Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế tại tỉnh Hà Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Để đánh giá thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế trên địa bàn tỉnh Hà Nam, trước hết cần xuất phát từ nhận thức chung về các quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế trên cơ sở chỉ ra và đánh giá những quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế, thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam.
2.1.1. Quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế, thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam.
Quy định chung về tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế.
- Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm
- Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra.
- Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành.
- Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ Quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra.
- Nghị định số 92/2014/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 1 điều 16 Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định về Thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra.
- Nghị định số 77/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Thanh tra y tế, được thay thế bởi Nghị định số 122/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của thanh tra y tế.
- Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra.
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (sửa đổi bổ sung năm 2008) được thay thế bởi Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012.
- Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
- Các quy định khác của pháp luật có liên
Quy định về trình tự, thủ tục thanh tra chuyên ngành y tế theo các lĩnh vực.
- Quyết định số 40/2007/QĐ-BYT ngày 16 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành Quy trình và danh mục thanh tra hành nghề y tư nhân.
- Quyết định số 4625/QĐ-BYT ngày 04 tháng 11 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành Quy trình thanh tra mỹ phẩm.
- Quyết định số 4308/QĐ-BYT ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành Quy trình thanh tra trang thiết bị y tế.
- Quyết định 5026/QĐ-BYT ngày 21 tháng 12 năm 2009 về việc Ban hành Hướng dẫn quy trình thanh tra Dược; Quyết định số 2188/QĐ-BYT ngày 21 tháng 6 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành sửa đổi, bổ sung quy trình thanh tra Dược.
- Quyết định số 903/QĐ-BYT ngày 19 tháng 3 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành Quy trình thanh tra đấu thầu và cung ứng thuốc trong cơ sở y tế công lập.
- Quyết định số 3745/QĐ-BYT ngày 03 tháng 10 năm 2012 về Ban hành quy trình và nội dung thanh tra việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Quyết định số 277/QĐ-SYT ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về Ban hành Quy trình thanh tra về quản lý chất thải y tế.
- Các quy định khác của pháp luật có liên
Quy định về tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam.
Hiện nay, theo Luật Thanh tra năm 2010, cơ quan thanh tra nhà nước và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành hầu hết đều chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Trên địa bàn tỉnh Hà Nam, đối với công tác thanh tra chuyên ngành y tế, cơ quan thanh tra nhà nước về y tế (Thanh tra Sở Y tế) và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế (Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình) chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của Sở Y tế. Việc đánh giá thực tiễn tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam cần thiết phải xem xét chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Sở Y tế Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
- Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy của Sở Y tế.
Cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Y tế tỉnh Hà Nam được quy định tại Quyết định số 725/QĐ-UBND ngày 23/6/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế tỉnh Hà Nam. Cụ thể:
- Vị trí, chức năng.
Sở Y tế tỉnh Hà Nam (Sau đây gọi là Sở Y tế) là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gồm: y tế dự phòng, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, y dược cổ truyền, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, mỹ phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, trang thiết bị y tế, dân số, bảo hiểm y tế.
Sở Y tế chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế.
- Nhiệm vụ, quyền hạn.
Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh: Dự thảo quy hoạch phát triển ngành; quy hoạch mạng lưới các cơ sở y tế; kế hoạch dài hạn, 5 năm, hàng năm; Đề án, Chương trình phát triển y tế, cải cách hành chính và phân cấp quản lý, xã hội hoá trong lĩnh vực y tế ở địa phương; dự thảo các Quyết định, Chỉ thị, văn bản thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh về lĩnh vực y tế; dự thảo quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục trực thuộc Sở; quy định về tiêu chuẩn chức danh đối với Trưởng, Phó các đơn vị thuộc Sở Y tế; Trưởng và Phó trưởng Phòng Y tế.
Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh: Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị thuộc Sở Y tế theo quy định của pháp luật; các quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh về lĩnh vực y tế. Dự thảo quy định mối quan hệ công tác giữa Sở Y tế với Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Phòng Y tế và các đơn vị có liên quan trên địa bàn và các chương trình, giải pháp huy động, phối hợp liên ngành trong phòng dịch bệnh ở địa phương.
Ngoài ra, Sở Y tế có nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật. chính sách, quy hoạch, đề án, chương trình và các vấn đề khác về y tế sau khi được phê duyệt, tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và các nhiệm vụ, quyền hạn khác trong các lĩnh vực: y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Y dược học cổ truyền; thuốc và mỹ phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, trang thiết bị và công trình y tế; dân số – kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản; bảo hiểm y tế; đào tạo nhân lực y tế; giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội và tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực y tế của địa phương theo quy định của pháp luật; thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực y tế; chịu trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở Y tế đối với Phòng Y tế cấp huyện; tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực được giao; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực y tế theo quy định của pháp luật; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác của các tổ chức, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở; quản lý biên chế, thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở theo quy định của pháp luật và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh; thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ Y tế; thực hiện một số nhiệm vụ khác do Uỷ ban nhân dân tỉnh giao và theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức bộ máy. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Tổ chức bộ máy của ngành y tế tỉnh Hà Nam được thể hiện theo Quyết định số 725/2008/QĐ-UBND. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện có sự sắp xếp lại về tổ chức bộ máy theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh nên tính đến hết năm 2015, tổ chức bộ máy của ngành y tế tỉnh Hà Nam thể hiện như sau:
- Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy ngành y tế tỉnh Hà Nam.
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đối với công tác thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Sở Y tế.
- Vị trí, chức năng.
Thanh tra Sở Y tế tỉnh Hà Nam (Sau đây gọi là Thanh tra Sở) là cơ quan của Sở Y tế, chịu sự chỉ đạo, điều hành của Giám đốc Sở, chịu sự chỉ đạo về công tác thanh tra và hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra hành chính của Thanh tra tỉnh, về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ.
- Nhiệm vụ, quyền hạn.
Theo quy định hiện hành của pháp luật, Thanh tra Sở có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của sở.
- Thanh tra vụ việc khác do Giám đốc sở
Xây dựng kế hoạch thanh tra y tế hàng năm theo hướng dẫn của Thanh tra Bộ Y tế và Thanh tra tỉnh trình Giám đốc Sở Y tế phê duyệt; định hướng các Chi cục được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Sở Y tế xây dựng kế hoạch thanh tra hằng năm. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch thanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở. Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở báo cáo về công tác thanh tra; tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra thuộc phạm vi quản lý của sở.
Hướng dẫn, kiểm tra cơ quan, đơn vị thuộc sở thực hiện quy định của pháp luật về thanh tra. Tổ chức việc tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho Thanh tra viên, công chức làm công tác thanh tra thuộc sở và công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thuộc cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở. Tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của sở trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra.Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của sở.
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Giám đốc sở, Thanh tra sở.
- Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở đối với vụ việc thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của sở khi cần thiết
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
- Nhiệm vụ, quyền hạn đối với công tác thanh tra chuyên ngành của Chánh Thanh tra Sở.
Theo quy định hiện hành của pháp luật, Chánh Thanh tra Sở có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
- Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra công tác thanh tra trong phạm vi quản lý của Sở; lãnh đạo Thanh tra Sở thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.
- Xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra trong phạm vi được phân cấp quản lý nhà nước của Sở.
- Quyết định việc thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở về quyết định của mình.
- Quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Giám đốc Sở giao.
Yêu cầu thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Sở tiến hành thanh tra trong phạm vi trách nhiệm của cơ quan đó khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Sở không đồng ý thì có quyền ra quyết định thanh tra, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở về quyết định của mình. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch thanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuốc Sở.
- Tổ chức việc tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho Thanh tra viên, công chức làm công tác thanh tra thuộc Sở và công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thuộc cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Sở.
- Tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của Sở trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra.
- Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Sở.
- Kiến nghị Giám đốc Sở tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sai trái về thanh tra của cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của Sở.
- Kiến nghị Giám đốc Sở giải quyết vấn đề về công tác thanh tra, trường hợp kiến nghị đó không được chấp nhận thì báo cáo Chánh Thanh tra Bộ.
- Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định cho phù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc hủy bỏ quy định trái pháp luật phát hiện qua công tác thanh tra.
- Xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
- Kiến nghị Giám đốc Sở xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của Giám đốc Sở có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra.
- Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
- Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Hà Nam
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Hà Nam được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 12/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2008 của liên Bộ Y tế, Bộ Nội vụ Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm trực thuộc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
- Vị trí, chức năng.
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm là tổ chức thuộc Sở Y tế, giúp Giám đốc Sở Y tế tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về An toàn vệ sinh thực phẩm; thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về vệ sinh an toàn thực phẩm, thực hiện thanh tra chuyên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Sở Y tế, đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm thuộc Bộ Y tế.
- Nhiệm vụ, quyền hạn đối với công tác thanh tra chuyên ngành.
Theo quy định hiện hành của pháp luật, trong hoạt động thanh tra chuyên ngành, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
- Xây dựng kế hoạch thanh tra gửi Thanh tra Sở tổng hợp trình Giám đốc sở phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó.
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý trong lĩnh vực An toàn vệ sinh thực phẩm.
- Thanh tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Sở giao.
- Thanh tra những vụ việc khác do Bộ trưởng, Giám đốc sở
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của mình;
- Tổng hợp, báo cáo kết quả thanh tra chuyên ngành với Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn các theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức.
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm gồm 04 phòng: Hành chính tổng hợp; Đăng ký và chứng nhận sản phẩm; Thông tin truyền thông và quản lý ngộ độc thực phẩm, Thanh tra. Trong đó, phòng Thanh tra là bộ phận tham mưu về công tác thanh tra chuyên ngành của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm.
- Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hà Nam
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hà Nam được thực hiện theo Thông tư số 05/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 14 tháng 5 năm 2008 của Bộ Y tế Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy Dân số – kế hoạch hóa gia đình ở địa phương.
- Vị trí, chức năng. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hà Nam là tổ chức thuộc Sở Y tế, thực hiện chức năng tham mưu giúp Giám đốc Sở Y tế quản lý nhà nước về Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, bao gồm các lĩnh vực: Quy mô dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số; chỉ đạo và tổ chức thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về Dân số – Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh.
Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Sở Y tế, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ Y tế.
- Cơ cấu tổ chức.
Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình gồm 03 phòng: Phòng Tổ chức hành chính và tài vụ, Phòng Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, Phòng Truyền thông – giáo dục. Hiện tại Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình chưa thành lập bộ phận tham mưu về công tác thanh tra chuyên ngành
- Nhiệm vụ, quyền hạn đối với công tác thanh tra chuyên ngành.
Theo quy định hiện hành của pháp luật, trong hoạt động thanh tra chuyên ngành, Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
- Xây dựng kế hoạch thanh tra gửi Thanh tra Sở tổng hợp trình Giám đốc sở phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó.
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý trong lĩnh vực Dân số – Kế hoạch hóa gia đình.
- Thanh tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Sở giao.
- Thanh tra những vụ việc khác do Bộ trưởng, Giám đốc sở giao;
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của mình;
- Tổng hợp, báo cáo kết quả thanh tra chuyên ngành với Thanh tra sở.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn các theo quy định của pháp luật.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục Trưởng các Chi cục: An toàn vệ sinh thực phẩm và Dân số – Kế hoạch hóa gia đình đối với công tác thanh tra chuyên ngành.
- Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra công tác thanh tra chuyên ngành được
- Quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của Bộ trưởng, Chánh Thanh tra Bộ, Giám đốc Sở, Chánh Thanh tra Sở; phân công công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành.
- Kiến nghị Giám đốc Sở Y tế, Chánh Thanh tra Sở Y tế xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan mình.
- Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định cho phù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc hủy bỏ quy định trái pháp luật phát hiện qua công tác thanh tra.
- Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
- Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành y tế, cộng tác viên thanh tra và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác thanh tra chuyên ngành y tế.
Quy định về điều kiện tiêu chuẩn, nhiệm vụ quyền hạn của thanh tra viên chuyên ngành y tế, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành y tế, cộng tác viên thanh tra chuyên ngành y tế và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác thanh tra chuyên ngành y tế được thực hiện theo quy định pháp luật về thanh tra, các quy định của ngành y tế và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Quy định về hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam.
Hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra; thanh tra chuyên ngành; quy trình thanh tra các lĩnh vực thuộc ngành Y tế do Bộ Y tế ban hành; các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2.1.2. Đánh giá quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Với hệ thống những quy định hiện hành, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế có những ưu điểm và tồn tại, hạn chế như sau:
- Ưu điểm
Nhìn chung, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế đã quy định bao quát các vấn đề về tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế. Đối với pháp luật tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế, đã quy định về cơ bản đầy đủ cơ cấu tổ chức, bộ máy,chức năng nhiệm vụ của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế; quy định về thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành và cộng tác viên thanh tra cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đối với công tác thanh tra chuyên ngành y tế. Đối với pháp luật về hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế, đã quy định về cơ bản đầy đủ các vấn đề xung quanh hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế; hoạt động của đoàn thanh tra, mối quan hệ công tác của đoàn thanh tra; hoạt động của thanh tra viên và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành khi tiến hành thanh tra độc lập cũng như trình tự thủ tục tiến hành thanh tra nói chung và thanh tra những lĩnh vực đặc thù thuộc ngành y tế nói riêng. Đây là căn cứ pháp lý, là nền tảng quan trọng để cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế phát huy vị trí, vai trò của mình.
- Tồn tại, hạn chế.
Bên cạnh những ưu điểm, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế cũng còn những tồn tại, hạn chế trên một số khía cạnh nhất định: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
- Đối với pháp luật về tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế.
- Về tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
Điều 30, khoản 1 Luật Thanh tra năm 2010 quy định:“Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành không thành lập cơ quan thanh tra chuyên ngành độc lập” [18]. Để thực hiện có hiệu quả hoạt động thanh tra chuyên ngành, Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành đã quy định về bộ phận tham mưu về công tác thanh tra chuyên ngành tại cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (Phòng Thanh tra của Cục Quản lý Dược; Phòng Thanh tra của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh,..). Đối với Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, mặc dù là cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, tuy nhiên cho đến nay cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình vẫn được thực hiện theo Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14 tháng 5 năm 2008 của Bộ Y tế Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy Dân số – Kế hoạch hóa gia đình ở địa phương, trong đó cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh chưa có phòng tham mưu về công tác thanh tra, dẫn đến hiệu quả của công tác thanh tra chuyên ngành đôi lúc còn chưa được phát huy.
Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành quy định cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Y tế là “Cục An toàn vệ sinh thực phẩm”. Tuy nhiên, theo Quyết định số 4062/QĐ-BYT ngày 22 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục An toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế, tên gọi “Cục An toàn vệ sinh thực phẩm” đã được thay thế bằng tên gọi “Cục An toàn thực phẩm”.
Điều 7 Luật Dược 2005 quy định: “Thanh tra dược thuộc thanh tra Bộ Y tế có chức năng thanh tra chuyên ngành về dược. Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra dược được thực hiện theo quy định của pháp luật về Thanh tra”.Tuy nhiên, quy định này đã xuất hiện nhiều điểm chưa phù hợp, đồng bộ với quy định của pháp luật về thanh tra và tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của Bộ Y tế, Sở Y tế. Thanh tra dược hiểu theo quy định này là hoạt động thanh tra của cơ quan có chức năng thanh tra chuyên ngành về dược thuộc Bộ Y tế. Hiểu theo nghĩa này, Sở Y tế sẽ không có chức năng thanh tra chuyên ngành về dược. Theo quy định của Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25 tháng 4 năm 2008 của liên Bộ Y tế, Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Phần I vị trí và chức năng của Sở Y tế được quy định: “Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, “Chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Y tế”.
Quy định về thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành và cộng tác viên thanh tra.
- Thanh tra viên. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Điều 32 Luật Thanh tra năm 2010, điểm b khoản 1 quy định: “…đối với Thanh tra viên chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành đó” [18]. Tiếp đó, Điều 26 Nghị định số 122/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra y tế quy định:
Nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn của thanh tra viên quy định tại Luật Thanh tra, Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra (sau đây được gọi tắt là Nghị định số 97/2011/NĐ-CP) và các điều kiện, tiêu chuẩn khác phù hợp với ngành, lĩnh vực theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế [8].
Tuy nhiên đến nay, Bộ Y tế vẫn chưa có văn bản quy định về điều kiện, tiêu chuẩn phù hợp với ngành, lĩnh vực của thanh tra viên chuyên ngành y tế như được giao tại Nghị định số 122/2014/NĐ-CP.
- Người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành.
Điều 12 Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành quy định: “…Tiêu chuẩn cụ thể của công chức thanh tra chuyên ngành do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành” [7]. Tuy nhiên, đến ngày 12 tháng 11 năm 2015, Bộ Y tế mới ban hành Thông tư số 39/2015/TT-BYT Quy định về tiêu chuẩn, trang phục và thẻ của người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về y tế, trong đó có quy định về tiêu chuẩn công chức thanh tra chuyên ngành y tế và phân công thực hiện nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành y tế. Như vậy dẫn đến tình trạng chậm trễ trong việc triển khai quy định về người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, đặc biệt là việc đào tạo, thực hiện chế độ, chính sách để khuyến khích, động viên người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành trong thực thi nhiệm vụ hay việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật.
- Cộng tác viên thanh tra.
Điều 25 Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ Quy định về Thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra quy định: “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn cộng tác viên thanh tra, chế độ chính sách đãi ngộ đối với cộng tác viên thanh tra phù hợp với đặc điểm hoạt động thanh tra do bộ, ngành quản lý” [6]. Tuy nhiên, đến nay Bộ Y tế vẫn chưa có quy định về tiêu chuẩn, chế độ chính sách đãi ngộ đối với cộng tác viên thanh tra y tế dẫn đến việc trưng tập cộng tác viên thanh tra, thực hiện chế độ đãi ngộ đối với cộng tác viên thanh tra của ngành còn nhiều bất cập.
Theo quy định của Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ Quy định về Thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra quy định tại Điều 22: “Cộng tác viên thanh tra là công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực…” [6]. Như vậy diện đối tượng cộng tác viên thanh tra quá hẹp, trong khi nhiều đối tượng không phải công chức, viên chức nhưng lại có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác phù hợp với cuộc thanh tra.Tiếp đó, Điều 28 Nghị định số 122/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra y tế quy định: “Cộng tác viên thanh tra là người không thuộc biên chế của cơ quan thanh tra nhà nước ngành y tế được trưng tập tham gia đoàn thanh tra” [8]. Như vậy, quy định đối tượng thuộc diện cộng tác viên thanh tra tại Nghị định số 122/2014/NĐ-CP không thống nhất, rộng hơn so với Nghị định số 97/2011/NĐ-CP.
Điều 21 Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2010 của Chính phủ Quy định về Thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra: “Cộng tác viên là người được cơ quan thanh tra nhà nước trưng tập tham gia Đoàn Thanh tra” [6]. Tuy nhiên hiện nay, chủ thể ban hành Quyết định thanh tra là Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước và Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước. Vì vậy, quy định về thẩm quyền trưng tập cộng tác viên thanh tra được xác định là Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước mà không bao gồm Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước là chưa phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật và đòi hỏi của thực tiễn công tác thanh tra chuyên ngành y tế Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Đối với pháp luật về hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế.
- Hình thức thanh
Luật Thanh tra năm 2010 quy định hình thức thanh tra bao gồm thanh tra thường xuyên, thanh tra theo kế hoạch và thanh đột xuất. Theo Luật Thanh tra năm 2010, “Thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành” [18]. Tuy nhiên Nghị định 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành chỉ quy định về hình thức thanh tra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất và đến nay cũng chưa có quy định cụ thể về hoạt động thanh tra thường xuyên để các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành tổ chức thực hiện.
- Xây dựng kế hoạch thanh tra và gửi kế hoạch thanh
Mặc dù việc lập và gửi kế hoạch thanh tra đã được quy định tại Luật Thanh tra năm 2010: “Chậm nhất vào ngày 15 tháng 10 hằng năm, Tổng Thanh tra Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Định hướng chương trình thanh tra. Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm xem xét, phê duyệt Định hướng chương trình thanh tra chậm nhất vào ngày 30 tháng 10 hàng năm” [18], “…Căn cứ vào Định hướng chương trình thanh tra, Tổng Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ và hướng dẫn Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh xây dựng Kế hoạch thanh tra cấp mình” [18]. Trong khi đó, tại Điều 39 Nghị định 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành quy định:“Chậm nhất vào ngày 01 tháng 11 hằng năm, Tổng cục, Cục thuộc Bộ căn cứ vào hướng dẫn của Thanh tra Bộ và yêu cầu công tác quản lý của mình có trách nhiệm gửi kế hoạch thanh tra đến Thanh tra Bộ để tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ” [7]. Như vậy, Thanh tra Bộ không có thời gian nghiên cứu định hướng chương trình thanh tra của Chính phủ, hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ để hướng dẫn Tổng cục, Cục thuộc Bộ xây dựng Kế hoạch thanh tra, các Tổng cục, Cục thuộc bộ cũng không có thời gian nghiên cứu để xây dựng Kế hoạch thanh tra của mình cho phù hợp với Định hướng chương trình thanh tra và Kế hoạch thanh tra của Chính phủ.
Tương tự như vậy, đối với việc lập kế hoạch thanh tra của các Chi cục thuộc Sở, Thanh tra Sở cũng không có thời gian nghiên cứu định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra của tỉnh và hướng dẫn xây dựng kế hoạch thanh tra của Thanh tra tỉnh để hướng dẫn các Chi cục thuộc Sở trong xây dựng kế hoạch thanh tra. Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, phê duyệt kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 25 tháng 11 hàng năm” [18]. Trong khi đó Nghị định 07/2012/NĐ-CP quy định: “Chậm nhất vào ngày 20 tháng 11 hàng năm, Chi cục thuộc Sở căn cứ vào hướng dẫn của Thanh tra Sở và yêu cầu công tác quản lý của mình có trách nhiệm gửi kế hoạch thanh tra đến Thanh tra Sở để tổng hợp, báo cáo Giám đốc Sở” [7]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Tiếp đó, theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010 và Nghị định 07/2012/NĐ-CP, kế hoạch thanh tra phải được gửi cho đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức có liên quan. Quy định này thể hiện tính công khai, minh bạch, dân chủ trong hoạt động thanh tra. Tuy nhiên vẫn tồn tại điểm chưa phù hợp đối với hoạt động thanh tra chuyên ngành. Chẳng hạn, đối với hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế về các lĩnh vực y, dược, đôi khi đối tượng thanh tra ở đây chỉ xác định được là loại hình đối tượng, hoạt động trên phạm vi nhất định xuất phát từ việc bên cạnh những cơ sở hành nghề đã được cấp phép hoạt động, thực tế vẫn tồn tại nhiều cơ sở hoạt động khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép dẫn đến việc không xác định được cụ thể địa điểm hoạt động của cơ sở.
- Xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo.
Theo quy định của Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014 của Thanh tra Chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra quy định trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng đề cương báo cáo và gửi cho đối tượng thanh tra ít nhất trước 05 ngày tính đến ngày công bố quyết định. Quy định này có điểm chưa phù hợp với hoạt động thanh tra chuyên ngành. Hoạt động của đoàn thanh tra chuyên ngành nhiều khi cần có tính bất ngờ, bí mật thông tin để đánh giá đúng thực trạng của đối tượng thanh tra, kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm, tránh để đối tượng thanh tra biết và tìm cách tẩu tán hàng hóa vi phạm hoặc tìm cách chống đối hoạt động của đoàn thanh tra(Chẳng hạn thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật dược, an toàn thực phẩm, mỹ phẩm…). Tiếp đó trong hoạt động thanh tra chuyên ngành, nhiều khi đối tượng thanh tra là các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, phạm vi thanh tra với các cơ sở này không lớn. Vì vậy việc xây dựng và gửi đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo có lúc còn chưa phù hợp.
Bên cạnh những vướng mắc nêu trên, hoạt động thanh tra chuyên ngành cũng còn vướng mắc trong thực hiện các quy định pháp luật về một số trình tự, thủ tục và hoạt động khác trong hoạt động đoàn thanh tra chuyên ngành. Ví dụ như việc sử dụng con dấu trong đoàn thanh tra, công bố kết luận thanh tra,….
2.2. Thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế tại tỉnh Hà Nam. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
2.2.1. Thực tiễn công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011 – 2015.
Từ năm 2011-2015 là thời điểm sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 03/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác Bảo vệ, Chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Sở Y tế đã chủ động tham mưu với tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh kịp thời phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể tổ chức triển khai các nhiệm vụ nhằm huy động toàn xã hội cùng tham gia. Từng bước hoàn thiện hệ thống y tế, đẩy mạnh xã hóa, huy động các nguồn lực tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích kêu gọi đầu tư và phát triển các loại hình y tế tư nhân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên ngành nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, năng lực chuyên môn nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhân dân trong tỉnh và vùng lân cận, đặc biệt các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em…hệ thống y tế của tình được củng cố và phát triển phù hợp với điều kiện địa phương. Phòng y tế được thành lập tại 6/6 huyện/thành phố. Tất cả 116/116 xã, phường, thị trấn trong tỉnh có trạm y tế xã có đủ biên chế theo Quyết định 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ, sắp xếp thu gọn các phòng khám đa khoa khu vực. Hiện nay Sở Y tế có 24 đầu mối (trong đó có 11 bệnh viện; tuyến tỉnh có 01 bệnh viện đa khoa, 05 bệnh chuyên khoa; tuyến huyện có 05 bệnh viện đa khoa thuộc Trung tâm Y tế huyện với tổng số giường bệnh 1640 ); 100% thôn xóm, tổ dân phố có nhân viên y tế; 92,24% số trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, trung cấp dược; 94,8% trạm y tế có lương y hoặc y sỹ y học cổ truyền; 86/116 trạm y tế có bác sỹ (đạt tỷ lệ 74,1%). Hiện nay ngành Y tế có 2.376 cán bộ công chức, viên chức, người lao động theo quyết định 58/TTG, trong đó: Bác sỹ là 483 (02 tiến sỹ y khoa, thạc sỹ 40, bác sỹ chuyên khoa II là 14, Bác sỹ chuyên khoa I là 144, Bác sỹ là 283 ) đạt tỷ lệ 6,3 bác sỹ/ 10.000 dân (năm 2005 là 5,1- năm 2010 là 5,9). Dược sỹ đại học: 23 (Thạc sỹ là 2, dược sỹ chuyên khoa II là 1, Dược sỹ chuyên khoa I là 5, dược sỹ đại học là 15) đạt tỷ lệ 0,3 Dược sỹ đại học/10.000 dân (năm 2005:0,24; năm 2010:0,3).
Sở Y tế coi trọng công tác nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, nhân viên. Đặc biệt quan tâm đào tạo bác sỹ cho tuyến xã. Phối hợp với các giáo sư chuyên khoa đầu ngành tuyến Trung ương, chuyên gia nước ngoài về trực tiếp phẫu thuật, chuyển giao công nghệ và đào tạo tại chỗ về chuyên môn kỹ thuật theo phương thức cầm tay chỉ việc cho đội ngũ cán bộ tuyến tỉnh. Cán bộ chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện tuyến trên xuống giúp đỡ tuyến dưới. Đến nay 100% các trạm trưởng trạm y tế được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý. Sở Y tế tập trung đầu tư xây dựng nâng cấp, mua sắm trang thiết bị, 100% bệnh viện tuyến tỉnh, huyện. Một số bệnh viện liên doanh, liên kết các tổ chức, cá nhân đầu tư trang thiết bị hiện đại và thực hiện tốt “Chuẩn Quốc gia về y tế xã“. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Công tác khám chữa bệnh: Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng nâng cao, công tác khám chữa bệnh theo yêu cầu được chú trọng. Khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh cho người nghèo thưc hiện mở rộng từ tỉnh đến tram y tế xã, phường, thị trấn, quyền lợi cho đối tượng được đảm bảo. Viêc quản lý sử dụng quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện đúng qui định. Hiện nay 100% trẻ em dưới 6 tuổi được khám và chữa bệnh miễn phí tại cơ sở y tế công lập. Toàn tỉnh có 100%=116/116 trạm y tế xã, phường thị trấn thực hiện khám, chữa bệnh cho người có bảo hiểm y tế. Việc kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc trong khám và điều trị bệnh được coi trọng và phát triển từ tỉnh đến cơ sở. Hiện nay tỉnh có 189 cơ sở hành nghề y dược cổ truyền tư nhân góp phần bảo tồn và phát huy y học cổ truyền và y học hiện đại để xây dựng nền y học hiệu quả, an toàn bền vững.
Công tác y tế dự phòng và An toàn vệ sinh thực phẩm: Triển khai kịp thời ngăn chặn, bao vây, khống chế phòng ngừa và dập tắt các ổ dịch lớn như: Dịch do Vi rút cúm A (H5N1), H7N1, H7N9, dịch SARS, viêm đường hô hấp cấp, dịch tiêu chảy, dịch sởi, dịch tay chân miệng, dịch bệnh mới phát sinh theo mùa.. 5 năm liền trên địa bàn tỉnh không có dịch lớn xảy ra. Thực hiện có hiệu quả cao chương trình tiêm chủng mở rộng hàng năm; trung bình các năm đạt từ 96% đến 98%, năm 2015 đạt tiêm chủng 99,9 %. Hàng năm thực hiện tốt việc giám sát chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh.
Duy trì thường xuyên các hoạt động thanh, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh, cửa hàng ăn uống, thức ăn đường phố trên địa bàn. Hàng năm hưởng ứng tốt tháng hành động “Vì chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm”. Nhiều năm qua trên địa bàn tỉnh không có vụ ngộ độc thức ăn lớn xảy ra không có ca tử vong do ngộ độc thực phẩm.
Công tác phòng chống bệnh xã hội: Các chương trình mục tiêu phòng chống các bệnh xã hội như bệnh phong, lao, tâm thần…được triển khai kịp thời và hoạt động có nề nếp, chất lượng. Đã chủ động phát hiện, quản lý, chăm sóc bệnh nhân tâm thần tại cộng đồng và điều trị tại viện; thực hiện tốt việc phòng chống tàn tật cho bệnh nhân phong. Hạn chế gia tăng bệnh nhân HIV/AIDS. Phát hiện kịp thời bệnh nhân lao mới đưa vào quản lý, giảm tỷ lệ tử vong. Quản lý tốt bệnh nhân mắc bệnh xã hội. Tổ chức thăm khám, điều trị bệnh về mắt, mổ giải phóng mù lòa cho nhân dân tại cộng đồng và tại bệnh viện an tòan, chất lượng.
Công tác Chăm sóc sức khỏe sinh sản và bảo vệ bà mẹ trẻ em: Các chương trình mục tiêu quốc gia hàng năm triển khai vượt kế hoạch, duy trì chất lượng các dịch vụ, tỷ lệ tai biến sản khoa, tử vong bà mẹ, trẻ em năm sau giảm hơn năm trước, đảm bảo không có uốn ván sơ sinh. Công tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đạt hiệu quả cao, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 22% năm 2005 xuống 13% năm 2015. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Công tác Dược, quản lý thuốc và xã hội hóa y tế: Cung ứng kịp thời thuốc nhất là thuốc thiết yêu phục vụ nhu cầu trên địa bàn. Các cơ sở hành nghề dược tư nhân ngày một phát triển với nhiều hình thức: Công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp, nhà thuốc, đại lý…tạo sự da dạng cho mạng lưới sản xuất và cung cấp thuốc. Toàn tỉnh có 362 cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc, 116 tủ thuốc trạm y tế. Ngành y tế chủ động khuyến khích đầu tư cho y tế theo hướng xã hội hóa. Mạng lưới y tế ngoài công lập phát triến đa dạng, toàn tỉnh có 302 cơ sở hành nghề y, y học cổ truyền tư nhân, trong đó có: 15 phòng khám đa khoa, 47 phòng khám chuyên khoa, 01 nhà hộ sinh; 32 cơ sở dịch vụ, 18 phòng khám chuyên khoa nội, 189 phòng chẩn trị y học cổ truyền; 362 cơ sở hành nghề dược tư nhân, trong đó 15 công ty dược, 275 quầy thuốc, 48 đại lý dược, 24 nhà thuốc…
Giai đoạn 2011-2015 công tác Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã đạt được kết quả đáng trân trọng, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại nhất định như: Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh đã được đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu, đội ngũ cán bộ y tế còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng, vướng mắc trong tổ chức thực hiện, công tác môi trường y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm còn gây bức xúc trong nhân dân. Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại, trong thời gian tới cần phải tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về y tế, trong đó, đặc biệt là phát huy hơn nữa vị trí, vai trò của công tác thanh tra chuyên ngành y tế, bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế trên địa bàn tỉnh.
2.2.2. Thực tiễn tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế tại tỉnh Hà Nam.
- Tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà
Cơ cấu tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam bao gồm hệ thống cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế và nhân lực thanh tra chuyên ngành y tế.
- Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế.
Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế trên địa bàn tỉnh Hà Nam bao gồm Thanh tra Sở Y tế và Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm. Đối với Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình trong giai đoạn 2011-2015 chưa tiến hành hoạt động thanh tra chuyên ngành.
- Nhân lực thanh tra chuyên ngành y tế.
Trong giai đoạn 2011-2015, do Bộ Y tế chưa có quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn, chế độ chính sách đối với công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành và tiêu chuẩn, chế độ chính sách đãi ngộ đối với cộng tác viên thanh tra y tế, vì vậy cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế có thẩm quyền chưa có căn cứ để giao công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành và trưng tập cộng tác viên thanh tra y tế.
Tại Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, trong thời gian này, nhân lực tham gia Đoàn Thanh tra là công chức của Phòng Thanh tra, Phòng Đăng ký và chứng nhận sản phẩm, Phòng Thông tin truyền thông và quản lý ngộ độc thực phẩm.
- Bảng 2.1: Công chức tham gia Đoàn thanh tra chuyên ngành thuộc Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm
Đối với Thanh tra Sở Y tế, trong giai đoạn 2011-2015, nhân lực Thanh tra Sở Y tế không có biến động qua các năm, tổng số nhân lực: 02 người, bao gồm: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
- Chánh Thanh tra – Bác sỹ Chuyên khoa Cấp 1 – Thanh tra viên Chính.
- Phó Chánh Thanh tra – Dược sỹ Chuyên khoa Cấp 1 – Thanh tra viên Chính.
Ngoài ra nhân lực thanh tra chuyên ngành y tế giai đoạn 2011-2015 còn có cán bộ, công chức, viên chức thuộc các phòng nghiệp vụ Sở Y tế, các đơn vị trong ngành được trưng tập tham gia các đoàn thanh tra chuyên ngành y tế.
Đánh giá thực trạng tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam.
- Ưu điểm.
Được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, Bộ Y tế và sự phối hợp của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng đã thiết lập về cơ bản đảm bảo tổ chức bộ máy, nhân lực thanh tra chuyên ngành y tế theo quy định của pháp luật, hệ thống thanh tra y tế từng bước đươc kiện toàn. Đặc biệt, đội ngũ nhân lực thanh tra chuyên ngành y tế tuy số lượng còn hạn chế nhưng đa phần đều có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nhiều năm trong công tác thanh tra chuyên ngành y tế và không ngừng được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đến hết năm 2015, 100% cán bộ công tác tại cơ quan Thanh tra Sở đạt trình độ thạc sỹ và tương đương, được bổ nhiệm ngạch thanh tra viên chính; công chức tham gia các đoàn thanh tra chuyên ngành của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm đều có trình độ từ Đại học trở lên, trong đó 100% được bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra. Đến năm 2015, 6/9 công chức tham gia Đoàn Thanh tra chuyên ngành đạt trình độ thạc sỹ, chiếm 66%. Đội ngũ cán bộ, công chức các Phòng Nghiệp vụ Sở Y tế, các Phòng Y tế và các đơn vị trong ngành được trưng tập tham gia đoàn thanh tra đều có trình độ chuyên môn, thâm niên công tác đáp ứng được yêu cầu của các cuộc thanh tra. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra y tế được quan tâm chú trọng. Để khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức trong tỉnh đào tạo sau đại học, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam đã ban hành Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 08/5/2009 về việc ban hành quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng; chính sách thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, có cơ chế khuyến khích tài chính đối với cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo sau đại học. Hàng năm, lãnh đạo Sở Y tế luôn quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện các cơ quan, đơn vị trong ngành xây dựng kế hoạch đào tạo, cử cán bộ, công chức, viên chức trong ngành nói chung và cán bộ, công chức cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế nói riêng đi đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị -hành chính. Bên cạnh đó, công tác hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành, tuyên truyền, phổ biến pháp luật chuyên ngành cũng được quan tâm chú trọng kết hợp với việc tích cực tham gia các lớp tập huấn, trao đổi kinh nghiệm do Bộ Y tế tổ chức giúp cho nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của cán bộ, công chức cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế không ngừng được củng cố và nâng cao.Những kết quả đạt được trong công tác tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế đã tạo nền móng cho hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế, là nền tảng cơ bản để cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế tỉnh Hà Nam phát huy ngày càng tốt hơn nữa vị trí, vai trò của mình trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về y tế, phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh.
- Tồn tại, hạn chế. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tổ chức thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định:
Một là, biên chế của cơ quan Thanh tra Sở Y tế hiện nay quá hạn hẹp.Theo Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, chức năng nhiệm vụ của Thanh tra Sở chủ yếu trên các lĩnh vực thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và phòng chống tham nhũng…. Nghị định 21/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ Quy định về quản lý biên chế quy định một trong những căn cứ để xác định biên chế công chức là: “Vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền quy định”. Nghị định số 122/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của thanh tra y tế đã quy định trách nhiệm của người có thẩm quyền trong kiện toàn tổ chức, biên chế đối với cơ quan thanh tra nhà nước về y tế. Từ năm 2011 đến năm 2015, biên chế được cấp có thẩm quyền giao và thực trạng nhân lực của cơ quan Thanh tra Sở Y tế là 02 người. Trong điều kiện biên chế như vậy, Thanh tra Sở rất khó khăn trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ, đặc biệt là trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế. Trong khi đó, việc trưng tập và sử dụng cộng tác viên thanh tra y tế còn bất cập. Như đã phân tích tại chương II, Bộ Y tế hiện nay vẫn chưa có quy định cụ thể về tiêu chuẩn, việc trưng tập và chế độ đãi ngộ đối với cộng tác viên thanh tra. Mặt khác, Quyết định thanh tra chuyên ngành y tế trong giai đoạn 2011-2015 của Sở Y tế tỉnh Hà Nam đều do lãnh đạo Sở ban hành. Vì vậy, đối tượng được trưng tập mặc dù đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn của cộng tác viên thanh tra tuy nhiên cũng sẽ không được xem là cộng tác viên thanh tra. Từ đó không đảm bảo chế độ, chính sách để khuyến khích, động viên họ trong công tác thanh tra chuyên ngành y tế. Bên cạnh đó, khi tiến hành một cuộc thanh tra, Thanh tra Sở không đủ biên chế để chủ động tiến hành thanh tra mà luôn cần tham mưu cho lãnh đạo Sở trưng tập nhân lực có đủ điều kiện tiêu chuẩn, phù hợp với cuộc thanh tra. Điều này dẫn đến hoạt động thanh tra phải phụ thuộc phần nhiều đối với các cơ quan quản lý nhân lực dự kiến trưng tập. Việc trưng tập nhân lực cũng tồn tại nhiều bất cập. Chẳng hạn, thông thường đối với nhân lực dự kiến trưng tập tham gia các cuộc thanh tra về hành nghề y, dược là công chức các Phòng Nghiệp vụ Sở Y tế, hiện nay biên chế các Phòng Nghiệp vụ Sở Y tế còn quá hạn hẹp chỉ từ 2-4 người, việc tham gia đoàn thanh tra đối với người được trưng tập cũng thiếu tập trung, phân tán trong việc thực hiện nhiệm vụ của đoàn thanh tra do cùng lúc phải thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn được giao khác.
Tiếp đó, xét trên bình diện chung của việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ khác của Thanh tra Sở như thanh tra hành chính, tiếp công dân, thực hiện giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, phòng chống tham nhũng,… sẽ dẫn đến tình trạng quá tải công việc và phân tán, không tập trung, chuyên môn hóa trong thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành. Đặc biệt, trong những năm gần đây, Thanh tra Sở phải giải quyết nhiều đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân. Chỉ riêng nhiệm vụ giải quyết đơn thư như hiện nay, đặc biệt nếu nội dung đơn có nhiều tình tiết phức tạp thì thời gian giải quyết đơn sẽ kéo dài, việc tập trung giải quyết đơn đã chiếm phần nhiều thời gian làm việc của Thanh tra Sở. Tình trạng này dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Sở có lúc còn bị hạn chế. Ngược lại, đây cũng là một trong số những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân.
Hai là, xuất phát từ hạn chế trong việc chậm ban hành quy định về điều kiện, tiêu chuẩn công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành y tế dẫn đến tình trạng tại Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm và Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình chưa giao công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, chưa đảm bảo thực hiện chế độ chính sách để khuyến khích, động viên nhân lực tham gia công tác thanh tra chuyên ngành y tế cũng như đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của công chức thanh tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật.
Ba là, mặc dù tại Nghị định số 07/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành đã quy định Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình thuộc Sở Y tế là cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Tuy nhiên đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hà Nam vẫn được thực hiện theo Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14 tháng 5 năm 2008 Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy Dân số – Kế hoạch hóa gia đình ở địa phương và chưa có quy định về phòng tham mưu công tác thanh tra chuyên ngành cũng như chưa thực hiện lồng ghép phân công nhiệm vụ về công tác thanh tra chuyên ngành cho phòng thuộc Chi cục để tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện công tác thanh tra chuyên ngành.
Bốn là, mặc dù Nghị định số 122/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra y tế, Điều 30 quy định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Điều 31 quy định của trách nhiệm của Giám đốc Sở Y tế trong việc lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện kiện toàn về cơ cấu tổ chức biên chế, kinh phí hoạt động, trang thiết bị cơ sở vật chất của Thanh tra Sở Y tế. Tuy nhiên trên thực tế mặc dù đã được sự quan tâm của cấp có thẩm quyền nhưng việc tạo điều kiện về kinh phí hoạt động và trang thiết bị cơ sở vật chất vẫn còn những khó khăn nhất định.
Năm là, Nghị định 122/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra y tế, Điều 30 về trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, khoản 2 quy định: “Ban hành quy chế phối hợp hoạt động giữa Thanh tra Sở Y tế và các cơ quan công an, quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành khác, Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan, tổ chức có liên quan về lĩnh vực y tế trên địa bàn” [8]. Tuy nhiên cho đến nay, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam vẫn chưa ban hành quy chế phối hợp như được giao tại Nghị định 122/2014/NĐ-CP. Việc thiếu quy chế phối hợp hoạt động giữa Thanh tra Sở với các bên có liên quan đã dẫn đến nhiều bất cập trong thực tiễn hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế.
2.2.3. Thực tiễn hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế tại tỉnh Hà Nam. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
- Kết quả hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011 – 2015 qua các năm.
Thực hiện các quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành Y tế, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã tiến hành thanh tra việc chấp hành quy định của pháp luật chuyên ngành, quy định chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngành như sau:
- Năm 2011
Trong năm 2011, Sở Y tế tỉnh Hà Nam đã tiến hành thanh tra đối với 119 cơ sở, phát hiện và xử lý 22 cơ sở sai phạm (Trong đó cảnh cáo 02 trường hợp, phạt tiền 20 trường hợp, số tiền phạt 30.000.000 đồng) trên các lĩnh vực Y; Dược, Mỹ phẩm, Trang thiết bị y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm.
Đối với lĩnh vực Y.
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 12 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý là 03 cơ sở.(Chiếm tỉ lệ 25 %)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phạt tiền: 03 trường hợp.
- Số tiền phạt: 5.000.000 đồng.
Đối với lĩnh vực Dược, Mỹ phẩm, Trang thiết bị y tế.
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 25 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý: 07 cơ sở
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phat tiền: 07 cơ sở.
- Số tiền phạt: 12.000.000 đồng.
Đối với lĩnh vực An toàn vệ sinh thực phẩm
- Tổng số cơ sở được thanh tra: 82 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý: 12 cơ sở. (Chiếm tỉ lệ 14,6 %)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 02 trường hợp.
- Phạt tiền: 10 trường hợp.
- Số tiền phạt: 13.000.000 đồng.
Năm 2012 Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Trong năm 2012, Sở Y tế tỉnh Hà Nam đã tiến hành thanh tra đối với 105 cơ sở, phát hiện và xử lý 12 cơ sở sai phạm (Trong đó cảnh cáo 01 trường hợp, phạt tiền 11 trường hợp, số tiền phạt 22.000.000 đồng) trên các lĩnh vực Y; Dược, Mỹ phẩm, Trang thiết bị y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm.
Đối với lĩnh vực Y.
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 08 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý là 01 cơ sở.(Chiếm tỉ lệ 12,5 %)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phạt tiền: 01 trường hợp.
- Số tiền phạt: 3.000.000 đồng.
- Đối với lĩnh vực Dược, Mỹ phẩm, Trang thiết bị y tế.
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 21 cơ sở. (Bằng 84% của năm 2011)
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý: 03 cơ sở.(Chiếm tỉ lệ 14,3%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phat tiền: 03 cơ sở.
- Số tiền phạt: 8.000.000 đồng.
- Đối với lĩnh vực An toàn vệ sinh thực phẩm.
- Tổng số cơ sở được thanh tra: 76 cơ sở.
- Số cơ sở có vi phạm và đã bị xử lý: 08 cơ sở. (Chiếm tỉ lệ 10,5%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 01 trường hợp.
- Phạt tiền: 07 trường hợp.
- Số tiền phạt: 11.000.000 đồng.
- Năm 2013
Trong năm 2013, Sở Y tế tỉnh Hà Nam đã tiến hành thanh tra đối với 112 cơ sở, phát hiện và xử lý 16 cơ sở sai phạm (Trong đó cảnh cáo 04 trường hợp, phạt tiền 12 trường hợp, số tiền phạt 21.000.000 đồng) trên các lĩnh vực Y; Dược, Mỹ phẩm và An toàn vệ sinh thực phẩm. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Đối với lĩnh vực Y
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 09 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý là 01 cơ sở.(Chiếm tỉ lệ 11,1%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phạt tiền: 01 trường hợp.
- Số tiền phạt: 2.000.000 đồng.
- Đối với lĩnh vực Dược, Mỹ phẩm
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 22 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý: 04 cơ sở (Chiếm tỉ lệ 18,2%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 01 trường hợp.
- Phat tiền: 03 cơ sở.
- Số tiền phạt: 8.000.000 đồng.
- Đối với lĩnh vực An toàn vệ sinh thực phẩm
- Tổng số cơ sở được thanh tra: 81 cơ sở.
- Số cơ sở có vi phạm và đã bị xử lý: 11 cơ sở. (Chiếm tỉ lệ 13,6%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 03 trường hợp.
- Phạt tiền: 08 trường hợp.
- Số tiền phạt: 11.000.000 đồng.
- Năm 2014
Trong năm 2014, Sở Y tế tỉnh Hà Nam đã tiến hành thanh tra đối với 125 cơ sở, phát hiện và xử lý 23 cơ sở sai phạm (Trong đó cảnh cáo 00 trường hợp; phạt tiền 23 trường hợp, số tiền phạt 54.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động của 01 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề dược và quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc của 01 cơ sở và người hành nghề) trên các lĩnh vực Y; Dược và An toàn vệ sinh thực phẩm.
Đối với lĩnh vực Y
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 10 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý là 02 cơ sở.(Chiếm tỉ lệ 20%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phạt tiền: 02 trường hợp.
- Số tiền phạt: 28.000.000 đồng.
- Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động: 01 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Đối với lĩnh vực Dược.
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 26 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý: 07 cơ sở (Chiếm tỉ lệ 26,9%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phat tiền: 07 cơ sở.
- Số tiền phạt: 26.000.000 đồng. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
- Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề dược, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc: 01 cơ sở và người hành nghề.
- Đối với lĩnh vực An toàn vệ sinh thực phẩm.
- Tổng số cơ sở được thanh tra: 89 cơ sở.
- Số cơ sở có vi phạm: 14 cơ sở. (Chiếm tỉ lệ 15,7%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phạt tiền: 14 trường hợp.
- Số tiền phạt: 21.000.000 đồng.
- Năm 2015
Trong năm 2015, Sở Y tế tỉnh Hà Nam đã tiến hành thanh tra đối với 108 cơ sở, phát hiện và xử lý 18 cơ sở sai phạm (Trong đó cảnh cáo 00 trường hợp; phạt tiền 18 trường hợp, số tiền phạt 72.000.000 đồng; tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề dược, quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc của 02 cơ sở và người hành nghề) trên các lĩnh vực Y; Dược, Mỹ phẩm, Trang thiết bị y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm.
Đối với lĩnh vực Y.
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 09 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý là 02 cơ sở.(Chiếm tỉ lệ 22,2 %)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phạt tiền: 02 trường hợp.
- Số tiền phạt: 7.000.000 đồng.
- Đối với lĩnh vực Dược, Mỹ phẩm, Trang thiết bị y tế.
- Tổng số cơ sở được thanh tra là 27 cơ sở.
- Số cơ sở vi phạm và đã bị xử lý: 05 cơ sở (Chiếm tỉ lệ 18,5%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phat tiền: 05 cơ sở.
- Số tiền phạt: 42.000.000 đồng.
- Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề dược, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc: 02 cơ sở và người hành nghề. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
- Đối với lĩnh vực An toàn vệ sinh thực phẩm
- Tổng số cơ sở được thanh tra: 72 cơ sở.
- Số cơ sở có vi phạm và đã bị xử lý: 11 cơ sở. (Chiếm tỉ lệ 15,3%)
Trong đó:
- Cảnh cáo: 00 trường hợp.
- Phạt tiền: 11 trường hợp.
- Số tiền phạt: 23.000.000 đồng.
Bảng 2.2: Tổng hợp hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế qua các năm từ 2011-2015.
Đánh giá kết quả hoạt động.
- Ưu điểm
Phát huy vị trí, vai trò trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế, qua các năm từ năm 2011 – 2015, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế đã chủ động tham mưu kịp thời triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; bám sát chiến lược, kế hoạch phát triển sự nghiệp y tế, trên cơ sở căn cứ tình hình thực tiễn chủ động tham mưu, đề xuất và tiến hành thanh tra trên nhiều lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành. Qua thanh tra, kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật chuyên ngành, quy định chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành của các tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành; việc phát hiện và kiến nghị khắc phục sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật, đề xuất các giải pháp hữu ích cho công tác quản lý nhà nước về y tế đã có những sự cố gắng nhất định. Bên cạnh đó, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế đã không ngừng nỗ lực tổng hợp, theo dõi kết quả và tổng kết rút kinh nghiệm trong hoạt động thanh tra chuyên ngành. Đặc biệt là chú trọng xử lý những sai phạm chủ yếu phát hiện qua thanh tra, phát huy tính lan tỏa trong hoạt động thanh tra để củng cố và đề ra phương hướng công tác thanh tra chuyên ngành y tế trong thời gian tới. Từ đó, góp phần giữ gìn kỷ cương pháp luật chuyên ngành, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo lập, giữ gìn môi trường pháp lý trong sạch, công bằng, bình đẳng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành. (Trong 5 năm từ 2011 đến 2015, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế đã tiến hành thanh tra đối với 569 lượt cơ sở trên các lĩnh vực Y, Dược, Mỹ phẩm, Trang thiết bị y tế; An toàn vệ sinh thực phẩm; phát hiện và xử lý 91 lượt cơ sở sai phạm, trong đó cảnh cáo 07 trường hợp, phạt tiền 84 trường hợp với tổng số tiền phạt là 199.000.000 đồng và tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động của 01 cơ sở, tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề và quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc của 03 cơ sở, 03 người hành nghề).
- Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm, hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế của tỉnh Hà Nam trong giai đoạn 2011-2015 vẫn có những tồn tại, hạn chế nhất định: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Một là, hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế đôi khi còn hạn chế về chiều rộng chưa bao phủ được hết các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành. Nhiều lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của ngành hầu như chưa được tiến hành thanh tra như y tế dự phòng (các nội dung về hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, chất lượng nước uống, nước sinh hoạt,..),môi trường y tế, Dân số – Kế hoạch hóa gia đình…Đối với các lĩnh vực đã được tiến hành thanh tra thì số lượng cơ sở được tiến hành thanh tra vẫn còn hạn chế. Đối với lĩnh vực Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, trong giai đoạn 2011-2015 do chưa có bộ phận tham mưu về công tác thanh tra chuyên ngành, cũng như chưa phân công người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành nên công tác thanh tra chuyên ngành chưa được tổ chức triển khai.Hàng năm Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình đã tổ chức một số đợt kiểm tra đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý tuy nhiên việc ngăn chặn, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật chuyên ngành, qua đó chấn chỉnh và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực còn bị hạn chế.
Hai là, hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế còn có những hạn chế nhất định về chiều sâu. Hoạt động thanh tra chuyên ngành thời gian qua mặc dù đã kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý nhiều sai phạm trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, tuy nhiên vẫn tồn tại việc đôi khi thiếu cương quyết, chưa xử lý nghiêm những sai phạm phát hiện qua thanh tra, việc phát hiện, kiến nghị những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật có lúc còn chưa được quan tâm thích đáng, việc nhân rộng điển hình tiên tiến còn chưa được chú trọng,…
Hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế trong thời kỳ này vẫn còn những sự chưa phù hợp nhất định trong phương hướng thực hiện hoạt động thanh tra. Việc tổ chức hoạt động thanh tra thời kỳ này chỉ tập trung các cơ sở nhỏ lẻ, thiếu tính hệ thống, dẫn đến sự rời rạc trong hoạt động thanh tra, chưa toàn diện trong việc xem xét, đánh giá thực tiễn để qua đó kịp thời điều chỉnh cơ chế quản lý, chính sách pháp luật, chấn chỉnh sai phạm trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của cơ sở thuộc phạm vi quản lý. Bên cạnh đó, hoạt động thanh tra vẫn còn tình trạng nặng về kiểm tra, xử phạt về hồ sơ pháp lý hành chính, đôi lúc chưa chuyên sâu về việc xem xét các vấn đề về chuyên môn – kỹ thuật, chất lượng sản phẩm thuộc phạm vi quản lý; việc thực hiện các trình tự thủ tục trong hoạt động của đoàn thanh tra có khi còn hạn chế dẫn đến hiệu quả công tác thanh tra đôi khi chưa được phát huy.
Tiếp đó, hoạt động thanh tra chuyên ngành về y tế còn có lúc bị hạn chế xuất phát từ hoạt động của đoàn kiểm tra chuyên ngành do Sở Y tế tổ chức. Trong giai đoạn 2011-2015, hàng năm, Sở Y tế đều có đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra chuyên ngành đối với một số cơ sở thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở. (Chẳng hạn như các cơ sở sản xuất, kinh doanh về Dược, Mỹ phẩm, Thực phẩm chức năng; một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân,…). Các đoàn kiểm tra thường có nội dung và phạm vi kiểm tra tương đối rộng, tuy nhiên thời gian kiểm tra ngắn, chủ yếu dựa trên việc nghiên cứu báo cáo của đối tượng kiểm tra, việc đánh giá việc chấp hành pháp luật của cơ sở được kiểm tra và xử lý sai phạm còn nhiều bất cập.
Ba là, cơ chế phối hợp hoạt động giữa Thanh tra Sở Y tế và các cơ quan quản lý thị trường, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan đối với công tác thanh tra chuyên ngành y tế trên địa bàn tỉnh chưa được quy định cụ thể khiến cho hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế đôi khi vẫn tồn tại những bất cập nhất định. Chẳng hạn như việc xử lý chồng chéo giữa hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế với cơ quan quản lý thị trường, xử lý sau thanh tra,….
Bốn là, Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định hoạt động thanh tra chuyên ngành được thực hiện bởi đoàn thanh tra và do thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập. Tuy nhiên, thực tế hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế qua các năm trong giai đoạn 2011-2015 cho thấy chưa có trường hợp giao thanh tra viên tiến hành thanh tra độc lập. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế về tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam.
Những tồn tại, hạn chế trong tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:
Một là, những ảnh hưởng, tác động của tình hình kinh tế- xã hội. Trong những năm qua, tỉnh Hà Nam đã có những bước phát triển vượt bậc về kinh tế – xã hội, cùng với đó, nhận thức và nhu cầu về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân trên địa bàn tỉnh ngày càng được nâng cao. Trong điều kiện Đảng và Nhà nước ta đang chỉ đạo đẩy mạnh công tác xã hội hóa y tế, ngành y tế tỉnh Hà Nam đã chủ động tham mưu, đề xuất và triển khai thực hiện sau khi được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt nhiều giải pháp thúc đẩy xã hội hóa công tác y tế trên địa bàn tỉnh. Nhiều cơ sở y tế ngoài công lập được thành lập, trong đó có nhiều cơ sở là chi nhánh thuộc chuỗi các cơ sở y tế lớn trong cả nước. Từ đó, vừa cung cấp cho người dân nhiều lựa chọn với các cơ sở y tế có chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện kinh tế, vừa tạo động lực bền bỉ, thúc đẩy cạnh tranh giữa các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập để không ngừng nâng tầm chất lượng dịch vụ y tế. Tuy nhiên, thực trạng ấy cũng đặt ra những thách thức cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc thanh tra, giám sát hoạt động của các cơ sở y tế trong và ngoài công lập, đặc biệt là đối với các cơ sở y tế ngoài công lập. Nhất là trong điều kiện kinh tế – xã hội phát triển, các hình thức vi phạm pháp luật cũng trở nên tinh vi và khó phát hiện hơn.
Hai là, sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Hà Nam và Sở Y tế đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế đôi lúc còn chưa tạo được động lực mạnh mẽ để cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế phát huy vị trí, vai trò của mình. Đặc biệt là trong việc giao biên chế, quản lý, sử dụng nhân lực thanh tra chuyên ngành y tế, tạo điều kiện về kinh phí, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, hay việc quan tâm, chỉ đạo trước, trong và sau thanh tra,… Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Ba là, xuất phát từ những tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế nói riêng. Một số tiêu chí đặc biệt quan trọng để đánh giá sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật đó là tính ổn định, đồng bộ và khả thi.
Về tính ổn định, pháp luật về thanh tra nói chung, pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế nói riêng trong một thời gian dài chưa thực sự ổn định. Xuất phát từ nhận thức về vị trí, vai trò của công tác thanh tra, thanh tra chuyên ngành đối với hoạt động quản lý nhà nước và thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước qua từng giai đoạn phát triển. Từ đó dẫn đến quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của ngành thanh tra, thanh tra chuyên ngành y tế phải thích ứng để phù hợp hơn, phát huy giá trị về vị trí, vai trò đối với hoạt động quản lý nhà nước. Chẳng hạn về tổ chức cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, trước đây Luật Thanh tra năm 2004 không quy định việc thành lập cơ quan thanh tra ở các Tổng cục, Cục thuộc Bộ, Chi cục thuộc Sở. Tuy nhiên trên thực tế đã có không ít trường hợp các Tổng Cục, Cục thuộc Bộ, Chi cục thuộc Sở thành lập các cơ quan thanh tra chuyên ngành, bổ nhiệm Thanh tra viên tại các cơ quan thanh tra chuyên ngành dẫn đến nhiều bất cập cả về tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành như vấn đề tăng biên chế, tăng chi ngân sách nhà nước về lương, phụ cấp, chồng chéo trong hoạt động thanh tra,.. Khắc phục những bất cập trên, Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định cụ thể về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành bao gồm Tổng cục, Cục thuộc Bộ, Chi cục thuộc Sở. Tuy nhiên, không phải Tổng cục, Cục thuộc Bộ, Chi cục thuộc Sở nào cũng được giao chức năng thanh tra chuyên ngành mà việc giao chức năng thanh tra chuyên ngành phải xuất phát từ yêu cầu công tác quản lý nhà nước và các cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành sẽ do Chính phủ quy định theo đề nghị của Tổng Thanh tra Chính phủ sau khi thống nhất với Bộ trưởng. Tại cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, là công chức được phân công thực hiện nhiệm vụ thanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thay vì thanh tra viên như trước đây.
Về tính đồng bộ, khả thi, một số quy định của pháp luật chuyên ngành còn quy định chưa thống nhất, phù hợp với quy định của pháp luật về thanh tra nói chung, thanh tra chuyên ngành y tế nói riêng, một quy định hiện hành còn chồng chéo, mâu thuẫn, nhiều quy định còn gặp vướng mắc, thiếu tính khả thi và chưa cho thấy sự phù hợp với thực tiễn trong quá trình thực hiện.. Chẳng hạn hiện nay, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Điều 29 về thu hồi chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hành nghề, khoản 1 về thu hồi chứng chỉ hành nghề, điểm c quy định: “Người hành nghề không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong thời hạn 02 năm liên tiếp”. Tuy nhiên hiện nay, công tác đào tạo liên tục (Cập nhật kiến thức y khoa liên tục)của ngành y tế vẫn đang được từng bước triển khai, chưa đảm bảo đồng bộ trong toàn ngành từ trung ương đến cơ sở. Vì vậy trên thực tế, việc tịch thu chứng chỉ hành nghề do người hành nghề không cập nhật kiến thức y khoa liên tục phát hiện qua thanh tra là không khả thi…
Bốn là, xuất phát từ hạn chế trong thực trạng tổ chức dẫn đến hạn chế trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam. Đặc biệt là những hạn chế về nhân lực làm công tác thanh tra chuyên ngành y tế. Về số lượng, với biên chế Thanh tra Sở là 02 người như hiện nay thì rất khó khăn trong việc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Sở nói chung và hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế nói riêng. Bên cạnh đó, một bộ phận nhân lực tham gia các đoàn thanh tra vẫn còn những hạn chế về trình độ, chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc thanh tra; việc trưng tập, sử dụng cộng tác viên thanh tra y tế cũng như việc giao công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành y tế vẫn còn những tồn tại, bất cập.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
Tại Chương 2, Luận văn đã phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế tại tỉnh Hà Nam để tạo tiền đề, đề xuất giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế từ thực tiễn tỉnh Hà Nam tại Chương 3. Cụ thể:
Luận văn chỉ ra các quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế, trong đó bao gồm quy định về tổ chức, hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế nói chung và các quy định có liên quan đến tổ chức, hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam. Trên cơ sở đó, luận văn phân tích, đánh giá những ưu điểm, chỉ ra một số tồn tại, bất cập cụ thể trong các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành y tế.
Tiếp theo, luận văn xem xét việc thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế từ thực tiễn tại tỉnh Hà Nam. Trong đó, trước hết khái quát về thực trạng bao gồm những kết quả đạt được, những bất cập hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về y tế; sau đó chỉ ra thực trạng về công tác thanh tra chuyên ngành y tế tại tỉnh Hà Nam và tập trung đánh giá ưu điểm, tồn tại hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế tại tỉnh Hà Nam. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế tỉnh Hà Nam