Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy – nghiên cứu ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của ngành Kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa thông qua chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong tố tụng hình sự nói riêng, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Về chủ trương, ngay từ Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị, đến Nghị quyết 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới cũng nhấn mạnh việc “hoàn thiện thể chế để viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo từng cấp kiểm sát là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật, trong đó có tội phạm ma túy.
Những năm gần đây, diễn biến tội phạm ma túy ở nước ta diễn biến vô cùng phức tạp, số vụ án, tội phạm ngày càng gia tăng. Đồng thời, bản chất, thủ đoạn của tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm. Khi bị phát hiện và bắt giữ, người phạm tội sẵn sàng phản công quyết liệt. Thực trạng này đã đặt ra nhiều thách thức cho xã hội, đặc biệt là Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan phải gánh vác trách nhiệm vô cùng to lớn trong đấu tranh chống tội phạm ma túy, giữ vững ổn định và phát triển xã hội đất nước.
Đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ma túy, trong những năm qua, các cơ quan tư pháp trên địa bàn huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, trong đó có VKSND huyện Ea H’Leo đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nhất là thực hiện tốt công tác THQCT đối với các vụ án về ma túy, góp phần tích cực vào đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của xã hội, quyền tự do dân chủ của công dân. Nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan việc thực hiện pháp luật (THPL) trong THQCT đối với án ma túy của VKSND huyện Ea H’Leo còn bộc lộ những hạn chế nhất định như: Chưa kiểm sát chặt chẽ việc khởi tố của cơ quan điều tra (CQĐT), chưa nắm chắc tiến trình điều tra vụ án để đưa ra yêu cầu điều tra kịp thời; nhiều vụ án ma túy mới chỉ phát hiện, xử lý được đối tượng vận chuyển thuê hoặc mua bán nhỏ lẻ mà chưa điều tra được đối tượng chủ mưu, cầm đầu; công tác điều tra thu thập chứng cứ ở một số vụ án ma túy vẫn còn những tồn tại… Những hạn chế đó đã ảnh hưởng nhất định đến quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự nói chung, tội phạm về ma túy nói riêng tại địa bàn huyện. Vì vậy, THPL về THQCT đối với án ma túy của VKSND huyện Ea H’Leo luôn là vấn đề cần thiết được đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Trong tình hình đó, chưa có nhiều các công trình nghiên cứu về việc THPL về THQCT đối với án ma túy gắn tại một địa bàn cụ thể như huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Chính vì thế, việc lựa chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy – nghiên cứu ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn thạc sĩ là hết sức cần thiết, nhằm làm rõ hơn nữa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nội dung này.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
THQCT đối với các vụ án ma túy nói chung là vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đặt trong những góc độ khác nhau. Nhìn chung, ở mức độ sách giáo trình, luận văn, đề tài THPL về THQCT đối với các vụ án ma túy đã hầu như được tiếp cận ở mức độ chung nhất. Còn ở những bài viết tạp chí, vấn đề đã được gợi mở một cách chuyên sâu hơn nhưng chỉ dừng ở mức phân tích những lý luận mà chưa có sự nghiên cứu một cách sâu sát và toàn diện đề tài này về mặt thực tiễn. Đồng thời gắn với địa bàn huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk nơi có tình trạng “Tội phạm ma túy ngày càng có diễn biến phức tạp” là vấn đề nhức nhối của toàn huyện nên cần phải đặt ra mục tiêu thực hiện pháp luật trong hoạt động THQCT đối với loại tội phạm này một cách có hiệu quả trên địa bàn huyện. Do đó, luận văn sẽ đóng góp một cách có hệ thống và toàn diện về vấn đề này trên địa bàn huyện trên cơ sở kế thừa và phát triển những nội dung đã nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về THPL về THQCT đối với án ma túy và thực tiễn thực hiện của VKSND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, luận văn đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả THPL về THQCT đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
3.2 Nhiệm vụ
- Thứ nhất, làm rõ các vấn đề lý luận về THPL về THQCT đối với án ma túy.
- Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng THPL về THQCT đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo,
- Thứ ba, đưa ra và phân tích các yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn THPL về THQCT đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
4.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
- Về nội dung: Các quy định pháp luật về THQCT đối với án ma túy ở VKSND cấp huyện và quá trình thực hiện pháp luật.
- Về không gian: Huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Về thời gian: Từ năm 2018 đến hết năm
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và ngành Kiểm sát về THQCT trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy; các học thuyết chính trị và pháp lý về THPL nói chung và THPL về THQCT nói riêng.
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp quy nạp. Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu khoa học khác cũng được sử dụng như phương pháp hệ thống, nghiên cứu tài liệu, thống kê, so sánh, lịch sử, liệt kê số liệu, tư liệu, hồ sơ và thông tin cần thiết có liên quan đến phạm vi đề tài nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học nhằm bổ sung lý luận THPL về THQCT đối với án ma túy dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong hoạt động giảng dạy, học tập và áp dụng vào thực tiễn công tác THQCT của VKSND nói chung và VKSND cấp huyện nói riêng trong đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy
- Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
- Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI ÁN MA TÚY
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy
1.1.1 Khái niệm của thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy
1.1.1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về ma túy
- Khái niệm các tội phạm về ma túy
Trước hết, chất ma túy có thể được hiểu là các chất gây nghiện, chất hướng thần, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành, các chất này khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ làm thay đổi trạng thái tinh thần và sinh lý, có thể dẫn đến nghiện và từ đó gây tác hại về nhiều mặt đối với xã hội.
Tội phạm về ma túy là “những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại BLHS năm 2015 và được sửa đổi, bổ sung năm 2017, do người đủ trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy gây hậu quả nghiêm trọng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, trật tự xã hội, đạo đức sức khỏe của con người. Những hành vi được coi là tội phạm ma túy là các hành vi liên quan đến ma túy mà nhà nước cấm bao gồm các hành vi: Sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, mua bán, chiếm đoạt…trái phép các chất ma túy được quy định trong BLHS”.
- Dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về ma túy
Về khách thể, các tội phạm về ma túy xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy trong các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, mua bán, bảo quản, phân phối, cấp phát, sử dụng chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện, gây tác hại nhiều mặt về mặt xã hội.
Về mặt khách quan, “mặt khách quan của các tội phạm về ma túy thể hiện ở các hành vi sau: Trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy; Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy; Tổ chức, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; Cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy; Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần”. [14] Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Về mặt chủ quan,“các tội phạm về ma túy đều được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi đó”. [32, tr.581]
Về chủ thể, đối với các tội phạm về ma túy là loại tội rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các khoản 2, 3, 4 của các điều 248, 249, 250, 251, 252 của BLHS, thì chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực TNHS. Đối với các tội phạm về ma túy quy định tại Điều 247, khoản 1 các Điều 248, 249, 250, 251, 252 và các điều từ Điều 253 đến Điều 259 của BLHS, thì chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực TNHS. Chủ thể của tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần quy định tại Điều 259 BLHS còn là người có chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý, sử dụng chất ma túy.
- Khái niệm chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã đưa ra định nghĩa cụ thể như sau: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
- Khái niệm và đặc điểm của thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy
Công cụ quan trọng nhất của nhà nước để thực hiện quản lý xã hội là pháp luật. Vì vậy, hệ thống pháp luật là một trong những thước đo cơ bản để đánh giá sự tác động của nhà nước tới các quan hệ xã hội. Pháp luật chỉ thực sự hiện hữu khi được chứng thực trong đời sống bằng những hành vi cụ thể tương ứng với sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật. Bằng việc thực hiện pháp luật của các chủ thể, pháp luật đã được hiện thực hóa trong đời sống xã hội, qua đó thể hiện ý chí, yêu cầu của nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật.
Có thể hiểu “Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể được hình thành trong quá trình hiện thực hóa các quy định của pháp luật” [29, tr.401]. Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Căn cứ vào “tính chất của việc thực hiện pháp luật có thể chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức là: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật” [29, tr.403] Đặt trong phạm vi đề tài, kết hợp chủ thể thực hiện pháp luật là VKSND, do đó, tác giả tiếp cận hình thức thực hiện pháp luật thông qua việc áp dụng pháp luật.
Từ các khái niệm công cụ trên, có thể đưa ra khái niệm “Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định để thực hiện việc truy cứu TNHS, buộc tội đối với người phạm tội về ma túy, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội về ma túy phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm”.
1.1.2 Đặc điểm của việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy
Một là, thẩm quyền thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy do VKSND thực hiện.
Hai là, đối tượng thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy là chất ma túy.
Ba là, phạm vi thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy là từ khi VKSND giải quyết nguồn tin về tội phạm ma túy và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với án ma túy.
Bốn là, mục đích THPL về THQCT đối với án ma túy nhằm “đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội về ma túy phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm”.[15]
1.1.3 Ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
- Ý nghĩa pháp lý
Bằng việc thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy mà thông qua việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT vừa có ý nghĩa về mặt xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật vừa có ý nghĩa trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật TTHS.
- Ý nghĩa chính trị – xã hội
Thông qua việc thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy, Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý đối với toàn xã hội trong việc đảm bảo chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, và các vấn đề khác có liên quan đến chất ma túy, thông qua đó góp phần đảm bảo ổn định an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội.
1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
1.2.1 Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm ma túy và kiến nghị khởi tố
Khi thực hiện pháp luật về THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm ma túy, VKS phải căn cứ vào quy định tại Điều 12 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, pháp luật hình sự có quy định về các tội phạm ma túy và quy định tại Điều 159 BLTTHS 2015, quy định trực tiếp về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi THQCT trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Bao gồm các nội dung: “việc áp dụng biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân; đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh; yêu cầu Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự; gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm về ma túy, kiến nghị khởi tố; trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo tội phạm về ma túy, kiến nghị khởi tố; thực hành quyền công tố đối với kết quả giải quyết tố giác, tin báo tội phạm về ma túy và kiến nghị khởi tố; huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm ma túy và các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra”. Khi tiếp nhận kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong lĩnh vực ma túy, cần chú ý:
Với quyết định khởi tố vụ án ma tuý: Nếu quyết định có căn cứ và hợp pháp thì đề xuất Lãnh đạo VKS ra quyết định phân công KSV thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án, KSV được phân công sẽ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ theo quy định. Nếu căn cứ để khởi tố vụ án chưa đầy đủ thì đề xuất ra văn bản yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ thì đề xuất ra văn bản yêu cầu CQĐT ra quyết định huỷ bỏ.
Với quyết định không khởi tố vụ án ma tuý: Sau khi đã nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ mà CQĐT đã thu thập được trong quá trình kiểm tra, xác minh, phải xác định được sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu tội phạm về ma túy. Nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự này có căn cứ thì đề xuất với Lãnh đạo VKS ra thông báo kết quả kiểm sát, trong đó thể hiện rõ quan điểm của VKS và chuyển hồ sơ vụ việc lại cho CQĐT giải quyết tiếp theo thủ tục chung. Nếu không có căn cứ thì yêu cầu CQĐT hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Ngoài ra, khi THPL về THQCT đối với án ma tuý trong giai đoạn này, VKS có một quyền năng đặc biệt là trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Theo đó, VKS chỉ “trực tiếp giải quyết khi phát hiện CQĐT có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày CQĐT đang thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhận được văn bản mà không được khắc phục, thì VKS rút hồ sơ, tiến hành kiểm tra, xác minh để làm rõ nội dung và trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố này”. [10]
1.2.2. Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án ma túy
Khi thực hiện pháp luật THQCT trong giai đoạn điều tra trong các vụ án ma túy phải tuân thủ các quy định tại Điều 165 BLTTHS. Trong đó, cần lưu ý đến việc thực hiện pháp luật trong THQCT đối với hoạt động khởi tố bị can; việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra và THQCT đối với các hoạt động điều tra.
Các biện pháp điều tra được áp dụng trong điều tra tội phạm về ma túy là lấy lời khai người bị bắt, người làm chứng, hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, khám nghiệm hiện trường, khám xét, tạm giữ đồ vật, tài liệu. Các biện pháp điều tra này cần được thực hiện nhanh chóng trong thời hạn luật định và đúng quy định của pháp luật để không chỉ tuân thủ thời hạn điều tra mà còn nhằm mở rộng điều tra, truy xét, triệt phá toàn bộ ổ, nhóm, đường dây hoặc tổ chức phạm tội về ma túy.
Đồng thời, do đặc thù cũng như tính chất của tội phạm ma túy, chủ yếu là loại tội nghiêm trọng trở lên (trừ tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thuộc khoản 1 Điều 247 BLHS năm 2015 là tội ít nghiêm trọng), nên cần thiết phải áp dụng các BPNC để kịp thời ngăn chặn tội phạm, hỗ trợ việc điều tra, truy tố và xét xử. Khi thực hiện pháp luật về THQCT trong việc áp dụng các BPNC này, cần chú ý về thẩm quyền áp dụng, căn cứ, điều kiện, thời hạn áp dụng, bảo đảm đúng quy định của pháp luật thì khi đó VKS mới tiến hành phê chuẩn, không phê chuẩn, huỷ bỏ BPNC cho phù hợp.
1.2.3. Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy
Giai đoạn truy tố là “giai đoạn tiếp sau giai đoạn điều tra, được bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển đến”[31, tr.205]. Khi thực hiện pháp luật về THQCT đối với các vụ án ma túy trong giai đoạn này, VKS phải căn cứ vào quy định tại Điều 236 BLTTHS 2015, VKS xem xét, quyết định việc truy tố hay đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; tiến hành các hoạt động bổ sung tài liệu, chứng cứ hay trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong trường hợp cần thiết, VKS có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định truy tố hay không truy tố đối với bị can. Trong trường hợp không thể tự mình bổ sung được tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án thì VKS có thể trả lại hồ sơ cho CQĐT yêu cầu điều tra bổ sung bảo đảm việc truy tố hay không truy tố đúng quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
Kết thúc giai đoạn này, VKS ban hành quyết định truy tố bằng bản Cáo trạng. Bản Cáo trạng là văn bản pháp lý đánh dấu sự kết thúc giai đoạn truy tố chuyển sang giai đoạn xét xử và giới hạn phạm vi xét xử của Tòa án; đồng thời, là cơ sở để những người tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa. Do đó, khi VKS thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn THQCT trong giai đoạn điều tra tốt thì góp phần đảm bảo Cáo trạng truy tố chắc chắn, đúng người, đúng tội.
1.2.4. Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án ma túy Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Nội dung thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn xét xử đối với án ma túy là “việc VKS sử dụng tất cả những quyền hạn tố tụng được pháp luật quy định nhằm bảo đảm xét xử nghiêm minh mọi tội phạm, người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” [22, tr. 34]. Căn cứ các điều 18, 19 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Điều 266 BLTTHS hiện hành, khi thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án ma túy, VKS trực tiếp tham gia vào việc xét xử tại phiên tòa để cùng với HĐXX xác định rõ tội phạm, người phạm tội, những tình tiết khác có liên quan đến vụ án, trên cơ sở đó HĐXX ra bản án, quyết định đúng đắn. Theo đó, “những hoạt động THQCT của VKS trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự là: công bố Cáo trạng hoặc quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà; tham gia xét hỏi; rút quyết định truy tố, thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật. Tất cả những hoạt động trên đều hướng tới mục đích buộc tội bị cáo, bảo đảm việc Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật”. [17] Có thể khẳng định, trong giai đoạn này, việc THPL về THQCT của VKS đối với án ma tuý thể hiện rõ nhất ở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Đặc biệt ở phần tranh tụng của phiên toà.
1.3. Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy
- Sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành kiểm sát nhân dân
- Sự hoàn thiện của pháp luật
- Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
- Năng lực của Kiểm sát viên khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố
- Quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân
- Điều kiện cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ, trang thiết bị và phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát nhân dân
Tiểu kết chương 1
Tại Chương 1, Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma tuý. Theo đó, tác giả đã xây dựng được khái niệm công cụ có liên quan để đưa ra được khái niệm hoàn chỉnh về thực hành quyền công tố đối với án ma tuý; phân tích các nội dung thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy; các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy. Trong đó, các nội dung được tác giả đi sâu phân tích theo các giai đoạn tố tụng của quá trình giải quyế vụ án hình sự bao gồm: việc về thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm ma túy và kiến nghị khởi tố; trong giai đoạn điều tra vụ án ma túy; trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy; trong giai đoạn xét xử vụ án ma túy.
Bên cạnh đó, tác giả cũng làm rõ được các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy gồm: Sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành kiểm sát nhân dân; Sự hoàn thiện của pháp luật; Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân; Năng lực của Kiểm sát viên khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố; Quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân; Điều kiện cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ, trang thiết bị và phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát nhân dân. Hệ thống kiến thức này là nền tảng lý luận, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI ÁN MA TÚY Ở VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của địa bàn huyện hiện nay, phần nào ảnh hưởng đến tình hình tội phạm về ma túy cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy nói chung, việc thực hiện pháp luật về THQCT đối với các vụ án về ma túy nói riêng.
2.1.2 Tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
Trong thời gian từ năm 2018 đến năm 2022, tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk có xu hướng tăng giảm không đều, tuy nhiên nhìn chung đây là nhóm tội phạm chiếm số lượng lớn trong tổng số lượng án hình sự mỗi năm. Tổng số vụ án về ma túy trong thời điểm thống kê là 111 vụ, tương ứng bình quân khoảng 22 vụ mỗi năm. Trong đó, một số loại tội phạm phổ biến, thường xảy ra là tội Tàng trữ và mua bán trái phép chất ma tuý. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý có xu hướng ngày càng tăng và một số tội phạm khác như trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy.
2.1.3.Cơ cấu tổ chức – cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
VKSND huyện Ea H’Leo hiện có 12 biên chế, 03 hợp đồng lao đồng. Trong đó, có 11 biên chế làm nghiệp vụ kiểm sát gồm: 07 Kiểm sát viên; 02 Kiểm tra viên; 01 Chuyên viên và 01 kế toán kiêm văn thư lưu trữ. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các công chức nghiệp vụ là 100% trình độ cử nhân Luật trở lên, 01 đồng chí trình độ cao đẳng Kế toán.
Với cơ cấu tổ chức – cán bộ của VKSND huyện Ea H’Leo hiện nay, việc thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy bị ảnh hưởng nhất định. Theo báo cáo tổng kết qua các năm gần đây, số lượng vụ án hình sự khoảng 100 vụ/năm, án dân sự khoảng 1000 vụ/năm, cùng với việc thực hiện các công tác khác, cho thấy KSV còn phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác nhau, dẫn đến việc thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy có lúc, có thời điểm chưa sát sao và đạt được hiệu quả tối đa, bao quát nhất
2.2 Kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk và nguyên nhân Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
2.2.1 Việc thực hiện pháp luật về THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm ma túy và kiến nghị khởi tố
- Bảng 2.1. Số nguồn tin về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022
Từ bảng số liệu trên, có thể thấy số nguồn tin về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022 trên địa bàn Ea H’Leo có xu hướng tăng dần. Đỉnh điểm là năm 2020, số nguồn tin ma túy đạt mức cao nhất là 27 tin/năm. Thực tiễn thực hiện pháp luật về THQCT trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm ma túy cho thấy, đa số các nguồn tin được tiếp nhận thông qua nguồn CQĐT phát hiện bắt quả tang các đối tượng đang có hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy. Một số ít nguồn tin do cá nhân cung cấp đến CQĐT như hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại các quán Karaoke, hành vi trồng cây cần sa,…Đối với các nguồn tin về tội phạm ma túy trên, 100% đều được CQTHTT trên địa bàn Ea H’Leo giải quyết theo đúng quy định của pháp luật bằng các quyết định Khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội phạm ma túy tương ứng theo quy định của BLHS hiện hành.
2.2.2 Việc thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án ma túy
- Bảng 2.2. Số vụ án và số bị can bị khởi tố, điều tra về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022
Qua bảng 2.2 cho thấy, trong nhóm tội phạm về ma túy, tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy luôn chiếm phần lớn trong tổng số án về ma túy phải THQCT và Kiểm sát điều tra tại VKSND huyện Ea H’Leo. Đặc biệt là tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, từ thực tiễn THQCT và kiểm sát điều tra án ma tuý tại địa bàn huyện, tác giả nhận thấy hầu hết hành vi tàng trữ của các đối tượng dưới dạng nhỏ lẻ, thường mua khoảng vài trăm nghìn tiền ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thoả mãn cơn nghiện. Từ năm 2018 đến năm 2022, số lượng vụ án ma tuý có xu hướng tăng nhẹ và đa dạng hơn các hành vi phạm tội. Theo đó, năm 2022, khởi tố mới và THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án về tội Trồng cây thuốc phiện, cây cần sa và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Nhìn chung, 100% vụ án về ma túy từ khi phát hiện bắt quả tang, áp dụng các BPNC tạm giữ đến khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều được VKSND huyện Ea H’Leo tiến hành THQCT và kiểm sát đúng theo quy định của pháp luật TTHS. Ở khía cạnh thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án ma túy trên, VKSND huyện Ea H’Leo đều đảm bảo 100% các quyết định phê chuẩn khởi tố bị can đều được phê chuẩn đúng thẩm quyền, thời hạn, trình tự thủ tục. Trong đó, có nhiều vụ án VKS đã tham gia lấy lời khai đối tượng ngay từ khi các đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ, để phục vụ cho cả hoạt động THQCT đối với việc biện pháp ngăn chặn cũng như việc khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp điều tra phù hợp.
- Bảng 2.3. THQCT đối với áp dụng BPNC trong giai đoạn điều tra
Từ bảng số liệu trên cho thấy, hầu hết các bị can phạm tội về ma túy trên địa bàn Ea H’Leo đều bị áp dụng BPNC tạm giam (riêng 02 bị can phạm tội Trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy năm 2022 bị áp dụng BPNC Cấm đi khỏi nơi cư trú). 100% các Lệnh tạm giam của CQĐT đều được VKS phê chuẩn. Thực tiễn cho thấy, các tội phạm ma túy xảy ra trên địa bàn huyện Ea H’Leo đều là tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đồng thời các bị can là người nghiện ma túy, không có nơi cư trú rõ ràng, nên bị can rất dễ thực hiện hành vi phạm tội mới hoặc bỏ trốn. Do đó, việc áp dụng BPNC tạm giam là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ luật định, không để xảy ra trường hợp lạm dụng việc áp dụng BPNC, vi phạm quyền con người, quyền công dân.
2.2.3 Việc thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy
- Bảng 2.4. Số vụ án và số bị can bị truy tố về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022
Từ bảng số liệu trên cho thấy, 100% vụ án ma túy trong giai đoạn điều tra được đề nghị truy tố và VKSND huyện Ea H’Leo đã ra Quyết định truy tố bằng bản Cáo trạng đối với bị can ra trước Toà án để xét xử. Không có trường hợp nào, VKS phải trả hồ sơ điều tra bổ sung. Trong giai đoạn này, chủ yếu thực hiện pháp luật về áp dụng BPNC tạm giam (khi lệnh tạm giam của CQĐT không đủ để quyết định việc truy tố); thực hiện biện pháp hỏi cung bị can (phúc cung) để phục vụ cho việc ban hành Cáo trạng truy tố đối với bị can,…Đồng thời không có trường hợp nào phải ra quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ vụ án.
2.2.4 Việc thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án ma túy
- Bảng 2.5. Số vụ án và số bị can bị xét xử về tội phạm ma túy từ năm 2018 đến năm 2022
Như vậy, từ bảng số liệu trên cho thấy, ở giai đoạn xét xử, 100% vụ án về ma túy bị VKS truy tố đều được Toà án xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Không có trường hợp nào, Toà tuyên không phạm tội. Trong quá trình thực hiện pháp luật về THQCT trong giai đoạn xét xử đối với các vụ án ma túy, các KSV được phân công tham gia phiên toà chủ động nghiên cứu hồ sơ của vụ án để nắm vững nội dung vụ án, các tình tiết, chứng cứ vụ án; dự liệu các tình huống có thể xảy ra tại phiên toà, chuẩn bị đề cương xét hỏi, dự thảo bản luận tội, những nội dung cần tranh luận để báo cáo, xin ý kiến lãnh đạo VKS về đường lối giải quyết vụ án. Hầu kết các KSV thể hiện tự tin, chủ động THQCT tại phiên tòa, đặc biệt là coi trọng việc xét hỏi, thẩm vấn công khai tại phiên tòa nhằm kiểm tra lại toàn bộ chứng cứ một cách công khai, chứng minh các luận điểm đã nêu và kết luận trong bản Cáo trạng để cùng với Hội đồng xét xử làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
2.3. Hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk và nguyên nhân
2.3.1 Hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
- Một là, việc thực hiện pháp luật trong THQCT đối với việc áp dụng biện pháp ngăn chặn chưa triệt để
- Hai là, trong một số vụ án, KSV chưa chủ động bám sát tiến trình giải quyết vụ án ngay từ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
- Ba là, yêu cầu điều tra của VKS còn mang nặng tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả.
- Bốn là, quá trình thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy trong giai đoạn xét xử chưa đảm bảo
2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế
2.3.2.1 Quy định của pháp luật liên quan đến THQCT đối với vụ án ma túy còn nhiều thiếu sót
- Bất cập trong các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm ma túy
Thứ nhất, quy định tại chương XX, một số điều luật còn quy định theo kiểu liệt kê các trường hợp nhưng chưa cụ thể, tạo ra hai cách hiểu khác nhau dẫn đến việc vận dụng khác nhau.
Thứ hai, tại điểm a khoản 1 Điều 249, Điều 250, Điều 252, Điều 253, Điều 254, BLHS quy định rõ “… đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, không đảm bảo tính khoa học, cần có sự quy định về hành vi phạm tội thay vì quy định rõ các Điều luật, vì như vậy sẽ không đảm bảo tính chuyển tiếp.
Thứ ba, vấn đề giám định chất ma túy còn gây tranh cãi.
Thứ tư, quy định về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo BLHS hiện hành chưa thật sự hợp lý.
- Bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hiện pháp luật về THQCT
Thứ nhất, bất cập trong quy định về thời hạn giám định đối với chất ma túy theo quy định của BLTTHS
Thứ hai, vướng mắc quy định về tạm giam trong khi có Quyết định tạm đình chỉ điều tra.
2.3.2.2 Do sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt giữa CQĐT và VKS trên địa bàn huyện Ea H’Leo đôi lúc chưa thực sự chặt chẽ Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Mặc dù đã có những quy định, nguyên tắc về sự phối hợp giữa VKS, CQĐT tuy nhiên trên thực tế mối quan hệ phối hợp giữa các cán bộ, KSV, ĐTV và cán bộ điều tra còn rời rạc, chưa triệt để, nhiều trường hợp CQĐT không thực hiện yêu cầu điều tra của VKS nhưng lại không có chế tài phù hợp để xử lý. Ngoài ra còn thiếu sự quan tâm, trao đổi, thống nhất liên ngành trong việc giải quyết các vụ án khó, án phức tạp dẫn đến hiệu quả giải quyết án chưa cao.
2.3.2.3 Công tác tổ chức quản lý, chỉ đạo điều hành còn một số bất cập.
Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo VKS đôi lúc còn chưa thường xuyên, sát sao và nghiêm ngặt, thiếu sự kiểm tra, đôn đốc các hoạt động của KSV khiến công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án về ma túy nói riêng chưa đạt được hiệu quả cao.
2.3.2.4 Công tác bố trí, phân bố cán bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác nghiệp vụ còn hạn chế
Cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho quá trình công tác của cán bộ, KSV hầu hết đã cũ kỹ, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, chế độ tiền lương, phụ cấp đối với cán bộ ngành Kiểm sát còn thấp so với các ngành khác, môi trường làm việc và chính sách đãi ngộ của ngành cũng chưa tạo được động lực để thu hút, khuyến khích cán bộ.
2.3.2.5 Do thiếu sót, vi phạm của một số Kiểm sát viên
Nhiều kiểm sát viên còn chưa đáp ứng được trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình giải quyết các vụ án ma túy. Đôi lúc KSV chưa nhận thức được đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ của VKS khi thực hiện pháp luật về THQCT đối với các vụ án về ma túy theo quy định pháp luật. Một số KSV có trình độ nghiệp vụ, kỹ năng THQCT chưa cao nên thiếu chủ động trong việc đề ra yêu cầu điều tra hoặc không phát hiện được các vi phạm trong quá trình điều tra của CQĐT, vẫn còn biểu hiện nể nang, bỏ qua trước những sai phạm của CQĐT mà không báo cáo lãnh đạo đơn vị khắc phục.
Ngoài ra, một nguyên nhân khách quan nữa là tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội về ma túy trong giai đoạn hiện nay có diễn biến hết sức phức tạp, khó kiểm soát, số lượng tội phạm tăng rõ rệt qua các năm, nhất là trong tầng lớp thanh thiếu niên. Hoạt động của các đối tượng phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, xuất hiện nhiều phương thức, thủ đoạn phạm tội mới.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Trong Chương 2 của Luận văn, từ việc phân tích những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn huyện Ea H’Leo, tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về thực trạng thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Ea H’Leo có ảnh hưởng nhất định đối với tình hình tội phạm ma túy về viêc THQCT đối với vụ án ma túy của VKSND huyện Ea H’Leo từ năm 2018-2022. Nhìn chung, tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Ea H’Leo có diễn biến tương đối phức tạp, số lượng vụ án và bị can bị khởi tố có xu hướng ngày càng tăng, tính chất các vụ án cũng ngày càng phức tạp, thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được trong quá trình THPL về THQCT đối với án ma túy trên địa bàn huyện Ea H’Leo giai đoạn từ năm 2018-2022. Có thể thấy trong những năm qua, VKSND huyện Ea H’Leo đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nghiêm minh, đúng pháp luật các loại tội phạm trong đó có tội phạm về ma túy xảy ra trên địa bàn huyện, không để xảy ra tình trạng oai sai, bỏ lọt tội phạm, góp phần rất lớn vào công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần phải được nhìn nhận, đánh giá và rút ra được những nguyên nhân. Các hạn chế, thiếu sót này là hệ quả của nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc nghiên cứu các nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót đó sẽ là “chìa khóa” nhằm đề ra các giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về THQC đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI ÁN MA TÚY Ở VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
- Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp đối với Viện kiểm sát nhân dân
- Bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Bảo đảm công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy
- Xây dựng nền công tố mạnh của Viện kiểm sát nhân dân
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
3.2.1 Nhóm giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
3.2.1.1 Hoàn thiện pháp luật
- Thứ nhất, đối với các quy định của BLHS cần hoàn thiện theo các hướng sau:
Sửa đổi quy định tại điểm a, khoản 1, các Điều 249, Điều 250, Điều 253, Điều 254 BLHS hiện hành theo hướng quy định rõ hành vi tại điểm a là hành vi hướng đến nhân thân của người phạm tội mà không đủ định lượng tại các điểm khác tại khoản 1 các Điều luật. Quy định thống nhất nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể áp dụng pháp luật một cách hệ thống, tránh sự tuỳ nghi, bảo đảm đúng tinh thần của nguyên tắc pháp chế XHCN. Đồng thời, sửa đổi các quy định rõ việc bị kết án tại các Điều luật cụ thể (248, 250, 251, 252) của BLHS. Bởi quy định của pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào thực tiễn thi hành.
Tác giả đề xuất sửa đổi quy định tại điểm a khoản 1, các Điều 249, Điều 250, Điều 253, Điều 254 như sau: “a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội: Tội sản xuất trái phép chất ma tuy, tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội vận chuyển trái phép chất ma túy, tội mua bán trái phép chất ma túy, tội chiếm đoạt chất ma túy, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm với khối lượng, thể tích chất ma túy dưới định lượng được quy định từ điểm b đến điểm i của Điều này”.
Cần phân các chất ma túy thành hai hoặc nhiều nhóm tương ứng với các yêu cầu về việc cần giám định hàm lượng chất ma túy hoặc không cần giám định hàm lượng trong quá trình xác định chất ma túy khi giải quyết các vụ án hình sự cũng như các vấn đề có liên Theo đó, có thể xem xét phân chia thành nhóm: Nhóm các chất ma túy cần giám định xác định chất, hàm lượng các chất và khối lượng chất ma túy tinh chất nguyên chất; Nhóm các chất ma túy cần giám định xác định chất và khối lượng thể tích và phải giám định hàm lượng trong trường hợp có sự pha loãng, trộn lẫn; Nhóm các chất ma túy cần giám định xác định chất và khối lượng của các chất ma túy.
- Hướng dẫn, sửa đổi quy định về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo hướng có phân hóa hành vi phạm tội một cách rõ ràng hơn. Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Thứ hai, hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành
- Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành về thời hạn giám định chất ma túy.
Nghị định số 127/2017 ngày 16/11/2017 của Chính phủ quy định về niêm phong vật chứng đối với chất ma túy chưa quy định rõ về việc có mặt của chính quyền địa phương khi mở niêm phong. Do đó cần có thông tư hướng dẫn cụ thẻ nội dung này để các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất thực hiện.
Hoàn thiện các quy định về thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam để điều tra. Theo đó nên bổ sung khoản 1 Điều 173 BLTTHS năm 2015 theo hướng: “Thời hạn bắt tạm giam bị can để điều tra được tính từ ngày bắt được bị can, nhưng không được quá thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam được ghi rõ trong biên bản bắt bị can để tạm giam…
3.2.1.2 Đổi mới, nâng cao công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong thực hành quyền công tố đối với an ma túy
- Thứ nhất, công tác triển khai, quán triệt các văn bản của cấp trên cần phải được chú trọng thực hiện.
- Thứ hai, phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng.
- Thứ ba, đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra. đổi mới phương pháp lãnh đạo, hướng dẫn, kiểm tra.
3.2.1.3 Nâng cao năng lực, trách nhiệm của Kiểm sát viên
Cần chú trọng giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, nâng cao phẩm chất chính trị, nâng cao chất lượng chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp của đội ngũ KSV; thường xuyên tổ chức học tập, nghiên cứu chuyên môn nhằm nâng cao toàn diện các kỹ năng cần thiết của KSV khi tham gia thực hành quyền lực Nhà nước, hoạt động kiểm sát; tăng cường trách nhiệm đào tạo, giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức của Viện trưởng VKSND cấp huyện; Phó Viện trưởng Viện kiểm sát trong các khâu của công tác THQCT giải quyết các vụ án hình sự, trách nhiệm trong công tác đào tạo bồi dưỡng, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức cho KSV.
3.2.1.4 Đổi mới về nội dung và phương pháp kỹ năng nghiệp vụ thực hành quyền công tố phù hợp với đặc thù của các tội phạm về ma túy
- Thứ nhất, đẩy mạnh công tác THQCT ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
- Thứ hai, VKS phải bám sát kịp thời các hoạt động điều tra, gắn hoạt động công tố với hoạt động điều tra các vụ án về ma túy, Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
- Thứ ba, chủ động đề ra yêu cầu điều tra toàn diện, chất lượng và hiệu quả.
- Thứ tư, tăng cường THQCT trong việc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra.
- Thứ năm, nâng cao kỹ năng đánh giá chứng cứ, xác định tội danh trong các vụ án về ma túy của KSV.
- Thứ sáu, tăng cường trách nhiệm THQCT trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPNC.
- Thứ bảy, gắn hoạt động thực hành quyền công tố với kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy, lấy kết quả kiểm sát điều tra hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố, tranh tụng tại phiên toà
- Thứ tám, chú trọng công tác tổng kết, rút kinh nghiệm trong thực hành quyền công tố các vụ án về ma túy ở tất cả các giai đoạn tố tụng.
3.2.1.5 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra, Tòa án theo các quy định, quy chế phối hợp liên ngành trong thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy
- Một là, với CQĐT, cần quán triệt đến cán bộ điều tra, ĐTV về chức năng nhiệm vụ được giao, về mối quan hệ phối hợp với cơ quan THTT ở địa phương.
- Hai là, với Toà án, VKS cần tăng cường hơn nữa mối quan hệ với Toà án.
3.2.2. Giải pháp đối với Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
- Một là, kiện toàn tổ chức – bộ máy, chế độ đãi ngộ
- Hai là, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trong bối cảnh cải cách tư pháp.
- Ba là, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ KSV, lãnh đạo Viện quán triệt các KSV chủ động đăng ký các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho KSV
- Bốn là, VKSND huyện Ea H’Leo cũng cần phối hợp với Công an huyện Ea H’Leo tăng cường rà soát, thống kê quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy; công tác cai nghiện ma túy, điều trị nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
- Năm là, ở cấp địa phương cần phải tăng cường hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử là Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Tiểu kết chương 3
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về THQCT đối với vụ án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk ở Chương 2, Chương 3 của Luận văn phân tích những vấn đề trọng tâm, cốt lõi về các yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk đề làm cơ sở nền tảng cho việc nâng cao chất lượng hoạt động này. Theo đó, thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy; xây dựng nền công tố mạnh của VKSND.
Thông qua những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk và nguyên nhân của những tồn tại, khó khăn đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới, trong đó tập trung vào các nhóm giải pháp: chung nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo và Giải pháp đối với VKSND huyện Ea H’Leo. Các giải pháp trên sẽ góp phần hạn chế những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy; nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy. Góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS, qua đó khẳng định vị thế, vai trò của VKSND trong điều tra xử lý các vụ án về ma túy nói riêng và trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành về thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy; phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo trong giai đoạn 05 năm từ năm 2018 đến năm 2022. Trong đó chỉ ra được những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động này, luận văn đã đề xuất một số giải pháp mang tính chiến lược, đồng bộ và khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo trong thời gian tới. Trong đó có các giải pháp mang tính đột phá, quan trọng như: Hoàn thiện hệ thống pháp luật; Đổi mới, nâng cao công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong thực hành quyền công tố đối với an ma túy; Nâng cao năng lực, trách nhiệm của Kiểm sát viên; Đổi mới về nội dung và phương pháp kỹ năng nghiệp vụ thực hành quyền công tố phù hợp với đặc thù của các tội phạm về ma túy; Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra, Tòa án theo các quy định, quy chế phối hợp liên ngành trong thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với án ma túy; Tăng cường rà soát, thống kê quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy; công tác cai nghiện ma túy, điều trị nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về hoạt động của VKSND trong thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy ở VKSND, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập chuyên ngành. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể áp dụng để xây dựng các kỹ năng, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ. KSV, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật về THQCT đối với án ma túy ở VKSND huyện Ea H’Leo trong thời gian tới. Luận văn: Pháp luật về quyền công tố đối với án ma túy.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực hiện quyền lực NN thông qua quyền công tố

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về chứng thực từ hoạt động của UBND