Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quy định chung áp dụng bắt buộc đối với vợ chồng
Để thống nhất nhận thức về chế độ hôn sản, bảo vệ lợi ích chung của gia đình, Luật HN&GĐ năm 2014 bổ sung thêm nhiều quy định về chế độ hôn sản, trong đó có quy định chung áp dụng bắt buộc đối với mọi quan hệ vợ chồng.
2.1.1. Nguyên tắc tôn trọng ý chí chung của vợ chồng
Tiếp thu tư tưởng tiến bộ trong hệ thống pháp luật của các nước phương Tây cũng như xây dựng hệ thống pháp luật đáp ứng được các yêu cầu của xã hội Việt Nam theo xu hướng hội nhập quốc tế, Luật HN&GĐ năm 2014 bổ sung quy định cho phép vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ hôn sản luật định hoặc chế độ hôn sản theo thỏa thuận (Điều 28). Trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ hôn sản theo thỏa thuận thì chế độ hôn sản luật định sẽ được áp dụng.
Trước đây, chế độ hôn sản theo thỏa thuận “du nhập” và bị “trục xuất” khỏi Việt Nam một cách “lặng lẽ”. Vì vậy, chế độ hôn sản chính thống được áp dụng cho chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ hôn sản luật định. Theo đó, Luật HN&GĐ năm 2000 cũng chỉ quy định và áp dụng một chế độ hôn sản duy nhất đối với quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong hôn nhân là chế độ hôn sản luật định. Các căn cứ xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản đó, cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa vợ chồng với người thứ ba … được pháp luật dự liệu và chịu sự điều chỉnh mang tính bắt buộc của luật pháp.
Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, nếu vợ chồng lựa chọn áp dụng chế độ hôn sản theo thỏa thuận thì họ phải lập văn bản thỏa thuận theo các quy định của Luật; đây là cơ sở cho việc thực hiện và giải quyết tranh chấp về chế độ tài sản của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận về việc áp dụng chế độ tài sản nào thì các vấn đề trong chế độ tài sản của họ sẽ tuân theo chế độ tài sản luật định và việc giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến tài sản của vợ chồng sẽ áp dụng theo các quy định của pháp luật. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Tuy nhiên, việc tạo điều kiện cho vợ chồng tự do định đoạt tài sản của mình phải trong giới hạn nhất định theo quy định của pháp luật và phù hợp với thuần phong mỹ tục. Để tránh tình trạng lợi dụng quy định của pháp luật nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của vợ chồng và bảo vệ tối đa lợi ích của gia đình và các thành viên trong gia đình, nhà làm luật đã dự liệu và quy định trong một số trường hợp việc giải quyết vấn đề liên quan đến tài sản của vợ chồng không phụ thuộc vào chế độ hôn sản mà vợ chồng đã lựa chọn.
Tương tự như các nước phương Tây, Luật HN&GĐ hiện hành dự liệu chế độ hôn sản pháp định như một giải pháp dự phòng thay thế khi vợ chồng không lựa chọn chế độ hôn sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận nhưng thỏa thuận ấy bị vô hiệu theo quy định của Luật.
2.1.2. Nguyên tắc chung về chế độ hôn sản
Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:
- Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
- Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường
Việc quy định nguyên tắc chung về chế độ hôn sản trong Luật HN&GĐ là một bảo đảm pháp lý vững chắc về quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân, trong việc thực hiện các quyền cũng như nghĩa vụ đối với hôn sản cũng như. Trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc của luật, các hành vi liên quan đến tài sản của vợ chồng được pháp luật điều chỉnh ứng xử theo những khuôn mẫu nhất định, đảm bảo lợi ích của gia đình, của vợ chồng cũng như lợi ích của người thứ ba.
Trong lĩnh vực HN&GĐ, nhìn chung quyền bình đẳng giữa vợ và chồng được đề cập khá chi tiết trong các quy định của pháp luật và có xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Trong quan hệ tài sản, vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập [38, khoản 1,Điều 29]. Sự phân công lao động trong gia đình xét về trực quan thể hiện sự bất bình đẳng giữa người chồng và người vợ, người vợ luôn là người chịu nhiều thiệt thòi. Tuy nhiên, xét về bản chất, đó là sự phân công lao động hợp lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi cặp vợ chồng và của gia đình. Vợ, chồng tùy theo khả năng và điều kiện của mình có quyền và nghĩa vụ trực tiếp tham gia lao động, tạo ra thu nhập nhằm nuôi sống gia đình. Thu nhập đó có thể do hai vợ chồng hoặc chủ yếu do một bên vợ hoặc một bên chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng đều được ghi nhận là tài sản chung của hai vợ chồng. Vợ, chồng bình đẳng nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt khối tài sản chung đó mà không có sự phân biệt về công sức người làm ít, người làm nhiều; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Gia đình là tổ ấm chung, vợ chồng có trách nhiệm phân công lao động cùng nhau xây dựng tổ ấm, có thể người này được phân công lao động để tạo ra tài sản còn người kia có nghĩa vụ thực hiện các công việc khác để đảm bảo sự ổn định của gia đình (như lo nội trợ, nuôi dạy con cái, chăm sóc bố mẹ già ..). Do đó, vợ và chồng mỗi người một công việc, mỗi người một thu nhập có sự nhiều ít khác nhau hoặc có thể không có nhưng đều góp công sức trong việc duy trì, ổn định và phát triển gia đình cả về vật chất lẫn tinh thần.
Hoạt động lao động, tạo lập tài sản của vợ chồng suy cho cùng, trước hết nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của gia đình. Pháp luật quy định, việc bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình chính là nghĩa vụ của vợ, chồng [38, khoản 2, Điều 29] mà không phụ thuộc vào ý chí (dù muốn hay không muốn) của nhân cá họ. Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình [39, Điều 3]. Các tiêu chí của nhu cầu sinh hoạt thiết yếu có thể thay đổi theo sự phát triển của xã hội tiêu thụ. Tính chất thiết yêu của nhu cầu sinh hoạt gắn liền với tính chất hợp lý của nhu cầu đó và của sự chi tiêu. Nói cách khác, việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình phải được thực hiện trong phạm vi cho phép của ngân sách ổn định của gia đình và vợ chồng có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu tối thiếu đó.
Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của gia đình và những nhu cầu khác của vợ, chồng. Với tư cách là một chủ thể độc lập trong các mối quan hệ và giao dịch dân sự khác, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường (khoản 3 Điều 29). Việc bồi thường thiệt hại được xem xét trên yếu tố lỗi để xác định tài sản thực hiện nghĩa vụ là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ, chồng.
2.1.3. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc duy trì và phát triển đời sống gia đình đã thúc đẩy vợ, chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch kinh tế hoặc dân sự. Tài sản chung của vợ và chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung (ngang nhau trong việc chiến hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung). Tài sản chung của vợ và chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ, chồng.
Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về quyền , nghĩa vụ của vợ , chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, như sau:
- Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.
Điều này đã khẳng định vợ, chồng có quyền tự mình thực hiện các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, đồng thời cũng xác định trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ phát sinh từ những giao dịch này đối với người vợ, chồng không thực hiện giao dịch.
Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Trên thực tế, các giao dịch dù lớn hay nhỏ hoặc không đáng kể vẫn được vợ, chồng thực hiện hằng ngày nhằm đáp ứng nhu cầu cho gia đình. Nhu cầu thiết yếu của gia đình có thể là những nhu cầu hằng ngày (như ăn uống), hay nhu cầu hàng tháng (như chi phí điện, nước, giáo dục …) hoặc chi phí phát sinh đột ngột (chi phí thuốc men, khám chữa bệnh). Những nhu cầu này trực tiếp liên quan đến lợi ích cá nhân vợ, chồng cũng như các thành viên trong gia đình và là nghĩa vụ, trách nhiệm của vợ chồng đối với gia đình, cho nên vợ chồng luôn luôn phải thực hiện các giao dịch để đáp ứng những nhu cầu đó. Đó là những nhu cầu không thể thiếu để gia đình và các thành viên trong gia đình tồn tại và phát triển. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Các nhu cầu thiết yếu của gia đình trước hết được đáp ứng bằng tài sản chung. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên. Thực tế, tài sản chung dùng để chi phí cho các nhu cầu thiết yếu của gia đình thường là tài sản chung có nguồn gốc từ thu nhập của vợ, chồng. Các tài sản ấy, dù là của chung, cũng có thể được người tạo ra chúng (người có thu nhập) tự mình sử dụng, định đoạt trong chừng mực hợp lý để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt riêng, mà không cần hỏi ý kiến của vợ (chồng). Thu nhập của một người được đóng góp vào tài sản chung của gia đình và phải được ưu tiên sử dụng để thanh toán các chi phí nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình. Nếu thu nhập và các tài sản chung khác không đủ để trang trải chi phí thì tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu. Vợ, chồng, trên nguyên tắc, có trách nhiệm đóng góp ngang nhau trong việc thanh toán các chi phí ấy. Tuy nhiên, vấn đề là thu nhập và khối tài sản riêng của mỗi người thường không phải trong mọi trường hợp đều ngang nhau. Do vậy, việc đóng góp tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình dựa tình hình tài sản riêng của mỗi bên và trên cơ sở thỏa thuận của vợ chồng. Nếu một người không có tài sản riêng, thì người còn lại chịu trách nhiệm thanh toán chi phí bằng tài sản riêng của mình.
2.1.4. Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng
Quyền có nơi ở hợp pháp là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận và bảo hộ [26 Điều 22]. Nơi ở của vợ, chồng là nơi cư trú hằng ngày của vợ chồng, là nơi đảm bảo nhu cầu thiết yếu về chỗ ở cho gia đình và các thành viên của gia đình. Việc có một nơi cư trú không chỉ đảm bảo vợ chồng có cuộc sống ổn định mà còn là nơi vợ chồng cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái. Nơi ở của vợ, chồng có thể thuộc sở hữu chung của vợ chồng, có thể thuộc sở hữu riêng của một bên vợ, chồng.
Theo quy định của pháp luật, nhà ở là loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng; nếu là tài sản chung thì việc đăng ký phải được ghi tên của cả hai vợ chồng và khi xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Thỏa thuận phải phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật.
- Điều 31 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng:
Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.
Nhu cầu về chỗ ở là nhu cầu thiết yếu của gia đình, việc bảo đảm điều kiện đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình là nghĩa vụ của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng. Quy định này phù hợp với các quy định về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; khi tài sản chung không có hoặc không đủ để đáp đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng tùy theo khả năng kinh tế của mỗi bên có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu đó. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
2.1.5 Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng
Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng như sau:
- Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó.
- Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình.
Trong giao dịch dân sự, người thứ ba ngay tình được hiểu là người chiếm hữu không có căn cứ pháp lý đối với tài sản nhưng không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật [29Điều 189]. Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, tự do thông thương, giao lưu hàng hóa, sự phổ biến của các tổ chức tài chính cũng như các sàn giao dịch chứng khoán việc cá nhân sở hữu một tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản chứng khoán để giao dịch, kinh doanh là hết sức phổ biến. Những tài khoản ngân hàng và tài khoản chứng khoán này có thể được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung của vợ chồng, nhưng việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng lại chỉ ghi tên một người vợ hoặc chồng. Về mặt pháp lý khi giao dịch với người thứ ba ngay tình họ là người có quyền xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch và người thứ ba biết rằng người đó chính là chủ tài khoản đã được đăng ký. Tuy nhiên, nếu là tài sản chung thì việc xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài khoản này phải có sự thỏa thuận của vợ, chồng thì mới được coi là hợp pháp. Nhưng trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó [38, khoản 1 Điều 32]. Trong trường hợp giao dịch bị vô hiệu, có tranh chấp xảy ra thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình vẫn được pháp luật bảo vệ. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Đối với tài sản là động sản, trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp BLDS có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình [38, khoản 2 Điều 32]. Liên quan đến vấn đề này, theo quy định tại Điều 138 BLDS thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ khi giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp chủ sở hữu đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật.
Như vậy, trong một số giao dịch giữa người thứ ba ngay tình với vợ, chồng thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình luôn được pháp luật bảo vệ mà không phụ thuộc vào tính hợp pháp của giao dịch đó.
2.2 Chế độ hôn sản luật định Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
2.2.1. Quy định về tài sản chung của vợ chồng
2.2.1.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
Trên cơ sở kế thừa các quy định về tài sản chung của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2000 [27, Điều 27], sửa đổi một số quy định cho phù hợp với thực tiễn, Luật HN&GĐ năm 2014 đã dự liệu về tài sản chung của vợ chồng rõ ràng, cụ thể hơn.
Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng được Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tại Điều 33 và được quy định chi tiết tại Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ–CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014. Theo đó, tài sản chung của vợ chồng được xác lập từ các nguồn sau đây:
- a) Tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân
Khoản 13 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 khi giải thích từ ngữ đã nêu rõ “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”.
Như vậy, “thời kỳ hôn nhân” là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày hai bên nam nữ kết hôn, việc kết hôn được tiến hành theo đúng thủ tục quy định của pháp luật, đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Thời kỳ hôn nhân chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Theo quy định của pháp luật, thời kỳ hôn nhân chấm dứt khi vợ, chồng chết; bản án, quyết định của Tòa án tuyên bố vợ, chồng chết có hiệu lực pháp luật hoặc khi bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.
- Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng như sau:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Theo đó, tài sản chung của vợ chồng gồm những tài sản (bao gồm cả động sản và bất động sản) do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ tồn tại quan hệ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Tài sản này có thể do hai vợ chồng cùng chung sức tạo ra hoặc có thể do mỗi bên vợ, chồng là người trực tiếp tạo lập nên.
Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 liệt kê tài sản chung của vợ chồng gồm: tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân.
Hành vi “tạo ra” được hiểu là vợ chồng tùy theo ngành nghề, chuyên môn, trình độ đã trực tiếp tạo ra tài sản đó bằng chính công sức của mình như làm công ăn lương, xây dựng nhà cửa, chăn nuôi, trồng trọt …hoặc có thể dùng tiền bạc của mình để thuê người khác trực tiếp tạo ra tài sản đó thông qua những hợp đồng cụ thể. Hành vi tạo ra tài sản của vợ chồng còn được hiểu là vợ, chồng đã dùng tiền bạc, tài sản của mình để mua bán, trao đổi, nhận chuyển quyền sở hữu tài sản từ người khác sang tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng bảo đảm nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt hàng ngày của gia đình hoặc đầu tư sản xuất, kinh doanh. Như vậy, những tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
Ngoài ra, Luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định, tài sản chung của vợ chồng bao gồm cả các khoản thu nhập khác phát sinh trong thời kỳ tồn tại quan hệ hôn nhân gồm: Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ các loại tài sản riêng khác của cợ chồng theo quy định của pháp luật; Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước; Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật [11, Điều 9]. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Do đó, những khoản thu nhập hợp pháp khác được liệt kê nói trên phát sinh trong thời kỳ hôn nhân cũng được xác định là tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền sở hữu như nhau mà không tính đến việc tài sản đó là thu nhập của bên vợ hay bên chồng. Tuy nhiên, để bảo đảm lợi ích cá nhân cũng như quyền riêng tư của cá nhân được pháp luật bảo hộ, pháp luật quy dịnh những khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng dù có được trong thời kỳ hôn nhân và là những khoản thu nhập hợp pháp, chính đáng nhưng pháp luật quy định rõ là thuộc về tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng mà không thuộc khối tài sản chung của vợ chồng [11, Điều 11].
Khi quy định về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng, tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 không có quy định xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng và vẫn còn nhiều quan điểm tranh cãi khác nhau. Khác với quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời đã quy định và ghi nhận hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân cũng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
Theo đó, Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là sản vật tự nhiên mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình . Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là khoản lợi mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản riêng của mình [11, Điều 10]. Thời kỳ hôn nhân là một trong những căn cứ để xác định tài sản chung của vợ chồng. Do đó, hoa lợi, lợi tức tuy phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng nhưng sự kiện phát sinh đó được xác lập trong khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng (thời kỳ hôn nhân) cho nên vẫn thuộc tài sản chung của vợ chồng.
Có thể nói, quy định này của Luật HN&GĐ năm 2014 đã thể hiện tính hợp tình, hợp lý và tiến bộ hơn so với các quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc xác lập tài sản chung của vợ chồng cũng như mục tiêu bảo vệ, duy trì và phát triển lợi ích của gia đình, các thành viên trong gia đình và của xã hội.
Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ 2014 cũng quy định, quyền sử dụng đất và vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Người sử dụng đất được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và có quyền thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật [36, Điều 167]. Quyền sở dụng đất là hình thức sở hữu phải đăng ký và trong trường hợp đã có vợ, chồng thì trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi tên cả hai vợ chồng. Do đó, quyền sử dụng đất mà cả hai vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng được nhà nước giao đều thuộc tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng, tặng cho riêng chỉ trở thành tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản có giá trị, do đó trong cơ chế quản lý được Nhà nước điều chỉnh và hướng dẫn thực hiện bằng những quy định chặt chẽ, cụ thể.
- b) Tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng được hoặc có thể được những người khác như người thân thích hoặc bạn bè tặng cho chung tài sản hoặc được hưởng thừa kế chung một khối di sản. Những tài sản này thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Tài sản được coi là vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung khi trong hợp đồng tặng cho hay trong di chúc, người tặng cho hay người để lại di sản thừa kế tuyên bố tặng cho chung hay cho thừa kế chung mà không phân biệt tỷ lệ phần tài sản được tặng cho, được thừa kế của mỗi bên vợ chồng được hưởng. Nếu trong hợp đồng thừa tặng cho hoặc di chúc có nêu rõ tỷ lệ phần tài sản mà mỗi bên vợ, chồng được hưởng thì về nguyên tắc những tài sản đó được xác định là tài sản riêng, nếu như vợ, chồng không có thỏa thuận nhập vào tài sản chung. Trong trường hợp vợ chồng cùng thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế thì tài sản được thừa kế theo hàng thừa kế đó thuộc tài sản riêng của vợ chồng, trừ khi vợ chồng cùng tự nguyện nhập và thỏa thuận đó là tài sản chung thì mới được xem là tài sản chung của vợ chồng.
- c) Tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; tài sản mà không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng
Một loại tài sản nữa được pháp luật dự liệu và xác định thuộc tài sản chung của vợ chồng là những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung [38, khoản 1 Điều 33].
Trong thực tế cuộc sống hôn nhân, gia đình, vợ và chồng gắn bó với nhau trên cơ sở tình cảm, tình thương yêu, tin tưởng lẫn nhau. Khi tình cuộc sống còn êm ấm, vợ chồng không phân biệt tài sản của ai mà chỉ có một mong muốn và tự nguyện đem hết toàn bộ tài sản mình có được cùng nhau xây dựng tổ ấm, xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm lo cho con cái sau này. Những tài sản được coi là tài sản riêng của vợ, chồng lúc này được cả hai người tự nguyện nhập vào khối tài sản chung của gia đình, cùng nhau thực hiện các quyền sở hữu bằng khối tài sản này nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất của gia đình. Điều đó không những thể hiện sự yêu thương, tin tưởng lẫn nhau mà còn thể hiện sự mong muốn, đồng sức, đồng lòng xây dựng hạnh phúc gia đình của các cặp vợ chồng. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Việc nhập tài sản riêng của mỗi bên vào khối tài sản chung của vợ chồng đôi khi như là sự mặc định, đã là vợ chồng thì “của anh cũng như của tôi” đều là của chung nên không có một sự thỏa thuận nào. Có trường hợp, tài sản riêng khi nhập vào tài sản chung cũng được vợ chồng thỏa thuận nhưng có khi chỉ là sự thỏa thuận bằng miệng do hai vợ chồng thống nhất với nhau và cùng thực hiện mà không được lập bằng văn bản nào. Tuy nhiên, khi cuộc sống vợ chồng đổ vỡ, lục đục, tranh chấp xảy ra vợ chồng khó chứng minh được một số loại tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Vì vậy, trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt tài sản giữa vợ và chồng, vợ và chồng có thể thỏa thuận cho rằng đó là tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ, chồng.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến việc xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ chồng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do tính phức tạp của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Xuất phát từ thực trang đó, nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng và hợp lý, khoản 3 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.[38, khoản 3 Điều 33]. Khi một bên vợ hoặc chồng khai tài sản đó là tài sản riêng còn bên kia khai là tài sản chung, song trên thực tế vợ chồng đã quản lý sử dụng tài sản này, nếu bên khai là tài sản riêng lại không đưa ra được chứng cứ chứng minh là tài sản riêng, thì phải coi đây là tài sản chung vợ chồng. Đây là một quy định có ý nghĩa thực tiễn rất cao, vừa có ý nghĩa coi trọng và củng cố quan hệ hôn nhân, vừa ngăn chặn động cơ không trong sáng của một bên, bảo đảm được sự công bằng, bênh vực bên yếu thế, phù hợp với quy định đã được khẳng định tại Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung. Điều luật đã kế thừa quy định về nguyên tắc suy đoán đã được áp dụng và quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000 trước đó. Vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được quy định tương đối cụ thể trong Luật HN&GĐ, tuy nhiên, trong thực tiễn, một khi đời sống chung giữa vợ chồng càng kéo dài thì các tài sản sẽ có xu hướng không thể tránh khỏi là lẫn lộn với nhau, đặc biệt khi vợ chồng xác lập nhiều các giao dịch liên quan đến tài sản. Do đó, không phải lúc nào nguồn gốc của tài sản cũng có thể xác định được theo các quy định về việc xác định tài sản chung và tài sản riêng. Trong bối cảnh đó, quy định về việc suy đoán tài sản chung mà người làm luật đặt ra có ý nghĩa như một nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản. Tuy nhiên, với tư cách là một nguyên tắc suy đoán, tác dụng của nguyên tắc này chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng định chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 khi xác định tài sản chung của vợ chồng đã căn cứ vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc của các loại tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Việc quy định căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng tạo cơ sở pháp lý để vợ chồng thực hiện sự dân chủ, bình đẳng trong các quan hệ về tài sản. Đồng thời, tạo điều kiện khuyến khích vợ chồng có trách nhiệm với gia đình, cùng sát cánh xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc, bền vững. Bên cạnh đó, việc phân định các cơ sở xác lập tài sản chung của vợ chồng còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ chồng đối với các loại tài sản vợ chồng. Vợ chồng là đồng sở hữu đối với khối tài sản chung của họ. Vì vậy, một bên vợ hoặc chồng không thể tự ý định đoạt tài sản chung nếu không có sự thỏa thuận của bên kia, đặc biệt liên quan đến những tài sản chung của vợ chồng có giá trị lớn như nhà ở, quyền sử dụng đất… Đồng thời, quy định này cũng là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xác định tài sản chung của vợ chồng khi có tranh chấp về tài sản chung giữa vợ và chồng trên thực tế.
2.2.1.2. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
Trước thực tế các tranh chấp liên quan đến tài sản nói chung và tranh chấp tài sản vợ chồng nói riêng xảy ra phổ biến và phức tạp, việc pháp luật dự liệu quy định những loại tài sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng là một trong những biện pháp, là cơ sở pháp lý để Tòa án giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và chính xác, đảm bảo sự công bằng, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên. Do đó, việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung vợ chồng hết sức quan trọng và cần thiết, góp phần đảm bảo sự công bằng, minh bạch cũng như bảo vệ các quyền lợi hợp pháp giữa và chồng đối với khối tài sản chung. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Trước đây, Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 không quy định vấn đề đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng, đã có nhiều hạn chế trong việc thực hiện và áp dụng Luật. Luật HN&GĐ năm 2000, tại khoản 2 Điều 27 đã quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng” [38]. Đây là quy định mới, lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật HN&GĐ liên quan đến vấn đề quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng. Hướng dẫn cụ thể hơn những loại tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu trong quy định nêu trên tại khoản 2 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ–CP Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ ngày 03 tháng 10 năm 2001, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18 tháng 10 năm 2001 nêu rõ: “1. Các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật HN&GĐ bao gồm: nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu”. [10, khoản 1 Điều 5]. Trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản đăng ký sẽ được ghi tên của cả hai vợ chồng theo đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với những tài sản chung pháp luật yêu cầu phải đăng ký là một thủ tục mang tính bắt buộc, nó vừa là quyền của vợ chồng được xác lập tên chủ sở hữu đối với tài sản, vừa là nghĩa vụ vợ chồng phải thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản mà pháp luật quy định là phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.
Hiện nay, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sở dụng đối với tài sản chung của vợ chồng trong một điều luật riêng biệt mang tính cụ thể và rõ ràng hơn [38, Điều 34].
Về nội dung, tương tự như quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000 trước đó, điều luật quy định đối với những tài sản chung vợ chồng mà theo quy định của pháp luật yêu cầu phải thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì vợ chồng có quyền và nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cùng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Tuy nhiên, không phải bất kỳ tài sản chung nào vợ chồng cũng phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng mà thủ tục trên chỉ được áp dụng cho những tài sản chung là quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu [ 11, khoản 1 Điều 12]. So với quy định về đăng ký tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, Nghị định số 126/2014/NĐ-CP đã bỏ cụm từ “nhà ở”, phù hợp với quy định mới của Luật Đất Đai năm 2013 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Ngoài ra, những tài sản khác mà pháp luật quy định đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu như ô tô, xe máy theo quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, máy bay theo quy định tại Điều 13 Luật Hàng không dân dụng năm 2007; du thuyền theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hàng Hải Việt Nam năm 2015. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều năm trước đây việc đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng thường do một bên vợ hoặc chồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu. Do đó, theo quy định mới tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ–CP :“ Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng” [11, khoản 2 Điều 12] Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo và tôn trọng quyền cá nhân của chủ sở hữu, quyền tự do quyết định đối với tài sản chung của vợ chồng quy định, trong trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung [11, khoản 3 Điều 12].
Đối với những loại tài sản khác (như ô tô, mô tô, xe máy, máy bay, du thuyền) mà pháp luật có quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì những giao dịch liên quan đến tài sản này (như mua bán, tặng cho, thế chấp, cầm cố…) theo quy định tại Điều 26 Luật HN&GĐ năm 2014 sẽ được thực hiện thông qua hình thức đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng [38, Điều 26]. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác lâp theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, Luật Dân sự và các luật khác có liên quan. Về phạm vi đại diện, Điều 25 Luật HN&GĐ năm 2014 cũng quy định cho phép vợ chồng có thể đại diện cho nhau trong quan hệ kinh doanh [38, Điều 25]. Nếu hai vợ chồng trực tiếp cùng nhau tham gia quan hệ kinh doanh chung thì theo quy định tại Điều 36 Luật HN& GĐ năm 2014 thì vợ, chồng là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó và khi vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên tham gia kinh doanh và đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung đó [38, Điều 36]. Để đảm bảo sự minh bạch trong việc quản lý tài sản cũng như bảo đảm quyền lợi của vợ chồng đối với tài sản chung, trường hợp thỏa thuận về tài sản chung đưa vào kinh doanh phải được thực hiện dưới hình thức bằng văn bản. Trong trường hợp trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản chung ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì khoản 2 Điều 24 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định khi xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chung đó vợ và chồng có thể ủy quyền cho nhau theo quy định về ủy quyền của pháp luật và việc ủy quyền và nhận ủy quyền phải được cả hai vợ chồng cùng đồng ý [38, khoản 2 Điều 24]..
Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó [38, Điều 24]. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Trong thực tế giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, không ít trường hợp khi chia tài sản chung (khi ly hôn) bên có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản tranh chấp vì khẳng định đó là tài sản riêng của cá nhân. Điều này gây không ít khó khăn, phiền hà cho công tác giải quyết tranh chấp của Tòa án.
Trước tình hình đó, đối với trường hợp có tranh chấp về tài sản chung mà trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng, Luật HN&GĐ năm 2014 đã dự liệu và giải quyết theo hướng bên nào cho rằng tài sản đó là của cá nhân sẽ phải có nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc tài sản. Trường hợp vợ hoặc chồng không chứng minh được đó tài sản riêng thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật HN&GĐ năm 2014. Đây là quy định mang tính thực tế, giúp cho công tác giải quyết tranh chấp được kịp thời, dễ dàng và hiệu quả.
2.2.1.3. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
Luật HN&GĐ năm 2014 đã khẳng định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan” [38, Điều 17]. Do đó, trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là ngang nhau, bình đẳng với nhau.
Tài sản chung của vợ chồng không dứt khoát phải do hai vợ chồng trực tiếp tạo ra; không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên vợ, chồng khi tạo lập tài sản; không xác định được đâu là tài sản của vợ, đâu là tài sản của chồng trong khối tài sản chung của vợ chồng. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 Luật HN &GĐ năm 2014 quy định việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng không phải là mặc nhiên mà phải trên cơ sở cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận của hai vợ chồng [38, khoản 1 Điều 35]. Thỏa thuận về thực hiện các quyền năng sở hữu đối với tài sản của vợ chồng có thể được thực hiện thông qua hình thực văn bản hoặc đơn giản hơn là bằng lời nói và do vợ, chồng quyết định. Thông thường, trong cuộc sống hàng ngày, những hành vi xử sự của vợ, chồng khi định đoạt tài sản chung nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì luôn được pháp luật coi đó là có sự thỏa thuận đương nhiên của hai vợ chồng hoặc được vợ chồng thỏa thuận bằng lời nói.
Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 35 Luật HN &GĐ năm 2014 quy định đối với những tài sản như bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật (như ô tô, xe máy …) và những tài sản tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình thì khi định đoạt tài sản vợ và chồng phải có sự thỏa thuận (đồng ý) với nhau bằng hình thức (văn bản) theo quy định của pháp luật [38]. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Tài sản chung của vợ chồng được sử dụng nhằm bảo đảm nhu cầu đời sống chung của gia đình; một bên vợ chồng không thể tự ý định đoạt tài sản chung có giá trị lớn nếu không có sự thỏa thuận của bên kia.
Thực tế, không ít trường hợp người vợ, chồng tự ý định đoạt tài sản chung (có thể vì lợi ích chung, cũng có thể vì lợi ích cá nhân) mà người còn lại không biết hoặc không đồng ý dẫn đến tranh chấp và những bất lợi cho người thứ ba (ngay tình) khi tham gia giao dịch liên quan đến tài sản đó.
Do vậy, trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định của Luật HN&GĐ về hình thức thỏa thuận bằng văn bản khi định đoạt một số tài sản chung theo quy định của pháp luật thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.
Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ và thống nhất trong thực tiễn áp dụng luật liên quan đến quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng, góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân và sự ổn định trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng.
Ngoài ra, liên quan đến việc thực hiện quyền năng chủ sở hữu đối với tài sản chung, pháp luật cho phép vợ chồng thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh. Trong trường hợp này, những tài sản chung đưa vào kinh doanh thường là những tài sản có giá trị lớn, thậm chí là tài sản mang lại nguồn sống chủ yếu cho gia đình. Do đó, việc vợ hoặc chồng khi đưa tài sản chung vào kinh doanh không phải chỉ đơn giản là việc hai vợ chồng trao đổi với nhau bằng lời nói mà cần được thực hiện theo một cơ chế rõ ràng, minh bạch. Khi vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó và theo quy định của pháp luật thỏa thuận phải được lập thành văn bản, có như vậy mới bảo đảm được tính khách quan, rõ ràng, bảo đảm được quyền lợi cũng như các nghĩa vụ mà vợ chồng phải gánh chịu [ 38, Điều 36]. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Như vậy, quy định về việc thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh của vợ chồng là phù hợp với các quy định về đại diện giữa vợ và chồng đã được ghi nhận tại Điều 24 và Điều 25 của Luật HN&GĐ. Nhà làm luật đã dự liệu các quy định trên nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng thực hiện quyền tự định đoạt tài sản chung vợ chồng, nhưng cũng ràng buộc họ trong những quy định chặt chẽ để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đối với bên thứ ba khác trong giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên và là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dễ dàng, nhanh gọn, hợp lý và chuẩn xác.
2.2.1.4. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Luật HN &GĐ năm 2014, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất và được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng [38, khoản 3 Điều 33].
Luật HN&GĐ năm 2000 không có điều luật nào quy định cụ thể vợ chồng có những nghĩa vụ chung nào về tài sản, gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm chung về tài sản của vợ và chồng. Luật HN&GĐ năm 2014 đã dành riêng Điều 37, trong đó liệt kê những loại nghĩa vụ chung về tài sản mà vợ chồng phải gánh chịu.
Nhu cầu của gia đình gồm nhu cầu về tinh thần và nhu cầu về vật chất. Trong đó, nhu cầu về vật chất của gia đình được thỏa mãn bằng những giao dịch mà vợ chồng xác lập, thực hiện. Những nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch do vợ chồng cùng nhau thực hiện hoặc vợ chồng thỏa thuận để cho một bên vợ hoặc chồng đại diện thực hiện là nghĩa vụ chung của cả hai vợ chồng. Những giao dịch mà vợ, chồng thiết lập nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hằng ngày của cuộc sống gia đình như ăn ở, học hành, khám chữa bệnh luôn được pháp luật coi là mặc nhiên đã có sự thỏa thuận của hai vợ chồng, nếu liên quan đến tài sản có giá trị lớn thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng. Trong trường hợp, những giao dịch do vợ chồng thỏa thuận xác lập, thực hiện gây thiệt hại cho bên thứ ba thì theo quy định tại Điều 27 Luật HN &GĐ năm 2014,vợ chồng phải cùng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trách nhiệm của vợ chồng là trách nhiệm liên đới dù giao dịch có thể do một bên thực hiện [38]. Tài sản dùng để thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng được lấy từ tài sản chung của vợ chồng, nếu như tài sản chung không đủ thực hiện phần nghĩa vụ chung thì vợ chồng thỏa thuận dùng tài sản riêng của mỗi bên hoặc có thể phải vay nợ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Đối với trường hợp khoản nợ được vay nhằm thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng được xác định là nợ chung và vợ chồng có nghĩa vụ chung trong việc trả nợ. khoản 2 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng [38, khoản 2 Điều 33]. Cùng với đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014, Điều 10 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng, đây là những khoản thu nhập từ tài sản riêng của vợ chồng được nhập vào tài sản chung của vợ chồng và có thể là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình. Việc sử dụng, định đoạt tài sản riêng trong trường hợp này có thể gây ra những ảnh hưởng lớn đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình. Do đó, những nghĩa vụ tuy phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng nhưng được pháp luật xác định là trách nhiệm chung của vợ chồng liên quan đến tài sản, vợ chồng phải dùng tài sản chung để bảo đảm cho các nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng loại tài sản riêng đó.
Đặc biệt, điều luật cũng đã dự liệu nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của pháp luật thì cha mẹ phải bồi thường. Khoản 1 Điều 73 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật” [38, khoản 1 Điều 37]. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con, khi con cái gây thiệt hại, không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ thì người đại diện là cha mẹ phải gánh chịu trách nhiệm thay con. Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị mất năng lực hành vi dân (không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình) sự gây ra theo quy định của BLDS (Điều 74 Luật HN&GĐ năm 2014).
Có thể nói, Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng và tương đối đầy đủ những nghĩa vụ chung của vợ chồng. Đây là những cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo vợ chồng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ chung theo quy định của pháp luật, là giải pháp giúp cơ quan Tòa án giải quyết triệt để, công bằng những tranh chấp xảy ra trên thực tế phát sinh từ nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng góp phần bảo đảm công bằng xã hội, bảo đảm các quyền và lợi ích về tài sản của các bên liên quan. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
2.2.1.5. Chia tài sản chung của vợ chồng
Kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết; khi vợ chồng ly hôn.
- a) Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trong thực tiễn, không phải chỉ khi vợ chồng ly hôn hoặc một bên vợ chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, vợ chồng mới thực hiện việc phân chia tài sản, mà vì rất nhiều lý do, vợ chồng có thể thực hiện việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Lý do vợ chồng chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân có thể là khi vợ chồng có mẫu thuẫn sâu sắc nhưng lại không muốn ly hôn mà chỉ muốn ly thân và độc lập về tài chính, họ thực hiện việc phân chia tài sản để tự mình sở hữu tài sản đó; hoặc vợ chồng phân chia tài sản vì lý do kinh doanh, đôi khi vợ chồng không cùng nhau đồng ý đem tài sản chung vào đầu tư kinh doanh, do đó vợ chồng phân chia tài sản để mỗi bên có quyền tự định đoạt tài sản vào đầu tư kinh doanh; hoặc vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng nhưng không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ, do đó vợ, chồng phân chia tài sản chung để người này có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ của mình …
Để giải quyết những vấn đề nêu trên, Luật HN&GĐ đã dự liệu các quy định nhằm giải quyết việc phân chia tài sản của vợ chồng thời kỳ hôn nhân như sau: Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Thứ nhất, điều kiện phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp quy định tại Điều 42:
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Việc chia tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ như nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, BLDS và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Thứ hai, hình thức và nội dung phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân : Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải do vợ chồng thỏa thuận và được lập thành văn bản. Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận mà yêu cầu Tòa án giải quyết thì việc phân chia tài sản sẽ thực hiện theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Thứ ba, thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: So với Luật HN&GĐ năm 2000, Điều 39 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định cụ thể về thời điểm có hiệu lực của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân . Thời điểm có hiệu lực được xác định tùy theo các trường hợp cụ thể, như:
Đối với trường hợp vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bằng văn bản thì thời điểm có hiệu lực là thời điểm vợ chồng thỏa thuận và đã được ghi trong văn bản. Nếu trong văn bản không quy định thời điểm thì hiệu lực bắt đầu từ ngày vợ chồng ký kết thỏa thuận. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật và giao dịch liên quan đến tài sản đó bắt buộc phải tuân theo hình thức nhất định thì thời điểm có hiệu lực kể từ khi việc thỏa thuận đã tuân thủ hình thức theo quy định của pháp luật.
Đối với trường hợp vợ chồng yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì thời điểm có hiệu lực cũng là ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Việc quy định cụ thể cách xác định thời điểm có hiệu lực của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa quan trọng không những bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba vì quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực thì vẫn có giá trị pháp lý (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác).
Thứ tư, hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân : Sau khi thực hiện việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, chế độ tài sản vợ chồng pháp định vẫn tồn tại. Nếu vợ chồng không có thỏa thuận nào khác, tài sản đã được chia là tài sản riêng của vợ, chồng, đồng thời hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sau khi việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có hi ệu lực cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Trường hợp vợ chồng mới chỉ chia một phần tài sản chung, thì tài sản chưa chia sẽ vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm mất đi nghĩa vụ của của vợ chồng đối với người thứ ba đối với những giao dịch được xác lập trước thời điểm chia tài sản chung có hiệu lực Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Thứ năm, chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Bên cạnh việc dự liệu quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân , Luật HN&GĐ năm 2014 còn dự liệu trường hợp sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực, có nhiều cặp vợ chồng vì lý do nào đó lại muốn chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Điều 41 Luật HN&GĐ quy định vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Thỏa thuận giữa hai vợ chồng về việc chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong trường hợp tài sản được chấm dứt hiệu lực là tài sản mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chấm dứt đó có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định. Đối với trường hợp vợ chồng yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.
Sau khi thỏa thuận về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung có hiệu lực, phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng được quy định tại mục 1.1 và mục 2.1 chương này.
Đối với quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung thì vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- b) Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.
Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết hoặc kể từ ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Việc giải quyết tài sản trong trường hợp một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được thực hiện theo quy định tại Điều 66 Luật HN&GĐ năm 2014, cụ thể như sau:
Về việc xác định người quản lý tài sản, trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên vợ, chồng còn sống sẽ quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp người vợ, chồng đã chết để lại di chúc trong đó chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
Về quyền yêu cầu, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia theo yêu cầu của một bên vợ, chồng còn sống hoặc theo yêu cầu của những người thừa kế tài sản của người vợ, chồng đã chết. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về quy định hạn chế phân chia di sản, trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ, chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của BLDS. Điều 686 BLDS năm 2005 quy định: Nếu việc chia di sản của người vợ, chồng đã chết làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ, chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng tạm ngừng phân chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn tạm ngừng phân chia di sản không được quá ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế, khi hết thời hạn này hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế [29, Điều 686].
Khoản 4 Điều 66 Luật HN &GĐ năm 2014 quy định: “Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác” [38, khoản 4 Điều 66].
Luật cũng dự liệu trường người vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết lại trở về, theo đó, quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết theo Điều 67 Luật HN&GĐ năm 2014; nếu hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực. Đối với những tài sản do vợ, chồng có được trong khoảng thời gian từ khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó. Nếu hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như trường hợp phân chia tài sản khi ly hôn.
Qua những phân tích trên đây, có thể thấy rằng, việc phân chia tài sản chung khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được thực hiện theo nguyên tắc chia đôi mỗi người một nửa mà không tính đến hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập, cũng như không tính đến lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Nguyên tắc này trái ngược hoàn toàn với nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoặc chi tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- c) Chia tài sản chung của vợ chồng khi li hôn Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Trong xã hội hiện nay, ly hôn là một vấn đề tương đối phổ biến . Ly hôn có thể do vợ chồng thỏa thuận hoặc do một bên vợ chồng yêu cầu.
- Nguyên tắc chia tài sản chung vợ chồng
Về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn, Tòa án dự trên những căn cứ pháp lý để xác định tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng vẫn thuộc quyền sở hữu của vợ, chồng. Đối với tài sản chung được phân chia theo quy định của pháp luật. Việc phân chia tài sản chung được thực hiện theo những nguyên tắc sau đây:
Trước hết, trên cơ sở tôn trọng quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng pháp định thì việc phân chia tài sản do vợ, chồng thỏa thuận; nếu vợ, chồng không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết việc phân chia tài sản theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, phân chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật dựa trên nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng [38, khoản 2 Điều 59]
Về quy định chia tài sản chung của vợ chồng có tính đến lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, Tòa án sẽ xem xét người vợ, chồng nào có lỗi, lỗi nhiều hơn sẽ nhận được tài sản ít hơn. Bởi vì trong thực tế, có rất nhiều gia đình, một bên vợ, chồng chăm chỉ làm ăn, phát triển khối tài sản chung của vợ chồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, trong khi đó bên kia lại không những không gây dựng, phát triển khối tài sản chung của vợ chồng, không chăm sóc, nuôi dưỡng con cái mà còn cố tình phá tán tài sản, cờ bạc, gây nợ nần, có hành vi bạo lực gia đình, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của người kia hoặc có hành vi ngoại tình, vi phạm chế độ một vợ một chồng… Trong trường hợp này, nếu người có lỗi, lỗi nhiều vẫn được nhận phần tài sản ngang bằng với người không có lỗi, lỗi ít hơn là không công bằng.
Thứ ba, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia bằng hiện vật, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì có nghĩa vụ thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Thứ tư, trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn tài sản riêng vào khối tài sản chung, khi vợ, chồng yêu cầu chia tài sản thì người có tài sản riêng đã sáp nhập, trộn lẫn vào tài sản chung sẽ được thanh toán phần giá trị tài sản đã đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Thứ năm, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Điều này có nghĩa là, khi phân chia tài sản chung của vợ chồng phải ưu tiên các đối tượng là phụ nữ, con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, vì đây là các đối tượng yếu thế trong xã hội, không thể tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, mà cần được pháp luật bảo vệ.
- Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình
Theo truyền thống văn hóa gia đình của Việt Nam, gia đình thường bao gồm nhiều thế hệ chung sống với nhau. Vợ chồng cùng đại gia đình lao động, tạo ra khối tài sản chung của gia đình để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình. Do đó, rất khó xác định được tài sản chung của vợ chồng trong khối tài sản của đại gia đình. Trong trường hợp này, khi vợ chồng ly hôn việc phân chia tài sản chung của vợ chồng nếu áp dụng những nguyên tắc trên thì không giải quyết được. Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định như sau:
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được phần tài sản của vợ chồng, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo những nguyên tắc đã nêu trên. Nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ, chồng được chi,a một phần trong khối tài sản chung của gia đình trên cơ sở công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung, vào đời sống chung của gia đình.
Việc chia một phần trong khối tài sản chung, trước hết, do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; khi không thỏa thuận được thì mới yêu cầu Tòa án giải quyết. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
- Chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Xuất phát từ quan điểm đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá và có những tính chất đặc biệt, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất của đất đai. Nhà nước quy định mỗi loại đất đai tương ứng với một mục đích sử dụng riêng và con người chỉ có quyền sử dụng đất. Do đó, mọi vấn đề liên quan đến đất đai, quyền sử dụng đất đều được điều chỉnh bởi những quy định riêng biệt. Quy định về việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng đã được dự liệu thành Điều 62 Luật HN&GĐ năm 2014. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng được thực hiện như sau:
Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản: Trên cơ sở đảm bảo đất được sử dụng đúng mục đích, khi phân chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất này, trước hết phải căn cứ vào nhu cầu và khả năng của hai bên vợ, chồng. Cụ thể là: nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện để trực tiếp sử dụng đất thì việc phân chia quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản đó do vợ chồng thỏa thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án phân chia theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng đã nêu ở trên. Còn nếu chỉ một bên vợ, chồng có nhu cầu và có điều kiện để trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng quyền sử dụng đất; đồng thời, phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà đáng nhẽ họ được hưởng.
Trong trường hợp quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản là tài sản chung của vợ, chồng trong khối tài sản chung của cả hộ gia đình, thì phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và cũng được phân chia như quy định nêu trên.
Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở: quyền sử dụng đất đối với những loại đất này được chia theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng đã nêu ở trên. Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.
Trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình.
Trong việc giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn, pháp luật còn dự liệu một số trường hợp đặc biệt nhằm để vợ chồng sau khi ly hôn có thể ổn định cuộc sống. Đó là quyền lưu cư của vợ, chồng trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên vợ, chồng đã được đưa vào sử dụng chung, khi ly hôn nhà ở vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó nhưng nếu người kia có khó khăn về chỗ ở thì có quyền lưu cư lại, thời gian lưu cư không quá 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt (trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác) [38, Điều 63]. Ngoài ra, trường hợp vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác [38, Điều 64].
2.2.2. Quy định về tài sản riêng của vợ chồng Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Điều 16 Luật HN&GĐ năm 1986, bên cạnh việc ghi nhận tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng còn khẳng định vợ chồng có tài sản riêng và người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Tương tự, tại khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy định tài sản riêng của vợ, chồng được điều luật liệt kê bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân; đồ dùng; tư trang cá nhân.
Tiếp thu và kế thừa các quy định và tinh thần của Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 16), Luật HN&GĐ năm 2000 (Điều 32), Luật HN&GĐ năm 2014 (Điều 43) tiếp tục ghi nhận và dự liệu về chế độ tài sản riêng của vợ chồng một cách đầy đủ và cụ thể hơn so với các văn bản trước đó (Luật HN&GĐ các năm 1986, năm 2000), đặc biệt là phần căn cứ xác lập tài sản riêng.
Việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng là một cơ chế pháp lý bảo đảm quyền sở hữu cá nhân của vợ, chồng; bảo vệ những lợi ích về tài sản mà mỗi cá nhân vợ, chồng được hưởng và được pháp luật bảo hộ.
2.2.2.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng
So với quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật HN&GĐ năm 2000, Điều 43 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định cụ thể hơn, về căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng. Theo đó, tài sản riêng của vợ, chồng được xác lập dựa trên cơ sở: Tài sản phát sinh trước thời kỳ hôn nhân; dựa vào ý chí định đoạt tài sản của người để lại di sản thừa kế, người tặng cho tài sản cho vợ, chồng; tài sản riêng có được trên sự kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng; tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng; khối tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- a) Tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Trước khi kết hôn, mỗi bên vợ chồng với tư cách là các cá nhân tham gia các hoạt động lao động, sản xuất, học tập, kinh doanh … để tạo ra tài sản trước hết để nuôi sống bản thân, tạo lập cuộc sống, giúp đỡ người thân, sau đó là xây dựng cho mình một phần vốn liếng làm hành trang để bước vào cuộc sống mới, trong đó có cả cuộc sống hôn nhân. Tài sản của mỗi bên có trước khi kết hôn có thể là những thu nhập từ lao động, từ hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp; có thể do người khác chuyển dịch quyền sở hữu thông qua các giao dịch hợp pháp. Những thu nhập này được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Xét về bản chất kinh tế cũng như bản chất pháp lý thì những tài sản đó phải thuộc tài sản riêng của vợ, chồng và có được từ chính sức lao động của họ tạo nên. Những tài sản này không chịu sự tác động bởi tính chất cộng đồng của “đời sống hôn nhân”và lợi ích chung của gia đình.
Tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn thuộc tài sản riêng mỗi người là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ cộng đồng tạo sản, được ghi nhận không chỉ trong Luật HN&GĐ Việt Nam mà còn trong pháp Luật HN&GĐ của các nước như Cộng hòa Pháp (Điều 1405 BLDS), Thái Lan (Điều 1471 BLDS và Thương mại), Nhật Bản (Điều 762 BLDS).
- b) Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
Quyền thừa kế là quyền công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Xét về nguồn gốc, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng. Tài sản này được định đoạt dựa trên ý chí của người để lại di sản thừa kế và người tặng cho tài sản mong muốn cho một bên vợ hoặc chồng được quyền sở hữu những tài sản mà mà mình là chủ sở hữu. Thông thường, các trường hợp hợp vợ, chồng được nhận di sản thừa kế và được tặng cho tài sản từ chính những người thân trong gia đình, bạn bè của vợ, chồng. Có thể đó là những tài sản cha mẹ, bạn bè mỗi bên tặng cho riêng con cái, bạn bè của mình trong ngày cưới hoặc trong một nhân dịp nào đó. Những tài sản đó cũng có thể là những tài sản do cha, mẹ, ông, bà, những người thân khác của vợ, chồng khi chết đi đã có mong muốn và để lại một phần hoặc toàn bộ di sản của mình cho con, cháu của họ. Đây là những tài sản có được không phải do vợ, chồng tạo ra trong quá trình chung sống với nhau nên nó không phải là tài sản chung của vợ chồng trừ khi vợ chồng có thỏa thuận nhập những tài sản này vào khối tài sản chung của vợ chồng. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản mình được thừa kế riêng, tặng cho riêng theo nhu cầu và mục đích cá nhân vợ, chồng. Trong trường hợp vợ, chồng được tặng cho chung, thừa kế chung tài sản nhưng trong đó có xác định kỷ phần được hưởng riêng của mỗi bên thì tỷ lệ phần tài sản được xác định trên cơ sở tài sản được thừa kế chung, được tặng cho chung được xác định là tài sản riêng của vợ, chồng.
- c) Tài sản riêng của vợ chồng gồm những tài sản vợ chồng có được trên cơ sở chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân về bản chất là sự dịch chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng sang thành khối tài sản riêng của mối bên vợ, chồng nhưng không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng luật định. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng [38, Khoản 2 Điều 43].
Như vậy, khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản riêng của vợ, chồng không chỉ có phần tài sản mà mỗi bên được chia trong khối tài sản chung đó mà ngay cả những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ chính tài sản riêng được chia và những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ chồng cũng được pháp luật xác định là tài sản riêng của vợ, chồng.
- d) Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Mọi cá nhân, trong đó có vợ, chồng đều cần có những đồ dùng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình. Do đó, trên cơ sở đảm bảo quyền tự do cá nhân và cuộc sống riêng tư của vợ, chồng, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định những tài sản phụ vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng. Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng là tài sản nhằm phục vụ những nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, ví dụ: quần áo, giày dép, đồ dùng phục vụ cho nghề nghiệp…
Trước đây, khi quy định về tài sản riêng của vợ, chồng, thay vì sử dụng khái niệm “tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng”, Luật HN&GĐ năm 2000 sử dụng khái niệm “đồ dùng, tư trang cá nhân”. Tất cả những tài sản là tư trang cá nhân đều là tài sản riêng của vợ, chồng mà không xem xét đến nguồn gốc của đồ dùng, tư trang cá nhân đó được mua sắm bằng tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng; không xem xét đến giá trị của đồ dùng, tư trang cá nhân; không tính đến mục đích của đồ dùng, tư trang cá nhân có phục vụ trực tiếp cho công việc, nghề nghiệp và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của cá nhân. Người vợ, chồng quản lý, sử dụng tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân sẽ được xác định là chủ sở hữu tài sản đó. Quy định này rõ ràng là không phù hợp, đã tạo khe hở cho vợ hoặc chồng chuyển dịch trái phép tài sản chung sang tài sản riêng, gây thiệt hại cho bên vợ, chồng còn lại. Bên cạnh đó, theo văn hóa truyền thống của người Việt, trong thực tế hầu hết gia đình nào cũng tặng, cho con cái các loại tư trang vào ngày cưới, văn hóa cất giữ tiền bạc thông qua các loại tư trang thì việc quy định tư trang là tài sản riêng của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2000 đã tạo ra sự không công bằng trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa vợ, chồng về đồ dùng, tư trang cá nhân [27, tr. 140 – 143].
Khắc phục những hạn chế của Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 bỏ khái niệm đồ dùng, tư trang cá nhân và thay thế bằng khái niệm tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng. Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng được xác định căn cứ đặc điểm và công dụng của tài sản. Việc quy định những tài sản này là tài sản riêng của vợ, chồng nhằm mục đích bảo đảm nhu cầu thiết yếu của mỗi người để duy trì cuộc sống.
Như vậy, quy định tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng là một trong những điểm mới quan trọng trong chế độ tài sản vợ chồng pháp định nói chung và quy định về tài sản riêng của vợ, chồng nói riêng, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết những tranh chấp về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng mà Luật HN&GĐ năm 2000 chưa giải quyết được. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
- e) Tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng
Theo khoản 2 Điều 43 Luật HN&GĐ năm 2014, tài sản riêng của vợ chồng còn bao gồm “tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng”.
Điều 11 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định về tài sản khác mà theo quy định của pháp luật là tài sản riêng của vợ, chồng như sau:
- Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.
- Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.
- Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ gồm: tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính [38, Khoản 1 Điều 20]. Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác như tiền được bồi thường trong tranh chấp lao động khi Tòa án giải quyết; tiền được bồi thường khi bị người khác hủy hoại tài sản riêng, sau đó kiện đòi bồi thường và được Tòa án giải quyết…. Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng như trợ cấp tiền tuất hàng tháng; trợ cấp thờ cúng liệt sĩ…[37, Điều 9]. Quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng như tiền được bồi thường thiệt hại về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự khi vợ, chồng bị xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm… Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Sở dĩ pháp luật HN&GĐ quy định những tài sản trên thuộc sở hữu riêng của vợ chồng vì căn cứ vào nguồn gốc tài sản và tính chất đặc biệt của những tài sản này là tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng. Đây là một điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 so với những văn bản luật HN&GĐ trước đây. Luật HN&GĐ năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm: gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng trong trường hợp chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; đồ dùng, tư trang cá nhân, ngoài ra Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 bổ sung thêm thành phần khối tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản mà người có công cách mạng được nhận trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của người đó. Như vậy, pháp luật HN&GĐ trước Luật HN&GĐ năm 2014 hoàn toàn không nhắc đến các loại tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng như quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, các khoản trợ cấp…
Có thể thấy rằng, quy định tài sản khác mà theo quy định của pháp luật là tài sản riêng của vợ, chồng không chỉ đơn giản là dự liệu cho các trường hợp mà pháp luật chưa dự liệu hết mà quy định này bổ sung đầy đủ các tài sản mà theo quy định là tài sản riêng của vợ, chồng. Quy định này có ý nghĩa to lớn khẳng định nhận thức toàn diện trong quá trình lập pháp nói chung và xây dựng, hoàn thiện pháp luật HN&GĐ nói riêng, góp phần tạo ra hệ thống pháp lý vững chắc cho việc áp dụng pháp luật.
2.2.2.2. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng
Điều 44 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng như sau:
- Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
- Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.
- Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
- Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.
Với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản, vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình.
Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản [29, Điều 182]. Theo đó, vợ, chồng tự mình nắm giữ và quản lý tài sản riêng của mình. Vợ, chồng được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản nhưng không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Quyền chiếm hữu tài sản riêng của vợ, chồng không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian [29, Điều 184]. Đối với trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản [38, khoản 2 Điều 44].
Quyền sử dụng tài sản là khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản [29, Điều 192]. Vợ, chồng có toàn quyền sử dụng tài sản riêng cuả mình thông qua việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác [29, Điều 193]. Đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng thì cả hai vợ chồng đều hưởng hoa lợi, lợi tức trong trường hợp này.
Quyền định đoạt tài sản là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó [29, Điều 195]. Ví dụ như: vợ, chồng quyết định tặng cho, chuyển nhượng, trao đổi, cho vay, mượn, để thừa kế…tài sản riêng của mình cho người khác. Về cơ bản, vợ, chồng thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản riêng của mình chỉ theo ý chí của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của bên vợ, chồng kia hoặc của người thứ ba. Tuy nhiên, do tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn nhân, pháp luật quy định về việc hạn chế quyền định đoạt của vợ, chồng đối với tài sản riêng như sau: “Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ” [38, khoản 4 Điều 44]. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình có nghĩa là hoa lợi, lợi tức đó cần phải có thì gia đình mới tồn tại được, hay nói cách khác nếu không có những hoa lợi, lợi tức đó thì cuộc sống của gia đình không thể duy trì. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
2.2.2.3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng
Bên cạnh việc cho phép vợ, chồng có những quyền năng đối với tài sản riêng thì pháp luật cũng quy định những nghĩa vụ riêng mà vợ, chồng có trách nhiệm thực hiện liên quan đến tài sản riêng của mỗi bên.
Điều 45 Luật HN & GĐ quy định về nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng như sau:
Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.
Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng trước khi kết hôn là những nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng được xác lập trước thời điểm vợ chồng đăng ký kết hôn. Nghĩa vụ này có thể là những khoản nợ mà vợ, chồng đã vay trước khi kết hôn; nghĩa vụ bồi thường ngoài hợp đồng của vợ chồng trước khi kết hôn; nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự mà vợ chồng đã xác lập trước khi kết hôn… Nói chung tất cả những nghĩa vụ của vợ, chồng được xác lập trước thời điểm vợ chồng đăng ký kết hôn đều là nghĩa vụ riêng của vợ chồng và phải được đảm bảo bằng tài sản riêng của vợ, chồng.
Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng là trường hợp vợ, chồng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình có phát sinh nghĩa vụ thì nghĩa vụ này là nghĩa vụ riêng của vợ, chồng. Ví dụ: vợ, chồng thuê người quản lý tài sản cho mình có nghĩa vụ trả tiền thuê; thuê người sửa, tôn tạo lại nhà là tài sản riêng; trao đổi tài sản phải bù thêm tiền… Luật HN&GĐ năm 2014 quy định những nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng như đã nêu trên là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.
Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình. Đó là những nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên thực hiện vì mục đích riêng như vay tiền để đầu tư kinh doanh riêng; mua sắm tài sản mà không phải phục vụ cho nhu cầu của gia đình… Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng là trường hợp vợ, chồng có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho xã hội, cho người khác phải bồi thường; hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền, buộc khôi phục tình trạng ban đầu… Ví dụ như vợ, chồng có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác hoặc có hành vi phá hoại tài sản của người khác thì phải bồi thường thiệt hại, khi đó nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng.
Như vậy, so với Luật HN&GĐ năm 2000 thì Luật HN&GĐ năm 2014 quy định đầy đủ, cụ thể hơn. Luật HNGĐ năm 2000 quy định nghĩa vụ về tài sản riêng của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó nhưng không xác định cụ thể nghĩa vụ nào là nghĩa vụ riêng của vợ, chồng. Điều này gây ra khó khăn và vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật, không đảm bảo việc hiểu và áp dụng pháp luật một cách thống nhất. Để khắc phục thiếu sót của Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 đã liệt kê cụ thể các nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng tại một điều luật riêng (Điều 45).
Luật HN&GĐ năm 2014 bỏ quy định “Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” tại khoản 4 Điều 33 Luật HNGĐ 2000. Vì việc sử dụng cụm từ “cũng được” dẫn đến những cách hiểu khác nhau: Tài sản riêng của vợ, chồng được đưa vào sử dụng vì các nhu cầu thiết yếu của gia đình là quyền hay nghĩa vụ của vợ chồng?
Tôi cho rằng, điều này là hợp lý, vì nếu là nghĩa vụ thì trường hợp họ không đưa vào sử dụng chung thì họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý gì từ việc không tuân thủ quy định của pháp luật. Khi đó, có chế tài gì để một bên vợ hoặc chồng có thể sử dụng để yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ hay không? Nếu đây được xem là quyền của bên có tài sản riêng thì thật sự quy định này không có tính khả thi. Ngoài ra, một vấn đề khác là nếu cả vợ và chồng đều có tài sản riêng thì việc đưa tài sản riêng vào dùng chung theo tỷ lệ đóng góp là bao nhiêu? Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Tuy nhiên, khi liệt kê những nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng, Điều 45 Luật HN&GĐ lại không quy định về nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng ví dụ như các khoản chi phí (nuôi dưỡng, giáo dục) đối với con riêng, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 57: “Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình” [38, khoản 1 Điều 57]; hoặc khoản chi phí phát sinh từ việc người vợ, chồng làm người giám hộ cho người khác… Theo tôi, đây là một thiếu sót của Luật HN&GĐ năm 2014, sự thiếu sót này nếu như không được khắc phục sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vào đời sống. Do đó, thiết nghĩ cần bổ sung nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng trong quy định về nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng.
2.2.2.4. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung
Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng. Trước đây, Luật HN&GĐ năm 2000 không có điều luật riêng quy định về nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung được thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ:
- Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật HN&GĐ phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng. Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.
- Việc nhập tài sản riêng của một bên vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ riêng của bên đó về tài sản thì vô hiệu theo quy định tại Điều 11 của Nghị định này. [10, Điều 13].
Nhưng trong thực tế có rất nhiều gia đình, việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung không được lập thành văn bản kể cả những tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn. Khi gia đình hòa thuận, êm ấm, vợ chồng mặc nhiên coi tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản chung vì nhu cầu sống chung của gia đình mà không có bất cứ thỏa thuận về việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung hoặc có trường hợp người có tài sản riêng chỉ tuyên bố bằng miệng là nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung. Nhưng khi vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp tài sản phát sinh, người có tài sản riêng lại khẳng định rằng mình chưa nhập tài sản riêng đó vào tài sản chung. Hoặc trường hợp tài sản riêng được đưa vào sử dụng chung, trong quá trình sử dụng bị hủy hoại, tiêu tán, được bán đi để phục vụ nhu cầu của gia đình… khi xảy ra tranh chấp người có tài sản riêng đó đòi bồi thường. Vậy, đối với những tài sản riêng của vợ, chồng đã được đưa vào sử dụng chung trong một thời gian dài có được coi là tài sản chung hay không? Nếu như căn cứ vào Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP để giải quyết thì chỉ trường hợp thỏa thuận được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng thì mới được công nhận, còn trường hợp dù tài sản đã được đưa vào sử dụng lâu năm nhưng chưa thỏa thuận bằng văn bản thì vẫn là tài sản riêng. Điều này vô tình tạo ra sự không công bằng, không hợp lý. Hơn nữa, việc xác định “tài sản có giá trị lớn” để áp dụng khoản 1 Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP cũng tạo ra không ít khó khăn, bất cập, phải hiểu như thế nào là tài sản có giá trị lớn, dẫn đến sự không thống nhất trong hoạt động xét xử. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung tại một điều riêng biệt. Cụ thể, việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng, về hình thức thỏa thuận chỉ trong trường hợp tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải đảm bảo hình thức đó [38, Điều 46].
Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định việc thỏa thuận nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung không bắt buộc phải theo một hình thức nhất định, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tuân theo hình thức nào đó ví dụ như quy định thỏa thuận phải bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép. Điều này có nghĩa là Luật HN&GĐ năm 2014 công nhận thỏa thuận bằng miệng, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của vợ chồng. Tôi cho rằng quy định này là hoàn toàn hợp lý, mở rộng quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng, bảo đảm quyền lợi của vợ, chồng trong quan hệ tài sản, tạo sự linh hoạt trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp trong thực tế.
Khi quy định về quyền nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung, pháp luật cũng dự liệu trường hợp giải quyết nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung. Cụ thể là đối với những nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung thì được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2.3. Chế độ hôn sản theo thỏa thuận Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Trong số các điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014, lần đầu tiên chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận được chính thức ghi nhận trong pháp luật HN&GĐ của nước ta. Như vậy, theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 không còn tồn tại một chế độ hôn sản duy nhất được công nhận là chế độ hôn sản luật định mà hiện nay còn ghi nhận thêm chế độ hôn sản theo thỏa thuận. Đây là quy định mang tính đột phá, đổi mới, tạo điều kiện cho vợ chồng tự do thỏa thuận, quyết định và tự định đoạt đối với tài sản của mình trước khi kết hôn cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi bên.
2.3.1. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng
Mặc dù chế độ hôn sản ước định đã được nhiều nước áp dụng trong thực tế, nhưng đến nay vẫn cồn có những quan điểm khác nhau liên quan đến loại chế định này. Nhiều ý kiến cho rằng không gì giết chết sự lãng mạn vợ chồng bằng hôn ước. Đối với các cặp đôi thật sự yêu thương nhau, hôn nhân là để gắn bó, chia sẻ mọi thứ quý giá như cuộc sống, thân thể, con cái… chứ không chỉ là tiền bạc. Mặt khác, nếu hai người vô tư đến với nhau không nghĩ ngợi đến hôn ước thì nhiều khả năng cuộc hôn nhân sẽ hạnh phúc và lâu bền hơn. Tuy nhiên, có quan điểm ngược lại khi cho rằng hôn ước hạn chế ly hôn vì nó giúp các cặp vợ chồng vượt qua bất đồng về tài chính ngay từ đầu; nói chuyện tiền bạc trước hôn nhân không phải dễ nhưng lại giúp tránh được rắc rối về sau, đồng thời giúp hạn chế các tổn thương về tài chính và cả cảm xúc mà một cuộc ly hôn (nếu buộc phải xảy ra) mang lại. Bên cạnh đó, có nhiều ý kiến cũng khuyên rằng những người có tài sản lớn và lập gia đình lần hai trở đi nên lập hôn ước và một người cần cân nhắc lập hôn ước trước khi kết hôn nếu sở hữu một cơ sở kinh doanh, bất động sản, dự đoán sẽ có một khoản thừa kế trong tương lai, thu nhập cao hơn nhiều so với người kia, có con từ các cuộc hôn nhân trước, có cha mẹ già phải nuôi dưỡng. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Như vậy, việc lựa chọn và xác lập chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là quyền của vợ, chồng được pháp luật hôn nhân gia đình ghi nhận tại khoản 1 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2014. Chế độ tài sản vợ chồng luật định không còn là chế độ tài sản duy nhất, đầu tiên được ưu tiên áp dụng cho quan hệ tài sản giữa vợ, chồng mà là giải pháp dự phòng được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định của Luật HN&GĐ (Điều 7 Nghị định số 126/2014/NĐ – CP).
2.3.1.1. Điều kiện về hình thức
Theo quy định tại Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014 thì thỏa thuận xác lập chế độ tài sản vợ chồng phải tuân thủ những điều kiện về mặt hình thức. Cụ thể như sau:
Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Về hình thức, thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng là sự thể hiện ý ý, nguyện vọng, quyền lợi cũng như trách nhiệm của vợ, chồng về vấn đề tài sản, do đó thỏa thuận này phải được vợ, chồng lập thành văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực. Thỏa thuận chỉ được lập bằng văn bản và có chữ ký của hai vợ chồng là chưa đủ, vì xét về mặt pháp lý văn bản này được lập trên cơ sở sự thỏa thuận, thỏa thuận này có được thực hiện hay không phụ thuộc vào sự tự nguyện tôn trọng và trách nhiệm của các bên. Nếu các bên không muốn, không thực hiện đúng những nội dung đã thỏa thuận thì không ai có thể ép buộc được họ vì không có cơ sở. Xét về mặt hình thức, nếu không công chứng hoặc chứng thực thì thỏa thuận đó không phù hợp với quy định của pháp luật và bị coi là không có giá trị do sai về hình thức. Do vậy, việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng được lập bằng văn bản và có công chứng hoặc chứng thực sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng cũng như đảm bảo cho vợ, chồng có trách nhiệm thực hiện đúng những nội dung đã thỏa thuận, hạn chế các tranh chấp xảy ra liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng trong thực tế.
2.3.1.2. Điều kiện nội dung
Về nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, theo quy định tại Điều 48 Luật HN&GĐ gồm có những nội dung sau: Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
- Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:
- Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;
- Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
- Nội dung khác có liên
- Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.
Theo đó, những điều kiện về mặt nội dung của thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm:
Thứ nhất, xác định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; những tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng. Trong văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, trước hết vợ, chồng cần xác định rõ những tài sản nào là tài sản riêng của mỗi bên và những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng. Vì khi xác định được phạm vi các loại tài sản, quyền sở hữu của mỗi bên thì vợ, chồng sẽ thỏa thuận và thống nhất được với nhau các quyền cũng như nghĩa vụ đối với từng loại tài sản.
Hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề xác định tài sản của vợ chồng trong nội dung thỏa thuận, khoản 1 Điều 15 Nghị định số 126/2014/NĐ – CP đã quy định như sau:
- Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây: Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
- Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
- Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
- Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
- Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.
Như vậy, khi xác định về trong nội dung thỏa thuận, vợ, chồng có thể xác định theo các nội dung sau: nếu giữa vợ và chồng có tài sản thì tài sản của vợ, chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng; giữa vợ và chồng không có tài sản riêng (tất cả tài sản có được trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung); giữa vợ và chồng không có tài sản chung (tất cả tài sản có được trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản riêng); hoặc được xác định theo thỏa thuận khác của vợ, chồng (ví dụ xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản chung).
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình. Trên cơ sở xác định nội dung về tài sản trong thỏa thuận trước đó vợ và chồng thỏa thuận về các quyền của mỗi bên đối với tài sản chung, tài sản riêng cũng như những nghĩa vụ riêng, nghĩa vụ chung về tài sản hai bên phải gánh chịu và những nhu cầu thiết yếu của gia đình sẽ được đảm bảo bằng tài sản chung hay tài sản riêng. Bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình là nghĩa vụ của vợ, chồng; trong trường hợp vợ chồng thỏa thuận tài sản bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình là tài sản chung nhưng tài sản chung không đủ thì vợ, chồng cần thỏa thuận việc có đóng góp tài sản riêng của mối bên và đóng góp bao nhiêu vào tài sản chung để đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho gia đình.
Thứ ba, điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng được lập trước khi kết hôn và có hiệu lực kể từ ngày vợ, chồng thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo trình tự, điều kiện và quy định của pháp luật. Xuất phát từ nhu cầu của mỗi bên, vợ chồng có thể thỏa thuận các điều kiện được đưa ra khi chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận và xác định trong những trường hợp nào một bên hoặc cả hai bên vợ chồng có quyền yêu cầu chấm dứt chế độ tài sản này. Khi chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận, tài sản sẽ được chia cho vợ chồng theo thủ tục (thỏa thuận hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết) theo thỏa thuận của vợ chồng và nguyên tắc chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản đó. Về nguyên tắc tài sản có thể chia theo cách thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc theo nguyên tắc phân chia khác do hai vợ chồng tự thỏa thuận thống nhất với nhau. Và khi có tranh chấp xảy ra, việc giải quyết tranh chấp được ưu tiên áp dụng theo thỏa thuận của vợ chồng. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Thứ tư, ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, trong nội dung của thỏa thuận vợ, chồng có thể thỏa thuận những nội dung khác (ví dụ như vấn đề cấp dưỡng cho cha, mẹ, con …) liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mỗi bên.
Về tính hợp pháp của nội dung thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng. Thỏa thuận về tài sản của vợ, chồng phải phù hợp với quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; quy định về giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của gia đình và các giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Các quy định này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn là chế độ tài sản theo thỏa thuận hay chế độ tài sản luật định và nếu trong thoa thuận vi phạm các quy định trên thì người có quyền, lợi ích liên quan đến thỏa thuận đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định pháp luật. Là những quy tắc chung được áp dụng cho mọi trường hợp nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của gia đình, quyền lợi chính đáng của các bên liên quan, của vợ, chồng và ổn định trật tự về quan hệ tài sản của vợ chồng trong xã hội; quy định này cũng góp phần ngăn chặn những hạnh vi có mục đích không lành mạnh của vợ, chồng.
Không phải trong mọi trường hợp những nội dung cơ bản đều được vợ, chồng thỏa thuận đầy đủ trong văn bản. Có những vấn đề quan trọng nhưng có thể chưa trải qua thực tế nên vợ chồng không thể dự liệu được, hoặc có những trường hợp vấn đề đã được vợ, chồng thỏa thuận nhưng thỏa thuận này mang tính chung chung, không rõ ràng thì khi giải quyết tranh chấp sẽ không áp dụng theo nội dung trong thỏa thuận mà ưu tiên áp dụng dẫn chiếu các quy định về nguyên tắc chung của chế độ tài sản vợ chồng (các điều 29,30,31,32) và các quy định tương ứng của chế độ tài sản luật định (khoản 2 Điều 48 Luật HN&GĐ năm 2014).
2.3.1.3. Thỏa thuận về chế định hôn sản vô hiệu
Khoản 1 Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:
- Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;
- Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;
- Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Để làm rõ các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản bị vô hiệu Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
- “1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần.
- Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.
- Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.
- Tòa án quyết định tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu khi thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình và lưu ý một số trường hợp sau đây:
- Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm quyền được bảo đảm chỗ ở của vợ, chồng quy định tại Điều 31 và điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó cho phép một bên được quyền định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất của vợ chồng dẫn đến vợ, chồng không có chỗ ở hoặc không bảo đảm chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về nhà ở.
- Nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật hôn nhân và gia đình hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định.
Trong thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, pháp luật đã quy định rõ hình thức, nội dung cũng như điều kiện có hiệu lực của văn bản thỏa thuận. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, nếu được xác lập mới phải được lập trước khi kết hôn, được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật và có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn; nếu thỏa thuận được sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung sau khi đã kết hôn thì vợ chồng được sửa đổi, bổ sung trong thời kỳ hôn nhân và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung đó có hiệu lực kể từ ngày văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung được công chứng hoặc chứng thực. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng xét về bản chất là một giao dịch dân sự có sự tham gia của hai bên trong giao dịch. Theo quy định của Luật Dân sự, Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện [29, Điều 122]. Do đó, trong trường hợp thỏa thuận không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005 và các luật khác có liên quan thì thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị coi là vô hiệu, không có giá trị pháp lý [38, khoản 1 Điều 50].
Bên cạnh đó, khi xây dựng Luật HN&GĐ năm 2014, nhà làm luật đã xây dựng các nguyên tắc áp dụng cho chế độ tài sản của vợ chồng. Đây là những nguyên tắc chủ đạo, mang tính nền tảng và định hướng được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn (chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc chế độ tài sản luật định). Trong trường hợp một số vấn đề trong nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng chưa được thỏa thuận hoặc thỏa thuận chưa rõ ràng sẽ được áp dụng theo các quy định của nguyên tắc này (các điều 29, 30, 31, 32) của Luật HN&GĐ 2014 và các quy định tương ứng của chế độ tài sản luật định [38, khoản 2 Điều 48]. Nguyên tắc này được ưu tiên dẫn chiếu áp dụng trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến vấn đề tài sản của vợ chồng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ, chồng cũng như các thành viên trong gia đình; bảo vệ và củng cố mục tiêu xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, ấm no, hạnh phúc theo tinh thần của Luật HN&GĐ, chủ trương của Đảng và Nhà nước, nguyện vọng và nhân dân. Chỉ cần thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vi phạm một trong các quy định về nguyên tắc chung của chế độ tài sản của vợ chồng thì thỏa thuận đó bị coi là vô hiệu [38, khoản 1 Điều 50].
Ngoài ra, để bảo vợ quyền, lợi ích chính đáng; quyền được cấp dưỡng, nuôi dưỡng; quyền được thừa kế của cha, mẹ, con và các thành viên khác trong gia đình, khi vợ chồng xác lập thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng thì nội dung của thỏa thuận phải đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng; đảm bảo quyền được hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ, con và các thành viên khác trong gia đình. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác [38, khoản 2 Điều 107]. Những người có quyền cấp dưỡng là những người mà theo quy định của pháp luật có quyền được người khác nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật HN&GĐ.
Pháp lật cũng quy định, Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật [29.Điều 631]. Theo quy định trên thì bất kỳ người nào cũng có quyền được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật.
Do vậy, thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng sẽ bị vô hiệu nếu nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình [38, điểm c khoản 1 Điều 50].
Với quy định trên, pháp luật tạo điều kiện cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận định đoạt tài sản của mình nhưng vẫn phải đảm bảo các nghĩa vụ về tài sản mà vợ chồng phải gánh chịu với người thứ ba và các thành viên trong gia đình. Quy định này cũng góp phần ngăn chặn những thỏa thuận được vợ chồng xác lập nhằm mục đích không lành mạnh, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người có liên quan; góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng được pháp luật công nhận của cha, mẹ, con và của các thành viên khác trong gia đình.
2.3.2. Cung cấp thông tin về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong giao dịch với người thứ ba
Trong giao dịch với người thứ ba, có những loại tài sản đặc thù không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của pháp luật như tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán hay động sản do một bên chiếm hữu. Theo quy định của pháp luật trong giao dịch với người thứ ba ngay tình vợ, chồng đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó. Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Việc lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng luật định hoặc thỏa thuận sẽ dẫn đến những quyền cũng như nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng tương ứng với chế độ tài sản đó. Và người thứ ba, khi xác lập, thực hiện giao dịch với vợ, chồng cũng được pháp luật bảo vệ quyền lợi theo cơ chế tài sản hiện tại của vợ chồng.
Trong trường hợp chế độ tài sản áp dụng của vợ chồng là chế độ tài sản luật định, các cơ chế về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng được quy định rõ trong pháp luật và người thứ ba khi tham gia xác lập, thực hiện giao dịch trong trường hợp này có thể biết rõ tình hình tài chính cũng như phạm vi quyền, nghĩa vụ của mỗi bên đối với tài sản giao dịch, từ đó đưa ra lựa chọn có thể thực hiện hoặc không thực hiện giao dịch với vợ, chồng nếu như thấy bất lợi cho mình.
Trong trường hợp vợ, chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận để áp dụng trong quan hệ tài sản của vợ chồng, khi thực hiện giao dịch với người thứ ba, họ sẽ không thể biết hoặc vẫn lầm tưởng rằng chế độ tài sản của vợ, chồng trong giao dịch với mình là chế độ tài sản luật định, từ đó vẫn lựa chọn thực hiện những giao dịch gây bất lợi cho mình. Do đó, để minh bạch hóa thông tin, khả năng tài chính của vợ, chồng cũng như bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba trong giao dịch với vợ, chồng khi vợ chồng lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận mà xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba, vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan (đoạn 1 Điều 16 Nghị định số 126/2014/NĐ – CP). Những thông tin liên quan vợ chồng cần cung cấp cho người thứ ba biết có thể về quyền sở hữu, định đoạt tài sản của vợ; chồng, tài sản riêng, tài sản chung; quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với tài sản chung cũng như thẩm quyền xác lập giao dịch với người thứ ba của vợ, chồng… Cung cấp thông tin liên quan cho người thứ ba trong giao dịch với vợ, chồng biết được pháp luật quy định là nghĩa vụ của vợ, chồng; nếu vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay tình và vẫn được bảo vệ quyền lợi theo quy định của BLDS.
Trong giao dịch dân sự, người thứ ba ngay tình được hiểu là người chiếm hữu không có căn cứ pháp lý đối với tài sản nhưng không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật. Theo quy định tại Điều 138 BLDS thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ trong hai trường hợp. Thứ nhất, khi giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp chủ sở hữu đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật. Thứ hai, khi người thứ ba ngay tình nhận được bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
Như vậy, đối với trường hợp vợ, chồng lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì khi giao dịch với người thứ ba, vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp các thông tin liên quan cho người thứ ba biết. Trong trường hợp người thứ ba không biết, vẫn xác lập giao dịch, giao dịch bị vô hiệu vì bất kỳ lý do gì do vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình vẫn được pháp luật ưu tiên bảo vệ.
2.3.3. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Khi cho phép vợ chồng thỏa thuận xác lập hôn ước về chế độ tài sản cho riêng
họ, Luật cũng đặt ra các quy định về nghĩa vụ cụ thể của các bên vợ, chồng trong việc bảo đảm lợi ích chung của gia đình. Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm không chỉ những quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng đối với nhau mà còn cả các quan hệ về tài sản giữa vợ chồng với người thứ ba. Vì thế, bên cạnh việc cho phép xác lập hôn ước về chế độ tài của vợ chồng, pháp luật cũng cho phép vợ, chồng sửa đổi nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản.
Khoản 1 Điều 49 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định rõ: “Vợ, chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản”. Thỏa thuận hôn ước xác lập chế độ tài sản của vợ chồng phải được lập trước khi kết hôn, chỉ có hiệu lực từ thời điểm kết hôn và mang tính ổn định cao. Tuy nhiên xuất phát từ nhu cầu cuộc sống của vợ chồng, thỏa thuận hôn ước ra đời nhằm ảm bảo quyền định đoạt của vợ vợ chồng đối với tài sản cho nên pháp luật cho phép vợ, chồng sửa đổi, bổ sung thỏa thuận phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình và các quy định của pháp luật.
Về hình thức, việc sửa đổi, bổ sung thỏa thuận cũng như việc xác lập mới nội dung thỏa không chỉ liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của vợ, chồng mà còn liên quan đến quyền lợi của người thứ ba. Do đó, khi sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức chặt chẽ, phải được lập bằng văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật [38, khoản 2 Điều 48]. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
Về thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng, không giống như thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng là có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn mà không phải từ ngày công chứng hoặc chứng thực; thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật [11, khoản 1 Điều 18]. Trong thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng các nội dung được sửa đổi hoặc bổ sung thêm có thể được vợ chồng cùng nhau tiến hành sửa đổi, bổ sung trước sau đó mới mang đi công chứng hoặc chứng thực và ngày có hiệu lực của thỏa thuận sửa đổi, bổ sung không phải là ngày hai vợ chồng lập văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ dung mà là ngày văn bản đó được cơ quan có thẩm quyền công chứng hoặc chứng thực theo đúng thủ tục pháp luật quy định. Thời điểm phát sinh hiệu lực của thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng không phụ thuộc vào thời điểm vợ, chồng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung mà được tính kể từ thời điểm thỏa thuận sửa đổi, bổ sung đó được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.
Về hậu quả pháp lý của việc sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng, việc sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng không làm chấm dứt thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng mà chỉ làm thay đổi một số nội dung theo thỏa thuận của vợ chồng trước đó. Cũng giống như khi xác lập mới thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng, trong trường hợp vợ chồng có xác lập giao dịch với người thứ ba thì khi vợ, chồng sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận vợ, chồng vẫn phải đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết những thông tin liên quan; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì quyền lợi của người thứ ba vẫn được pháp luật bảo vệ theo quy định của BLDS [11, Điều 16, khoản 1 Điều 18].
Bên cạnh đó, để tránh tình trạng vợ, chồng lợi dụng việc sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự, sau khi thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng được sửa đổi, bổ sung thì các quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác [11, khoản 2 Điều 18].
Như vậy, dù thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng được xác lập mới hay được sửa đổi, bổ sung thì nó cũng chỉ làm thay đổi các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản của vợ, chồng theo thỏa thuận mà không làm thay đổi quyền cũng như các nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng đối với bên thứ ba có liên quan. Luận văn: Nội dung chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn chế độ hôn sản trong Luật hôn nhân gia đình

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
