Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng pháp luật hộ tịch
2.1.1. Ưu điểm của pháp luật hộ tịch
Sau khi giành được chính quyền vào tháng 8/1945, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch, các văn bản này thường xuyên được điều chỉnh, sửa đổi, bảo đảm phù hợp với thực tế. Đầu tiên là Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến Bản Điều lệ hộ tịch năm 1956 ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTg ngày 08/5/1956 của Chính phủ; tiếp theo đó là Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch năm 1961 ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961. Giai đoạn gần đây có các văn bản như Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và Gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch; Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực; Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Đến kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hộ tịch ngày 20/11/2014. Đây là lần đầu tiên có văn bản Luật quy định riêng về lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch sau hơn 60 năm thực hiện các văn bản dưới luật. Luật có nhiều quy định mới mang tính đột phá, “cách mạng” về: thẩm quyền đăng ký hộ tịch, phương thức đăng ký, quản lý hộ tịch, cải cách mạnh thủ tục hành chính. Để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; liên Bộ Ngoại giao – Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-BNG-BTP ngày 30/6/2016 hướng dẫn việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, bảo đảm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch được đồng bộ, thống nhất.
Trên cơ sở các văn bản pháp lý trên, với sự nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch đã tôn trọng quyền nhân thân của các cá nhân thực hiện việc đăng ký hộ tịch. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Có thể nói rằng, Luật Hộ tịch ra đời đã tạo bước đột phá về thể chế của công tác hộ tịch. Là cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, là cơ sở quan trọng để xây dựng hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.
- Điểm mới cơ bản của Luật Hộ tịch như sau:
Thứ nhất, Luật Hộ tịch năm 2014, đã quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn các nội dung đăng ký hộ tịch; đã phân định rõ sự kiện nào là Xác nhận vào Sổ hộ tịch, sự kiện nào là Ghi vào Sổ hộ tịch. Theo đó:
Xác nhận vào Sổ hộ tịch là xác nhận các sự kiện hộ tịch sau: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử.
Ghi vào Sổ hộ tịch là việc ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
- Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, theo quy định của Luật hộ tịch thì cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình tại nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống mà không phải phụ thuộc vào nơi cư trú như trước đây.
Cụ thể tại khoản 4 Điều 5 của Luật “cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Trường hợp cá nhân không đăng ký tại nơi thường trú thì Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Cơ quan đại diện nơi đã đăng ký hộ tịch cho cá nhân có trách nhiệm thông báo việc đăng ký hộ tịch đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân đó thường trú”. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Thứ ba, Luật phân định rõ thẩm quyền đăng ký hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài. Theo đó, ngoài việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú trong nước, xác định lại dân tộc thì Ủy ban nhân dân cấp huyện được giao thêm thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho giải quyết toàn bộ các việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài (trừ việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam).
Thứ tư, Luật quy định khi thực hiện đăng ký hộ tịch thì cá nhân có quyền lựa chọn 01 trong 03 phương thức đăng ký hộ tịch như sau:
- Nộp hồ sơ trực tiếp cho cơ quan đăng ký hộ tịch;
- Thông qua hệ thống bưu chính;
- Thông qua hệ thống đăng ký trực tuyến khi điều kiện cho phép.
Đây là điểm mới theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, minh bạch, hiện đại nhằm bảo đảm lợi ích của người dân.
Thứ năm, Luật quy định miễn lệ phí đăng ký hộ tịch cho các trường hợp sau:
- Người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật;
- Đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn, giám hộ, kết hôn của công dân Việt Nam cư trú trong nước.
Luật quy định thời hạn đăng ký khai sinh là trong vòng 60 ngày kể từ ngày sinh con; thời hạn đăng ký khai tử là trong vòng 15 ngày kể từ ngày có người chết.
Như vậy, nếu Cá nhân yêu cầu đăng ký sự kiện hộ tịch khác ngoài quy định nêu trên, yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch thì phải nộp lệ phí. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Thứ sáu, Luật quy định nội dung đăng ký khai sinh gồm: Thông tin của người được đăng ký khai sinh; thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh và số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh. Như vậy, khi đăng ký khai sinh, người được đăng ký khai sinh sẽ được cấp 01 mã số định danh cá nhân được ghi vào Giấy khai sinh và đây chính là số thẻ căn cước công dân của người đó khi đủ tuổi được cấp Thẻ căn cước công dân.
Đây là quy định mang tính đột phá trong công tác quản lý hộ tịch và quản lý dân cư, là tiền đề quan trọng tiến tới việc cắt giảm nhiều loại giấy tờ, tạo thuận lợi cho người dân khi tham gia giao dịch, thực hiện các thủ tục hành chính.
Thứ bảy, Luật quy định khi đăng ký hộ tịch, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ cấp 01 bản chính trích lục hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký hộ tịch, trừ việc đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn.
Như vậy, theo quy định của Luật Hộ tịch thì cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ cấp bản chính Giấy khai sinh, bản chính Giấy chứng nhận kết hôn và bản chính trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch của người yêu cầu đăng ký.
Bên cạnh đó, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi có nhu cầu cấp bản sao, Luật cũng quy định “cá nhân không phụ thuộc vào nơi cư trú có quyền yêu cầu Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch của mình đã được đăng ký”.
Thứ tám, Luật quy định xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là cơ sở dữ liệu ngành, được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch để lưu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân (cùng với cơ sở dữ liệu giấy), kết nối để cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Theo đó, các sự kiện hộ tịch của cá nhân ngay sau khi đăng ký vào Sổ hộ tịch đều phải được cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; các Bộ, ngành, địa phương sử dụng thông tin công dân từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để phục vụ công tác quản lý của Bộ, ngành, địa phương mình, cũng như giải quyết thủ tục hành chính cho người dân.
Tuy nhiên Luật cũng quy định rõ trong trường hợp thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư khác với thông tin trong Sổ hộ tịch thì phải điều chỉnh cho phù hợp với Sổ hộ tịch; đồng thời “Cơ sở dữ liệu hộ tịch được quản lý, bảo mật, bảo đảm an toàn; chỉ những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền mới được tiếp cận và khai thác theo quy định của pháp luật”.
Thứ chín, nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ làm công tác hộ tịch, tăng cường trách nhiệm và tính chuyên nghiệp, hạn chế sai sót, vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, Luật quy định rõ tiêu chuẩn, trình độ, nhiệm vụ, quyền hạn của công chức làm công tác hộ tịch, kể cả những việc công chức làm công tác hộ tịch không được làm.
2.1.2. Những hạn chế của thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Luật Hộ tịch đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua và hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật ra đời đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch từng bước ổn định và đi vào nề nếp, cơ sở vật chất từng bước được cải thiện.
Các cơ quan thực hiện việc đăng ký hộ tịch đã ý thức được trách nhiệm của mình, người dân đã nhận thức tầm quan trọng của giấy tờ hộ tịch nên không tùy tiện sửa chữa, thêm, bớt; tự giác thực hiện đi đăng ký các sự kiện hộ tịch theo đúng thời gian quy định của pháp luật. Công chức Tư pháp – hộ tịch cấp xã đã xác định được tầm quan trọng của công tác này nên đã tuân thủ trình tự, thủ tục của Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành; thường xuyên tham gia tập huấn, tự nghiên cứu, học hỏi để nâng cao kỹ năng giải quyết công việc với từng tình huống cụ thể, tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hộ tịch góp phần làm giảm đáng kể các vụ việc khiếu nại, tố cáo về hộ tịch. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đăng ký hộ tịch ở địa phương gặp những khó khăn, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, về thẩm quyền đăng ký hộ tịch: Luật Hộ tịch chưa quy định cụ thể như thế nào là “định cư ở nước ngoài” nên đã gây khó khăn trong việc phân định thẩm quyền giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện. Cụ thể, Luật Hộ tịch quy định về thẩm quyền đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân huyện như sau:
Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài. và theo Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Vậy thế nào là “sinh sống lâu dài ở nước ngoài”, hiện nay Luật Quốc tịch, Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa hướng dẫn cụ thể vấn đề này.
Thứ hai, về đăng ký khai sinh: Luật Hộ tịch không quy định công dân được cấp lại bản chính giấy khai sinh. Qua thực tế, quy định này gây khó khăn cho công dân, bởi vì, một số cơ quan, đơn vị vẫn yêu cầu có bản chính để đối chiếu. Mặt khác tâm lý của người dân luôn muốn có bản chính giấy khai sinh, do đó nhu cầu cấp lại bản chính giấy khai sinh của người dân là rất cần thiết. Đề nghị nên sửa đổi Luật Hộ tịch cho phép Ủy ban nhân dân cấp huyện được cấp lại bản chính giấy khai sinh như quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP trước đây. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 15/2015/TT-BTP về việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có cha hoặc mẹ là Công dân Việt Nam hoặc cha và mẹ đều là công dân Việt Nam, chưa được đăng ký khai sinh ở nước ngoài, về cư trú tại Việt Nam thì phải nộp các giấy tờ chứng minh việc trẻ em đã nhập cảnh vào Việt Nam (như: Hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế có dấu xác nhận nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh và văn bản xác nhận của cơ quan công an có thẩm quyền về việc trẻ em đang cư trú tại Việt Nam). Tuy nhiên, có một số trường hợp trẻ em sinh ra ở nước ngoài tại các nước láng giềng như Lào khi đưa con về cư trú tại Việt Nam thường không thực hiện các nguyên tắc, thủ tục theo quy định về xuất nhập cảnh để xin hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế mà đưa con về cư trú tại Việt Nam theo đường dân sinh, do đó khi đăng ký khai sinh cho con không có các giấy tờ chứng minh trẻ em đã nhập cảnh vào Việt Nam.
- Thứ ba, về đăng ký lại khai sinh: Tại Điểm c Khoản 1 Điều 26 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định:
Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha – con, mẹ – con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý.
Quy định như trên chỉ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang, còn một số đối tượng khác như hưu trí, thương binh hay những người làm việc trong các Công ty, Tổng Công ty thì không được áp dụng quy định nêu trên. Trong khi họ cũng cần thống nhất giữa giấy tờ tùy thân và hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý.
Tại Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01/01/2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại. Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định về điều kiện bản chính vẫn còn nhưng bị hư hỏng, rách nát thì có được đăng ký lại hay không. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Theo quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành thì Giấy Đăng ký khai sinh lại được xem như Giấy Đăng ký khai sinh gốc. Nhưng trên thực tế không có Điều, Khoản nào quy định nội dung này nên trong quá trình thực hiện cơ quan Công an không căn cứ vào Giấy Đăng ký khai sinh lại để thay đổi chứng minh nhân dân. Điều này đã gây khó khăn cho các cơ quan đăng ký hộ tịch trong việc giải quyết, hướng dẫn cho người dân thống nhất các nội dung liên quan đến vấn đề nhân thân của bản thân.
Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì hồ sơ đăng ký lại khai sinh gồm “Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh” nhưng nội dung cam đoan này không có trong mẫu Tờ khai. Việc cam đoan này được thực hiện như thế nào, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này.
Thứ tư, về đăng ký khai tử: Khoản 1 Điều 34 Luật Hộ tịch quy định: “Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay thế giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch”. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì Bộ Y tế hướng dẫn các cơ sở y tế thực hiện việc cấp giấy chứng sinh, giấy báo tử. Tuy nhiên, hiện tại chưa có văn bản quy định cụ thể về mẫu giấy báo tử nên gây lúng túng cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện cấp giấy báo tử cho người chết trên địa bàn, cũng như trong việc thực hiện đăng ký khai tử.
- Điều 32 Luật Hộ tịch quy định:
UBND cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.
Điểm đ Khoản 2 Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định như sau: Đối với người chết không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các Điểm a, b, c và d của Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết có trách nhiệm cấp Giấy báo tử.
Quy định cấp Giấy báo tử như vậy chỉ phù hợp với trường hợp người chết nằm ngoài địa bàn cư trú, còn trường hợp người chết tại nơi cư trú là không phù hợp vì Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của người chết vừa cấp giấy báo tử vừa đăng ký khai tử làm tăng thêm thủ tục không cần thiết. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Thứ năm, về đăng ký nhận cha, mẹ, con: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định về chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau:
Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng [3, Điều 15].
Thực tế có trường hợp vì khó khăn về kinh tế, cá nhân có yêu cầu không thể liên hệ cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền để xác nhận quan hệ cha con, mẹ con hoặc họ cũng không còn người thân thích để làm chứng. Do đó, quá trình tiếp nhận, giải quyết yêu cầu trong trường hợp này, cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu công dân cung cấp chứng cứ theo quy định tại Khoản 2 nêu trên, tuy nhiên cơ quan đăng ký gặp lúng túng khi xác định giá trị của thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng chứng minh mối quan hệ cha con, mẹ con hoặc trường hợp công dân không thể cung cấp được chứng cứ này.
Thứ sáu, về cải chính hộ tịch: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật Hộ tịch “Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch”. Vậy việc thực hiện cải chính Giấy Chứng nhận kết hôn thì cả vợ và chồng đều làm Tờ khai hay chỉ người yêu cầu cải chính làm Tờ khai.
Tại mặt sau của Giấy khai sinh và Giấy chứng nhận kết hôn, “phần ghi chú những thông tin thay đổi sau này”, có quy định đóng dấu vào nội dung thay đổi, cải chính; đối với trường hợp thẩm quyền thay đổi, cải chính hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp huyện thì công chức phòng Tư pháp thực hiện ghi chú. Tuy nhiên, chưa có văn bản nào quy định rõ đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp huyện hay dấu của phòng Tư pháp. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Trường hợp có sự sai lệch thông tin giữa Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch thì căn cứ vào loại giấy tờ nào để thực hiện việc cải chính. Hiện chưa có văn bản nào quy định về vấn đề này nên gây khó khăn cho công chức Tư pháp – hộ tịch trong quá trình giải quyết.
Đối với “quê quán” của công dân, pháp luật về hộ tịch chỉ quy định thực hiện cải chính trong trường hợp có sai sót khi đăng ký hộ tịch nhưng không quy định được thay đổi từ quê quán của bố sang quê quán của mẹ và ngược lại. Điều này đã gây khó khăn, vướng mắc cho người dân trong việc thông nhất các thông tin nhân thân trong các loại giấy tờ của bản thân.
Thứ bảy, về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: Tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định “Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân”. Trường hợp cấp Giấy Xác nhận tình trạng hôn nhân cho cán bộ chiến sỹ lực lượng công an, bộ đội không đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng có hộ khẩu tập thể của đơn vị đóng quân được thực hiện như thế nào thì Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định cụ thể.
Thứ tám, về xác minh trong đăng ký hộ tịch: Theo quy định của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì hầu hết các sự kiện hộ tịch đều quy định trường hợp hồ sơ không rõ ràng thì công chức Tư pháp – hộ tịch tham mưu cho Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện xác minh. Tuy nhiên, hiện tại Luật Hộ tịch, Nghị định 123/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xác minh ở các cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài như thế nào vì trong thực tế xảy ra rất nhiều trường hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài cần được xác minh.
Thứ chín, quy định về thu hồi hủy bỏ giấy tờ hộ tịch: Tại Điểm h Khoản 1 Điều 70 quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện là thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định của Luật Hộ tịch nhưng Luật không quy định trình tự, thủ tục về thu hồi hủy bỏ gây khó khăn trong quá trình áp dụng.
Quản lý và đăng ký hộ tịch là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Thông qua hoạt động đăng ký hộ tịch, nhà nước xác nhận các sự kiện hộ tịch phát sinh và có trách nhiệm bảo hộ quyền nhân thân của cá nhân gắn liền với các sự kiện đó. Mặt khác, những thông tin thu được từ việc quản lý hộ tịch là căn cứ quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thống kê và phân tích dân cư, nghiên cứu khoa học, hoạch định các chính sách về an ninh quốc phòng, dân số – kế hoạch hoá gia đình, các chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Chính vì vậy, đăng ký hộ tịch không chỉ là quyền mà đồng thời là nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức.
Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch, nhà nước đã ban hành khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Nhìn chung, hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý và đăng ký hộ tịch hiện hành đã quy định một cách tương đối đầy đủ, rõ ràng cả về thẩm quyền trình tự và thủ tục đăng ký hộ tịch, trách nhiệm của từng chủ thể trong quan hệ đăng ký và quản lý hộ tịch, … làm cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch.
2.2. Thực hiện pháp luật hộ tịch tại Huyện Đông Anh Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
2.2.1. Vị trí địa lý của huyện Đông Anh
- Điều kiện tự nhiên
Đông Anh là một huyện ngoại thành Hà Nội, huyện có diện tích 18.213,9ha (182,139 km2) gồm 01 Thị trấn Đông Anh và 23 xã. Đông Anh có ranh giới tự nhiên giáp với nhiều quận, huyện khác của Hà Nội bởi các dòng sông: sông Hồng, sông Đuống, là ranh giới phía Nam của Đông Anh với quận Bắc Từ Liêm, quận Tây Hồ và quận Long Biên, Hà Nội; sông Cà Lồ là ranh giới phía Bắc với huyện Sóc Sơn. Về phía Đông- Đông bắc, Đông Anh giáp huyện Yên Phong và Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, phía Tây giáp huyện Mê Linh, Hà Nội. Đông Anh có diện tích thuộc loại lớn trong các huyện ngoại thành Hà Nội. Với diện tích tự nhiên khá rộng lại nằm hoàn toàn ở phía Bắc của sông
Hồng và tiếp giáp với nội thành nên Đông Anh có vai trò vị trí chiến lược quan trọng trong định hướng phát triển của Thủ đô Hà Nội hiện tại và tương lai.
- Đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội
Trong quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định Đông Anh là đô thị lõi, có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Những năm qua, Đông Anh đã từng bước cụ thể bằng đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, thu hút nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước, giải quyết việc làm cho lao động địa phương và của vùng. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Đặc biệt, cuối năm 2014, cầu Nhật Tân – cây cầu dây văng dài nhất Việt Nam và duy nhất Hà Nội hoàn thành, nối đôi bờ sông Hồng qua huyện Đông Anh đã tiếp thêm lợi thế để huyện hoàn thành các mục tiêu. Nhờ tuyến giao thông này, khoảng cách từ Đông Anh vào trung tâm thành phố đã giảm xuống còn 9km, trở thành tuyến giao thông huyết mạch nối liền các tỉnh phía bắc với những đầu mối giao thông như: Hà Nội – Thái Nguyên, Hà Nội – Lào Cai, đường QL 18…
Theo đó, trong những năm tới, Đông Anh sẽ tập trung phát triển các trung tâm đô thị, trục không gian chính Nhật Tân – Nội Bài. Hiện nay, thành phố Hà Nội đã lập quy hoạch chung hai bên tuyến đường Nhật Tân – Nội Bài và triển khai đầu tư xây dựng: Trung tâm Tài chính Thương mại Quốc tế ASEAN; các đô thị, dịch vụ vui chơi giải trí đa năng nhiều nơi trong huyện. Trên địa bàn huyện đang triển khai xây dựng: Trung tâm triển lãm quốc gia; Công viên Kim Qui; khu đô thị xanh, khu đô thị sinh thái sông Cà Lồ; các phân khu đô thị N5, N7, N8… với quy mô hàng nghìn ha. Các dự án này, có vị trí hết sức thuận lợi, khi hoàn thành sẽ đáp ứng tối đa nhu cầu dịch vụ, thương mại và nhà ở trên địa bàn.
Từ nay đến năm 2020, Đông Anh được kỳ vọng sẽ trở thành trung tâm thương mại, tài chính, du lịch, dịch vụ chất lượng cao của khu vực phía bắc thủ đô, là một “thành phố mới”, một phần năng động của thành phố. Để thực hiện điều này, huyện tiếp tục phát triển thương mại, dịch vụ theo hướng đa dạng hóa, nâng cao sản phẩm dịch vụ; Phát triển thị trường hàng hóa có tính cạnh tranh cao, hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Bên cạnh đó, việc chỉnh trang đô thị, đặc biệt là thị trấn Đông Anh; Xây dựng các siêu thị mua sắm, các khu vui chơi giải trí,… cũng phải được đẩy mạnh, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.
Đặc biệt, việc quan tâm đầu tư xây dựng, tôn tạo và nâng cao giá trị của khu di tích lịch sử Cổ Loa – Công trình văn hóa, lịch sử tiêu biểu của Đông Anh sẽ là động lực đẩy mạnh thương mại, dịch vụ, du lịch của huyện phát triển. Từ những nỗ lực đó, năm 2012, thành Cổ Loa đã được công nhận và cấp Bằng di tích Quốc gia đặc biệt. Đây là một thuận lợi lớn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích thành cổ có niên đại sớm nhất, quy mô lớn nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Hiện nay, khu di tích Cổ Loa nằm trong cụm du lịch trọng điểm Vân Trì – Cổ Loa, với các sản phẩm chủ yếu là du lịch thể thao, vui chơi giải trí, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cuối tuần. Trong những năm tới, đây chính là điểm nhấn trong lĩnh vực văn hóa – du lịch và dịch vụ ở Đông Anh, tạo đà cho sự phát triển của những sản phẩm dịch vụ trọng điểm khác của huyện.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Đông Anh đang ra sức cụ thể mục tiêu: “Xây dựng Đông Anh trở thành huyện phát triển nhanh, bền vững và ngày càng văn minh, giàu đẹp”. Với sự hội tụ ba yếu tố cả về “Thiên thời, địa lợi và nhân hòa”, đặc biệt là khai thác đúng tiềm năng, “Thế và lực” của Đông Anh sẽ được bộc lộ, mở ra chặng đường phát triển kinh tế – xã hội to lớn hơn. Qua sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng bộ, chính quyền, nhất là đã khơi dậy truyền thống và vun bồi khát vọng cống hiến, xây dựng quê hương cho mỗi người dân Đông Anh, tương lai không xa, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện nhà sẽ còn thu được những thành công rực rỡ hơn.
2.2.2. Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
- Đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch
Trong giai đoạn đất nước phát triển như hiện nay, thì yêu cầu cải cách hành chính đã và đang là xu hướng hội nhập quốc tế đặc biệt là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Trong tiến trình phát triển chung đó thì đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch cấp xã phường cũng đã không ngừng được nâng cao về chất lượng, phát triển mạnh về số lượng. Đội ngũ công chức này chính là bộ phận quan trọng trong việc đưa các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và kiểm chứng tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách và pháp luật đó.
Theo số liệu thống kê của Sở tư pháp thành phố, tính đến ngày 14/8/2018 trên địa bàn huyện Đông Anh có 100% các xã và thị trấn đã bố trí công chức tư pháp hộ tịch với 47 người làm việc tại 23 xã và 01 thị trấn; hầu hết các xã đều bố trí 01 tư pháp phụ trách đăng ký hộ tịch, 01 tư pháp làm công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư. Những năm trở lại đây chất lượng đội ngũ công chức tư pháp đã có sự thay đổi rõ, trình độ chuyên môn, thái độ phục vụ, tinh thần phục vụ được nâng cao hơn.
Về số lượng, Huyện Đông Anh có tại 23 xã và 01 thị trấn tổng số lượng công chức tư pháp hộ tịch là 47 người, có 01 xã là có 01 công chức tư pháp hộ tịch, còn lại là có 22 xã và thị trấn có 02 tư pháp hộ tịch
Về chất lượng, Trình độ văn hoá của toàn bộ công chức tư pháp đều đã tốt nghiệp phổ thông trung học, trình độ chuyên môn có 05 người là Thạc sỹ, và 42 đồng chí là cử nhân luật. Tất cả đội ngũ công chức tư pháp huyện Đông Anh đã được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ đảm bảo đáp ứng được yêu cầu công việc, Hoạt động đăng ký hộ tịch trên địa bàn cấp xã Huyện Đông Anh.
- Kết quả đạt được Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Qua gần 03 năm triển khai thi hành Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch tại Huyện Đông Anh đã đạt được những kết quả quan trọng, như:
Kết quả giải quyết các công việc về hộ tịch năm 2018 như sau:
- Thẩm quyền cấp huyện: Đăng ký khai sinh: 10 trường hợp, Đăng ký kết hôn: 26 đôi, Đăng ký khai tử: 0
Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn:
- Thị trấn Đông Anh: Khai sinh: 395 trường hợp; Khai tử: 66 trường hợp; Kết hôn: 148 cặp.
- Xã Kim Nỗ: Khai sinh: 225 trường hợp; Khai tử: 44 trường hợp; Kết hôn: 73 cặp.
- Xã Cổ Loa: Khai sinh: 263 trường hợp; Khai tử: 89 trường hợp; Kết hôn: 116 cặp.
- Xã Dục Tú: Khai sinh: 232 trường hợp; Khai tử: 223 trường hợp; Kết hôn: 84 cặp.
- Xã Tiên Dương: Khai sinh: 151 trường hợp; Khai tử: 341 trường hợp; Kết hôn: 49 cặp.
- Xã Mai Lâm: Khai sinh: 171 trường hợp; Khai tử: 265 trường hợp; Kết hôn: 69 cặp.
- Xã Vĩnh Ngọc: Khai sinh: 241 trường hợp; Khai tử: 55 trường hợp; Kết hôn: 71 cặp.
- Xã Xuân Canh: Khai sinh: 168 trường hợp; Khai tử: 52 trường hợp; Kết hôn: 66 cặp.
- Xã Thụy Lâm: Khai sinh: 277 trường hợp; Khai tử: 105 trường hợp; Kết hôn: 83 cặp.
- Xã Liên Hà: Khai sinh: 249 trường hợp; Khai tử: 83 trường hợp; Kết hôn: 80 cặp.
- Xã Tàm Xá: Khai sinh: 63 trường hợp; Khai tử: 20 trường hợp; Kết hôn: 26 cặp.
- Xã Vân Hà: Khai sinh: 69 trường hợp; Khai tử: 21 trường hợp; Kết hôn: 36 cặp.
- Xã Nam Hồng: Khai sinh: 201 trường hợp; Khai tử: 78 trường hợp; Kết hôn: 65 cặp.
- Xã Việt Hùng: Khai sinh: 199 trường hợp; Khai tử: 84 trường hợp; Kết hôn: 65 cặp.
- Xã Uy Nỗ: Khai sinh: 217 trường hợp; Khai tử: 97 trường hợp; Kết hôn: 83 cặp.
- Xã Đông Hội: Khai sinh: 150 trường hợp; Khai tử: 86 trường hợp; Kết hôn: 64 cặp.
- Xã Võng La: Khai sinh: 134 trường hợp; Khai tử: 30 trường hợp; Kết hôn: 50 cặp.
- Xã Vân Nội: Khai sinh: 167 trường hợp; Khai tử: 63 trường hợp; Kết hôn: 43 cặp.
- Xã Nguyên Khê: Khai sinh: 169 trường hợp; Khai tử: 89 trường hợp; Kết hôn: 79 cặp.
- Xã Bắc Hồng: Khai sinh: 223 trường hợp; Khai tử: 286 trường hợp; Kết hôn: 76 cặp.
- Xã Hải Bối: Khai sinh: 229 trường hợp; Khai tử: 69 trường hợp; Kết hôn: 65 cặp.
- Xã Kim Chung: Khai sinh: 196 trường hợp; Khai tử: 59 trường hợp; Kết hôn: 72 cặp.
- Xã Xuân Nộn: Khai sinh: 194 trường hợp; Khai tử: 80 trường hợp; Kết hôn: 51 cặp.
Tổng số kết quả công tác hộ tịch thuộc thẩm quyền cấp xã:
- Đăng ký khai sinh: 3416 trường hợp
- Đăng ký kết hôn: 1138 đôi;
- Đăng ký khai tử: 1118 trường hợp.
Thực hiện sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội phòng Tư pháp đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân Huyện chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tiếp tục triển khai đồng bộ hệ thống dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 lĩnh vực tư pháp, đảm bảo thực hiện đúng theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân Thành phố đạt kết quả 100%. Thực hiện nghiêm chế độ thông tin báo cáo theo quy định… Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Tính từ đầu năm 2016 đến tháng 30/6-2018, Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh đã, ghi vào sổ hộ tịch các việc đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài là: khai sinh cho 2 trường hợp; đăng ký kết hôn 19 trường hợp; Toàn huyện đăng ký thay đổi hộ tịch cho 273 trường hợp, cải chính hộ tịch cho 116 trường hợp, bổ sung hộ tịch 141 trường hợp, Nhận cha mẹ con là 98 trường hợp, Đăng ký giám hộ là 21 trường hợp, Cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là 6507 trường hợp,đăng ký khai sinh là 14896 trường hợp, khai tử là 4883 trường hợp, đăng ký kết hôn là 5131 cặp. Nhìn chung việc quản lý hộ tịch được ghi chép, đăng ký vào sổ, lưu trữ hồ sơ và thực hiện báo cáo đầy đủ, đúng quy định. Người dân đã nhận thức được tầm quan trọng của các giấy tờ hộ tịch và tự giác thực hiện đi đăng ký hộ tịch, góp phần bảo vệ quyền và nghĩa vụ của công dân, giữ vững an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội.
Đến nay, tất cả 24 xã, thị trấn trong huyện đã được trang bị máy tính làm việc, phần mềm quản lý phục vụ công tác đăng ký và quản lý hộ tịch; đây có thể xem là sự đổi mới quan trọng trong công tác hộ tịch, tiến tới thực hiện quản lý hộ tịch bằng dữ liệu điện tử, giúp cơ quan Nhà nước đưa ra những chính sách hợp lý, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và dịch vụ công.
Đã triển khai thí điểm phần mềm đăng ký khai sinh điện tử có kết nối với hệ thống cấp số định danh cá nhân để cấp số định danh cá nhân cho trẻ em ngay khi được ĐKK; Thực hiện tốt quy định cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình không phụ thuộc vào nơi đăng ký hộ khẩu thường trú như trước đây, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc lựa chọn cơ quan đăng ký sự kiện hộ tịch của mình;
Hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch, đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch ở cơ sở được củng cố, kiện toàn, có kế hoạch đào tạo bảo đảm tiêu chuẩn chuyên môn luật, công chức làm công tác hộ tịch được bồi dưỡng, cấp chứng chỉ theo chương trình bồi dưỡng chính thức đã được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt;
Yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân cơ bản được giải quyết kịp thời; Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch được cải cách mạnh mẽ, đơn giản hóa và cắt giảm nhiều giấy tờ không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân;
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch đã được quan tâm triển khai ở nhiều địa phương, cơ sở dữ liệu hộ tịch được hình thành với hệ thống cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử kết hợp với sổ đăng ký hộ tịch được lưu trữ, thống kê thường xuyên; Việc phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch ngày càng được coi trọng, nhận thức của người dân về vai trò, ý nghĩa của công tác đăng ký hộ tịch được nâng cao.
2.2.3. Ưu điểm của việc thực hiện pháp luật hộ tịch trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Ngày 20/11/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Hộ tịch. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.
Luật Hộ tịch năm 2014, với nhiều chế định mới, phân cấp mới, thủ tục mới đã thổi một luồng sinh khí mới cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch và đích đến là gần gũi hơn với người dân, phục vụ tốt hơn các yêu cầu của người dân và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Thứ nhất, quy định về các nội dung đăng ký hộ tịch Luật Hộ tịch năm 2014, đã quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn các nội dung đăng ký hộ tịch; đã phân định rõ sự kiện nào là Xác nhận vào Sổ hộ tịch, sự kiện nào là Ghi vào Sổ hộ tịch. Theo đó:
- Xác nhận vào Sổ hộ tịch là xác nhận các sự kiện hộ tịch sau: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con;Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử.
- Ghi vào Sổ hộ tịch là việc ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm: Thay đổi quốc tịch;Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
- Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, quy định về thẩm quyền đăng ký hộ tịch
Với quan điểm thực hiện phân cấp mạnh cho chính quyền cơ sở, kể từ ngày 01/01/2016, thẩm quyền đăng ký các sự kiện hộ tịch được thực hiện ở 02 cấp (cấp huyện và cấp xã), cụ thể: Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký các trường hợp hộ tịch sau:
- Đăng ký Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Khai tử; Thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;
- Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm: Thay đổi quốc tịch;Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.
- Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt
Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đăng ký các trường hợp hộ tịch sau:
- Đăng ký các sự kiện hộ tịch: khai sinh, kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, khai tử, bổ sung thông tin hộ tịch có yếu tố nước ngoài;
- Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm: Thay đổi quốc tịch, xác định cha, mẹ, con, xác định lại giới tính, nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi,ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn, công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự có yếu tố nước ngoài;
- Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc;
- Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Thứ ba, thủ tục đăng ký hộ tịch đơn giản, cắt giảm tối đa các giấy tờ không cần thiết và tạo điều kiện thuận lợi cho người có quyền lựa chọn nơi đăng ký và phương thức đăng ký các sự kiện hộ tịch:
Theo đó, Luật quy định chỉ cấp 02 loại bản chính Giấy khai sinh và Giấy chứng nhận kết hôn, còn các sự kiện hộ tịch khác sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký người yêu cầu đăng ký hộ tịch được cấp Trích lục hộ tịch tương ứng với từng sự kiện hộ tịch đã đăng ký. Bản chính trích lục hộ tịch được chứng thực bản sao.
Cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình mà không phải phụ thuộc vào nơi cư trú như trước đây. Theo quy định của Luật, cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống và có quyền lựa chọn phương thức đăng ký như nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc thông qua hệ thống đăng ký trực tuyến trong điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho phép. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Thứ tư, quy định việc cấp Số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh:
Số định danh cá nhân là số được cấp cho mỗi công dân Việt Nam khi đăng ký khai sinh không lặp lại ở người khác và đây cũng là một trong những nội dung cơ bản trong Giấy khai sinh, Sổ đăng ký khai sinh, cơ sở dữ liệu hộ điện tử hộ tịch và Cơ sở dữ liệu về dân cư. Số này cũng chính là số thẻ căn cước công dân được cấp khi đủ 14 tuổi.
Thứ năm, quy định rõ việc miễn phí đăng ký hộ tịch cho người thuộc gia đình có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, người khuyết tật; đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn, giám hộ, kết hôn của công dân Việt Nam cư trú trong nước.
Thứ sáu, quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch và cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử: đây là một bước đột phá của Luật Hộ tịch để hướng đến Chính phủ điện tử. Theo đó, Cơ sở dữ liệu hộ tịch là tài sản quốc gia, lưu giữ toàn bộ thông tin hộ tịch của mọi cá nhân đã đăng ký, làm cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, phục vụ yêu cầu tra cứu thông tin, quản lý, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.Cơ sở dữ liệu hộ tịch bao gồm Sổ hộ tịch và Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là căn cứ để cấp bản sao trích lục hộ tịch.
Hệ thống cấp định danh được thực hiện trên phần mềm của Bộ tư pháp. Sau khi công dân nộp hồ sơ, cán bộ cập nhật vào Cơ sở dữ liệu, đây là thông tin đầu vào của cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Việc thực hiện nhập hồ sơ vào hệ thống điện tử của Bộ tư pháp, đã cho phép việc in cấp trích lục khai sinh, thống kê số liệu hộ tịch nhanh gọn, tiết kiệm chi phí tiền bạc cho người dân và cơ quan quản lý hộ tịch.
Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là cơ sở dữ liệu ngành, được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được lập để lưu giữ, cập nhật, quản lý, tra cứu thông tin hộ tịch, phục vụ yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến; được kết nối để cung cấp, trao đổi thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Có thể nói rằng, Luật Hộ tịch ra đời đã tạo bước đột phá về thể chế của công tác hộ tịch. Là cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, là cơ sở quan trọng để xây dựng hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.
2.2.4. Những hạn chế của việc thực hiện pháp luật hộ tịch trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
- Hạn chế trong đăng ký hộ tịch
Mặc dù Luật Hộ tịch đã nhanh chóng được triển khai, áp dụng đồng bộ, thống nhất trên cả nước và thực tế tại Huyện Đông Anh cũng đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng thực tiễn giải quyết cho thấy, các việc hộ tịch luôn phát sinh hết sức đa dạng, phức tạp, nhiều trường hợp tuy là các sự kiện hộ tịch thường xuyên xảy ra như việc sinh, việc xác nhận tình trạng hôn nhân, việc tử, việc thay đổi họ, tên… nhưng lại có nhiều tình tiết phức tạp mà Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành chưa dự liệu được; đơn cử:
Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hộ tịch năm 2014 thì nội dung khai sinh gồm: thông tin của người được Đăng ký khai sinh (họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch); thông tin của cha, mẹ người được Đăng ký khai sinh (họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú); số định danh cá nhân. Liên quan đến việc xác định họ, tên cho con, điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong tờ khai Đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán. Tuy nhiên, theo quy định này, một số cơ quan đăng ký hộ tịch (ĐKHT), người dân lại hiểu rằng, việc xác định họ cho con theo phong tục tập quán tức là phong tục tập quán như thế nào thì xác định đúng theo như thế mà không phải tuân thủ nguyên tắc nào khác, dẫn đến xác định họ của con có thể không theo họ của mẹ, cũng không theo họ của cha, thậm chí không có họ, chỉ có tên. Thực tế trên địa bàn Huyện Đông Anh, vẫn tồn tại tình trạng Đăng ký khai sinh cho con không mang họ cha, cũng không mang họ mẹ, hoặc Đăng ký khai sinh cho con “ngoài giá thú” nhưng không mang họ của mẹ. Trường hợp công chức làm công tác hộ tịch từ chối giải quyết yêu cầu Đăng ký khai sinh thì người dân phản ứng, bức xúc hoặc phản đối bằng việc không tiếp tục thực hiện Đăng ký khai sinh cho con.
Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền Đăng ký hộ tịch, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định cho phép kết hợp thủ tục nhận cha, mẹ, con và Đăng ký khai sinh. Tuy nhiên, hiện tại có tình trạng nhiều phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài nhưng cuộc sống chung không hạnh phúc nên bỏ về Việt Nam, cũng có trường hợp không được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cho phép sang nước ngoài định cư nên hôn nhân không duy trì được, thực tế quan hệ vợ chồng đã chấm dứt nhưng chưa làm thủ tục ly hôn mà đã lại có quan hệ chung sống với người đàn ông khác và sinh con. Do con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân vẫn còn tồn tại, nên theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, phải được xác định là con chung của hai vợ chồng (mặc dù người chồng không phải là người cha trên thực tế của đứa trẻ) [18], người mẹ có yêu cầu đăng ký việc nhận cha (người cha trên thực tế) của trẻ em kết hợp với thủ tục Đăng ký khai sinh để khai sinh theo đúng thông tin về cha mẹ hoặc Đăng ký khai sinh theo diện con chưa xác định được cha thì cơ quan Đăng ký hộ tịch không giải quyết được. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Do khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được tòa án xác định”; khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng quy định: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu tòa án xác định người đó là con mình”, nên yêu cầu xác định cha cho con của người mẹ trong trường hợp này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân, không thuộc thẩm quyền của cơ quan Đăng ký hộ tịch. Nhưng thực tế, đa phần người dân phản ánh tòa án có thẩm quyền không thụ lý giải quyết hoặc có tiếp nhận, nhưng sau đó đình chỉ việc giải quyết vì cho rằng không có “tranh chấp”, dẫn đến việc trẻ em không được Đăng ký khai sinh kịp thời hoặc Đăng ký khai sinh nhưng với thông tin về người cha không đúng thực tế, vì vậy, cần thiết phải có quy định hướng dẫn xác định thẩm quyền giải quyết để bảo đảm quyền lợi của trẻ em.
Mặc dù Luật hộ tịch đã nhanh chóng được triển khai, áp dụng đồng bộ, thống nhất trên cả nước và thực tế đã đạt được những kế quả tích cực. Tuy nhiên qua thực tiễn cho thấy, các việc hộ tịch luôn phát sinh những tình huống hết sức đa dạng phức tạp, nhiều trường hợp tuy các sự kiện xảy ra như việc sinh tử, thay đổi họ tên, việc xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân… nhưng lại xuất hiện nhiều tình tiết mới phức tạp mà Luật hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa dự liệu và chưa có quy định điều chỉnh, dẫn đến yêu cầu đăng ký hộ tịch vẫn phát sinh những khó khăn, vướng mắc cần có văn bản hướng dẫn kịp thời.
Do các quy định về hộ tịch trước đây không chặt chẽ, việc quản lý của chính quyền địa phương lỏng lẻo, công chức thực hiện đăng ký hộ tịch không có trình độ chuyên môn do đó dẫn đến việc đăng ký các sự kiện hộ tịch trước đây có nhiều sai xót: đăng ký khai sinh khai thêm tuổi mụ, đăng ký kết hôn khai thêm chữ đệm để tên thường gọi được hay hơn, việc cấp quản lý bản sao các giấy tờ hộ tịch đơn giản… dẫn đến hiện nay khi pháp luật hộ tịch dần được hoàn thiện, nhiều nội dung quy định chặt chẽ, thì nảy sinh nhiều sai sót của các thời kỳ trước đây. Vì vậy dẫn đến tình trạng hồ sơ cải chính ngày càng nhiều.
Các quy định của pháp luật thường xuyên thay đổi và nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau dẫn đến khó khăn cho việc tiếp cận và tìm hiểu. Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong thực hiện Thủ tục hành chính chưa nhịp nhàng thống nhất.
Việc triển khai cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, số hóa dữ liệu còn chậm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hộ tịch còn chưa đồng bộ, thống nhất.
Cơ sở vật chất như phòng làm việc nhỏ, đường truyền internet chậm, nhiều nơi thiếu máy tính hoặc có nhưng tốc độ chậm.
Hiện nay công chức tư pháp hộ tịch vẫn còn phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau, do đó ít có thời gian cho việc tìm hiểu và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
Công chức làm tư pháp hộ tịch hay có sự biến động do luân chuyển, điều động theo yêu cầu nhiệm vụ. Do vậy công chức mới đảm nhận nhiệm vụ chưa có kinh nghiệm nên có nhiều sai xót trong quá trình làm việc đặc biệt là những hồ sơ khó, phức tạp.
Kinh nghiệm của một số công chức trong việc tiếp công dân và giải quyết các Thủ tục hành chính còn hạn chế
Một số công chức tư pháp – hộ tịch còn thực hiện nhiệm vụ theo lối mòn nhất là công chức có độ tuổi cao; chưa có sự thay đổi tư duy, ngại nghiên cứu, tiếp cận các văn bản pháp luật mới, bên cạnh đó việc sử dụng máy tính để thực hiện các nhiệm vụ trên phần mềm điện tử của công chức cao tuổi cũng gặp nhiều khó khăn hạn chế.
- Để góp phần nâng cao công tác quản lý nhà nước, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực đăng ký hộ tịch, xin có một số kiến nghị như sau:
Một là, tổng kết những vấn đề vướng mắc phát sinh từ thực tế trong thực hiện đăng ký hộ tịch nhằm kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền để có sự điều chỉnh bổ sung hoặc hướng dẫn thực hiện thống nhất. Sửa đổi, bổ sung các quy định còn bất cấp của luật hộ tịch, và các văn bản hướng dẫn nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hộ tịch trong thời gian tới.
Hai là, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch đáp ứng yêu cầu thực tế.
Ba là, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hộ tịch. Cho pháp cơ quan đăng ký hộ tịch in sổ hộ tịch từ hệ thống phần mềm đăng ký hộ tịch để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hộ tịch, giảm bớt phần nào công việc cho cán bộ hộ tịch và đồng thời cũng hạn chế khi cán bộ chép sổ hộ tịch Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Ứng dụng công nghệ thông tin giúp cho công tác đăng ký, quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện một cách chính xác, khoa học, chất lượng và thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Qua đó sẽ giảm bớt sức lao động thủ công, góp phần tăng năng suất lao động, tạo sự kết nối dữ liệu, nâng tầm quản lý giữa các cơ quan thực hiện đăng ký, quản lý nhà nước về hộ tịch.
Bốn là, đa dạng hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch, hướng tới hoạt động đăng ký hộ tịch đạt hiệu quả.
Năm là, tăng cường việc trao đổi, học tập, rút kinh nghiệm trong việc thực hiện đăng ký hộ tịch giữa các tỉnh, thành phố để đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật liên quan.
Sáu là, khen thưởng, động viên khuyến khích những sáng kiến cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hành chính – tư pháp, đặc biệt là trong công tác hộ tịch.
- Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh.
Tác giả đã nêu được thực trạng pháp luật về hộ tịch cũng như thực trạng thực hiện pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Tại chương 2, tác giải đã phân tích đánh giá và tìm ra được những ưu điểm, hạn chế, những bất cấp, khó khăn vướng mắc về pháp luật hộ tịch cũng như việc thực hiện pháp luật hộ tịch, xác định được nguyên nhân tồn tại của luật hộ tịch. Đây là cơ sở quan trọng để tác giả tiếp tục xem xét nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện ở chương 3 của luận văn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
