Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện quyền lực nhà nước, thông qua thực hành quyền công tố – từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân huyện tuy đức, tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài luận văn

Xác định nhiệm vụ Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, công bằng, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là nhiệm vụ cấp bách của ngành tư pháp nói chung và ngành Kiểm sát nói riêng và thực hiện có hiệu quả chủ trương nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 và Chiến lược cải cách tư pháp.

Thực hiện có hiệu quả, nâng cao chất lượng THQCT và hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, ngành KSND phải tiếp tục phát huy những thành tích đạt được và khắc phục những hạn chế, thiếu sót để không ngừng khẳng định vị thế của mình. Nhất là trong điều kiện hiện nay, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 27 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, đã đề ra nhiệm vụ hoàn thiện thể chế để VKSND thực hiện tốt chức năng THQCT phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; hoàn thiện và tăng cường trách nhiệm công tố xuyên suốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; Xác định rõ hơn vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; Tuy nhiên vẫn bảo đảm nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, thực hiện tốt quy định về phân công, phân quyền và phối hợp cũng như thực hiện chức năng kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan Nhà nước. Quy định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành pháp trong kiểm soát các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền tư pháp; của cơ quan tư pháp trong kiểm soát các cơ quan thực hiện quyền hành pháp, quyền lập pháp…Vì vậy, học viên chọn đề tài: “Thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông” làm luận văn thạc sĩ luật, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính mang tính cấp bách cả về lý luận và thực tiễn, góp phần đưa Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp, pháp luật vào đời sống.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Hiện này có nhiều tác giả nghiên cứu về công tác THQCT của Viện kiểm sát nhân dân, một số công trình nghiên cứu đã được công bố như Luận văn Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của tác giả Phạm Văn Thanh Đại học Luật Hà Nội năm 2021; Luận văn Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong THQCT, kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự và thực tiễn tại Viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội của thạc sỹ Bùi Xuân Hùng năm 2020; Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học luật Hà Nội Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Ninh của thạc sỹ Đỗ Quỳnh Anh năm 2020; Luận văn thạc sĩ Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị can về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ thực tiễn quận Ba Đình, Hà Nội của thạc sỹ Lê Ngọc Diệp năm 2023 và nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả khác. Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về “Thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông”. Bản thân tôi là một Kiểm sát viên, công tác tại Viện KSND huyện Tuy Đức, với mong muốn đề ra những đề xuất nhằm hoàn thiện hơn quy định của pháp luật về chức năng THQCT của Ngành kiểm sát, tôi quyết định chọn đề tài “Thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông”.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

  • Mục đích: nghiên cứu để làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn Thực hiện quyền lực Nhà nước của Viện KSND thông qua hoạt động THQCT của Viện kiểm sát nhân dân.
  • Nhiệm vụ: tác giả đề ra các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố;

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông;

Thứ ba, đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

  • Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động THQCT của VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
  • Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định là thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông (từ năm 2020 đến tháng 9 năm 2023).

5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của ĐCSVN về Nhà nước và pháp luật; về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Thể hiện rõ qua các Nghị quyết của Bộ chính trị. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, luận văn đã làm sáng tỏ được vai trò, trách nhiệm của VKSND thông qua hoạt động THQCT, đồng thời, đề ra các giải pháp thực hiện trong thời tới.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp và khảo sát thực tế.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện KSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, qua đó có một số đóng góp mới sau đây:

  • Thứ nhất, thống qua lý luận và thực tiễn đã góp phần làm sáng tỏ thực trạng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động THQCT của VKSND;
  • Thứ hai, đánh giá bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông;
  • Thứ ba, tác giả đã đề ra một số giải pháp cụ thể, khả quan nhằm bảo đảm hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của ngành Kiểm sát.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần chung, kết cấu của Luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của Viện kiểm sát nhân dân.
  • Chương 2: Thực trạng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
  • Chương 3: Quan điểm giải pháp thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THÔNG QUA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thực hiện quyền lực Nhà nước

  • Khái niệm thực hiện quyền lực Nhà nước

Quyền lực Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, xuất hiện từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những giai cấp đối kháng.

Quyền lực Nhà nước là những quyền năng chỉ có Nhà nước mới có, thông qua đó, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi hoạt động của một đất nước.

Quyền lực Nhà nước được thể hiện thông qua các hoạt động đối nội và đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, chính trị…quy định việc tổ chức, thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và được bảo đảm thực hiện bằng các chế tài. Vì vậy, quyền lực Nhà nước mang tính chính trị, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

  • Khái niệm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
  • Khái niệm quyền công tố

Khái niệm quyền công tố và THQCT đã được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, nhận thức đối với vấn đề này mới có sự thống nhất và cụ thể. Vì vậy, đến bản Hiến pháp năm 2013, đã nêu cụ thể về quyền công tố ở nước ta và phân công nhiệm vụ THQCT cho ngành Kiểm sát, được quyền nhân danh Nhà nước để truy tố đối với người phạm tội và chỉ duy nhất trong lĩnh vực TTHS, bắt đầu từ khi tội phạm thực hiện và kết thúc khi Tòa án giải quyết bằng một Bản án hoặc một Quyết định có hiệu lực pháp luật và không bị kháng nghị. Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

  • Khái niệm thực hành quyền công tố

THQCT là hoạt động của VKS nhân danh Nhà nước để thực hiện chức năng buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội, được thực hiện ngay từ giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm và xuyên suốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, đến khi Bản án của Tòa án tuyên không và không bị kháng nghị.

Như vậy, thực hiện quyền lực nhà nước thông qua thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát, thông qua chức năng của Ngành kiểm sát, thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với hành vi phạm tội được quy định trong BLHS, từ giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm đến khi kết thúc vụ án hình sự. Có thể thấy, việc thực hiện quyền lực Nhà nước của Viện kiểm sát được thực hiện một cách dán tiếp, thông qua hoạt động THQCT, Viện kiểm sát đã phát huy được vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình để thực hiện quyền lực được Nhà nước phân công.

  • Đặc điểm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

Quyền công tố được thực hiện trong lĩnh vực TTHS, từ khi tội phạm xảy ra cho đến khi phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. QCT cũng có thể kết thúc trước khi mở phiên tòa khi có đủ căn cứ để đình chỉ điều tra, đình chỉ truy tố và đình chỉ xét xử khi có đầy đủ các căn cứ của pháp luật tố tụng hình sự.

QCT là quyền truy tố đối với người phạm tội và thực hiện việc buộc tội tại phiên Toà, là bước khởi đầu cho quyền xét xử của Toà án. Do đó để đảm bảo tính khách quan và sự công bằng thì quyền công tố và quyền xét xử của Tòa án là hai quyền độc lập.

  • Đối tượng của quyền công tố

THQCT là nhân danh Nhà nước để để thực hiện chức năng buộc tội, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước và đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm minh, hiệu quả. Vì vậy, đối tượng của QCT là các hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật hình sự.

Phạm vi THQCT: phạm vi THQCT duy nhất chỉ có trong lĩnh vực TTHS và được bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận được tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc vụ án có căn cứ đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.

1.1.2. Vai trò của thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

Nhằm bảo đảm quyền lực Nhà nước được thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và trong phạm vi thẩm quyền quy định, dù theo nguyên tắc phân công hay phân quyền đều phải được kiểm soát và giám sát. Việc kiểm soát quyền lực Nhà nước được phân công cho nhiều cơ quan, trong đó VKSND là một thiết chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trong hoạt động tư pháp.

Chức năng của VKS là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, theo quy định đó, nhiều hoạt động của Tòa án trong quá trình xét xử được pháp luật quy định thuộc phạm vi kiểm soát của Viện kiểm sát. Qua đó, VKSND phát hiện các vi pham và thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị và kháng nghị.

1.2. Nội dung, hình thức và phạm vi thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

1.2.1. Nội dung thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

Ở nước ta, quyền lực Nhà nước là quyền lực của nhân dân trao cho các cơ quan Nhà nước thực hiện dựa trên ý chí và lợi ích của nhân dân. Sự phân công giữa các cơ quan Nhà nước vừa có sự độc lập vừa có sự phối hợp, phụ thuộc lẫn nhau, bảo đảm tính chuyên nghiệp nhưng cũng có sự ràng buộc từ các cơ quan trong một cơ chế thống nhất của bộ máy Nhà nước. Do đó, sự phân quyền có sự phối hợp thực hiện một cách nhịp nhàng và đồng bộ, đảm bảo việc thực hiện chức năng giữa các cơ quan ngày càng hoàn thiện hơn.

Viện kiểm sát THQCT bằng cách sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện việc truy cứu TNHS sự đối với người, pháp nhân phạm tội. Vì vậy, ở nước ta chỉ có VKS mới là cơ quan THQCT.

1.2.2. Hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

VKSND thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT tố từ giai đoạn tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố và xuyên suốt trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố tội phạm và xét xử vụ án hình sự;

Thông qua quyền “Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do BLTTHS quy định;

Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của BLTTHS;

Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện và kịp thời ban hành Kiến nghị, Kháng nghị khi có căn cứ. Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

1.2.3. Phạm vi của thực hành quyền công tố

  • Phạm vi quyền công tố

Quyền công tố chỉ tồn tại trong hoạt động TTHS, bắt đầu từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, điều tra, truy tố và xét xử khi Tòa án kết thúc bằng một Bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, đúng quy định và có căn cứ. Quyền công tố của VKS nhân danh Nhà nước thực hiện trong các giai đoạn trên luôn có mối quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau, kết thúc giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm nếu không thuộc trường hợp không khởi tố, sẽ bắt đầu cho giai đoạn điều tra; Cơ quan điều tra kết thúc điều tra, đề nghị truy tố sẽ bước qua giai đoạn truy tố của VKS và qua giai đoạn xét xử của TAND.

  • Phạm vi của thực hành quyền công tố

Phạm vi của THQCT và QCT là đồng nhất với nhau. Tuy nhiên, không phải tội phạm nào xảy ra cũng đều được phát hiện và xử lý kịp thời, cũng như không phải mọi trường hợp việc THQCT đã được thực hiện đều được kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, trong một số trường hợp, khi có đủ các căn cứ để đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự thì Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án sẽ ban hành Quyết định đình chỉ tùy thuộc vào thẩm quyền của từng giai đoạn.

1.3. Điều kiện bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

1.3.1. Điều kiện pháp lý

Nghị quyết số 48 của Bộ Chính trị năm 2005 đã quy định cụ thể về việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta. Vì vậy, việc soạn thảo các dự thảo luật; sửa đổi, bổ sung luật đã và đang được Nhà nước quan tâm, chú trọng. Bên cạnh đó, việc lấy ý kiến góp ý của toàn thể nhân dân đối với các Dự thảo luật đã và đang được Nhà nước ta quan tâm, thực hiện. Ở nước ta, pháp luật hình sự nói riêng và quy định của pháp luật nói chung chưa được hoàn thiện, quy định còn chồng chéo, chưa đồng bộ dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng pháp luật….

1.3.2. Điều kiện chính trị Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Yếu tố chính trị là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả thực hiện quyền lực Nhà nước. Một đất nước có nền chính trị ổn định là điều kiện bảo vệ quyền lợi của giai cấp và Nhà nước. Vì vậy, chính trị còn tồn tại khi còn giai cấp và Nhà nước. Điều đó cho thấy rằng, chính trị là yếu tố gắn liền với sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước.

Đối với cán bộ Kiểm sát, việc trau dồi kỹ năng nghiệp vụ và ý thức giác ngộ chính trị là hai yếu tố có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành lý tưởng và lập trường tư tưởng của KSV. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là điều kiện cốt lõi giúp cho KSV có một thế giới quan khoa học, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, kiên định với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, có lý tưởng bảo vệ công lý, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm.

1.3.3. Điều kiện văn hóa – xã hội

Bên cạnh yếu tố về chính trị, thì yếu tố văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của đất nước nói chung và thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS nói riêng.

Văn hóa – xã hội tác động mạnh mẽ và là định hướng cho việc thực hiện pháp luật nói chung và hoạt động THQCT của VKS nói riêng. Văn hóa – xã hội phát triển sẽ đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về giá trị tinh thần, góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật cho người dân. Vì vậy, giá trị văn hóa – xã hội sẽ trở thành định hướng cho hoạt động thực hiện quyền quyền lực Nhà nước, trong đó có hoạt động THQCT của VKSND.

1.3.4. Điều kiện kinh tế

Bên cạnh phát triển về Văn hóa – xã hội thì điều kiện kinh tế là một trong những yếu tố có ý nghĩa và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện pháp luật. Đi đôi với sự phát triển kinh tế là nhận thức về pháp luật của người dân cũng không ngừng được nâng cao, một đất nước có nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để người dân tiếp cận với pháp luật, ngược lại pháp luật điều chỉnh xã hội phải đáp ứng được yêu cầu và tầm nhìn của phát triển kinh tế.

Yếu tố kinh tế có sự tác động lớn đến nhận thức của người dân, sống trong xã hội có nền kinh tế phát triển, là điều kiện thúc đẩy con người không ngừng trau dồi, nâng cấp bản thân, ý thức xây dựng cuộc sống năng động, sáng tạo và ngày càng văn minh hơn.

1.3.5 Các điều kiện khác Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Ngoài các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội thì giám sát của các thiết chế xã hội cũng là một trong những điều kiện đảm bảo thực hiện quyền lực Nhà nước, trong đó có hoạt động THQCT của VKS. Trong đó, giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy việc thực hiện quyền lực Nhà nước nói chung và hoạt động THQCT của VKS nói riêng.

Do vậy, sự giám sát của Nhân dân là động lực giúp cho các cơ quan tư pháp nói chung và VKSND nói riêng thực hiện có trách nhiệm, kiên quyết hơn trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THÔNG QUA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ – TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua Thực hành quyền công tố – từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức

2.1.1. Đặc điểm kinh tế – xã hội, tình hình vi phạm, tội phạm trên địa bàn huyện Tuy Đức

Huyện Tuy Đức được thành lập theo Nghị định 142/2006/NĐ-CP, ngày 22/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ, là một huyện biên giới có vị trí địa lý giáp ranh với nước bạn Cam Pu Chia, dân số 70.675 người với 24 dân tộc sinh sống, trong đó tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 44,21%.

Về vị trí địa lý, Huyện Tuy Đức với tổng diện tích là 111.924 ha, chiếm 17,2% diện tích toàn tỉnh, nằm ở phía Tây của tỉnh Đăk Nông; địa bàn huyện được chia thành 06 xã với dân số trên 52 nghìn người. Trong đó, đồng bào các DTTS chiếm 43,66% với 6.676 hộ/28.793 khẩu. Đồng bào DTTS tại chỗ là 3.311 hộ/13.405 khẩu, chiếm 19,36% (M’nông, Mông, Mạ và Ê đê).

2.1.2. Khái quát về tổ chức, bộ máy hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông

VKSND huyện Tuy Đức được thành lập vào năm 2007, đến nay VKSND huyện Tuy Đức đã và đang thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành và địa phương phân công.

Về biên chế, đơn vị gồm: 14 người, Viện trưởng, 02 Phó Viện trưởng, 05 Kiểm sát viên, 01 Kiểm tra viên, 01 kế toán kiêm văn thư, 01 bảo vệ, 01 lái xe và 01 tạp vụ.

2.2. Kết quả hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

2.2.1. Thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2022, VKSND huyện Tuy Đức đã THQCT và kiểm sát 272 hồ sơ tin báo của CQĐT Công an huyện. Đã giải quyết 267 tố giác, tin báo, đạt tỷ lệ 98 %. Bên cạnh đó, chỉ tiêu về trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khâu công tác này luôn được đơn vị chú trọng. VKS tiến hành trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố 07 lượt đối với Cơ quan CSĐT Công an huyện, Hạt kiểm lâm và các Đồn biên phòng trên địa bàn huyện. Đã ban hành kết luận và kiến nghị trong Kết luận, ngoài ra đơn vị Ban hành 04 kiến nghị bằng văn bản riêng đối với CQĐT và 269 văn bản yêu cầu xác minh, điều tra đối với các tin báo, tố giác tội phạm; Ban hành 08 yêu cầu ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức; 01 yêu cầu thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm [26].

Chín tháng năm 2023, VKSND huyện Tuy Đức đã kiểm sát 85/85 hồ sơ tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT Công an huyện. Kiểm sát giải quyết 83/95 tin báo tố giác tội phạm, đạt tỷ lệ 87,3 %. Tiến hành 04 cuộc kiểm sát trực tiếp việc tiếp nhận, thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và ban hành 01 kiến nghị phòng ngừa vi phạm pháp luật trong việc giải quyết các giao dịch dân sự về đất đai đối với Chủ tịch UBND huyện Tuy Đức; 01 Kiến nghị phòng ngừa vi phạm trong tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm đối với Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức.

2.2.2. Công tác thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự

Tổng số thụ lý từ án điều tra từ năm 2020 đến năm 2022 là 185 vụ/ 291 bị can; CQĐT đã giải quyết 169 vụ/ 272 bị can, đạt tỷ lệ 91,3%, trong đó đình chỉ điều tra 07 vụ 05 bị can, lý do người bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS. Liên ngành đã xác định 09 vụ làm án trọng điểm và 01 vụ làm án rút gọn. Tổng số thụ lý chín tháng năm 2023 là 45 vụ /68 bị can; CQĐT đã giải quyết 42 vụ/ 64 bị can (kết thúc điều tra đề nghị truy tố), tỷ lệ giải quyết 93%. Hiện còn: 03 vụ/04 bị can; không có án quá hạn. Trực tiếp hỏi cung đối với bị can trước khi ra quyết định truy tố 42 vụ/64 bị can [27].

2.2.3. Công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

Tổng số thụ lý của VKSND từ năm 2020 đến năm 2022: 134 vụ 234 bị can. VKS đã giải quyết: 134 vụ 234 bị can (quyết định truy tố), đạt tỷ lệ 100% [56]. Tổng số thụ lý của VKSND huyện trong chín tháng năm 2023: 45 vụ/68 bị can. VKS đã giải quyết: 42 vụ/64 bị can (truy tố). Đạt tỷ lệ 93 % [27]. Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự Từ năm 2020 đến năm 2023, VKSND huyện Tuy Đức đã tham gia thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự với 139 vụ 231 bị cáo; đã giải quyết 136 vụ 242 bị cáo, đạt tỉ lệ 97%, trong đó xét xử rút kinh nghiệm 31 vụ 40 bị cáo, từ đó rút kinh nghiệm, phát hiện những thiếu sót của KSV và Thẩm phán để kịp thời khắc phục và nâng cao kỹ năng THQCT tại phiên tòa [26]. Trong chín tháng năm 2023, VKSND huyện Tuy Đức đã kiểm sát 47 vụ/83 bị cáo, trong đó, THQCT và kiểm sát xét xử 33 vụ/61 bị cáo, đạt tỷ lệ 70%. VKSND và Tòa án nhân dân huyện phối hợp tổ chức 08 phiên tòa rút kinh nghiệm.

2.3. Ưu điểm và hạn chế trong thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông

2.3.1. Ưu điểm trong thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông

Một là, thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, ngành KSND nói chung và VKSND huyện Tuy Đức nói riêng đã tích cực đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, đạt được kết quả khả quan.

Hai là, không ngừng nâng cao trách nhiệm công tố của VKS, trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử; nâng cao hơn nữa chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, bảo vệ Cáo trạng và chống oan sai, bỏ lọt tội phạm.

  • Về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Thực hiện tốt Thông tư liên tịch số 01/2017 và 01/2021/TTLT của Liên ngành Trung ương về Quy chế phối hợp giữa các cơ quan để kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Năm 2018 và năm 2023, Liên ngành đã ban hành Quy chế phối hợp trong công tác tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, tạo cơ chế cho sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong công cuộc đấu tranh, phòng và chống tội phạm.

  • Thực hiện quyền lực Nhà nước của VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông thông qua thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố – điều tra – truy tố – xét xử vụ án hình sự

Trong công tác THQCT và kiểm sát xét xử, VKS đã phối hợp với Tòa án nhân dân huyện xét xử rút kinh nghiệm theo tinh thần của Nghị quyết 08 tổng 31 vụ/40 bị cáo, trong chín tháng năm 2023 xét xử 08 vụ/14 bị cáo, thông qua các phiên tòa rút kinh nghiêm, Lãnh đạo đơn vị, các KSV cùng đưa ra các ý kiến đóng góp, xây dựng nhằm nâng cao kỹ năng tranh tụng cho kiểm sát viên tại phiên tòa và thực hiện tốt chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý.

2.3.2. Những hạn chế, bất cập trong thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

  • Về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn tồn tại một số hạn chế như: công tác nắm bắt tin báo, tố giác tội phạm của VKS chưa được kịp thời, đặc biệt là những nguồn tin do Công an xã tiếp nhận.

Một số trường hợp, sau khi phân loại, xác định nguồn tin thuộc thẩm quyền của Cơ quan CSĐT nhưng không chuyển kịp thời, vi phạm về thời hạn giải quyết. Từ đó phát sinh một số khó khăn vướng mắc trong công tác khám nghiệm hiện trường, xác minh hiện trường, truy tìm dấu vết… gây khó khăn trong quá trình giải quyết tiếp theo.

  • Về thực hiện quyền lực Nhà nước của VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông thông qua thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự

Trong thời gian vừa qua, các cơ quan tư pháp vẫn còn để xảy ra tình trạng án trả hồ sơ điều tra bổ sung, tuy tỉ lệ không nhiều, nhưng đây là vấn đề mà các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chú trọng nhiều hơn trong thời gian tới, đặc biệt, đối với VKS cần hạn chế thấp nhất án trả hồ sơ điều tra bổ sung có lỗi của KSV.

2.4. Nguyên nhân của thực trạng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông

2.4.1. Nguyên nhân của ưu điểm

Các quy định của pháp luật đã và đang không ngừng được hoàn thiện, trong đó Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và BLTTHS đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi THQCT và kiểm sát giải quyết án hình sự, ngày càng khẳng định rõ hơn chức năng, vai trò của ngành Kiểm sát.

Công tác phối hợp liên ngành luôn được chú trọng, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như xuyên suốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Các thông tư, Nghị định được đã được ban hành kịp thời, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong một số luật quy định chồng chéo, chưa cụ thể.

2.4.2. Nguyên nhân của những hạn chế

  • Về công tác THQCT: Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Một là, nhận thức về pháp luật của một số cán bộ, KSV còn có những hạn chế nhất định, KSV mới được bổ nhiệm chưa có kinh nghiệm thực tiễn.

Hai là, việc bố trí, sắp xếp các bộ, KSV có lúc chưa phù hợp, chưa xem xét năng lực, sở trường công tác.

Ba là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành cũng như trách nhiệm của người đứng đầu chưa được chú trọng và còn nhiều bất cập. Công tác tổ chức cán bộ, sắp xếp vị trí công tác; cho ý kiến chỉ đạo trong từng vụ, việc cụ thể có lúc chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của công việc.

Bốn là, công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp và các cơ quan hữu quan trong việc xác minh, điều tra, trưng cầu giám định có lúc chưa kịp thời, thiếu thống nhất, ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ án.

Năm là, quy định của Ngành về chế độ, phụ cấp vẫn chưa thực sự được chú trọng, trong khi trách nhiệm của KSV là rất nặng nề, hoạt động THQCT luôn gắn liền với sinh mệnh chính trị của KSV.

  • Về quy định pháp luật:

Một là, các quy định của pháp luật chưa có tính ổn định và lâu dài, việc xây dựng luật, sửa đổi, bổ sung luật chưa dự liệu được các tình huống có thể xảy ra theo xu hướng phát triển trên thực tế của đời sống xã hội.

Hai là, việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thực tiễn, hướng dẫn áp dụng pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ… tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu

Ba là, công tác tuyên truyền, phổ biến quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của VKS trên các phương tiện truyền thông đại chúng chưa được chú trọng và chưa mang lại hiệu quả.

  • Thứ hai, nguyên nhân khách quan

Quy định về chính sách đãi ngộ, chế độ, tiền lương của công chức, người lao động chưa đảm bảo, chưa đáp ứng được nhu cầu cuộc sống trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.

Hoạt động giám định tư pháp còn nhiều hạn chế, chưa có quy định cụ thể về thời hạn gửi kết quả giám định cho các cơ quan trưng cầu, bên cạnh đó pháp luật cũng chưa có cơ chế kiểm soát chặt chẽ các hoạt động giám định.

Điều kiện về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và kinh phí phục vụ công tác THQCT, kiểm sát HĐTP còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Trang thiết bị cấp cho KSV khi thực hiện biện pháp nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu công việc thực tế…

CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THÔNG QUA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

3.1. Bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố

3.1.1. Quán triệt quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam liên quan đến bảo đảm thực hành quyền công tố

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói chung và cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng THQCT của VKS nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, chú trọng. Thông qua Nghị quyết 49 của Bộ chính trị đã nhấn mạnh và đề ra các giai đoạn thực hiện.

Phát huy kết quả đạt được, thời gian tới VKSND tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp, trong đó đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu, gắn trách nhiệm người đứng đầu với các lĩnh vực công tác được giao phụ trách; đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, nhất là các vụ án trọng điểm, phức tạp, được dư luận quan tâm; kịp thời bổ sung biên chế, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý hồ sơ nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án…

3.1.2. Quan điểm quán triệt các Chỉ thị của Ngành kiểm sát đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Tiếp tục thực hiện hiệu quả công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, vì nhân dân và đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Toàn ngành kiểm sát tỉnh Đắk Nông xác định, nâng cao chất lượng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, thực hiện tốt nhiệm vụ chống oan, sai, chống bỏ lọt tội phạm, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu;

Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, tính chủ động, sáng tạo của Kiểm sát viên trong việc thực hiện thẩm quyền của Viện kiểm sát, đảm bảo việc phê chuẩn, ban hành các lệnh, quyết định tố tụng có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

3.1.3. Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Huyện ủy Tuy Đức đối với hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của VKSND

Huyện ủy Tuy Đức luôn quan tâm đến hoạt động tư pháp và cải cách tư pháp của địa phương. Chỉ đạo sát sao đối với công tác tư pháp và phòng chống tham nhũng. Đặc biệt, đối với những vụ án phức tạp, dư luận quan tâm, Huyện ủy luôn có quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ quan tư pháp báo cáo tiến độ và quan điểm giải quyết.

Đối với ngành Kiểm sát, cần chú trọng và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THQCT, thực hiện tốt công tác kiểm sát giải quyết án điều tra, xử lý các tội phạm có tổ chức, các nhóm tội phạm về ma túy, đánh bạc… giải quyết dứt điểm những vụ án cấp trên hủy, sửa và những vụ án dư luận xã hội quan tâm, góp phần ổn định trật tự trị an tại địa phương.

3.2. Bảo đảm giải pháp thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

3.2.1 Giải pháp chung

  • Nâng cao nhận thức về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát

Với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, phục vụ nhân dân… Trong thời gian vừa qua, Ngành kiểm sát đã triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp của Bộ Chính trị; Thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu trong Nghị quyết 96/2019 về công tác phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật, nâng cao chất lượng quyền công tố, đảm bảo truy tố đúng thời hạn và đúng tội danh. Do đó, chất lượng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của toàn Ngành nói chung và Viện KSND huyện Tuy Đức nói riêng được nâng lên rõ rệt, có tiếng nói ở địa phương, đề ra các giải pháp, đề xuất giúp Huyện ủy giải quyết những vụ, việc nổi cộm, dự luận quan tâm ở địa phương; Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, KSV được quan tâm, chú trọng. Vì vậy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của cán bộ, KSV không ngừng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp, góp phần tích cực trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự, trị an tại địa phương.

  • Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm của chính quyền địa phương đối với thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện

Thực hiện có hiệu quả chiến lược cải cách tư pháp, Đảng đã luôn quan tâm đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo trong hoạt động tư pháp nói chung và đặc biệt trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát. Trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện phương thức, nội dung lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp, quy định cụ thể về quyền hạn và nhiệm vụ cũng như quy định về chính sách đãi ngộ phù hợp.

  • Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời gian tới là một trong những yêu cầu cấp bách và thiết thực, pháp luật phải phù hợp với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Thực tế hiện nay, hệ thống pháp luật của nước ta vẫn tồn tại nhiều hạn chế như quy định chung chung, chồng chéo, không rõ ràng… chưa bắt nhịp được với tình hình phát triển kinh tế – xã hội. Do vậy, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật là một trong những yêu cầu cấp thiết cần phải chú trọng và cần nhiều thời gian.

Việc áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự còn gặp một số khó khăn, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn kịp thời để bảo đảm cho việc thực thi pháp luật được thống nhất. Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Ngoài ra, các văn bản dưới luật hàng năm vẫn được ban hành. Tuy nhiên, chưa thật sự chất lượng và giải quyết được hết những khó khăn, bất cập trong áp dụng pháp luật. Do tầm nhìn của các nhà làm luật chưa bắt kịp được với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, một thời gian ngắn lại thay đổi, bổ sung bằng văn bản khác. Đó là một trong những khó khăn, bất cập đến nay vẫn chưa có hướng khắc phục triệt để.

  • Bảo đảm tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố

Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân; cơ quan tư pháp nói riêng và nhân dân bộ nói chung.

Nhận thức về pháp luật của một số bộ phận người dân tại các vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế. Do thiếu cơ hội được tiếp cận với truyền thông, điều kiện kinh tế khó khăn nên chỉ tập trung vào lao động, lo cái ăn cái mặc…Vì vậy, thực tế người dân còn lúng túng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho mình để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

  • Nâng cao ý thức chính trị và phẩm chất đạo đức cho cán bộ, kiểm sát viên

Ý thức chính trị và đạo đức của người cán bộ Kiểm sát là một trong những tiêu chí quyết định chất lượng THQCT của VKS, ngoài không ngừng trau dồi kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng THQC, học hỏi và tích lũy kinh nghiệm thì người cán bộ Kiểm sát cũng không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và ý thức chính trị.

  • Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng THQCT cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên

Một trong những yếu tố tiên quyết góp phần quyết định chất lượng THQC của VKSND là yếu tố con người. Bên cạnh tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức thì công tác đào tạo, bồi dưỡng là điều kiện không thể tách rời trong việc hình thành nên người cán bộ Kiểm sát, có đủ đức và đủ tài, trước tiên là người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, biết thương yêu nhân dân và bảo vệ lẽ phải. Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

  • e) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong thực hành quyền công tố

Để nâng cao hiệu quả công tác THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp của Ngành kiểm sát, đòi hỏi phải nêu gương từ bên trong nội bộ Ngành. Vì vậy, Viện KSND tối cao đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-VKSTC ngày 01/3/2022 về công tác thanh tra trong Ngành kiểm sát nhân dân [18]; Công tác thanh tra không chỉ để phát hiện ra những thiếu sót, vi phạm trong nội bộ Ngành mà còn góp phần xây dựng hệ thống ngành Kiểm sát trong sạch, vững mạnh.

  • Hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và của Nhân dân đối với công tác thực hành quyền công tố

Hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp. Để nâng cao chất lượng của các cơ quan giám sát, Đảng và Nhà nước cần chú trọng đến công tác đào tạo, lựa chọn những người có phẩm chất, đạo đức, có am hiểu về pháp luật để kịp thời phát hiện những thiếu sót cũng như đưa ra các ý kiến để cơ quan tư pháp chấn chỉnh, khắc phục.

  • Tăng cường cơ sở vật chất và chế độ chính sách hợp lý

Để nâng cao chất lượng hoạt động THQCT đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới, VKSND tối cao cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục công tác cho toàn Ngành, có cơ chế, chính sách đãi ngộ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh tư pháp. Trong thời gian tới cần chú trọng và triển khai thực hiện có hiệu quả trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động nghiệp vụ của Ngành.

3.2.2. Giải pháp cụ thể

  • Kiện toàn tổ chức bộ máy và công tác cán bộ Viện Kiểm sát huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu tình hình mới

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong thời gian tới, Ngành kiểm sát cần có những quy định về phân công, luân chuyển cán bộ, KSV để cán bộ, KSV có điều kiện tiếp xúc với nhiều khâu công tác, có cơ hội được tiếp cận với nhiều lĩnh vực công tác, có điều kiện vận dụng pháp luật một cách linh hoạt và mở rộng phạm vi áp dụng pháp luật.

  • Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trên địa bàn huyện Tuy Đức

Công tác phối hợp Liên ngành là một trong những điều kiện quyết định đến chất lượng THQCT của ngành Kiểm sát. Vì vậy, trong thời gian vừa qua, Liên ngành cấp huyện tại địa phương đã và đang phát huy tốt công tác phối hợp. Ngay từ giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm, Cơ quan Điều tra, VKS, Tòa án đã chủ động họp, trao đổi và đưa ra hướng giải quyết cụ thể. Trường hợp có nhiều quan điểm giải quyết, Liên ngành thống nhất xin ý kiến thỉnh thị của Liên ngành cấp trên. Vì vậy, trong thời gian vừa qua, các tin, án phức tạp đều được giải quyết dứt điểm và đúng quy định pháp luật.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Hoàn thiện hệ thông pháp luật và cải cách tư pháp là nhu cầu thiết yếu trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và hoạt động THQCT của VKSND nói riêng.

Phát hiện và nhìn nhận những hạn chế, thiếu sót của hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay; năng lực, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ của một số cán bộ, KSV còn hạn chế… Do đó, tác giả đưa ra các đề xuất, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả THQCT của VKSND huyện Tuy Đức nói riêng và ngành Kiểm sát nói chung.

Các giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, của cấp ủy phải luôn sát sao và có phương pháp phù hợp trong việc định hướng để giải quyết những vụ, việc phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và nêu cao ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ, KSV; Phát huy kết quả đạt được của công tác phối hợp liên ngành, phối hợp giữa các cơ quan tố tụng với cơ quan hữu quan tại địa phương; Nâng cao chất lượng của công tác thanh tra, kiểm tra, tự kiểm tra, đây là phương pháp hiệu quả để phát hiện các sai phạm trong nội bộ ngành, thông qua đó tìm ra các phương pháp khắc phục và răn đe nhằm xiết chặt kỷ cương công vụ; Chú trọng hơn nữa trong công tác tổ chức, cán bộ, phân công sắp xếp con người phù hợp với năng lực, sở trường và điều kiện đặc thù của từng địa phương, quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ và công tác tự đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ trong chính nội bộ từng cơ quan tại địa phương; Hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và của Nhân dân đối với hoạt động THQCT, phát huy vai trò của cơ quan giám sát góp phần nâng cao chất lượng THQCT của VKS và hoạt động của các cơ quan tư pháp; Có các chính sách, đãi ngộ cho cán bộ, KSV phù hợp với trách nhiệm và quyền hạn theo quy định của BLTTHS. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức, ý thức chính trị cho cán bộ, KSV; Hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách thống nhất và đồng bộ, rà soát các văn bản dưới luật để kịp thời ban hành và sửa đổi, bổ sung đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về chứng thực từ hoạt động của UBND

One thought on “Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464