạt của du khách. Những thay đổi này do tác động chính từ du lịch, phù hợp với công việc trong kinh doanh lưu trú và các dịch vụ khác cho du khách. Cũng trong bản Lác, bản Pom Coọng, đa số các nhà có khung cửi dệt vải, suốt làm bông nhưng thường chỉ là mô hình để giới thiệu và biểu diễn khi du khách có nhu cầu tìm hiểu. Rõ ràng rằng, du lịch đã làm”mất” đi nhiều bếp sàn, khung cửi của bản Lác, bản Pom Coọng-là các bản đang kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Ở bản Nhót, bản Văn ảnh hưởng của du lịch ít hơn nhiều, đa phần các nhà đều để bếp lửa trên sàn nhà và được sử dụng hàng ngày cho sinh hoạt gia đình. Tuy vậy, rất ít nhà còn để gác bếp để hóng, phơi thực phẩm như trước kia. Chính vì vậy, phần bếp của họ cũng tương đối sạch sẽ, quang đãng, không bề bộn như trước kia.

Về đồ đạc trong nhà, theo truyền thống, trong nhà người Thái thường rất ít đồ đạc nhưng ngày nay do nhu cầu sinh hoạt, do trào lưu xã hội, người Thái cũng sắm sửa bàn ghế, tủ, tivi, quạt, tủ lạnh.v.v. Nhưng cách bày trí ở các hộ có kinh doanh dịch vụ lưu trú khác biệt hẳn với các hộ không tham gia kinh doanh du lịch.

Ở bản Lác, bản Pom Coọng bàn ghế thường được bày biện chủ yếu dưới nhà sàn-nơi đón tiếp khách của chủ nhà và nơi du khách ngồi uống nước, trao đổi nói chuyện. Tivi, tủ lạnh, quạt điện cũng được mua sắm và để dưới sàn nhà để phục vụ du khách. Trên nhà, nhiều nhà có tủ, tivi nhưng thường để ở những vị trí khiêm tốn, phục vụ những người trong nhà. Khách du lịch lên nhà, lúc xem biểu diễn văn nghệ hay lúc nghỉ ngơi đều tự quản hành lý. Khu vực dành cho du khách thường chỉ là sàn nhà trống, có lắp quạt trần và đèn trần. Lúc ngủ du khách được chủ nhà trải đệm, chiếu, chăn và màn. Mức độ mua sắm và sử dụng quạt, tivi, tủ lạnh, bàn ghế ở bản Lác, bản Pom Coọng rất lớn so với các bản người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình khác. Sự mua sắm này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu phục vụ du khách. Các phương tiện được mua sắm chủ yếu dựa vào nguồn thu của kinh doanh du lịch.

Trong khi đó, tại bản Nhót, bản Văn, đồ đạc của các gia đình thường được để ở những nơi trung tâm ngay trên sàn nhà, dễ sử dụng cho cả nhà, thuận tiện khi tiếp khách. Đồ đạc, bàn ghế, tivi, tủ lạnh, quạt không để dưới sàn nhà. Bên cạnh đó, tuy các gia đình không ngăn vách cho các khu vực trên sàn nhà, nhưng trong gia đình vẫn qui định rõ ràng nơi ở của bố mẹ, con cái, anh em trai, anh em gái. Số lượng nhà có tủ lạnh ở bản Nhót, bản Văn ít hơn hẳn so với bản Lác và bản Pom Coọng. Rõ ràng ở bản Nhót, bản Văn, du lịch hầu như không có tác động đến bày trí trong nhà của người dân.

Người Thái trước kia thường hay treo sừng hươu, nai, hàm răng lợn rừng, đuôi cá lớn mà người chủ săn bắn, đánh bắt được, thể hiện sự may mắn, tài giỏi, sự cầu may của người chủ. Ngày nay, ở các nhà của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình rất hiếm những”chiến lợi phẩm” đó, vì không thể săn bắt được thú rừng, các sản vật có từ trước nay đã mai một hoặc bị bán đi. Hiện nay cũng có nhà còn treo đuôi cá-thể hiện một nét văn hóa truyền thống, hấp dẫn du khách, nhưng lại có sự biến tướng-đuôi cá đó chưa chắc là do chủ nhà đánh bắt được mà có khi là cá mua tại chợ hoặc cá nhà nuôi. Các”chiến lợi phẩm” của các cuộc săn bắn như gạc nai, đầu lợn rừng, nanh lợn rừng ngày càng hiếm.

Một ngôi nhà nhà cổ của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

  • Nhà văn hóa của bản Lác
  • Nhà sàn cột gỗ vuông, mái ngói ở bản Văn
  • Nhà sàn truyền thống, mái cỏ tranh ở bản Lác
  • Ao cá liền nhà sàn và khu vệ sinh ở bản Lác
  • Một nhà sàn kinh doanh du lịch của người Thái ở bản Lác
  • Nhà sàn bê tông hóa ở bản Lác cùng hàng cau điển hình  của làng quê dân tộc Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ
  • Một nhà sàn ở bản Nhót-vệ sinh kém, nuôi gia súc dưới sàn nhà
  • Một góc sàn nhà nơi nghỉ của du khách tại bản Lác
  • Đồ đạc trong nhà của một gia chủ ở bản Lác

2.3.2. Tác động đến trang phục Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Trang phục truyền thống của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, theo lịch sử bị ảnh hưởng nhiều của trang phục dân tộc Mường, nhưng ngày nay họ đang bị ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình âu hoá. Có thể nói, ngoài dân tộc Kinh, thì người Thái là một trong các dân tộc ít người đang bị ảnh hưởng mạnh của quá trình âu hoá.

Người dân bản Lác, bản Pom Coọng hiện nay gần như hoàn toàn không tự cung, tự cấp về trang phục như trước kia nữa. Họ dành phần lớn thời gian vào việc cung cấp các dịch vụ du lịch, nên ngày càng xa dần nền kinh tế tự cung, tự cấp. Chính vì vậy, vải vóc, quần áo dần dần không do chính họ làm ra mà phần lớn là do mua sắm. Chính thu nhập từ kinh doanh du lịch họ có tiền để mua sắm và sử dụng các quần áo may mặc sẵn.

Ý thức được sự cần thiết giữ gìn bản sắc dân tộc trong trang phục và một phần do thói quen truyền thống, người dân ở đây vẫn thích sử dụng một số trang phục truyền thống. Nam giới vẫn thích mặc áo “vì tà” cách tân, nhiều màu sắc, nhiều họa tiết – hình thức đẹp hơn áo “vì tà” truyền thống (áo dài tay, màu đen, vải bông nhuộm, nút áo bằng đoạn xương ngắn hình đũa), rất ít được sử dụng.

Người dân ở các bản có du lịch phát triển do thường xuyên tiếp xúc với du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài nên họ nắm bắt được tâm lý và nhu cầu của khách, vì vậy họ ý thức được sự cần thiết giữ gìn bản sắc riêng trong trang phục. Một số người, đặc biệt những người trực tiếp phục vụ du khách vẫn duy trì mặc trang phục truyền thống (váy và áo ngắn – xứa cóm), mặc dù qua phỏng vấn họ đều cho rằng, mặc quần áo âu sẽ rất thuận tiện cho họ trong cường độ làm việc, giao tiếp nhiều như hiện nay; đặc biệt họ có thể di chuyển nhanh, đi lại dễ dàng hơn, không phải giữ ý như khi mặc váy. Như vậy, du lịch đã làm giảm quá trình âu hoá trong trang phục của họ, góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc dân tộc.

Bên cạnh đó, một số người vẫn sử dụng các bộ pizama, áo sơmi, quần tây. Những trang phục này rất tiện, tạo sự thoải mái cho họ khi sử dụng nhưng gây ra sự phản cảm của du khách-những người tới đây với mục đích khám phá, chiêm ngưỡng và nghiên cứu các nét đẹp văn hóa-xã hội cổ truyền, trong đó có yếu tố trang phục.

Tác giả đã tiến hành lấy phiếu điều tra 3 nhóm người trên hai đối tượng nam và nữ tại 4 bản để biết quan điểm của họ về trang phục truyền thống. Nhóm 1: 30-45 tuổi – nhóm trung niên; nhóm 2: 18-30 tuổi- nhóm thanh niên đã có gia đình; nhóm 3: 14-18 tuổi- nhóm thanh thiếu niên (bảng 2.3 và 2.4). Các câu hỏi phỏng vấn: Có sử dụng trang phục truyền thống thường xuyên không ?; Mục đích chính khi sử dụng thường xuyên trang phục truyền thống (do sở thích các nhân-CN hay phục vụ du lịch-PVDL. Kết quả điều tra cho thấy: Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Trong nam giới, số người sử dụng trang phục truyền thống thường xuyên rất ít-chỉ có 35/300 người là thường xuyên sử dụng, chiếm 11,7%. Giữa các bản có du lịch phát triển mạnh (bản Lác, bản Pom Coọng) với các bản du lịch chưa phát triển (bản Văn) và bản chưa trực tiếp đón khách (bản Nhót), số người này chênh nhau không nhiều: cao nhất ở bản Lác-11/75 người, chiếm 14,7%, thấp nhất ở bản Nhót – 7/75 người, chiếm 9,3%. Giữa các nhóm tuổi cũng chênh nhau không nhiều, nhóm 2 nhiều nhất-15/75 người thường xuyên sử dụng trang phục truyền thống, chiếm 20,0% so với nhóm 1-11/75 người (chiếm 11,7%) và nhóm 3-9/75 người (chiếm 12,0%).

Trong số 35 nam giới thường xuyên sử dụng trang phục truyền thống, có 17 người mặc với mục đích phục vụ du lịch, chiếm 48,6%; 18/35 người là theo sở thích cá nhân, chiếm 51,4 %. Đặc biệt trong số 17 người mặc trang phục truyền thống với mục đích phục vụ du lịch tập trung chủ yếu vào các bản đang kinh doanh du lịch mạnh-bản Lác 8/17 người, bản Pom Coọng-5/17 người (tổng cộng cả hai bản-13/17 người, chiếm 76,5%). Trong số nam giới thường xuyên sử dụng trang phục truyền thống, nhóm hai nhiều hơn so với hai nhóm còn lại-14/35 người, chiếm 40,0%, trong số này có một số người thường xuyên mặc trang phục truyền thống để tham gia biểu diễn văn nghệ phục vụ du khách. Trong nhóm thanh, thiếu niên (12-18 tuổi) có 9 người thường xuyên mặc trang phục truyền thống, nhưng hầu hết là do sở thích cá nhân (8/9 người mặc do sở thích cá nhân) chứ không vì mục đích phục vụ du lịch.

Như vậy, đối với nam giới, số người mặc trang phục truyền thống thường xuyên rất ít (11,7%), họ vẫn ưa thích trang phục phổ thông hiện nay (88,3%). Số người mặc trang phục truyền thống thường xuyên, tập trung chủ yếu ở các bản du lịch phát triển mạnh, họ sử dụng trang phục truyền thống với mục đích phục vụ du lịch là chính.

Phân tích số liệu bảng 2.4 về ảnh hưởng của du lịch đến trang phục nữ giới ta thấy:

Có 219/360 phụ nữ sử dụng trang phục truyền thống thường xuyên, chiếm 60,1%. Ở các bản du lịch phát triển tỉ lệ này cao hơn hẳn so với các bản du lịch chưa phát triển, bản Lác-75/90 người (chiếm 83,3%), bản Pom Coọng70/90 người (chiếm 77,8%), bản Văn- 47/90 người (chiếm 52,2%), bản Nhót – 27/90 người (chiếm 30,0%).

Trong các bản du lịch phát triển, số phụ nữ thường sử dụng trang phục truyền thống tập trung nhiều vào nhóm một (30 đến 45 tuổi) và nhóm hai (18 đến 30 tuổi): bản Lác-55/60 người (chiếm 91,7%), bản Pom Coọng-52/60 người (chiếm 86,7%). Nhóm ba (14-18 tuổi) ở bản Lác-20/30 người (chiếm 66,6%), bản Pom Coọng-18/30 người (60,0%). Ở các bản du lịch chưa phát triển, số phụ nữ thường sử dụng trang phục truyền thống cũng tập trung chủ yếu vào nhóm một và nhóm hai, nhưng thấp hơn nhiều so với các bản có du lịch phát triển: nhóm một ở bản Văn 20/30 người (chiếm 66,6%), bản Nhót10/30 người (33,3%); nhóm hai ở bản Văn 19/30 người (chiếm 63,3%), bản Nhót-11/30 người (chiếm 36,7%).

Bảng 2.3. Kết quả điều tra ảnh hưởng của du lịch đến trang phục ở nam giới

Ghi chú: SN-số người phỏng vấn; CN- sở thích cá nhân; PVDL- phục vụ du lịch

Bảng 2.4. Kết quả điều tra ảnh hưởng của du lịch đến trang phục phụ nữ

Ghi chú: SN-số người phỏng vấn; CN- sở thích cá nhân; PVDL- phục vụ du lịch

Phụ nữ ở các bản du lịch phát triển mạnh, việc mặc trang phục truyền thống thường xuyên chủ yếu để duy trì bản sắc dân tộc với mục đích phục vụ du lịch. Bản Lác có 60/75 người mặc trang phục truyền thống thường xuyên vì mục đích phục vụ du lịch, chiếm 80,0%. Số người mặc trang phục truyền thống thường xuyên theo sở thích cá nhân chỉ có 15/75 người, chiếm 20,0%. Tương tự như trên, ở bản Pom Coọng là 57/70 người, chiếm 81,4% và 13/70 người, chiếm 18,6%.

Trong số phụ nữ mặc trang phục truyền thống thường xuyên vì mục đích phục vụ du lịch tập trung nhiều hơn ở nhóm một và nhóm hai: ở bản Lác45/55 người, chiếm 81,8% (tổng cộng cả nhóm một và nhóm hai); nhóm ba15/20 người, chiếm 75,0%; bản Pom Coọng-43/52 người, chiếm 82,7%, nhóm ba-14/18 người, chiếm 77,8%.

Các bản du lịch chưa phát triển, hoặc chưa kinh doanh du lịch, số lượng người mặc trang phục truyền thống thường xuyên thấp hơn rất nhiều so với các bản có du lịch phát triển mạnh. Ở bản Văn số người mặc trang phục truyền thống thường xuyên là 47/90, chiếm 52,2%; bản Nhót-27/90 người, chiếm 30,0%. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Giữa bản Văn-du lịch mới phát triển, với bản Nhót-chưa trực tiếp đón khách cũng khác biệt khá nhiều, đặc biệt là mục đích sử dụng trang phục truyền thống thường xuyên. 39/47 người sử dụng trang phục truyền thống thường xuyên ở bản Văn là với mục đích phục vụ du lịch, chiếm 83,0%, 12/47 người (17,0%) sử dụng trang phục truyền thống thường xuyên do sở thích cá nhân; trong khi đó ở bản Nhót chỉ có 6/27 người (chiếm 22,2%) người sử dụng trang phục truyền thống thường xuyên với mục đích phục vụ du lịch; 21/27 phụ nữ (chiếm77,8%) mặc trang phục truyền thống thường xuyên chỉ do sở thích cá nhân.

Thanh, thiếu nữ (nhóm ba) mặc trang phục truyền thống thường xuyên ở các bản có du lịch phát triển chủ yếu vì mục đích phục vụ du lịch, trong khi đó ở các bản du lịch chưa phát triển lại do sở thích cá nhân là chính. Ở bản Lác có 15/20 thanh, thiếu niên nữ (chiếm 75,%) mặc trang phục truyền thống thường xuyên với mục đích phục vụ du lịch, bản Pom Coọng-14/18 thanh, thiếu nữ (chiếm 77,8%), trong khi đó ở bản Văn có 6/8 thanh, thiếu nữ (chiếm 75,5%), bản Nhót 2/6 (chiếm 33,3%) mặc trang phục thường xuyên với mục đích phục vụ du lịch.

Qua phân tích số liệu, ta có nhận xét:

Nam giới ở các bản du lịch phát triển mạnh cũng như ở các bản du lịch còn chưa phát triển rất ít sử dụng trang phục truyền thống. Họ thường sử dụng trang phục âu, như đa phần người Việt hiện nay-chứng tỏ du lịch ít tác động đến trang phục nam giới của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình. Điều này cũng lôgíc bởi nam giới ít tham gia vào các hoạt động du lịch hơn so với phụ nữ, mặt khác trang phục của họ cũng ít thể hiện bản sắc riêng của dân tộc. Số lượng nam giới thường xuyên mặc trang phục truyền thống chủ yếu là những người tham gia biểu diễn văn nghệ thường xuyên tại các bản.

Phụ nữ ở các bản có du lịch phát triển mạnh (bản Lác, bản Pom Coọng) thường xuyên mặc trang phục truyền thống nhiều hơn hẳn so với các bản du lịch còn ít phát triển. Trong số đó, nhóm hai-khoảng 18-30 tuổi là cao nhất, sau đó là nhóm một-khoảng 30-45 tuổi. Đây là nhóm người đóng vai trò chủ đạo trong các hoạt động kinh doanh du lịch trong các bản, họ sử dụng trang phục truyền thống thường xuyên với mục đích giữ gìn bản sắc dân tộc, phục vụ kinh doanh du lịch. Ở các bản du lịch ít phát triển (bản Văn) hoặc chưa phát triển (bản Nhót) tỉ lệ phụ nữ mặc trang phục truyền thống thường xuyên thấp hơn hẳn, đặc biệt ở bản Nhót, đa số những phụ nữ mặc trang phục truyền thống thường xuyên là do sở thích cá nhân là chính chứ không vì mục đích phục vụ du lịch. Rõ ràng, du lịch đã đóng vai trò quyết định rất lớn trong việc giữ gìn bản sắc trong trang phục của phụ nữ ở các bản người Thái có kinh doanh du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình.

Các thanh, thiếu niên nữ (nhóm ba, 14-18 tuổi) ở các bản có du lịch phát triển mạnh có số lượng và tỉ lệ mặc trang phục truyền thống thường xuyên cao hơn hẳn các bản du lịch còn chưa phát triển. Các thanh, thiếu nữ thường xuyên mặc trang phục truyền thống với mục đích chính là giữ gìn bản sắc phục vụ cho du lịch. Điều đó chứng tỏ các thanh, thiếu nữ đã được giáo dục và tự mình nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc dân tộc trong trang phục vì mục đích phục vụ du lịch. Ở các bản du lịch kém phát triển, sự tuyên truyền, ý thức bản thân đối với sự gìn giữ bản sắc của các thanh, thiếu nữ kém hơn hẳn. Kết quả tích cực này cũng xuất phát từ tác động của du lịch, du lịch càng phát triển, ý thức của người dân về giữ gìn phát huy  bản sắc dân tộc càng cao. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Ở các bản của người Thái khác tại Mai Châu-Hòa Bình không làm du lịch, phụ nữ có tuổi cũng rất ít mặc các đồ trang phục truyền thống trong các ngày thường. Đôi khi chúng ta gặp một vài phụ nữ trung tuổi mặc váy đen nhưng không mặc áo ngắn truyền thống mà mặc áo sơmi vải thường. Trẻ em, đặc biệt là các em ở tuổi đến trường ở tất cả các bản hầu như không mặc các bộ đồ trang phục truyền thống. Qua các phân tích trên, chúng ta thấy tầm quan trọng rất lớn của du lịch đến sự bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc trong trang phục của người Thái vùng Mai Châu-Hòa Bình.

  • Khung cửi dệt vải ở bản Nhót (để ở dưới sàn nhà)
  • Mô hình khung cửi dệt vải ở bản Lác (để ở trên sàn nhà)
  • Một số đồ lưu niệm được bày bán tại bản Pom Coọng
  • Một số đồ lưu niệm được bày bán tại nhà ở bản Lác
  • Du khách múa sạp cùng đội múa của bản Lác
  • Trang phục của một cháu gái nhỏ và một thanh niên tại bản Lác
  • Trang phục ngày thường của một phụ nữ ở bản Lác Nam giới-người đứng tuổi, trung niên cũng mặc âu phục,  không mặc trang phục truyền thống
  • Đội nữ văn nghệ bản Nhót mặc trang phục truyền thống

Một trong những ảnh hưởng trực tiếp nhất của du lịch đến trang phục chính là các sản phẩm lưu niệm. Các sản phẩm lưu niệm ngày càng được đa dạng hóa về hình thức, kiểu mẫu, nhiều nhất là túi, khăn, áo thổ cẩm. Tại các bản du lịch của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình bày bán rất nhiều sản phẩm lưu niệm của các dân tộc khác như: búp bê, đàn t’rưng của người Ba Na, trang phục người H’Mông, người Dao, trang phục thiếu nữ Thái đen, trang phục nữ Thái ở Mai Châu-Hòa Bình.

Hoa văn trên mặt vải của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình vẫn giữ được một số nền cơ bản, nhưng trang trí hoa văn đã thay đổi nhiều, bị ảnh hưởng cách trang trí của người Kinh, người Mường. Hoa văn, họa tiết trên vải của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình ngày càng phóng khoáng hơn, các màu sắc gây cảm giác mạnh được sử dụng nhiều hơn. Tuy vậy, về màu sắc vẫn sử dụng một số gam màu cơ bản như đỏ, đen, trắng, xanh. Trong các sản phẩm lưu niệm, sở thích của khách du lịch đã được khai thác triệt để. Quần áo may nhiều kích cỡ khác nhau, màu sắc, kiểu cách đa dạng.

Du lịch còn ảnh hưởng sâu sắc đến trang phục biểu diễn và từ đó ảnh hưởng một phần đến trang phục hàng ngày của người dân ở các bản có du lịch phát triển. Từ đó có ảnh hưởng nhất định đến các bản không tham gia kinh doanh du lịch ở lân cận, giống như sự cách tân và truyền bá cái đẹp. Nhiều người tham gia biểu diễn thường cách điệu trang phục cho đẹp, nam giới không dùng màu đen truyền thống, trang phục nữ giới ngoài các màu gốc còn sử dụng thêm nhiều màu trung gian. Các”diễn viên” còn mặc trang phục của các dân tộc khác khi biểu diễn các tiết mục văn nghệ của dân tộc đó. Bản thân họ và nhiều người dân trong bản, trong vùng lân cận cảm nhận thấy cái hay, cái đẹp của trang phục. Từ đó, một phần của trang phục biểu diễn đã đi vào trang phục của đời thường. Đây là kết quả của sự tác động vừa gián tiếp vừa trực tiếp của du lịch.

2.3.3. Tác động đến ẩm thực Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Tác động của du lịch đến ẩm thực của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng thể hiện bằng hai con đường-trực tiếp và gián tiếp, trong đó sự ảnh hưởng gián tiếp lớn hơn trực tiếp. Phỏng vấn 120 chủ gia đình (từ 30 tuổi đến 65 tuổi) ở  4 bản (bảng 2.5), kết quả cho thấy:

Hầu hết các gia đình sử dụng cơm tẻ là chính: 113/120 gia đình (chiếm 94,2%) sử dụng thường xuyên cơm tẻ, chỉ có 7/120 gia đình (chiếm 5,8%) gia đình thường xuyên sử dụng cơm nếp. Trong đó bản Văn và bản Nhót du lịch chưa phát triển, tỉ lệ sử dụng cơm tẻ thường xuyên là 28/30 gia đình (chiếm 96,6%) cũng tương đương với bản Lác (28/30 gia đình, chiếm 96,6%) và bản Pom Coọng (30/30 người; chiếm 100%). Điều này chứng tỏ, du lịch rất ít tác động tới sự chuyển đổi từ thói quen ăn cơm nếp chuyển sang ăn cơm tẻ. Người dân trong các bản thường chỉ sử dụng cơm nếp khoảng 3-4 lần trong 1 tháng, hoặc vào những ngày có hiếu, hỉ.

Tần xuất sử dụng các món ăn dân tộc trong bữa ăn hàng ngày chia thành 3 nhóm: 1. Sử dụng thường xuyên: 106/120 gia đình, chiếm 88,3%;   2. Đôi khi có sử dụng: 14/120 gia đình, chiếm 11,7%; 3. Rất ít khi sử dụng: 0/120 gia đình.

Số lượng gia đình thường xuyên sử dụng món ăn dân tộc truyền thống cũng như số gia đình đôi khi sử dụng ở các bản có du lịch phát triển so với các bản du lịch chưa phát triển không có sự sai khác nhiều, điều đó chứng tỏ người dân vẫn thích các món ăn truyền thống. Các gia đình ở bản Nhót ít tham gia phục vụ du lịch, họ có điều kiện tìm kiếm các nguyên liệu tự nhiên cho món ăn truyền thống. Trong khi đó, hai bản trực tiếp kinh doanh du lịch không có điều kiện tự kiếm các nguồn nguyên liệu đó, họ phải mua ngoài thị trường để phục vụ nhu cầu của du khách và cho chính nhu cầu của mình. Qua đây, chứng tỏ du lịch ít ảnh hưởng đến việc sử dụng các món ăn dân tộc truyền thống. Các món ăn truyền thống được ưa thích vẫn là các món nấu có bột gạo, canh chua (măng, canh lá giang), cá nướng, cá đồ, thịt mủn.

Kết quả điều tra nguồn gốc của thực phẩm gia đình sử dụng cũng lý giải một phần  nguyên nhân này: bản Lác có 29/30 gia đình (chiếm 96,7%) phải mua thực phẩm ở ngoài, bản Pom Coọng-28/30 gia đình (93,3%); bản Văn-5/30 gia đình (chiếm 16,7%), bản Nhót-2/28 gia đình (chiếm 6,7%). Như vậy, số gia đình tự cung về thực phẩm ở các bản du lịch chưa phát triển (bản Văn có tới 25/30 gia đình, chiếm 83,3%; bản Nhót-28/30 gia đình, chiếm 6,7%) cao hơn rất nhiều so với các bản du lịch phát triển (bản Lác-1/30 gia đình, chiếm 3,3%; bản Pom Coọng-2/30 gia đình, chiếm 6,7%).

Mức độ sum họp các thành viên gia đình trong bữa ăn cũng khác nhau: ở các bản làm du lịch các thành viên trong gia đình hầu như không sum họp đầy đủ trong bữa ăn vì họ còn nhiều việc khác nhau, đặc biệt là, buổi trưa, buổi chiều và tối thường có nhiều việc liên quan đến đón, phục vụ du khách. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Có 68/120 gia đình (chiếm 56,7%) trong bữa ăn có đầy đủ các thành viên gia đình. Tỉ lệ này ở các bản có du lịch phát triển mạnh thấp hơn ở các bản du lịch chưa phát triển: bản Lác-10/30 gia đình (chiếm 33,3%), bản Pom Coọng-13/30 gia đình (43,3%) so với bản Văn-25/30 gia đình (83,3%) và bản Nhót-28/30 gia đình (chiếm 96,7%).

Có 54/120 gia đình (chiếm 53,4%) thường sum họp tương đối đầy đủ các thành viên gia đình trong bữa ăn. Tỉ lệ này ở các bản có du lịch phát triển  cao hơn các bản chưa có du lịch phát triển (do tại các bản này tỉ lệ các gia đình thường tập trung đủ các thành viên trong bữa ăn chiếm đa phần). Bản Lác có 20/30 gia đình (chiếm 66,7%) thường chỉ tương đối đầy đủ các thành viên gia đình trong bữa ăn, bản Pom Coọng-17/30 gia đình (chiếm 56,7%).

Các bản người Thái có du lịch phát triển ở Mai Châu-Hòa Bình, do tham gia vào kinh doanh du lịch, họ ít đi nương rẫy thậm chí bỏ hẳn nương, rẫy, săn bắt, hái lượm. Người dân ở đây có thu nhập chính từ du lịch, bởi vậy thay cho sử dụng các thực phẩm do chính mình chăn nuôi, trồng trọt hoặc săn, bắt, hái lượm, họ chuyển sang dùng thực phẩm mua ở chợ hoặc ở các bản làng khác.

Do giành nhiều thời gian cho kinh doanh du lịch, mặt khác đã là kinh doanh dịch vụ lưu trú (hình thức kinh doanh du lịch chính của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình hiện nay) không thể chăn nuôi gia súc, gia cầm ở nhà và khu vực quanh nhà được, do vậy họ phải mua thực phẩm ở ngoài. Việc sử dụng thực phẩm có nguồn gốc từ săn bắt, hái lượm từ thiên nhiên, thay thế vào đó là thực phẩm do chăn nuôi, trồng trọt. Điều này khác biệt khá rõ so với bản Nhót, không kinh doanh dịch vụ lưu trú: gia súc, gia cầm được nuôi trong khuôn viên đất gần nhà thậm chí để chuồng trâu, bò sát nhà ở.

Cơ cấu của bữa ăn cũng thay đổi nhiều, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trước kia sử dụng cơm nếp là chính, thậm chí cơm nếp còn dùng để ăn sáng thì ngày nay cơm nếp chỉ được dùng cho các ngày hội hè, cúng lễ. Mặt khác tập quán dùng tay bốc cũng gần như đã bỏ hẳn, thay vào đó là sử dụng bát, đũa như người Kinh. Cũng do ăn cơm tẻ là chính, lại sử dụng bát đũa nên trong bữa ăn, các món canh ngày càng hiện diện nhiều hơn, phong phú hơn về thể loại.

Bảng 2.5. Kết quả điều tra ảnh hưởng của du lịch đến ẩm thực

Ghi chú: SLPV-số gia đình phỏng vấn; KQ-kết quả phỏng vấn;

Đặc biệt, do trực tiếp nấu nướng cho khách du lịch đi theo đoàn với số lượng lớn mà chủ yếu là người Kinh và người nước ngoài, nên người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường phải nấu các món ăn theo khẩu vị của du khách. Từ các thực tiễn trên, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình dần dần có các kỹ năng nấu nướng các món ăn của người Kinh và người nước ngoài.

Theo thời gian, nhiều gia đình đã có thói quen sử dụng các món ăn của người Kinh và người nước ngoài do nhiều lúc phải sử dụng sản phẩm phục vụ khách còn dư thừa và sau đó đã thành thói quen trong gia đình, khi nấu nướng cho khách thì tiện thể chuẩn bị luôn bữa cho gia đình. Chính vì vậy, trong một số gia đình người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình hiện nay có thể sử dụng một số món ăn Âu, những món mà khách du lịch nước ngoài thường xuyên sử dụng, một thói quen từ trước không hề có của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Những gia đình người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình tham gia kinh doanh, phục vụ du lịch ngày nay thường có 3 bữa chính, thay vào 5 bữa ăn truyền thống trước kia, bữa phụ ăn giữa sáng (làm nương) và bữa phụ trước khi đi ngủ đã bỏ hẳn. Ba bữa hiện nay là hai bữa chính-trưa, chiều và bữa phụ-buổi sáng. Trong các bữa chính ở các gia đình, giờ đây cũng không phải bắt buộc tập trung hết tất cả các thành viên gia đình như trước kia. Đặc biệt là khi có khách du lịch, hai bữa chính của gia đình thường được tổ chức sau khi khách du lịch đã sử dụng, gia chủ thu dọn xong mới ăn trưa (hoặc tối). Các món ăn của các bữa đó thường trùng với món ăn khác sử dụng hoặc tận dụng từ khách du lịch.

Đồ uống người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình do du lịch phát triển nên đa dạng hơn. Các nhà kinh doanh dịch vụ lưu trú đều có tủ lạnh để đồ uống cho khách. Họ kinh doanh rượu, bia, đồ giải khát phục vụ khách và bản thân họ cũng sử dụng các đồ uống đó. Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình hiện nay cũng ít tự nấu rượu, họ thường sử dụng rượu được bán trên thị trường, các đồ giải khát thông dụng. Du khách đến các bản Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường thích thưởng thức rượu cần hơn tất cả các loại rượu khác.

Một điều đặc biệt trong kinh doanh du lịch của người Thái ở Mai Châu Hòa Bình là cho đến nay vẫn chưa hình thành các nhà hàng chuyên nghiệp phục vụ du khách. Hầu hết, việc phục vụ ăn uống cho khách do chính gia đình kinh doanh lưu trú thực hiện. Các món ăn do khách đặt theo thoả thuận đôi bên và chủ nhà tự lo liệu. Điều này khác biệt sự phục vụ khách du lịch của người Thái ở một số vùng khác-có một số nhà hàng của người Thái chuyên phục vụ chuyên biệt các món ăn dân tộc (theo yêu cầu của khách hoặc theo thực đơn của nhà hàng). Chính vì vậy, khách du lịch ít có điều kiện được thưởng thức các món ăn dân tộc của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình. Nếu được thưởng thức thì cũng không phong phú, không toàn diện về chất lượng, mùi vị, hình thức. Đã vậy, theo diễn thế chung ngày nay, nguồn thực phẩm từ thiên nhiên ở Mai Châu-Hòa Bình ngày càng khan hiếm, do vậy các món ăn dân tộc truyền thống ngày càng ít đi và đơn điệu hơn trước.

Tuy vậy, có khá nhiều du khách (nhất là khách trong nước) đến Mai Châu-Hòa Bình thích sử dụng các món ăn dân tộc. Chính nhu cầu này đã giúp người Thái của bản Lác, bản Pom Coọng có điều kiện trong việc bảo tồn các món ăn dân tộc truyền thống trước kia. Nguyên liệu để chế biến một số món ăn dân tộc ngày càng khan hiếm, họ phải cố gắng mua ở nơi khác mang về, chế biến phục vụ du khách.

Đến bản Lác, bản Pom Coọng vào ban đêm như đến một khu phố nhỏ. Các nhà đều bật nhiều đèn chiếu sáng, du khách, người trong bản ngồi trò truyện, ăn uống ở trên nhà, dưới sàn nhà. Cùng một lúc nhiều nhà trong bản rộn vang tiếng hát, chiêng trống của các đoàn văn nghệ bản phục vụ du khách. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

2.3.4. Tác động đến các mối quan hệ trong gia đình, xã hội

Nhìn chung mặc dù du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình khá phát triển, nhưng các mối quan hệ ứng xử giữa bố mẹ-con cái, vợ-chồng, anh-em ruột thịt, chủ nhà-khách, hàng xóm trong bản ít bị ảnh hưởng tác động của các qui luật kinh doanh, qui luật kinh tế thị trường vốn có của kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh du lịch.

Phân tích số liệu bảng 2.6, cho thấy:

Đa phần 99/120 gia đình (chiếm 82,5%) có ba thế hệ (ông, bà, con, cháu) sống cùng một nhà, kể cả ở bản có du lịch phát triển mạnh và các bản du lịch chưa phát triển. Các gia đình có hai thế hệ (bố mẹ, con) cũng như có bốn thế hệ là rất ít (hai thế hệ-13/120 gia đình, chiếm 10,8%; bốn thế hệ8/120 gia đình, chiếm 6,7%). Điều này chứng tỏ, kinh doanh du lịch ít ảnh hưởng đến truyền thống của người Thái ở các bản này-đó là người dân thường sống chung nhiều thế hệ (thường là 3 thế hệ) trong cùng một mái nhà.

Số anh em đã có gia đình ở chung với bố mẹ khá đông 107/120 gia đình (chiếm 89,2%), trong khi đó số gia đình ở riêng (vợ chồng và con cái) rất ít-13/120 gia đình (chiếm 10,8%). Số gia đình có 1-2 anh em đã có gia đình ở với bố mẹ chiếm đại đa số-102/120 gia đình (chiếm 85.0%), số gia đình có 34 anh em đã có gia đình ở chung với bố mẹ giờ đây rất ít-5/120 gia đình (chiếm 4,2%).

Bảng 2.6. Kết quả điều tra tác động của du lịch đến quan hệ gia đình, xã hội

Ghi chú: SLPV-số lượng người phỏng vấn; KQ-kết quả phỏng vấn.

Người phụ nữ ở các bản du lịch phát triển mạnh đóng vai trò chính trong gia đình, ở bản Lác có 29/30 gia đình (chiếm96,7%) phụ nữ đóng vai trò chính trong gia đình; bản Pom Coọng-27/30 gia đình (chiếm 90,0%). Ở các bản du lịch chưa phát triển vai trò của người phụ nữ trong gia đình ít thay đổi, ở bản Văn có 10/30 gia đình (chiếm 33,3%) phụ nữ đóng vai trò chính trong gia đình, bản Nhót-5/30 gia đình (chiếm 16,7%).

Như vậy, rõ ràng ở các bản có du lịch phát triển mạnh (bản Lác, bản Poom Coọng ), người phụ nữ đã đóng vai trò chính trong gia đình; họ là người chính thực hiện các hoạt động trong kinh doanh du lịch, trực tiếp quyết định đến mức thu nhập của gia đình mình.

Trên thực tế, các bản người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình vẫn giữ được rất nhiều nét tốt đẹp trong quan hệ giữa mọi người và xã hội, giữa các bản, mường, đó là: Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Không có sự phân biệt con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung, con trưởng, con thứ, con dâu, con rể. Không có sự phân biệt giữa con trai và con gái.

Con rể vẫn để ý chăm sóc bố mẹ vợ như bố mẹ mình. Con dâu vẫn có quyền khá bình đẳng như có thể về nhà bố mẹ mình trong một thời gian dài. Các bậc cao niên trong gia đình được con cái tôn trọng, luôn được chăm sóc chu đáo hơn tất cả mọi người.

Các bậc cha mẹ tôn trọng sự lựa chọn của con cái trong việc yêu đương, tạo điều kiện cho con cái trong quá trình tìm hiểu bạn đời, ít có sự phân biệt về đẳng cấp, giàu nghèo trong quá trình hôn nhân.

Tục lệ ở rể còn tồn tại nhưng không còn chặt chẽ và ràng buộc như trước. Nhiều đôi trai gái đã thích tự lập ngay sau ngày cưới, và nếu họ có đủ điều kiện thì gia đình cũng không bắt buộc phải ở rể. Trong gia đình, vợ chồng và con cái thường sống với nhau rất hòa thuận.

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình vẫn giữ được sự mến khách truyền thống xa xưa. Khách đến nhà, chủ nhà bao giờ cũng đón tiếp chu đáo, trọng thị. Sự thân thiện giữa chủ và khách giờ đây thể hiện nhiều qua câu chuyện tâm sự, chuyện công việc, chuyện xã hội.v.v. Họ có thể tiếp khách hàng giờ mà luôn giữ được sự thân thiện, mến khách.

Tình cảm anh em ruột thịt trong gia đình người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình giờ đây vẫn đằm thắm, ít có sự va chạm, nhưng sự độc lập của họ ngày càng tăng lên, mối quan tâm giúp đỡ, ràng buộc giữa anh em trong nhà bây giờ không còn chặt chẽ như trước nữa. Tính độc lập về kinh tế giữa họ ngày càng cao.

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình vẫn giữ được rất nhiều truyền thống tốt đẹp trong quan hệ làng bản, trong làng bản rất ít xảy ra truyện trộm cắp. Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình luôn sống chân thực, thật thà. Tính cộng đồng vẫn còn thể hiện rất cao, đặc biệt là vào các ngày lễ hội, ngày tang lễ.

Do du lịch phát triển, vị trí của người phụ nữ trong gia đình được nâng cao rất nhiều. Họ là những người đóng vai trò chính trong việc lo các dịch vụ ăn, ở cho khách du lịch, giao tiếp với khách. Trong nhiều nhà của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, nhiều con dâu của họ cũng là người chính trong việc kinh doanh du lịch. Mặt khác, do nhu cầu của du khách với các sản phẩm du lịch ngày càng gia tăng nên nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt, may bằng vải thổ cẩm được khôi phục và phát triển mạnh, đã tạo cho người phụ nữ trong nhà có thu nhập đáng kể, đóng vai trò kinh tế chủ đạo trong nhà. Chính các thay đổi này là những tác động chính thay đổi vị trí, vai trò của người phụ nữ Thái trong gia đình ở Mai Châu-Hòa Bình.

Hiện nay ở nhiều vùng núi một số tệ nạn (đặc biệt là nghiện hút) rất phát triển, nhưng ở bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, bản Nhót hầu như không có các tệ nạn xã hội, không có nghiện hút, cờ bạc, trai gái. Đây là kết quả từ phát huy truyền thống tốt đẹp của họ và một phần do tác động tích cực của du lịch. Du lịch phát triển đã tạo ra nhiều công ăn việc làm, góp phần tạo nên môi trường văn hóa-xã hội lành mạnh.

Rõ ràng rằng, sự phát triển của du lịch đã trực tiếp, gián tiếp tác động khá nhiều đến các mối quan hệ trong gia đình và xã hội, góp phần làm cho các mối quan hệ trong xã hội phong phú hơn, sâu hơn, rộng hơn, phức tạp hơn. Nhưng những tác động của kinh doanh, kinh tế thị trường hầu như không ảnh hưởng đến một số truyền thống tốt đẹp của các bản người Thái ở Mai Châu Hòa Bình, họ vẫn giữ được tính đoàn kết cộng đồng, tính thật thà, sự mến khách, sự đối xử rất tốt giữa các thành viên trong gia đình.v.v.

2.3.5. Tác động đến văn hoá-nghệ thuật Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Các lễ hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình hiện nay cũng không còn nhiều như trước kia. Một số lễ hội gần như không được tổ chức nữa như hội cầu mưa, hội cầu phúc bản mường, hội chá chiêng. Một số lễ hội hiện nay vẫn còn được tổ chức đó là hội chơi xuân, hội múa xòe, lễ cơm mới.

Với sự phát triển của du lịch (đặc biệt là ở bản Lác, bản Pom Coọng và bản Văn) một số lễ hội, hoạt động nghệ thuật đã được khôi phục nhằm mục đích biểu diễn phục vụ khách du lịch, góp phần bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc trong vùng. Chính du lịch đã khơi dậy, bảo tồn và phát triển một số hoạt động, sinh hoạt văn hoá đặc sắc của cộng đồng.

Hội chơi xuân vẫn được tổ chức hàng năm, trong ngày hội có nhiều trò chơi dân gian, phổ biến nhất là ném còn, hát giao duyên. Trong ngày hội, các thanh niên tham gia là chính, ngoài ra còn khá nhiều trẻ em. Mọi người tham gia hội đều ăn mặc đẹp. Hội diễn ra trong vòng 2-3 ngày, trong hội thường có một số thanh niên ở các bản khác đến tham gia. Trong những ngày hội chơi xuân thu hút được một lượng lớn khách du lịch tham gia, chủ yếu là khách nước ngoài và một số khách trong nội tỉnh. Trong ngày hội này, các thanh nữ thường có điều kiện mặc trang phục truyền thống của dân tộc, tạo nên những nét độc đáo và duyên dáng riêng, không pha trộn với bất cứ một dân tộc nào. Du khách tham gia lễ hội, cùng vui các trò chơi dân gian, các thanh nữ có dịp tiếp xúc với khách du lịch. Không khí đón xuân, cộng với khí hậu mát mẻ, sức sống mới của cây cối sẽ tạo cho du khách một ấn tượng thanh bình, hòa đồng với thiên nhiên và cộng đồng dân cư bản xứ-những ấn tượng mà du khách không thể nào quên được.

Hội múa xòe cũng được tổ chức khá thường xuyên. Ở các bản có du lịch phát triển, múa xòe không còn là sinh hoạt văn hóa-xã hội thông thường nữa, nó đã trở thành nghệ thuật biểu diễn phục vụ nhu cầu của du khách. Phổ biến nhất là xòe vòng, kết hợp biểu diễn văn nghệ với nhảy múa cùng du khách, nhiều khi từ xòe vòng được kết hợp với loại hình xòe đơn giản-xòe ồng bổng. Xòe ồng bổng là hình thức múa hát tập thể, nhiều khi kết hợp với đốt lửa trại-cả khách du lịch, dân bản, đội ca múa cùng nắm tay múa hát quanh đống lửa. Không khí về đêm của núi rừng, men rượu cần, những điệu múa tập thể mạnh mẽ, đơn giản sẽ đem lại cho du khách cảm giác mới, quên đi cái mệt ban ngày khi leo núi thăm quan, quên đi khái niệm thời gian.

Hiện nay, ở các bản người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình kinh doanh dịch vụ du lịch thường xuyên có hai đội xòe, đội xòe nữ và đội xòe thanh nữ. Đội xòe nữ tập hợp các phụ nữ múa giỏi hát hay, đã có gia đình. Đội xòe thanh nữ, tập hợp các thanh nữ múa giỏi hát hay, chưa có chồng. Mỗi đội xòe biên chế 16 người, gồm 6 nam và 10 nữ. Hầu như đêm nào ở Mai Châu-Hòa Bình cũng vang tiếng hát, tiếng cồng của các đội xòe, bởi các đoàn du lịch đến đều thích xem biểu diễn xòe Thái, uống rượu cần. Về đêm, trong thời tiết se lạnh của núi rừng, không có gì thú vị khi được xem xòe và uống rượu cần. Với giá cho một buổi biểu diễn xòe 250.000đ/1 ca diễn (thường kéo dài khoảng 1,52,0 giờ) thì bất kỳ một du khách nào cũng có thể chi trả chứ không nói tới một đoàn du khách. Thậm chí trong một đêm, có tới 5-6 nhà biểu diễn văn nghệ. Nhiều đêm, một đội văn nghệ phải biểu diễn ở 3-4 nơi. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Một điều lý thú là các điệu múa, câu hát không chỉ là văn hoá-nghệ thuật của dân tộc Thái mà còn có những điệu múa, câu hát của các dân tộc khác như: Mường, Kinh, Dao….Đây là sự lựa chọn độc đáo, làm cho chương trình thêm phong phú, đa dạng, hấp dẫn, tôn vinh thêm cho bản sắc văn hoá-xã hội riêng của người Thái. Đặc biệt nó còn cho du khách cùng một lúc hai cảm giác-sự tò mò và hài lòng những gì mà mình được thưởng thức.

Phải nói rằng, du lịch đã có tác động tốt đến việc duy trì một số lễ hội, nghệ thuật mang tính bản sắc dân tộc của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình.

Phỏng vấn 120 người (bảng 2.7) về một số tác động của du lịch đến văn hóa-nghệ thuật ở bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, bản Nhót, kết quả cho thấy:

104/120 người được phỏng vấn, chiếm 86,7% cho rằng mục đích chính của các hoạt động văn hoá-nghệ thuật này là để phục vụ du khách; chỉ có 16/120 người, chiếm 13,3% cho rằng mục đích chính là giữ gìn bản sắc dân tộc; ; trong đó không có sự sai khác nhiều giữa các bản du có du lịch phát triển và các bản du lịch chưa phát triển. Bản Lác có 25/30 người (chiếm 83,3%) cho rằng mục đích chính của biểu diễn nghệ thuật là phục vụ du khách; tương tự ở bản Pom Coọng là 26/30 người (chiếm 86,7%), bản Văn27/30 người (chiếm 90,0%), bản Nhót-26/30 người (chiếm 86,7%). Như vậy, đa số người dân cho rằng biểu diễn văn hoá-nghệ thuật chỉ đơn thuần là để phục vụ du khách. Họ ít biết đến vai trò của việc giữ gìn bản sắc dân tộc trong sự phát triển du lịch và vai trò (ngược lại của phát triển du lịch đến sự bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc.

Về vấn đề bổ sung một số tiết mục của các dân tộc khác trong chương trình biểu diễn, 105/120 người (chiếm 87,5%) được phỏng vấn cho rằng điều đó làm tăng thêm bản sắc dân tộc của người Thái; số người đồng ý với quan điểm này ở các bản có du lịch phát triển cao hơn so với các bản chưa có du lịch phát triển, bản Lác và bản Pom Coọng tổng số là 58/60 người (chiếm 96,7%), bản Văn và bản Nhót tổng cộng là 47/60 người (chiếm 78,3%). Số người cho rằng, sự bổ sung một số tiết mục của dân tộc khác vào chương trình sẽ làm giảm bản sắc dân tộc chỉ có 15/120 người (chiếm 12,5%). Người dân ở các bản du kinh doanh du lịch cho rằng sự đa dạng hoá trong biểu diễn làm tăng sự đặc sắc của văn hoá-nghệ thuật Thái vì qua đó chương trình phong phú hơn, làm tăng tính hấp dẫn, làm cho du khách hài lòng hơn. Những người cho rằng sẽ làm mất bản sắc dân tộc vì như vậy văn hoá của dân tộc mình bị lai tạp. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Khi hỏi về đánh giá chung tác động của du lịch đến văn hoá nghệ thuật, số người được phỏng vấn đều giữ quan điểm của họ tương tự như đối với sự bổ sung một số tiết mục của dân tộc khác vào chương trình biểu diễn: 105/120 người (chiếm 87,5%) cho rằng du lịch đã làm cho bản sắc dân tộc được tăng thêm và cần tăng cường hơn các hoạt động văn hóa nghệ thuật phục vụ du lịch; 15/120 người (chiếm 12,5%) cho rằng du lịch làm giảm bớt bản sắc dân tộc và không cần tăng cường các hoạt động văn hóa-nghệ thuật.

Bảng 2.7. Kết quả điều tra tác động của du lịch đến đời sống văn hóa nghệ thuật

Ghi chú: SLPV-số lượng người phỏng vấn; KQ-kết quả phỏng vấn.

  • Du khách nước ngoài xem biểu diễn văn nghệ
  • Du khách vui múa cùng đội múa
  • Đội múa thanh nữ của bản Lác đang phục vụ du khách
  • Du khách múa sạp cùng đội múa của bản Lác

2.3.6. Tác động tới cơ cấu kinh tế, phân công lao động

Du lịch phát triển ảnh hưởng nhiều đến cơ cấu kinh tế tiểu vùng. Nhiều gia đình ở các bản có du lịch phát triển (bản Lác, bản Pom Coọng) không có điều kiện tự sản xuất lương thực (hoặc sản xuất không đủ cung cho cầu của khách) và đặc biệt là họ không thể chăn nuôi gia súc (ảnh hưởng môi trường xung quanh, diện tích đất hạn hẹp, thiếu nhân lực) nên phần lớn lương thực và thực phẩm là phải mua, từ đó làm tăng nhu cầu và giá cả lương thực, thực phẩm. Chính từ hai nguyên nhân chính trên, đã kích thích trồng trọt, chăn nuôi ở các vùng lân cận phát triển mạnh. Trồng trọt, chăn nuôi đã không những nuôi sống họ mà còn giúp họ tích luỹ để làm giàu, và đặc biệt giúp họ chuyển đổi sang hình thức làm kinh tế cao hơn như phát triển kinh tế theo mô hình trang trại. Từ đây, hình thành một cơ cấu sản xuất mới ở các bản người Thái ở lân cận các khu du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình, đó là sản xuất thực phẩm phục vụ cho khách du lịch. Ngay tại vùng quanh thị trấn Mai Châu-Hòa Bình, bản Nhót là một bản cung cấp khá nhiều thực phẩm cho Lác, bản Pom Coọng, bản Văn phục vụ cho khách du lịch.

Ngoài những người tham gia phục vụ du lịch, sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho các nhà phục vụ khách du lịch còn xuất hiện một số người chuyên làm hướng dẫn viên, đưa đường, mang vác. Họ là những người chủ yếu ở bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, một số ít ở các bản lân cận khác. Các công việc này, tuy không thường xuyên nhưng đã đem lại cho họ một nguồn thu nhập đáng kể.

Phân tích số liệu bảng 2.8 ta thấy:

Bản Lác có tới 75/110 gia đình (chiếm 68,2%) thu nhập từ du lịch chiếm trên 50% thu nhập của gia đình; trong đó có 30/110 gia đình (chiếm 27,3%) có thu nhập từ du lịch chiếm trên 70% thu nhập của gia đình. Tương tự như trên, ở bản Pom Coọng là 28/ 60 gia đình (chiếm 46,7%) có thu nhập từ du lịch chiếm trên 70,0% thu nhập gia đình; bản Văn-13/69 gia đình (chiếm 18,8%), bản Nhót không có gia đình nào có thu nhập từ du lịch chiếm trên 50% thu nhập chung của gia đình. Rõ ràng, thu nhập từ du lịch cao nhất ở bản Lác, sau đến bản Pom Coọng, bản Văn, ít nhất là bản Nhót. Bản Nhót không có gia đình nào thu nhập từ du lịch chiếm trên 50% thu nhập của gia đình. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Ngược lại, tỉ suất thu nhập gia đình do làm nông nghiệp, nghề truyền thống chiếm rất lớn ở bản Nhót, sau đó đến bản Văn, bản Pom Coọng, cuối cùng là bản Lác. Bản Lác chỉ có 5/110 gia đình (chiếm 4,5%) thu nhập chính của gia đình (80-100% thu nhập) từ nông nghiệp; tương tự bản Pom Coọng-11/60 gia đình (chiếm 18,3%), bản Văn-46/69 gia đình (chiếm 66,7%), bản Nhót-105/117 gia đình (chiếm 89,7%).

Tác động của du lịch đến đời sống kinh tế còn thể hiện ở sự phân công lao động trong gia đình. Số gia đình ở bản Lác có 80-100% người tham gia kinh doanh dịch vụ lưu trú là 25/110 hộ (chiếm 22,7%); ở bản Pom Coọng-11/60 gia đình (chiếm 18,3%), bản Văn-3/69 gia đình (chiếm 4,3%), bản Nhót không có gia đình nào. Bản Lác có tới 98/110 gia đình (chiếm 89,0%) số gia đình có trên một nửa (50%) thành viên trong gia đình tham gia vào các công việc liên quan đến kinh doanh du lịch; trong khi đó ở bản Pom Coọng là 45/60 gia đình (chiếm 75,0%), bản Văn-16/69 gia đình (chiếm 23,2%), bản Nhót không có gia đình nào.

Với sự phát triển của du lịch chỉ trong vòng gần 15 năm, bản Lác, bản Pom Coọng và một số bản khác ở Mai Châu-Hòa Bình đã được cải thiện đáng kể về kinh tế, đời sống văn hóa-xã hội. Bên cạnh đó sự giao tiếp, quan hệ xã hội không còn bó buộc ở trong bản, mường mà có nhiều quan hệ trong tỉnh, các thành phố lớn, với người nước ngoài, trình độ học vấn của con em ngày càng cao. Chính những điều kiện trên đã tạo cho một số con em của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình được đi học các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; một số được đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Đây là một trong nét khá mới ở các bản của người Thái Mai Châu-Hòa Bình, mà chỉ có du lịch mới đem lại được cho họ. (Trước kia, các con em người dân tộc được đi học các trường chuyên nghiệp là các con em của các cán bộ thoát ly đương nhiệm, con em của các gia đình thường dân là vô cùng ít).

Bảng 2.8. Kết quả điều tra tác động của du lịch đến cơ cấu kinh tế, thu nhập trong gia đình

Ghi chú: SGĐ-số lượng gia đình điều tra.

2.3.7. Tác động đến ngôn ngữ

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, đặc biệt là các thiết bị nghe, nhìn, giao lưu giữa các vùng vô cùng thuận tiện, các dân tộc ngày càng sử dụng ngôn ngữ phổ thông (tiếng Việt) nhiều hơn bao giờ hết. Quá trình đó diễn ra tự nhiên trên một diện rất rộng và tương đối nhanh.

Để điều tra ảnh hưởng của du lịch đến ngôn ngữ, chúng tôi đã điều tra ở 120 nhà dân tại bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, bản Nhót (mỗi bản 30 gia đình). Qua phân tích kết quả điều tra một số tác động của du lịch đến ngôn ngữ của 4 bản người Thái ở ở Mai Châu-Hòa Bình (bảng 2.9) cho thấy:

Số lượng người biết tiếng Anh ở các bản rất ít, ngay các bản có du lịch phát triển cũng rất ít người biết tiếng Anh, ở bản Lác có 2/30 (6,7%) số gia đình có 01 người biết tiếng Anh, bản Pom Coọng-1/30 (3,3%), bản Nhót, bản Văn chưa có ai biết tiếng Anh. Đặc biệt trong 120 hộ điều tra, không có hộ nào có 2 người sử dụng được tiếng Anh. Rõ ràng người Thái ở các bản kinh doanh du lịch vẫn còn rất ít người biết tiếng Anh, mặc dù kiến thức là rất sơ đẳng, số người biết giao tiếp tiếng Anh này chủ yếu là giao tiếp bán hàng lưu niệm cho khách du lịch.

Các thành viên trong gia đình ở các bản có du lịch phát triển cũng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp nhiều hơn so với bản Văn, bản Nhót. Số gia đình có 90-100% các thành viên sử dụng tiếng Việt tại bản Lác là 20/30 gia đình (chiếm 66,6%); trong khi đó ở bản Pom Coọng là 21/30 gia đình (chiếm 70,0%), bản Văn-14/30 gia đình (chiếm 46,7%), bản Nhót chỉ có 4/30 gia đình (chiếm 13,3%). Số gia đình có 70-90% thành viên trong gia đình sử dụng tiếng Việt ở bản Lác là 8/30 gia đình (chiếm 26,7%), bản Pom Coọng-5/30 gia đình (chiếm 16,7%), bản Văn-7/30 gia đình (chiếm 23,3%), bản Nhót-9/30 gia đình (chiếm 30,0%). Số gia đình có 50-70% thành viên sử dụng tiếng Việt cao nhất ở bản Nhót-14/30 gia đình (chiếm 46,7%). Đặc biệt trong số 60 gia đình điều tra ở 2 bản du lịch phát triển mạnh (bản Lác, bản Pom Coọng) đều có trên 1/2 số thành viên gia đình sử dụng thành thạo tiếng Việt. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Điều tra ở các hộ có ba thế hệ (trong 30 gia đình) ở 4 bản trên cho thấy:

Giữa bố, mẹ-con cái (thế hệ thứ hai và thứ ba) của 66/99 hộ (chiếm 66,7%) giao tiếp với nhau bằng tiếng Thái; tỉ lệ này ở các bản có du lịch phát triển thấp hơn ở các bản du lịch chưa phát triển. Có 33 hộ (chiếm 33,3%) giao tiếp bằng tiếng Việt; tỉ lệ này cao nhất ở bản Lác-10/23 hộ (chiếm 43,4%), thấp nhất ở bản Nhót-6/26 hộ (chiếm 23,1%).

Bảng 2.9. Kết quả điều tra một số tác động của du lịch đến ngôn ngữ  ở một số bản người Thái làm du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình

Ghi chú: (*) Chỉ điều tra các hộ có 3 thế hệ ở 4 bản; SLĐT-số gia đình có 3 thế hệ ở trong bản

Giao tiếp giữa thế hệ thứ nhất và thứ hai (ông bà-bố mẹ) vẫn sử dụng tiếng Thái là chính-94/99 hộ (chiếm 94,5%); tiếng Việt 5/99 hộ (chiếm 5,4%).

Tỉ lệ này giữa các bản không có sự sai khác lớn.

Giao tiếp giữa thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ ba (ông, bà và các cháu) thì có sự sai khác: có 27/99 (chiếm 27,3%) gia đình sử dụng tiếng Việt; 72/99   (chiếm 72,7%) gia đình sử dụng tiếng Thái. Trong một số gia đình, trẻ nhỏ đi mẫu giáo, đi nhà trẻ, tại đây chúng chỉ học tiếng Việt, do vậy một số trong chúng về nhà có khi bắt buộc giao tiếp với mọi người bằng tiếng Việt.  Cũng như các nơi khác, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình ở các bản du lịch phát triển đều biết tiếng Việt và thường xuyên sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, thậm chí họ sử dụng tiếng Việt cả khi giao tiếp giữa người Thái với người Thái. Do người lớn lo bán hàng lưu niệm, phục vụ lưu trú, ăn uống cho khách, trẻ em đến trường cả ngày nên tần suất đối thoại và giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình giảm đi rất nhiều; thậm chí họ chỉ sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp, đối thoại tại gia đình. Chính vì vậy, tiếng Việt ở đây được sử dụng song hành với tiếng Thái, thậm chí còn thông dụng hơn cả tiếng Thái. Đặc biệt rất nhiều trẻ em của nhiều gia đình người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thậm chí chỉ hiểu tiếng Thái nhưng nói bằng ngôn ngữ Thái thì rất khó khăn. Các trẻ nhỏ cả ngày đi học và giao tiếng bằng tiếng Việt tại trường, khi về nhà, tối bố mẹ lại bận kinh doanh nên cơ hội, thời gian tiếp xúc và sử dụng tiếng Thái rất ít. Như vậy, du lịch có ảnh hưởng một phần đến sự phổ cập nhanh tiếng Việt trong các bản có kinh doanh du lịch.Tiếng Anh cũng được một số người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình học hỏi và sử dụng, nhưng ở mức độ rất thấp-chỉ đủ giao dịch khi bán hàng. Một số con em của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình hiện đang được đào tạo tại các trường chuyên nghiệp đã học tiếng Anh khá bài bản, nhưng số lượng các em sau khi tốt nghiệp trở về phục vụ cho công tác du lịch là rất ít.  Trong tiếng Thái của ở Mai Châu-Hòa Bình, về âm điệu người ta thường không dùng dấu hỏi, ví dụ: áo ngắn của phụ nữ, người Thái vùng khác gọi là xửa cóm thì ở Mai Châu-Hòa Bình gọi là xứa cóm hay rượu là”lấu” chứ không phát âm”lẩu” như người Thái ở vùng khác. Về ngữ điệu có nét la lá người Kinh vùng Thanh Hóa. Có lẽ đây là sự thay đổi xảy ra từ xa xưa và diễn ra trong một quá trình khá dài. Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái.

Một ảnh hưởng về ngữ điệu của ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt ảnh hưởng đến ngôn ngữ Thái các bản người Thái kinh doanh du lịch ở Mai Châu Hòa Bình có lẽ là người Thái vùng này nói chậm, ít ngôn từ trong câu hơn và nhẹ hơn so với người Thái ở vùng khác. Điều này có thể xuất phát từ việc sự sử dụng ngôn ngữ và sự giao tiếp của họ thường xuyên bị tác động của các cuộc nói chuyện, giao tiếp với du khách bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái

One thought on “Luận văn: Thực trạng du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái

  1. Pingback: Luận văn: Tác động du lịch đến đời sống văn hóa của người Thái

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464