Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của chế độ hôn sản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn áp dụng chế độ hôn sản ở nước ta trong thời gian qua

3.1.1 Những thuận lợi cơ bản trong việc áp dụng chế độ hôn sản vào thực tế xét xử của Tòa án nhân dân

Qua thực tiễn xét xử các vụ án HN&GĐ và tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng trong thời gian qua có thể thấy số lượng các vụ án không những có xu hướng tăng về số lượng mà tính chất vụ việc, tranh chấp, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến tài sản vợ chồng có nhiều phức tạp. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường cùng với nhu cầu điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình, các căn cứ pháp lý để giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng ngày càng được chú trọng. Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay, chưa bảo giờ các quy phạm pháp luật về HN&GĐ lại được các cơ quan nhà nước quan tâm ban hành kịp thời và đầy đủ như vậy. Trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành, ngoài Luật HN&GĐ năm 2000, còn có một loạt các văn bản hướng dẫn có nội dung liên quan đến chế độ hôn sản, như:

  • Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 về việc thi hành Luật HN&GĐ năm 2000;
  • Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật HN&GĐ năm 2000;

Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/1/2001 của TANDTC, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2001 của Quốc hội “Về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình”;

Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình.

Với cơ sở pháp lý đầy đủ, kịp thời và rõ ràng, việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực HN&GĐ nói chung và lĩnh vực hôn sản nói riêng của Tòa án đạt được những thành tích tốt, giải quyết kịp thời, đúng đắn và giảm thiểu đáng kể các tranh chấp xảy ra.

Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời không chỉ quy định cụ thể, rõ ràng các căn cứ pháp lý mà các văn bản hướng dẫn áp dụng cũng đã được rút gọn, tập trung quy định chủ yếu trong Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014. Với cải cách này, việc dẫn chiếu, áp dụng Luật trong giải quyết tranh chấp HN&GĐ của Tòa án không những dễ dàng mà còn mang lại hiệu quả, sát sao mà còn giúp cho các cặp vợ chồng có thể tiếp cận, tìm hiểu các quy định của pháp luật một cách dễ dàng, nâng cao hiểu biết pháp luật của nhân dân góp phần giảm thiểu tranh chấp xảy ra trên thực tế.

Luật HN&GĐ năm 2014 với hàng loạt những thay đổi quan trọng, mà sự thay đổi mang tính đột phá nhất là sự ghi nhận chế độ hôn sản theo thỏa thuận. Các quy định về chế độ hôn sản theo thỏa thuận hiện nay được thể hiện trong các điều từ Điều 47 đến Điều 50 và Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014. Ngoài ra, chế độ tài sản theo thỏa thuận cũng được hướng dẫn bởi 4 điều (từ Điều 15 đến Điều 18) của Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014. Cùng với đó, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của TANDTC, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình cũng hướng dẫn cụ thể một số nội dung cơ bản liên quan đến chế độ hôn sản theo thỏa thuận như: thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu và nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Việc quy định và hướng dẫn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận ngoài việc đảm bảo quyền tự định đoạt tài sản của chủ sở hữu còn góp phần giảm chi phí khi ly hôn và giúp Tòa án xác định được tài sản riêng, tài sản chung nhanh chóng và dễ dàng hơn.

Đồng thời, bên cạnh việc chú trọng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước cũng đã chú trọng đổi mới, dành sự quan tâm thích đáng, hiệu quả hơn của cả nhà nước và xã hội đối với công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục Luật HN&GĐ mới và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Trong những năm qua, ngành Tòa án đã có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ án HN&GĐ. TAND đã tổ chức nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ cho các thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện, đồng thời cũng đã triển khai tổ chức tập huấn kịp thời các văn bản pháp luật mới về Luật HN&GĐ cũng như các văn bản pháp luật về dân sự. Trong công tác xét xử, Tòa án các cấp đã cố gắng bám sát vận dụng các quy định của BLDS, Luật HN&GĐ và đã chú ý thực hiện các hướng dẫn của TANDTC, các ngành hữu quan để vận dụng trong việc giải quyết các vụ án cụ thể. Các hoạt động đó đã giúp cho các Tòa án, đặc biệt là đội ngũ thẩm phán ngày càng vững vàng trong công tác.

3.1.2. Một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng chế độ hôn sản vào thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

Thực tiễn xét xử các vụ việc HN&GĐ trong những năm qua nảy sinh khá nhiều vấn đề vướng mắc, gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật hoặc áp dụng theo đúng pháp luật nhưng không phù hợp với tình hình thực tế, không đảm bảo sự công bằng cho các bên vợ, chồng. Cụ thể như sau:

3.1.2.1. Đối với chế độ hôn sản theo pháp định

Việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng được đưa vào sử dụng chung, nhưng chưa làm các thủ tục nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Ví dụ: Bà Nguyễn Thu Lan và Ông Trần Huấn Dũng kết hôn năm 1980. Năm 2014, ông bà quyết định ly hôn. Khi phân chia tài sản ly hôn, tài sản chung của vợ chồng ông bà đã thỏa thuận được, chỉ có căn nhà tập thể Viện 108, số 39 Trần Khánh Dư, thành phố Hà Nội là tài sản đang tranh chấp.

Nguồn gốc ngôi nhà là do bà Trần Thị Tâm, mẹ ông Dũng được cơ quan cấp nhà tại tập thể Viện 108, số 39, Trần Khánh Dư, Hà Nội, có diện tích 40,02m2. Theo ông Dũng, bà Tâm thì căn nhà trên là tài sản mà bà Tâm tặng cho riêng cho ông Dũng vào năm 1982, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng đứng tên ông Dũng. Sau đó, bà Lan và ông Dũng đã đập toàn bộ tường, xây lại toàn bộ nội thất trong căn hộ thành phòng ở chi phí sửa nhà hết 74.000.000đồng. Còn theo bà Lan, mặc dù không có văn bản thỏa thuận nhập tài sản này vào khối tài sản chung, nhưng thực tế ngôi nhà này đã được vợ chồng ông bà sử dụng chung hơn ba mươi năm, cùng nhau sửa chữa, tôn tạo lại. Điều này cho thấy ông Dũng bằng hành động thực tế đã đồng ý nhập tài sản riêng này vào khối tài sản chung của vợ chồng. Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

  • Tại phiên tòa sơ thẩm, Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội kết luận:

Công nhận căn nhà t ại tập thể Viện 108, số 39 Trần Khánh Dư, thành phố Hà Nội là tài sản riêng của ông Dũng, được mẹ anh tặng cho riêng. Bà Lan có công s ức đóng góp trong việc sửa chữa nhà, do đó, ông Dũng phải hoàn trả cho chị Lan 3/5 chi phí tiền sửa nhà = 44.400.000 đồng. Bà Lan được lưu cư tại phòng thứ 3 thời hạn lưu cư 12 tháng.

Sau đó, bà Lan kháng cáo. Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Như vậy, trong vụ án nêu trên, cả Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm đều xét xử dựa trên quan điểm đối tài sản riêng của vợ, chồng đã và đang được đưa vào quản lý và sử dụng chung mà không có văn bản thỏa thuận nhập tài sản đó vào khối tài sản chung của vợ chồng thì vẫn là tài sản riêng của vợ, chồng.

Mặc dù áp dụng đúng quy định pháp luật nhưng bản án sơ thẩm và phúc thẩm lại không phù hợp với thực tế, không đánh giá đúng bản chất của vụ án là việc tài sản riêng đã được đưa vào sử dụng chung trong thời gian rất dài. Việc công nhận căn nhà là tài sản riêng của ông Dũng thì không công bằng đối với bà Lan. Nhưng nếu công nhận căn nhà nêu trên là tài sản chung của ông Dũng bà Lan thì lại không đúng quy định pháp luật.

Một ví dụ khác: Ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thu B kết hôn vào tháng 5 năm 1995. Trước thời điểm kết hôn, ông N đã được giao sử dụng diện tích đất thổ cư 640m2. Sau khi kết hôn 2 tháng (tháng 7 năm 1995) thì ông N mới đư ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất . Sau đó, ông N và bà B cùng nhau góp tiền, công sức để xây nhà trên diện tích 48m2. Đến năm 2010, vợ chồng ông N, bà B nảy sinh mâu thuẫn, dẫn đến ly hôn. Khi vợ chồng ông N và bà B ly hôn, tại bản án sơ thẩm đã nhận định việc thỏa thuận đóng góp tiền và công sức để xây nhà trên thể hiện ông N đã đồng ý nhập diện tích đất 640m2 trên vào tài sản chung vợ chồng. Theo đó, tuyên xử chia đôi phần diện tích đất đ ất đó cho hai bên vợ chồng. Tuy nhiên, khi lên cấp phúc thẩm, Tòa án phúc thẩm lại cho rằng nguồn gốc đất là tài sản riêng của ông N, không có chứng cứ chứng minh việc ông N đồng ý nhập diện tích đất vào tài sản chung nên diện tích đất đó vẫn là tài sản riêng của ông N. Mặt khác, trên thực tế ngôi nhà chung của hai người chỉ xây trên 48m2 đất. Do đó, cấp phúc thẩm đã chấp nhận 48m2 đất trong tổng số 640m2 là tài sản chung của vợ chồng ông N bà B. Diện tích đất còn lại là tài sản riêng của ông N.

Như vậy, việc xác định tài sản đã được đưa vào quản ly,́ sử dụng chung là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ chồng vẫn còn những quan điểm khác nhau, gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật hoặc áp dụng theo đúng pháp luật nhưng không phù hợp với tình hình thực tế. Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

  • Chế độ tài sản vợ chồng trong thời gian vợ chồng ly thân. Ví dụ:

Vợ chồng ông Văn Hồng Quảng và bà Nguyễn Thị Phương, trú tại Khu 11, thôn Thụ Ích, xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi phân chia tài sản ly hôn, vợ chồng ông bà đã thống nhất được thành phần khối tài sản chung, còn số tiền 225.000.000 được gửi tiết kiệm tại Phòng giao d ịch Liên Châu- Chi nhánh Ngân hàng nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Yên Lạc là đang tranh chấp. Bà Phương cho rằng đây là tài sản chung của ông bà và đề nghị Tòa án chia.

Theo Bà Nguyễn Thị Nguyệt, người đã chung sống với ông Quảng như vợ chồng trong thời gian ông Quảng và bà Phương ly thân, trình bày: Số tiền 225.000.000đ ông Quảng gửi tiết kiệm này là tiền của bà làm ăn tích cóp được. Bà và ông Quảng sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 cho đến nay nên bà có nhờ ông Quảng đứng ra gửi tiết kiệm số tiền trên.

  • TAND huyện Yên Lạc cho rằng:

Ông Quảng và bà Phương kết hôn với nhau năm 1968, đến năm 1988 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ năm 2000 cho đến nay. Giữa ông Quảng và bà Phương không còn tình cảm và cũng không chung nhau về kinh tế. Từ năm 2001 đến nay ông Quảng làm ăn riêng và chung sống với bà Nguyệt như vợ chồng, theo bà Nguyệt số tiền 225.000.000đ là của bà do làm ăn tích cóp mà có, bà nhờ ông Quảng gửi tiết kiệm, ông Quảng cũng thừa nhận. Bà Phương đề nghị chia, ông Quảng, bà Nguyệt không đồng ý. Mặt khác, bà Phương không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình. Do vậy không có căn cứ khẳng định số tiền số 225.000.000đ là tài sản chung của ông Quảng, bà Phương nên yêu cầu chia số tiền này của bà Phương không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo đó, TAND huyện Yên Lạc đã căn cứ vào tình hình thực tế để phân chia tài sản, cho rằng vì sổ tiết kiệm được gửi trong thời gian vợ chồng ông Quảng và bà Phương ly thân nên số tiền này không phải là tài sản chung của vợ chồng ông bà.

Trong khi đó, nếu như áp dụng đúng tinh thần của Luật HN&GĐ thì sổ tiết kiệm ông Quảng gửi trong thời gian ông và bà Phương chưa ly hôn phải là tài sản chung của ông bà. Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử như trên là không có căn cứ. Vì Luật HN &GĐ không quy định về chế định ly thân cũng như chế độ tài sản của vợ chồng trong thời gian vợ chồng ly thân. Thời gian ly thân vẫn là khoảng thời gian trong thời kỳ hôn nhân và đối với những tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

Về việc xác định công sức đóng góp của các bên đối với khối tài sàn chung, trên thực tế, Tòa án không có căn cứ cụ thể cho việc xác định này. Do đó, khi xét xử, hầu hết các Tòa án đã xác định tỷ lệ đóng góp theo phương án định tính.

Ví dụ thứ nhất: Cũng trong vụ án ly hôn giữa ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thu B đã nêu ở trên, tài sản tranh chấp còn mảnh đất vợ chồng ông N bà B nhận chuyển nhượng của ông M có diện tích 265,24m2, Tòa án sơ thẩm cho rằng bà B là người kinh doanh, buôn bán nên có thu nhập cao hơn, do đó, chia cho bà B 60% giá trị mảnh đất mà vợ chồng ông N bà B nhận chuyển nhượng của ông M. Nhưng, Tòa phúc thẩm lại nhận định không có chứng cứ chứng minh bà B dùng số tiền kinh doanh, buôn bán góp vào để mua diện tích đất nêu trên. Do đó, Tòa phúc thẩm cũng sửa bản án sơ thẩm phần này, chia cho vợ chồng ông N và bà B mỗi người 50% giá trị mảnh đất.

  • Ví dụ thứ hai : Một vụ án HN&GĐ khác do TAND huyện Yên Lạc thụ lý, như sau:

Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Trường và bị đơn là ông Nguyễn Văn Nhâm. Về tài sản chung: Ngoài những tài sản ông Nhâm và bà Trường cùng xác nhận là tài sản chung của vợ chồng, còn 01 thửa đất số 319, diện tích 561m2, do ông Nhâm đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Trường cho rằng, thửa đất này là tài sản chung của vợ chồng. Nhưng theo ông Nhâm, thửa đất này là tài sản riêng của ông, nguồn gốc thửa đất do cha ông để lại.

Theo Bản án số 13/2015/HNGĐ- ST ngày 19 tháng 5 năm 2015 của TAND huyện Yên Lạc, nhận định:

Đối với thửa đất số 319, diện tích 561m2, tờ bản đồ số 05 ở thôn Thiệu Tổ, xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo bà Nguyễn Thị Trường đất này là do bố mẹ ông Nhâm cho vợ chồng bà nên bà Trường đề nghị chia mỗi người một nửa đất và tài sản gắn liền trên đất. Ông Nhâm khẳng định đất và nhà trên là của bố mẹ ông cho riêng ông nên ông không đồng ý chia tài sản này. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án đã thu thập, được xem xét công khai tại phiên tòa có căn cứ khẳng định tài sản trên là của bố mẹ ông Nhâm cho riêng ông mà không phải là tài sản chung như bà Trường đã trình bày. Do vậy bà Trường đề nghị chia đôi đất và tài sản trên đất này là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về công sức đóng góp: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôn nay bà Trường đề nghị ông Nhâm phải thanh toán công sức cho bà. Xét thấy, bà Trường và ông Nhâm kết hôn với nhau từ năm 1989 tính đến thời điểm ly hôn là 25 năm. Khi chung sống với ông Nhâm, bà Trường đã có công sức duy trì, tôn tạo khối tài sản là nhà đất của ông Nhâm, công chăm sóc, nuôi dưỡng và xây dựng gia đình cho con riêng của ông Nhâm là anh Nguyễn Văn Tùng. Ngoài ra, bà Trường còn có công chăm sóc, nuôi dưỡng và lo tang lễ cho bố mẹ ông Nhâm. Do vậy, yêu cầu của bà Trường buộc ông Nhâm phải thanh toán công sức cho bà là có căn cứ cần chấp nhận. Xét thấy, bà Trường có nhiều công sức đóng góp khi chung sống với ông Nhâm. Ly hôn bà Trường không có chỗ ở nào khác, hiện tại đang ở nhờ nhà anh trai ruột và các cháu. Để bảo đảm cuộc sống của bà Trường có nơi ở ổn định sau ly hôn cần buộc ông Nhâm phải thanh toán công sức cho bà Trường bằng một phần diện tích đất có diện tích 125.6m2 của thửa đất số 319, diện tích 561m2. Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

Như vậy, trong vụ án ly hôn giữa ông N và bà B hay vụ án ly hôn giữa ông Nhâm và bà Trường, Tòa án đều phân chia theo phương án định tính, không có căn cứ chính xác, dẫn đến việc xử thế nào cũng đúng.

3.1.2.2. Đối với chế độ hôn sản theo ước định

Khi giải quyết các tranh chấp về HN&GĐ nói chung, tranh chấp về tài sản nói riêng trước hết phải căn cứ vào sự thỏa thuận của đương sự. Khoản 1 Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014 cũng quy định: “Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết” [38, Điều 42]. Và tại khoản 1 Điều 59 Luật này cũng có quy định: “Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định …” [38, khoản 1 Điều 59]

Trên thực tế, một số Tòa án do quá chú trọng sự thỏa thuận của vợ chồng mà đã công nhận những thỏa thuận liên quan đến tài sản do có hành vi trái pháp luật mà có, tài sản vợ, chồng chưa đủ căn cứ xác lập quyền sở hữu, tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước hoặc của người khác, những thỏa thuận về giá trị thấp hơn giá trị thực của tài sản … Đặc biệt, trong nhiều vụ việc, Tòa dân sự chưa phối hợp tốt với các cơ quan chức năng khi đương sự đang phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản hoặc đang là bị can, bị cóa trong vụ án hình sự liên quan đến tội phạm về kinh tế, các tội tham nhũng, các tội xâm phạm sở hữu XHCN … nên đã công nhận các thỏa thuận có mục đích tẩu tán tài sản. Quyết định công nhận của Tòa án trong trường hợp này đã gây khó khăn rất nhiều cho công tác giải quyết án hình sự, gây thiệt hại về tài sản cho Nhà nước và công dân.

Ví dụ: Anh Nguyễn Văn Nam và chị Nguyễn Thị Huyền trước khi kết hôn có lập văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, trong văn bản xác định quyền sử dụng đất là tài sản riêng của anh A trước khi kết hôn (trên thực tế đã thế chấp cho Ngân hàng C) sẽ là tài sản chung của vợ chồng sau khi kết hôn. Năm 2016, khi phân chia tài sản ly hôn Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã ra quyết định công nhận thỏa thuận của đương sự. Theo đó, chị Huyền được ½ mảnh đất nêu trên và cùng đứng tến trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do đến hạn anh Nam không trả được nợ nên Ngân hàng C yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất nhưng anh Nam không đồng ý và cho rằng đây là tài sản chung của anh Nam và chị Huyền mà không phải tài sản riêng của anh.Ngân hàng C đã khởi kiện ra Tòa án quận Đống Đa yêu cầu anh A trả nợ, yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng anh Nam và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của anh Nam.

Trường hợp này Tòa án phải xác định thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng anh A bị vô hiệu vì vi phạm nghiêm trọng quyền của ngân hàng C đối với tài sản đã được anh A thế chấp.

3.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật HN&GĐ về chế độ hôn sản Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

Những quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, xét về mặt lập pháp là một bước phát triển mới, mang tính đột phá trong các quy định của pháp luật với nhiều quy định mới được bổ sung hết sức thiết thực. Tuy nhiên, vì mới được ban hành, thời gian áp dụng trong thực tiễn chưa nhiều cho nên chưa thể đánh giá đúng đắn về tính phù hợp cũng như tính khả thi của các quy định này trong thực tế. Do đó, để hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật trong thực tế cần điều chỉnh và xem xét các vấn đề sau:

3.2.1. Đối với các quy định về chế độ hôn sản theo luật định

3.2.1.1 Đối với tài sản chung của vợ chồng

  • Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng

Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về các căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng tương đối cụ thể. Tuy nhiên, khi áp dụng trong thực tế lại nảy sinh những quan điểm khác nhau, cụ thể:

Về tài sản riêng đã được đưa vào sử dụng chung, quan điểm thứ nhất cho rằng, đối với những tài sản có trước thời kỳ hôn nhân do một người đứng tên đã và đang được đưa vào quản lý và sử dụng chung mà không có văn bản thỏa thuận nhập tài sản đó vào khối tài sản chung của vợ chồng thì vẫn là tài sản riêng của vợ, chồng; quan điểm thứ hai lại cho rằng, dù nguồn gốc tài sản là tài sản riêng của vợ chồng, nhưng đã được đưa vào quản lý và sử dụng chung thì sẽ trở thành tài sản chung của vợ chồng.

Nếu căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện nay thì quan điểm thứ nhất hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Điều này có nghĩa là tài sản riêng của vợ, chồng chỉ có thể trở thành tài sản chung của vợ chồng khi hai vợ chồng thỏa thuận việc nhập tài sản riêng đó vào khối tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, quan điểm này lại không hợp tình, không phản ánh đúng thực trạng của quan hệ tài sản của vợ chồng [44]. Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

Theo tôi , Luật HN &GĐ cần thiết quy định thời hạn để tài sản riêng của vợ chồng đã được đưa vào sử dụng, quản lý chung trong thời gian dài sẽ trở thành tài sản chung của vợ chồng, để đảm bảo quyền và lợi ích của cả gia đình và đánh giá đúng thực trạng quan hệ tài sản của vợ chồng. Tương tự như khoản 1 Điều 247 BLDS năm 2005: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu” [27, khoản 1 Điều 247].

Liên quan đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng còn có những vướng mắc về việc xác định tài sản chung của vợ chồng trong thời gian vợ chồng ly thân.

Trong xã hội ngày nay, ly thân là tình trạng diễn ra không ít trong các gia đình, hầu hết các cặp vợ chồng trước khi ly hôn đã ly thân một thời gian dài. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sau thời gian ly thân vợ chồng lại trở về sống chung với nhau. Thực tế, khi thời gian ly thân kéo dài, vợ chồng có thể tạo ra tài sản riêng của mình, trong trường hợp này, nếu vợ chồng ly hôn sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định tài sản chung. Về mặt nguyên tắc, thời gian vợ chồng ly thân vẫn được coi là trong thời kỳ hôn nhân và tất cả những tài sản vợ chồng tạo ra trong thời gian này phải được coi là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên nếu xét về mặt thực tế, nếu xác định đây là tài sản chung của vợ chồng là không công bằng cho hai bên.

Tôi cho rằng, cần thiết bổ sung chế định ly thân vào Luật và quy định cụ thể chế độ tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng ly thân theo hướng ly thân là tình trạng vợ chồng không có nghĩa vụ sống chung với nhau được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo yêu cầu của hai vợ chồng hoặc của vợ, chồng; ly thân góp phần công khai, minh bạch về tình trạng hôn nhân của vợ chồng ; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, con, các thành viên khác trong gia đình và những người thứ ba . Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng , quy định về ly thân không có nghiã là bắt buộc các cặp vợ chồng muốn ly thân thì phải giải quyết theo quy định của Luật, mà chỉ áp dụng khi vợ, chồng yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận ly thân. Về chế độ tài sản của vợ chồng, kể từ ngày việc ly thân có hiệu lực, vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với những tài sản mà mỗi bên có được và tự chịu trách nhiệm về những nghĩa vụ mà mình xác lập, thực hiện. Đối với việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba trước việc vợ chồng ly thân và thanh toán tài sản, cần quy định các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Đồng thời, để khuyến khích vợ chồng quay trở về chung sống với nhau, cần thiết quy định về chấm dứt ly thân và giải quyết chấm dứt ly thân theo hướng đơn giản như vợ chồng có thỏa thuận chấm dứt ly thân và yêu cầu cơ quan đã giải quyết ly thân công nhận. Khi chấm dứt ly thân, chế độ tài sản mà vợ chồng áp dụng trước khi ly thân sẽ đương nhiên có hiệu lực. Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

Về nguyên tắc suy đoán tài sản chung, đây là một quy định có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh trong thực tiễn. Trong trường hợp vợ, chồng cho rằng đó là tài sản riêng của mình hoặc người thứ ba muốn kê biên tài sản riêng của vợ, chồng để thực hiện nghiã vụ, thì phải chứng Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng tạo ra không ít trở ngại đối với vợ, chồng và đặc biệt là với người thứ ba khi thực hiện việc chứng minh. Trong khi đó, Luật HN &GĐ năm 2014 không quy định cụ thể về các loại bằng chứng được sử dụng để chứng minh trong tranh chấp. Với việc bỏ ngỏ nghiã vụ chứng minh ở đó, sẽ được hiểu tất cả các loại bằng chứng đều có thể được chấp nhận, bao gồm bằng chứng viết, lời khai của nhân chứng, hóa đơn, chứng từ và thậm chí cả sự thừa nhận của bên còn lại trong tranh chấp (nếu có). Mặc dù trong thực tiễn, Tòa án thường vận dụng nguyên tắc ưu tiên chứng cứ bằng văn bản, sau đó mới đến chứng cứ khác. Tuy nhiên, việc không quy định cụ thể trong luật về nguyên tắc áp dụng có thể sẽ gây ra sự tùy tiện trong việc sử dụng chứng cứ; khó khăn cho trong việc xác định bằng chứng có tính chính xác và thuyết phục cao, có thể dẫn đến phán quyết không công bằng. Hoặc có trường hợp, Tòa án không chấp nhận chứng cứ khác ngoài chứng cứ bằng văn bản.

Tôi cho rằng nên quy định cụ thể về việc chứng minh tài sản riêng trong Luật HN&GĐ trên cơ sở thực tiễn xét xử trong những năm qua, cũng như theo hướng tiếp thu, vận dụng Điều 1402 BLDS Cộng hòa Pháp:

Mọi tài sản, dù là động sản hay bất động sản, đều được coi là tài sản chung của vợ chồng, nếu không chứng minh được đó là tài sản riêng của vợ hoặc của chồng theo quy định của pháp luật;

Nếu không có chứng cứ hoặc dấu vết về nguồn gốc của tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Trường hợp không có bản kiểm kê tài sản hoặc không có chứng cứ nào được xác lập từ trước, thẩm phán có thể xem xét mọi loại giấy tờ, đặc biệt là các loại giấy tờ, sổ sách của gia đình cũng như các tài liệu của ngân hàng và các hoá đơn thanh toán. Thẩm phán cũng có thể chấp nhận lời khai của nhân chứng hoặc suy đoán nếu nhận thấy vợ, chồng không có khả năng cung cấp chứng cứ bằng văn bản. [40, tr 235].

  • Nguyên tắc giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Về quy định tính đến yếu tố công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, thực tiễn xét xử phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có nhiều vướng mắc. Cụ thể, khi xác định công sức đóng góp trước hết phải xác định vợ, chồng có công sức hay không, trong khi đó công sức có nhiều loại như công sức tạo lập tài sản; công sức bảo quản tài sản; công sức tôn tạo, phát triển, làm tăng giá trị của tài sản; hoặc công sức chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản… Ngoài ra, xác định công sức đóng góp phải phân biệt với các chi phí. Chi phí là khoản tiền đã bỏ ra để tôn tạo tài sản như thuê người, mua vật liệu sửa nhà; để chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản như: tiền ăn, mặc, nước uống, thuốc…. Đối với các khoản chi phí luôn tính toán được cụ thể và thường có hóa đơn để chứng minh. Công sức là sức lực, là thời gian… mà con người bỏ ra để tôn tạo tài sản, quản lý, giữ gìn tài sản hoặc chăm sóc người để lại di sản…. và công sức không tính toán được cụ thể. Như vậy, nếu chỉ có duy nhất một quy định là việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn việc có tính đến yếu tố công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung thì khi áp dụng trong thực tiễn sẽ rất khó khăn trong việc xác định công sức đóng góp của vợ, chồng. Do đó, thiết nghĩ nên ban hành quy định hướng dẫn chi tiết về việc xác định công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung thực hiện như thế nào, căn cứ xác định như thế nào. Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

3.2.1.2. Đối với tài sản riêng của vợ, chồng

  • Về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

Khoản 4 Điều 44 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của vợ, chồng” [38, khoản 4 Điều 44].

Việc quy định “hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình” là chưa hợp lý, vì nếu nguồn tài sản này dù có chiếm tới 99% nguồn sống của gia đình, thì vẫn chưa được coi là nguồn sống duy nhất.

Vì vậy, cần sửa quy định trên thành “hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống chủ yếu của gia đình

  • Về nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản

Khi quy định về chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, khoản 2 Điều 38 có quy định: “Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc theo quy định của pháp luật” [38]. Như vậy, khi vợ, chồng có thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì yêu cầu thảo thuận phải lập thành văn bản và được công chứng hoặc chứng thực, đảm bảo sự chặt chẽ cũng như ý chí của vợ, chồng. Đây là quy định hết sức hợp lý và mang tính khả thi cao.

Tuy nhiên, khi nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng, tại Điều 46 Luật HN&GĐ năm 2014 chỉ quy định việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng mà không quy định rõ như khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là thỏa thuận bằng hình thức nào, có cần công chứng hoặc chứng thực hay không. Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng cũng quan trọng và phức tạp như khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, tại Điều 46 cần bổ sung thêm quy định về hình thức và cách thức thỏa thuận nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung để đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và là căn cứ để giải quyết các quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng khi có tranh chấp xảy ra.

  • Quy định hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng

Theo tôi, trong quy định “vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ” [38, khoản 4 Điều 4] sử dụng khái niệm “nguồn sống duy nhất” là chưa hợp lý, vì kể cả khi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng chiếm tới 99% nguồn sống của gia đình, thì cũng không phải là nguồn sống duy nhất. Do đó, đề nghị xem xét, chỉnh sửa cụm từ “nguồn sống duy nhất” thành “nguồn sống chủ yếu” của gia đình, tương tự như quy định: “Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình” [38, khoản 2 Điều 35].

3.2.2. Đối với các quy định về chế độ hôn sản theo thỏa thuận Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

  • Về sửa đổi, bổ sung nội dung thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

Tại Điều 49 Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định cho phép vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng. Và hình thức sửa đổi, bổ sung được thực hiện như khi xác lập mới thỏa thuận (bằng văn bản và có công chứng hoặc chứng thực) nhưng lại không quy định về điều kiện (thời hạn) được sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận đã được xác lập trước đó. Vì vậy, để đảm bảo tính trang nghiêm của thỏa thuận cũng như đảm bảo sự ổn định của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, cần quy định về thời hạn được phép sửa đổi, bổ sung thỏa thuận sau bao lâu kể từ ngày áp dụng.

  • Về hủy bỏ thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng (Điều 47) và việc sửa đổi, bổ sung nội dung thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng (Điều 49) nhưng lại không có quy định nào về vấn đề hủy bỏ thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng. Câu hỏi đặt ra là liệu pháp luật có cho phép vợ chồng được quyền hủy bỏ thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng đã được xác lập trước đó hay không? Và nếu được hủy bỏ thì thủ tục như thế nào? Điều kiện và cơ quan có quyền hủy bỏ thỏa thuận. Do đó, nhà lập pháp nên dự liệu trường hợp này vì khi vợ chồng mong muốn xác lập, sửa đổi, bổ sung thỏa thuận thì cũng không loại trừ khả năng muốn hủy bỏ, điều này hoàn toàn hợp lý vì nó xuất phát từ nhu cầu và ý chí của vợ chồng và hoàn toàn có thể xảy ra trên thực tế. Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

  • Cung cấp thông tin về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong giao dịch với người thứ ba

Điều 16 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định, trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực hiện giao dịch vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan. Theo người viết, bên cạnh việc quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin của vợ chồng cho người thứ ba, pháp luật nên có quy định về cơ chế đăng ký, công bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý để người thứ ba khi muốn xác lập, thực hiện giao dịch với vợ chồng có thể kiểm tra tình trạng tài sản của vợ chồng trong giao dịch với họ. Đồng thời, trong hợp đồng giao dịch nên có thêm điều khoản quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, như vậy ít nhất sẽ biết được tình trạng tài sản của một bên trong giao dịch và nếu bên nào vi phạm thì bên có lỗi sẽ phải chịu trách nhiệm.

3.3. Kiến nghị một số giải pháp về tổ chức thực hiện và áp dụng chế độ hôn sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2014

Thực tiễn pháp lý cho thấy, sau một thời gian dài áp dụng, chế độ hôn sản trong Luật HN&GĐ năm 2014 còn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, chưa thành những chuẩn mực pháp lý trong xử sự của các thành viên trong gia đình. Có những quy định chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau, có những quy định chưa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, có những vấn đề mới phát sinh trong xã hội chưa được pháp luật về HN&GĐ điều chỉnh,…

Nhằm bảo đảm việc áp dụng luật mới mang lại hiệu quả tốt hơn và tránh mắc phải những sai lầm, hạn chế như trong quá trình áp dụng và thi hành Luật HN&GĐ năm 2000, theo người viết cần thực hiện đồng bộ các công tác sau:

Thứ nhất, tại Việt Nam hiện nay, trong tổ chức và hoạt động của Tòa án, Tòa án dân sự giải quyết cả hai loại việc dân sự và hôn nhân gia đình. Do đó, kỹ năng xét xử các vụ việc dân sự thường được áp dụng chung cho cả các tranh chấp HN&GĐ và tranh chấp về tài sản của vợ chồng. Thực tế này cũng tạo nhiều thuận lợi trong công tác tổ chức và hoạt động của Tòa án, tuy nhiên trong nhiều vụ việc lại không phù hợp với đặc thù tranh chấp của quan hệ HN&GĐ. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết loại tranh chấp này, người viết đề nghị nên có một tòa án chuyên biệt thụ lý và giải quyết về các vấn đề gia đình như: đăng ký kết hôn (việc kết hôn nên được thực hiện ở Tòa án nơi cư trú chứ không phải ủy ban nhân dân bởi việc kết hôn và ly hôn được thực hiện bởi hai loại cơ quan khác nhau này sẽ khiến cho việc cung cấp thông tin trở nên khó khăn), ly hôn, hủy hôn, chia tài sản vợ chồng, đăng ký chế độ hôn sản… Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

Thứ hai, trong quy trình giải quyết vụ việc của Tòa án được thực hiện trên cơ sở áp dụng Luật, các văn bản hướng dẫn dưới Luật, hướng dẫn của Tòa án nhân dân cấp trên, áp dụng tập quán, tiền lệ. Tuy nhiên các quy định của pháp luật thường không rõ ràng, các văn bản hướng dẫn không đầy đủ, cụ thể; hướng dẫn của Tòa án cấp trên chậm hoặc không thống nhất  gây nhiều khó khăn cho công tác xét xử. Để khắc phục tình trạng trên, các cơ quan cấp trên cần ban hành văn bản hướng dẫn một cách kịp thời, cụ thể. Tòa án nhân dân tối cao cần thường xuyên kiểm tra, thanh tra, tổng kết công tác xét xử để rút kinh nghiệm và tìm giải pháp mới, hướng dẫn công tác xét xử cho Tòa án các cấp. Bên cạnh dó, Tòa án nhân dân tối cao cũng cần định kỳ ban hành tập hợp các án lệ điển hình để Tòa án các cấp học tập và rút kinh nghiệm trong công tác xét xử, cũng như phục vụ công tác nghiên cứu khoa học.

Thứ ba, đối với chế độ hôn sản theo thỏa thuận, pháp luật quy định việc xác lập thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng cũng như thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.  được lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng

thực theo quy định của pháp luật. Để phục vụ tốt cho công tác này, Luật Công chứng cần có văn bản hướng dẫn rõ ràng về các quy trình cũng như mẫu văn bản thỏa thuận, thực hiện các chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng, kiến thức giải quyết công việc cho các Công chứng viên, cần hướng dẫn công tác kịp thời cho các Văn phòng Công chứng để phổ biến và triển khai thực hiện. Tránh tình trạng khi sự việc phát sinh mới tìm phương pháp giải quyết, gây mất thời gian cũng như ảnh hưởng đến lợi ích của vợ chồng.

Thứ tư, tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật HN&GĐ cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đoàn thể. Đưa các nội dung của Luật HN&GĐ vào trong công tác giảng dạy. Chính phủ cần có văn bản hướng dẫn cụ thể công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, áp dụng pháp luật HN&GĐ một cách thường xuyên tại các địa phương, các vùng, miền trên cả nước.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

Chế độ hôn sản hay chế độ pháp lý về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một trong những lĩnh vực điều chỉnh chính của Luật HN&GĐ Việt Nam. Đây là chế độ mang những đặc điểm riêng và có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều tiết các mối quan hệ liên quan đến tài sản của vợ chồng đối với gia đình và xã hội. Là cơ sở pháp lý bảo đảm vợ chồng được hưởng đầy đủ các quyền và thực hiện các nghĩa vụ với gia đình và các thành viên khác trong gia đình, góp phần ổn định xã hội.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước không ngừng quan tâm, đầu tư xây dựng hệ thống pháp luật HN&GĐ mới, tiến bộ, phù hợp với thực tiễn khách quan của đất nước qua từng thời kỳ. Và để đạt được những thành tựu nhất định như ngày nay, chế độ hôn sản của vợ chồng ở nước ta đã phải trải qua một giai đoạn phát triển tương đối dài với những sắc thái khác nhau. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về HN&GĐ kể từ những ngày đầu thành lập đất nước cho đến nay càng được hoàn thiện hơn và quy định một cách toàn diện.

Qua đề tài “Chế độ hôn sản trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, Luận văn đã khái quát cụ thể chế độ hôn sản của vợ chồng. Phân tích đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chế độ hôn sản đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình và xã hội cũng như tìm hiểu về lịch sử phát triển, tồn tại của loại chế độ này trong hệ thống pháp lý của nước ta.

Với đề tài “Chế độ hôn sản trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” người viết đã đi sâu tìm hiểu và phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về chế độ hôn sản. Trên cơ sở đó có thể thấy được sự phù hợp và chưa phù hợp trong các quy định của luật và kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện cũng như nâng cao khả năng áp dụng của chế độ hôn sản ở Việt Nam hiện nay. Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân và gia đình

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464