Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hộ tịch là những sự kiện cơ bản trong đời sống một con người như: Sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám định, nuôi con nuôi, thay đổi họ, tên, quốc tịch… Một trong những nội dung liên quan đến hoạt động quản lý con người là công tác quản lý hộ tịch. Con người là nhân tố trung tâm của mọi quan hệ xã hội, là chủ thể quan trọng và quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Chính vì vậy, vấn đề đầu tiên của xã hội là quản lý con người.

Thực hiện pháp luật về hộ tịch là quyền và nghĩa vụ của mỗi người được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định. Những sự kiện hộ tịch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận bằng văn bản và ghi vào sổ hộ tịch. Những giấy tờ, hộ tịch đã được xác nhận và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận nhằm để cá biệt hoá một công dân, đây là những chứng cứ pháp lý trong các trường hợp cần thiết. Mặt khác việc đăng ký hộ tịch giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý dân số, là cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật tự, an toàn xã hội.

Trong quản lý nhà nước, thực hiện pháp luật về hộ tịch là một lĩnh vực hoạt động được chú trọng và là nhiệm vụ của ngành Tư pháp. Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra đến khi chết. Thực hiện pháp luật về hộ tịch không những liên quan đến nhân thân của con người mà còn liên quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý.

Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch nên trong những năm qua, kể từ khi thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch cũng như Luật Hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch cùng với Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch… Đây chính là cơ sở pháp lý để công dân thực hiện các quyền nhân thân và Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với công dân. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Có thể nói, từ khi có các Văn bản quy phạm pháp luật nói trên, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã đạt được một số kết quả bước đầu, từng bước ổn định và đi vào nề nếp. Người dân đã nhận thức tầm quan trọng của giấy tờ hộ tịch nên không tùy tiện sữa chữa, thêm, bớt, tự giác đi đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định của pháp luật. Không còn tình trạng “sinh không khai, tử không báo” như trước đây.

Thực tế cho thấy, cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước, công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh vẫn còn một số tồn tại, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính và cải cải cách tư pháp trong giai đoạn mới. Tình trạng cơ quan, tổ chức, đoàn thể chưa xác định đúng giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch, về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về hộ tịch, còn gây nhiều khó khăn cho công dân. Thực trạng trên có nguyên nhân xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch của một bộ phận cán bộ, công chức và nhân dân; sự phối hợp thiếu nhịp nhàng giữa các cơ quan hữu quan trong việc giải quyết những sai sót trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý về đăng ký và quản lý hộ tịch chưa thực sự sâu rộng; năng lực của một số công chức còn hạn chế…

Nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại, vướng mắc trên và góp phần đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch, tác giả chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội” làm luận văn Thạc sỹ Luật chuyên ngành Luật Hiến pháp – Luật Hành chính.

2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Ở Việt Nam, vấn đề thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật trên từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội (trong đó có lĩnh vực hộ tịch) đã được Đảng, Nhà nước và đặc biệt là các nhà khoa học, những người làm công tác lý luận nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau như:

  • Phạm Trọng Cường: Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, 2007;
  • Phạm Trọng Cường: Về quản lý hộ tịch, NXB. Chính trị quốc gia, 2004;
  • Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
  • Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Chuyên đề thông tin khoa học pháp lý về hộ tịch, Hà Nội, 1995;
  • Nguyễn Thị Hồng Liên: Quản lý hộ tịch ở thành phố Hồ Chí Minh, luận văn thạc sĩ luật học, 1996;
  • Lê Thị Hoàng Yến: Đăng ký hộ tịch thực tiễn và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, 2002;
  • Tổng cục Thống kê: Một số kết quả về dự án cải tiến đăng ký hộ tịch và thống kê dân số, NXB. Thống kê, 1989;
  • Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tư pháp – hộ tịch trong giai đoạn hiện nay”, Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9 năm 2006;
  • Số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch:, phần 2 hộ tịch và quốc tịch”, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007;
  • Bài “Tư pháp Hà Nội không khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh”, tác giả Đàm Thị Kim Hạnh, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 03 năm 2008;
  • “Hôn nhân biên giới và những vướng mắc trong thủ tục đăng ký kết hôn”, tác giả Phạm Trọng Cường, Tập san Biên giới và lãnh thổ, số 9 (tháng 4-2001)…

Những công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu những vấn đề chung của thực hiện pháp luật, thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhưng đến nay chưa có công trình nào dưới góc độ lý luận và thực trạng thực hiện pháp luật, lý giải các nguyên nhân và đề ra phương hướng bảo đảm thực hiện pháp luật về Hộ tịch nói chung và ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội nói riêng.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1. Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá đúng tình hình thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội trong những năm qua và hiện nay, luận văn đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội trong thời gian tới.

3.2. Nhiệm vụ

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về hộ tịch.
  • Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội trong thời gian qua.
  • Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Các quy định của pháp luật hộ tịch và các văn bản của Uỷ ban nhân dân huyện Mê Linh trong lĩnh vực hộ tịch.
  • Thực tiễn hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch ở cấp xã trên địa bàn huyện Mê Linh.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch và hoạt động thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội từ năm 2014 (kể từ khi có Luật Hộ tịch) cho đến nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về thực hiện pháp luật về hộ tịch, bám sát tình hình thực tế và điều kiện tự nhiên, xã hội ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

Ngoài ra, để đạt được mục đích nghiên cứu của luận văn tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

  • Trong Chương 1, để làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về hộ tịch, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ thêm quan niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật về hộ tịch.
  • Trong Chương 2, để minh họa về thực tiễn thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, sơ đồ hóa… từ những phân tích về thuận lợi và khó khăn tác giả chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch chưa đạt hiệu quả cao từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh nói riêng và cả nước nói chung.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

  • Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
  • Luận văn đánh giá thực trạng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm thực hiện pháp luật về hộ tịch.
  • Làm tài liệu tham khảo trong việc tổng kết thực tiễn, đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch, cũng như nghiên cứu giảng dạy của các cơ sở đào tạo luật.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 03 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về hộ tịch;
  • Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội;
  • Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH

1.1. Quan niệm về hộ tịch và pháp luật về hộ tịch

1.1.1. Quan niệm về hộ tịch, đăng ký hộ tịch

  • Hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Từ trước đến nay, vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về “Hộ tịch”. Trong khoa học pháp lý một số nước trên thế giới, có thể nhận thấy khái niệm về hộ tịch đã được đề cập, cụ thể như theo tiếng Anh, thuật ngữ “Civil registration” được hiểu là việc đăng ký đúng thời hạn các sự kiện sinh, tử, kết hôn với chính quyền trong thời hạn quy định. Hiện nay, trong Bộ luật Dân sự của Cộng hoà Pháp không đưa ra khái niệm riêng về hộ tịch mà chỉ đưa ra khái niệm “Chứng thư hộ tịch”; nhưng trong tiếng Pháp thì từ “registre d etat civil” cũng được hiểu là việc đăng ký dân sự của cá nhân. Như vậy, cả hai khái niệm nêu trên đều có thể hiểu nghĩa đó là việc “đăng ký tình trạng dân sự của cá nhân”.

Các nước có hệ thống pháp luật theo truyền thống là luật thành văn (còn gọi là hệ thống luật lục địa) với đại diện tiêu biểu nhất là Pháp thì khái niệm này thường gắn liền với khái niệm “Thân trạng” và được hiểu là “căn cước, tình trạng dân sự của một cá nhân” (tiếng Pháp là état des personnes).

Còn hiện nay, theo các tài liệu và được Liên hiệp quốc công nhận và chính thức sử dụng thường xuyên thì khái niệm “Civil registration” có nghĩa là: “Đăng ký hộ tịch là việc ghi nhớ liên tục đặc điểm về sự tồn tại và tình trạng dân sự của mỗi cá nhân liên quan đến dân số được quy định bởi sắc lệnh, luật hoặc điều lệ phù hợp với yêu cầu của pháp luật mỗi quốc gia”.

Có thể nói, khái niệm hộ tịch được thể hiện rất rộng, các nước khu vực Châu Âu như Cộng hoà Pháp, Cộng hoà liên bang Đức, Cộng hoà Áo… hay các nước ở khu vực Châu Á như Lào, Nhật Bản, Đài Loan… đều có những khái niệm riêng về hộ tịch.

Có quan niệm cho rằng: Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh, khai tử. Quan niệm thứ hai lại cho rằng, việc ghi chép vào sổ sách không phải là hộ tịch mà bản thân các sự kiện liên quan đến tình trạng nhân thân của con người mới là hộ tịch. Có thể xem cách hiểu thứ hai là cách hiểu khá thấu đáo và toàn diện, được khoa học công nhận và được quy định khá rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch thì: Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết.

Có thể xem những sự kiện về hộ tịch rất đa dạng. Nếu theo quan niệm cũ trước đây, hộ tịch chủ yếu bao gồm các sự kiện về sinh, tử, kết hôn thì theo quy định hiện nay của pháp luật, hộ tịch bao gồm 9 sự kiện cơ bản như: sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc. Các sự kiện hộ tịch được xem là các sự kiện cơ bản, bởi các sự kiện này có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Như vậy, có thể thấy về mặt ngôn ngữ học, từ “hộ tịch” đang được sử dụng trong pháp luật Việt Nam hiện hành đều có sự tương đồng về ngữ nghĩa với các khái niệm của pháp luật về hộ tịch của nước ngoài.

Theo điều 1, Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 (Nghị định này thay thế cho NĐ số 83 ngày 10/10/1998) quy định: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.

Theo Điều 2 Luật Hộ tịch năm 2014: Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết.

Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình. Công tác quản lý hộ tịch là một tổng thể của nhiều công việc như tuyên truyền giáo dục pháp luật về hộ tịch, tổ chức đăng ký hộ tịch, báo cáo thống kê tăng, giảm dân số, kiểm tra, xử lý vi phạm về đăng ký hộ tịch. Các công việc nêu trên phải được tiến hành thường xuyên tại cơ sở nhằm bảo đảm kịp thời, chính xác đồng thời phải thuận tiện, tránh gây phiền hà cho dân.

Như vậy, hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra đến khi chết. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và quyền nhân thân của con người được Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 qui định để xác định sự kiện hộ tịch như: quyền thay đổi họ tên; quyền xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền được kết hôn; quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền đối với quốc tịch…

  • Đăng ký hộ tịch

Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận, ghi vào sổ các sự kiện hộ tịch của cá nhân nhằm xác định tình trạng nhân thân của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và thực hiện quản lý về dân cư, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Theo quan niệm truyền thống: Đăng ký hộ tịch là việc ghi chép vào sổ các sự kiện về việc hộ tịch của các hộ lại nhằm quản lý việc biến động tự nhiên, biến động xã hội của các sự kiện đó, trên cơ sở đó xác định nghĩa vụ đối với Nhà nước như đóng thuế, nghĩa vụ nô dịch, quân dịch … Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Theo quan niệm hiện tại: Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Khái niệm này được mở rộng phạm vi đăng ký tại Điều 1 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.

Khái niệm đăng ký hộ tịch được định nghĩa như sau: Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc;

Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào Sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi.

Trước khi có Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 thì trong Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 cũng đã đưa ra khái niệm đăng ký hộ tịch tương đối giống với nội dung như trong Nghị định 158. Quay về thời điểm 1995, khi Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự, thì tại điều 54 của Bộ luật cũng có quy phạm định nghĩa về khái niệm đăng ký hộ tịch: “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định lại dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch”

Như vậy, Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã sử dụng phương pháp mô tả để phán ánh đầy đủ, toàn diện khái niệm đăng ký hộ tịch. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, trong khái niệm đăng ký hộ tịch, chữ “tịch” đã có giá trị biểu đạt tương đương với “đăng ký”. Chữ “tịch” có nghĩa là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Điều này tạo nên sự trùng lặp về ý nghĩa khi giải thích khái niệm (tương tự như cụm từ: Sông Hồng Hà, sông Trường Giang, đá thiên thạch..). Đây là một nét đặc trưng của việc sử dụng ngôn ngữ Hán – Việt. Hạn chế có thể được khắc phục nếu thay thế khái niệm đăng ký hộ tịch bằng khái niệm thuần Việt“đăng ký tình trạng dân sự”. Tuy nhiên đây là khái niệm xa lạ với người dân, do đó, việc sử dụng khái niệm thay thế “đăng ký tình trạng dân sự” mặc dù có thể đạt được sự chặt chẽ về mặt học thuật những lại hoàn toàn không có tính đại chúng, hạn chế khả năng phổ biến trong đời sống xã hội. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Như vậy, sự kết hợp giữa khái niệm “hộ tịch” (mà đúng hơn là sự kiện “hộ tịch”) và “đăng ký hộ tịch” mới có thể mang lại cách hiểu đầy đủ về khái niệm “hộ tịch”, vì khái niệm “hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” là một khái niệm “mở”, theo đó, chỉ có thể hiểu “những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người” là những sự kiện nào khi viện dẫn tới định nghĩa về “đăng ký hộ tịch”.

Khi định nghĩa hành vi đăng ký hộ tịch, Nghị định 158/2005/NĐ-CP đồng thời đã phân biệt thành 2 nhóm hành vi với tính chất khác nhau rõ ràng:

Hành vi xác nhận các sự kiện sinh, kết hôn, tử, nuôi con nuôi, giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ tên, chữ đệm; cải chính họ tên, chữ đệm; ngày tháng năm sinh; xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc.

Đối với các sự kiện hộ tịch trên, cơ quan đăng ký hộ tịch xác nhận bằng cách đăng ký vào sổ dành riêng cho từng loại việc đồng thời cấp giấy chứng nhận về việc đó cho đương sự (như Giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn). Hành vi xác nhận của cơ quan đăng ký hộ tịch đã làm phát sinh hiệu lực pháp lý của các sự kiện được đăng ký. Chỉ sau khi đăng ký, các sự kiện đó mới làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cá nhân.

Hành vi ghi (ghi chú) vào sổ hộ tịch các việc về ly hôn, xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; huỷ việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi. Khác với hành vi xác nhận, đối với các loại việc hộ tịch này, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ đơn thuần căn cứ quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi chú việc đó vào sổ hộ tịch. Điểm phân biệt cơ bản giữa hành vi này với nhóm hành vi thứ nhất là nó không làm phát sinh hiệu lực pháp lý, bởi vì bản thân các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã đem lại hiệu lực pháp lý cho các việc đó.

1.1.2. Pháp luật về hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Ở nước ta, pháp luật về hộ tịch có lịch sử lâu đời từ thời phong kiến nhà Trần và các triều đại phong kiến tiếp theo. Tuy nhiên, việc quản lý hộ tịch được thực hiện một cách đầy đủ, khoa học chỉ được bắt đầu từ thời kỳ Pháp thuộc. Điểm nổi bật trong hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch của thời kỳ Pháp thuộc là có một đội ngũ hương chức chuyên làm công tác hộ tịch, gọi là Hộ lại. Hộ lại là người nắm giữ sổ sách hộ tịch và trực tiếp đăng ký các việc hộ tịch trong địa bàn cấp xã do mình phụ trách. Vì việc quản lý hộ tịch đòi hỏi phải nắm rất kỹ từng người dân, từng gia đình nên chức danh Hộ lại được bổ nhiệm suốt đời (trừ phi bị truất chức do vi phạm), thậm chí được khuyến khích “cha truyền con nối”. Điểm nổi bật thứ hai trong quản lý hộ tịch thời Pháp thuộc là có hệ thống sổ sách hộ tịch (gọi là “sổ bộ”) đầy đủ, khoa học và được bảo quản rất cẩn thận. Hiện nay, một số sổ sách hộ tịch thời Pháp thuộc vẫn còn được lưu giữ tại các thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ.

Sau Cách mạng Tháng tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn được Nhà nước ta tiếp tục duy trì và phát triển. Theo tinh thần của Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc Kỳ vẫn được tiếp tục áp dụng.

Ngày 08/5/1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch. Ngày 16/01/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP, kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới thay thế Bản điều lệ được ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTg. Theo quy định tại hai bản điều lệ nói trên, thì Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) là cơ quan được Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ thống nhất chỉ đạo, tổ chức quản lý hộ tịch, việc đăng ký hộ tịch do Uỷ ban hành chính xã, thị trấn, thị xã, khu phố phụ trách.

Từ năm 1987, nhiệm vụ quản lý nhà nước về hộ tịch được chuyển giao từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các cấp trên cơ sở Nghị định số 219/HĐBT ngày 20/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ); từ thời điểm này, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý Nhà nước về hộ tịch trên phạm vi cả nước.

Đến năm 2005 việc đăng ký quản lý hộ tịch được thực hiện theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, nghị định 06/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực. Nghị định số 06/2012/NĐ-CP đã sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 158/2005/NĐ-CP theo hướng đơn giản hoá các thủ tục khi đăng ký hộ tịch, quy định cụ thể các giấy tờ cần thiết đối với từng sự kiện hộ tịch, bổ sung quy định đối với hồ sơ đăng ký hộ tịch, hồ sơ xin cấp bản sao từ sổ gốc gửi qua hệ thống bưu chính. Đồng thời Nghị định 06/2012/NĐ-CP, đã rút ngắn thời hạn giải quyết một số thủ tục về hộ tịch.

Ngày 20/11/2014, Quốc Hội ban hành Luật Hộ tịch và bắt đầu từ năm 2016, Luật hộ tịch chính thức có hiệu lực đã trở thành bước tiến lớn trong công tác đăng ký hộ tịch. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Như vậy, pháp luật về hộ tịch là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với công dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực hộ tịch.

  • Pháp luật về hộ tịch có các đặc điểm sau đây:

Pháp luật về hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con người, bởi vì mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết. Các dấu hiệu về cha, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính, là những dấu hiệu giúp người ta phân biệt từng cá nhân con người.

Có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng, đa dạng, phức tạp, bao gồm các quan hệ xã hội phát sinh của mỗi một con người từ khi sinh ra cho tới khi chết đi bao gồm: khai sinh, kết hôn, nhận cha mẹ con, cải chính, bổ sung hộ tịch….

Chứa đựng các loại quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau như: Luật hiến pháp, Luật Hành chính, Luật dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình….

Có hình thức thể hiện phong phú, gồm các văn bản luật và các văn bản dưới luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành: Luật hộ tịch năm 2014, Nghị định số: 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch, thông tư số: 15/2015/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch…

1.2. Quan niệm thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về hộ tịch

Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân và có vị trí tối cao trong cách ứng xử của cả công dân, các tổ chức và Nhà nước. Song mục đích đó có đạt được hay không, pháp luật có triển khai thực hiện trong thực tế cuộc sống hay không phụ thuộc vào hiệu quả thực hiện pháp luật của các chủ thể.

Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Dưới góc độ của pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp. Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Do vậy, có thể hiểu: Thực hiện pháp luật về hộ tịch là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện đăng ký, quản lý hộ tịch đi vào cuộc sống nhằm phát huy cao độ quyền của công dân trong việc đăng ký các sự kiện hộ tịch: khai sinh, khai tử, kết hôn,… nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch đảm bảo cho các sự kiện hộ tịch được đăng ký kịp thời, đúng quy định của pháp luật, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình.

  • Thực hiện pháp luật về hộ tịch có các đặc điểm sau đây:

Thực hiện pháp luật về hộ tịch là thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân đối với hoạt động đăng ký hộ tịch và là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khi đăng ký quản lý hộ tịch, khác với thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực, các ngành luật khác ở các chủ thể, phạm vi, nội dung và các hình thức thực hiện. Theo đó:

Chủ thể thực hiện pháp luật về hộ tịch trước hết là các cơ quan: Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao, các cơ quan đại diện, Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, phòng Tư pháp, Uỷ ban nhân dân cấp xã.

Phạm vi thực hiện pháp luật về hộ tịch diễn ra giữa các chủ thể mà một bên bao giờ cũng là công dân sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ hoặc những đơn vị quần cư nhỏ nhất.

Chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về hộ tịch vừa mang tính chất quản lý hành chính vừa mang tính chất tự quản. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch rất rộng lớn, có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú.

1.2.2. Các hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch

Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức mà các chủ thể tiến hành các hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Các quy phạm pháp luật rất phong phú nên hình thức thực hiện chúng cũng rất phong phú và khác nhau. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, có thể xác định thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật. Trong đó, thi hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Sử dụng pháp luật là hình thức trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép), ở hình thức này các chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình. Thực hiện pháp luật về hộ tịch được thực hiện chủ yếu ở hình thức sử dụng pháp luật (đối với chủ thể là công dân) và áp dụng pháp luật (đối với chủ thể là chính quyền và các tổ chức chính trị cơ sở). Nếu xem xét thực hiện pháp luật về hộ tịch cơ sở chính là thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch.

Tuân thủ pháp luật về hộ tịch: Là hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện các quy định cấm của pháp luật hộ tịch.

Để đảm bảo công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện kịp thời, đầy đủ theo các quy định của pháp luật về hộ tịch, những yêu cầu chủ thể pháp luật phải luôn luôn tự kiềm chế mình một cách chủ động và tự giác trong mọi điều kiện, hoàn cảnh tình huống luật định mà bản thân mình đang gặp phải để không thực hiện những hành vi pháp luật ngăn cấm trong lĩnh vực hộ tịch.

Ví dụ: Điều 12 Luật Hộ tịch năm 2014 có quy định Các hành vi bị nghiêm cấm: Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; làm hoặc sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ của người khác để đăng ký hộ tịch; Đe dọa, cưỡng ép, cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch; Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đăng ký hộ tịch; Cam đoan, làm chứng sai sự thật để đăng ký hộ tịch; Làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ hộ tịch hoặc thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch; Đưa hối lộ, mua chuộc, hứa hẹn lợi ích vật chất, tinh thần để được đăng ký hộ tịch; Lợi dụng việc đăng ký hộ tịch hoặc trốn tránh nghĩa vụ đăng ký hộ tịch nhằm động cơ vụ lợi, hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước hoặc trục lợi dưới bất kỳ hình thức nào…

Điều 74 Luật Hộ tịch năm 2014 cũng quy định những việc công chức làm công tác hộ tịch không được làm gồm: Cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, trì hoãn, gây khó khăn, phiền hà, nhận hối lộ khi đăng ký, quản lý hộ tịch. Thu lệ phí hộ tịch cao hơn mức quy định hoặc đặt ra các khoản thu khi đăng ký hộ tịch. Đặt ra thủ tục, giấy tờ, cố ý kéo dài thời hạn giải quyết đăng ký hộ tịch trái quy định của Luật này. Tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch…

Với các quy định này đòi hỏi cả từ phía người dân và chủ thể thực hiện đăng ký hộ tịch không được thực hiện các hành vi nêu trên. Việc các chủ thể đó kiềm chế không thực hiện những hành vi trên là biểu hiện của việc thực hiện pháp luật về Hộ tịch. Nếu trong trường hợp có những cơ quan, tổ chức, cá nhân, công dân hoặc cán bộ, công chức vi phạm thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Thi hành (chấp hành pháp luật về hộ tịch): Là một hình thức thực hiện pháp luật về Hộ tịch, trong đó các chủ thể pháp luật tự thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Bên cạnh việc đề ra các quy định mang tính ngăn cấm nhằm hạn chế những hành vi gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc đăng ký, quản lý hộ tịch, pháp luật còn có những quy định mang tính bắt buộc thể hiện ở những nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình đăng ký, quản lý hộ tịch.

  • Ví dụ: Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về Trách nhiệm đăng ký khai sinh:

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Công chức tư pháp – hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn trong thời hạn quy định; trường hợp cần thiết thì thực hiện đăng ký khai sinh lưu động.

  • Điều 33 quy định Thời hạn và trách nhiệm đăng ký khai tử:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử.

Công chức tư pháp – hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc khai tử cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai tử thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử.

Với các quy định đã nêu trên các chủ thể ở trong các trường hợp đó, nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời nộp phí theo quy định của pháp luật. Như vậy, bằng hành động tích cực trong khi thực hiện các nghĩa vụ của mình các chủ thể đã tích cực thực hiện các quy phạm pháp luật về Hộ tịch.

Sử dụng pháp luật về hộ tịch: là hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch, trong đó các chủ thể sử dụng các quyền về đăng ký, quản lý hộ tịch để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Hình thức này khác với hình thức tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật ở chỗ có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí. Ví dụ: Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về hộ tịch, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy pháp luật cho phép các chủ thể pháp luật có quyền khiếu nại, tố cáo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật về hộ tịch nhưng họ có thể không thực hiện các quyền này của mình nếu họ cảm thấy không cần thiết.

Áp dụng pháp luật về hộ tịch: là một hình thức thực hiện pháp luật, đặc biệt trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc các tổ chức xã hội và các cá nhân được nhà nước trao quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật để ban hành các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ về hộ tịch. Trong trường hợp này các chủ thể tham gia thực hiện pháp luật, thực hiện các quy định của pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước.

1.2.3. Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Các quy phạm pháp luật về hộ tịch của nước ta hiện nay được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật (Hiến pháp 2013, Luật Hộ tịch 2014, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và gia đình  cùng các Nghị định, Chỉ thị, Quyết định, Thông tư…)

của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với nội dung rộng, liên quan đến tất cả các lĩnh vực hộ tịch. Tuy vậy, có thể khái quát nội dung thực hiện pháp luật hộ tịch bao gồm 2 vấn đề chủ yếu: đăng ký hộ tịch và quản lý hộ tịch.

  • Thực hiện pháp luật về đăng ký hộ tịch

Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư.

Nội dung đăng ký hộ tịch bao gồm:

  • Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử.
  • Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
  • Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
  • Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.

Việc đăng ký hộ tịch cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

  • Tôn trọng và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân.
  • Mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác; trường hợp không đủ điều kiện đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối bằng văn bản và nêu rõ lý do. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
  • Đối với những việc hộ tịch mà Luật này không quy định thời hạn giải quyết thì được giải quyết ngay trong ngày; trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo.
  • Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của Luật này.

Cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Trường hợp cá nhân không đăng ký tại nơi thường trú thì Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Cơ quan đại diện nơi đã đăng ký hộ tịch cho cá nhân có trách nhiệm thông báo việc đăng ký hộ tịch đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân đó thường trú.

  • Mọi sự kiện hộ tịch sau khi đăng ký vào Sổ hộ tịch phải được cập nhật kịp thời, đầy đủ vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
  • Nội dung khai sinh, kết hôn, ly hôn, khai tử, thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc của cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch là thông tin đầu vào của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
  • Bảo đảm công khai, minh bạch thủ tục đăng ký hộ tịch.

Quản lý và đăng ký hộ tịch là một trong những lĩnh vực quan trọng của quản lý nhà nước, có liên quan đến các quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, do đó, các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam, công dân nước ngoài thường trú tại Việt Nam đều phải được cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký hộ tịch.

Khi đăng ký hộ tịch, người dân phải được tiếp cận các thủ tục đăng ký một cách công khai, minh bạch; phải thực hiện kê khai và nộp các hồ sơ, giấy tờ theo quy định của pháp luật khi thực hiện một thủ tục hành chính, cơ quan đăng ký hộ tịch phải có trách nhiệm ghi vào Sổ hộ tịch và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đầy đủ các nội dung đăng ký hộ tịch; cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Trường hợp cá nhân không đăng ký tại nơi thường trú thì Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Cơ quan đại diện nơi đã đăng ký hộ tịch cho cá nhân có trách nhiệm thông báo việc đăng ký hộ tịch đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân đó thường trú. Cá nhân có yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch có thể trực tiếp nộp hồ sơ, gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính và khi điều kiện cho phép có thể gửi qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến.

Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch trong nước bao gồm: Đăng ký khai sinh; kết hôn; nhận cha, mẹ, con; giám hộ (bao gồm cả đăng ký chấm dứt, thay đổi giám hộ); thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như: thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác và đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới); đăng ký khai tử.

Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đăng ký các loại việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài và việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú trong nước từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc.

Quán triệt quan điểm phân cấp mạnh cho chính quyền cơ sở, Luật quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết toàn bộ các việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú trong nước, xác định lại dân tộc. Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký các việc hộ tịch còn lại. Quy định này nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm của chính quyền địa phương; bảo đảm tăng cường vai trò quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tiến tới mục tiêu lâu dài là phân cấp triệt để thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho chính quyền cơ sở khi điều kiện cho phép.

  • Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Quản lý hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý nhà nước, thông qua việc đăng ký hộ tịch, Nhà nước nắm được tình hình biến động dân cư và sự biến động của xã hội giúp nhà nước có cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội và là cơ sở để hoạch định chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

Quản lý hộ tịch là một lĩnh vực quản lý thân trạng của công dân và thực trạng của từng gia đình với những nét chính yếu nhất. Mọi sự kiện hộ tịch phải được đăng ký kịp thời, chính xác, mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký ở một nơi theo đúng thẩm quyền quy định. Vì vậy hoạt động quản lý hộ tịch phải bảo đảm kịp thời, tính nguyên tắc và tính khoa học.

Quản lý hộ tịch là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình… Mọi quốc gia trên thế giới, dù ở bất kỳ chế độ chính trị với trình độ phát triển như thế nào cũng đều quan tâm. Một nhà nước muốn hoạt động hiệu quả cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật thì trước hết phải làm tốt vai trò quản lý của mình bằng cách cập nhật thường xuyên các thông tin, dữ liệu về dân cư (sinh, tử) có được từ hoạt động quản lý về hộ tịch. Vì một mặt, đó là những dữ liệu cần thiết của mọi bài toán hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng… Mặt khác, nó là một hoạt động thể hiện tập trung, sinh động mối quan hệ giữa nhà nước và công dân…

Quản lý hộ tịch là một nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp. Các cơ quan có thẩm quyền quản lý hộ tịch gồm: Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao, các cơ quan đại diện, Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, phòng Tư pháp, Uỷ ban nhân dân cấp xã.

Thủ tục đăng ký hộ tịch là cách thức, trình tự luật định mà các cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch và cá nhân, tổ chức có yêu cầu đăng ký hộ tịch phải tuân thủ khi thực hiện việc đăng ký một sự kiện hộ tịch. Thủ tục đăng ký hộ tịch được quy định chặt chẽ bởi các quy phạm pháp luật về thủ tục hành chính. Trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta, các quy phạm pháp luật về thủ tục nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.

Công tác quản lý hộ tịch không chỉ là công tác quản lý hành chính đơn thuần của Nhà nước là ghi vào sổ hộ tịch xác nhận những việc liên quan đến hộ tịch (họ tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch…), mà còn có ý nghĩa quan trọng làm phát sinh những hậu quả về mặt pháp lý, liên quan đến một số lĩnh vực pháp luật trong nước và cả trong tư pháp quốc tế.

1.2.4. Vai trò của thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Thực hiện pháp luật về hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó.

Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch không những liên quan đến nhân thân của con người mà còn liên quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý.

Pháp luật về hộ tịch giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì và thực hiện các sự kiện hộ tịch. Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh cách xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc thực hiện đăng ký, quản lý hộ tịch. Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi đăng ký hộ tịch, quy định các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch. Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đăng ký, quản lý hộ tịch. Đồng thời pháp luật về hộ tịch quy định quy trình, thủ tục, cách thức thực hiện các sự kiện hộ tịch từ phía người dân cũng như từ phía cán bộ có thẩm quyền. Mọi quy trình, thủ tục đều được pháp luật quy định chặt chẽ. Vai trò của thực hiện pháp luật về hộ tịch được thể hiện rõ nét ở một số khía cạnh sau: Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Một là, thông qua thực hiện pháp luật về hộ tịch Đảng và Nhà nước hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch, thực hiện xây dựng dữ liệu thông tin quốc gia.

Yêu cầu xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đặt ra đòi hỏi tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước được làm những gì mà pháp luật quy định còn công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Việc thực hiện pháp luật về hộ tịch trên tất cả các lĩnh vực diễn ra ở cơ sở không chỉ giúp cho pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, nhân dân tự mình làm chủ trong quản lý xã hội mà còn giúp cho Đảng, Nhà nước ngày càng có cơ sở thực tiễn hơn trong việc hoạch định đường lối chính sách, hoàn thiện pháp luật, vì chỉ có thông qua thực tiễn, nhân dân mới thực sự là người sáng tạo ra lịch sử.

Thông qua thực hiện pháp luật về hộ tịch giúp Đảng và Nhà nước hoàn thiện đường lối, chính sách về hộ tịch nói chung.

Hai là, thực hiện pháp luật về hộ tịch có vai trò to lớn đối với hoạt động của chính quyền cơ sở.

Việc thực hiện pháp luật về hộ tịch vừa là điều kiện, vừa là yêu cầu nhằm kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và hoạt động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Pháp luật về hộ tịch quy định cụ thể trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở đối với việc quản lý và thực hiện đăng ký hộ tịch. Với tư cách là chủ thể của hoạt động thực hiện pháp luật về hộ tịch ở cơ sở, hệ thống chính trị ở cơ sở là khâu then chốt trong tổ chức thực hiện.

Thông qua việc thực hiện pháp luật về hộ tịch mà hệ thống chính trị ngày càng nâng cao năng lực tổ chức triển khai nhiệm vụ, phát triển và bồi dưỡng nguồn cán bộ kế cận cho đội ngũ cán bộ, công chức, đổi mới phương thức lãnh đạo, tập hợp đoàn viên, hội viên, điều hòa và gắn kết các nhóm lợi ích, những vấn đề nảy sinh được phát hiện kịp thời, các khó khăn được tháo gỡ và ngày càng thu hút được sự tham gia rộng rãi của người dân vào các công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Ba là,thực hiện pháp luật về hộ tịch góp phần phát triển kinh tế, văn hóa –xã hội; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thực hiện pháp luật về hộ tịch bảo đảm và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội hơn. Nhà nước thực hiện chính sách quản lý và phát triển kinh tế – xã hội thông qua chính sách vĩ mô và vi mô. Trong những năm qua hoạt động quản lý kinh tế của các cấp chính quyền đã được tách bạch, rạch ròi với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh.

Thực hiện pháp luật về hộ tịch cũng là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Pháp luật về hộ tịch là một bộ phận của pháp luật thực định, góp phần thực hiện chức năng duy trì trật tự xã hội. Các quy định pháp luật đều có chế tài để răn đe, phòng ngừa và trừng trị nghiêm khắc những hành vi vi phạm. Thực tế chứng minh, ở địa phương nào thực hiện tốt pháp luật về hộ tịch thì ở đó tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, việc quản lý tốt công tác đăng ký hộ tịch giúp chính quyền nắm được các thông tin về tình trạng dân số qua đó xây dựng và hoạch định các chính sách phát triển kinh tế – xã hội thích hợp. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Bốn là, thực hiện pháp luật về hộ tịch ở cơ sở góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác.

Việc công khai các quy định, quy trình thủ tục, mức lệ phí trong lĩnh vực hộ tịch đã tạo cơ sở để dân được kiểm tra, giám sát, tài chính được công khai, minh bạch hơn đã làm hạn chế rất nhiều các biểu hiện tha hóa của cán bộ, công chức, làm thay đổi tác phong công tác của đa số cán bộ công chức theo hướng tích cực hơn, trăn trở hơn với lợi ích của dân, sâu sát và tôn trọng quyền làm chủ của dân. Điều này cũng đòi hỏi bộ máy nhà nước phải đẩy mạnh cải cách hành chính để ngày càng phục vụ nhân dân tốt hơn.

Năm là, thực hiện pháp luật về hộ tịch khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác hộ tịch đối với công tác quản lý nhà nước và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân.

Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác hộ tịch đối với công tác quản lý nhà nước là vô cùng to lớn.

Công tác hộ tịch đã góp phần tích cực trong quản lý nhà nước, phục vụ đắc lực cho các cấp, các ngành hữu quan trong hoạch định và xây dựng các chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội phù hợp, sát với tình hình thực tế như các chính sách về dân số, phân bổ dân cư, chia tách, sáp nhập địa giới hành chính… Ngoài ra, bảo đảm chính xác thông tin đăng ký hộ tịch còn giúp cho việc xác định độ tuổi (tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tuổi vào các cấp học, tuổi công tác …), nhóm tuổi, số con trong gia đình, khoảng cách giữa các lần sinh, từ đó giúp cho việc thống kê số nhân khẩu, phổ cập giáo dục; số liệu về đăng ký hộ tịch còn phục vụ cho an sinh xã hội như việc cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi; ngoài ra, số liệu đăng ký hộ tịch cũng là cơ sở để các cấp chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch đầu tư kết cấu hạ tầng như xây dựng trường học, công trình phúc lợi…

Việc đăng ký hộ tịch đã tạo cơ sở pháp lý bảo đảm một số quyền nhân thân cơ bản của cá nhân (như quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền được khai sinh, quyền kết hôn… đã được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự). Thông qua việc đăng ký khai sinh (khởi đầu việc đăng ký sự kiện hộ tịch của mỗi cá nhân) đã bảo đảm quyền được khai sinh, một trong những quyền quan trọng đầu tiên của trẻ em theo tuyên bố tại Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền ngay từ khi ra đời, có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình là ai và được chính cha mẹ mình chăm sóc”; tại Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam cũng khẳng định:” trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”. Tuy nhiên, quyền được khai sinh không phải là quyền riêng có của trẻ em mà là quyền của bất cứ cá nhân nào; theo quy định của Bộ Luật Dân sự thì việc bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền nhân thân cơ bản của mỗi cá nhân.

1.3. Yêu cầu và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

1.3.1. Yêu cầu thực hiện pháp luật về hộ tịch

Pháp luật về hộ tịch không chỉ thiết lập các nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý hộ tịch mà còn ấn định những cách thức, thủ tục để các cơ quan hành chính phục vụ quyền đăng ký hộ tịch của người dân, bên cạnh đó, việc pháp điển hoá Luật Hộ tịch sẽ nâng tầm công tác quản lý hộ tịch hiện nay theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, góp phần giải quyết một cách toàn diện các vấn đề cơ bản của hoạt động quản lý hộ tịch như: phương thức quản lý hộ tịch và việc ứng dụng công nghệ thông tin, xác lập hệ thống dữ liệu thông tin hộ tịch; hệ thống tổ chức quản lý hộ tịch; cơ chế quản lý, khai thác dữ liệu thông tin về hộ tịch phục vụ cho hoạt động quản lý kinh tế – xã hội. Đồng thời, việc ban hành Luật Hộ tịch sẽ là yếu tố quan trọng để nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác hộ tịch theo hướng chuyên nghiệp hoá.

Xét từ phương diện khoa học quản lý nhà nước thì quản lý hộ tịch có vị trí trung tâm của hoạt động quản lý dân cư. Đây là lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mà mọi quốc gia hiện đại, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển, đều phải quan tâm. Sự vững mạnh của một quốc gia liên quan mật thiết với hiệu quả của hoạt động quản lý dân cư nói chung và quản lý hộ tịch nói riêng. Có thể khẳng định rằng, các vấn đề pháp lý về quản lý hộ tịch có tầm quan trọng tương tự như các vấn đề pháp lý về quốc tịch, về biên giới quốc gia, về tổ chức bộ máy nhà nước… Vì vậy, quản lý hộ tịch phải được điều chỉnh bằng một đạo luật do Quốc hội ban hành. Trên thế giới, nhiều nước như Đức, Nhật Bản, Đài Loan… đều điều chỉnh vấn đề quản lý hộ tịch bằng văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Nhìn chung, mỗi nước có một mô hình đăng ký và quản lý hộ tịch phù hợp với đặc thù văn hoá, kinh tế, xã hội của nước đó, nhằm đảm bảo quản lý nhà nước về hộ tịch đạt hiệu quả cao nhất.

Đồng thời việc thực hiện pháp luật từ phía người dân góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân.

Thực hiện pháp luật về hộ tịch cần đảm bảo các yêu cầu về tính nguyên tắc và khoa học, tính công bằng, chính xác khách quan, tính linh hoạt, kịp thời, tư duy đổi mới, tính dân chủ công khai.

  • Yêu cầu về tính nguyên tắc và khoa học Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Thực hiện pháp luật về hộ tịch phải được tiến hành trên cơ sở các nguyên tắc luật định có như vậy mới tạo được hiệu quả cao, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, công dân khi vi phạm đối với lĩnh vực hộ tịch.

  • Yêu cầu về tính công bằng, chính xác, khách quan, kịp thời

Theo quy định của Luật Hộ tịch, có một số yêu cầu theo hướng đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho người dân, chắc chắn sẽ tạo sức ép hơn với người làm công tác đăng ký hộ tịch cơ sở. Vì vậy trong quá trình thực hiện pháp luật về hộ tịch yêu cầu tính công bằng, chính xác, khách quan và kịp thời.

Ví dụ đối với rất nhiều việc hộ tịch đơn giản (như đăng ký khai sinh, khai tử…) luật quy định giải quyết ngay trong ngày. Vấn đề khai sinh, khai tử, nhiều vấn đề đơn giản khác nữa phải được giải quyết ngay trong ngày. Đối với một số việc hộ tịch quy định về thời hạn giải quyết, cán bộ tư pháp hộ tịch cấp xã cần phải tập trung bảo đảm đúng tiến độ về thời gian nhưng đồng thời đảm bảo tính chính xác của hồ sơ và đúng trình tự thủ tục quy định.

Thực tế, theo quy định của Luật thì công việc của cán bộ tư pháp hộ tịch cấp xã sẽ thuận lợi hơn rất nhiều vì gần như Uỷ ban nhân dân cấp xã toàn quyền trong đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật mà không cần phải phối hợp liên ngành cũng như không cần phải xin ý kiến cấp trên. Ngay cả đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới thì trong Luật cũng quy định theo hướng là Uỷ ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới trực tiếp giải quyết luôn những việc về hộ tịch như thế mà không cần xin ý kiến cấp huyện, cấp tỉnh…

  • Yêu cầu về tư duy đổi mới, linh hoạt, chặt chẽ

Luật Hộ tịch 2014 là đạo luật quan trọng liên quan đến việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. So với quy định pháp luật hộ tịch hiện hành, Luật hộ tịch 2014 có nhiều nội dung mới mang tính đột phá, cải cách mạnh mẽ công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nói riêng và quản lý dân cư nói chung, như: đơn giản hóa và cắt giảm nhiều giấy tờ không cần thiết khi đăng ký hộ tịch; cải tiến phương thức nộp hồ sơ để người dân lựa chọn – nộp trực tiếp, gửi qua bưu chính hoặc qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến khi điều kiện cho phép; giảm thời hạn giải quyết đối với hầu hết các việc hộ tịch. Quy định cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình mà không phải phụ thuộc vào nơi cư trú như trước đây đòi hỏi cán bộ hộ tịch phải rất linh hoạt trong quá trình giải quyết các yêu cầu về hộ tịch và phải có tư duy đổi mới để tạo thuận lợi cho người dân. Bên cạnh đó, Luật cũng đã có quy định nhằm bảo đảm chặt chẽ, phòng ngừa những sơ hở, vi phạm có thể xảy ra trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch như đã nêu trên (quy định về việc trách nhiệm thông báo việc đăng ký hộ tịch đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân đó thường trú; bổ sung những hành vi bị nghiêm cấm trong đăng ký và quản lý hộ tịch) và quy định về trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc việc khai sinh, khai tử; chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý.

Như vậy, có thể khẳng định: việc thực hiện pháp luật hộ tịch yêu cầu người thực hiện phải có tư duy đổi mới, linh hoạt trong việc thực hiện các quy định của pháp luật hộ tịch và cũng bảo đảm sự chặt chẽ trong công tác quản lý.

  • Yêu câu về tính dân chủ công khai Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Tính dân chủ, công khai là yêu cầu thiết yếu khi thực hiện pháp luật về hộ tịch. Các thủ tục hành chính về hộ tịch cần đuợc niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan tiến hành đăng ký hộ tịch và phải được tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong toàn thể nhân dân để mọi tổ chức, cá nhân, công dân được biết và thực hiện đúng quy định của pháp luật.

1.3.2. Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

  • Hệ thống pháp luật về hộ tịch

Chất lượng của hệ thống pháp luật là yếu tố quan trọng đầu tiên ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch. Muốn thực hiện tốt pháp luật về hộ tịch đòi hỏi phải có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch hoàn thiện, đảm bảo được những thuộc tính: tính toàn diện, đồng bộ, tính phù hợp, tính thống nhất và trình độ kỹ thuật lập pháp.

  • Một là, tính toàn diện và đồng bộ:

Tính toàn diện và đồng bộ có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch, nó đòi hỏi hệ thống pháp luật về hộ tịch phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu điều chỉnh của pháp luật trên những mối quan hệ xã hội nảy sinh trong lĩnh vựa hộ tịch mà chủ yếu là mối quan hệ giữa công dân và cơ quan hành chính nhà nước. Tính toàn diện và đồng bộ của hệ thống pháp luật về hộ tịch thể hiện ở chỗ từng quy phạm pháp luật phải có cấu trúc logic, chặt chẽ; hệ thống pháp luật về hộ tịch phải có đầy đủ các quy phạm, các chế định đáp ứng nhu cầu phát triển của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hộ tịch.

Bất kỳ một quy phạm hay một văn bản pháp luật nào cũng có những mối liên hệ nhất định. Việc thực hiện một quy phạm pháp luật hay một chế định không tốt có thể sẽ làm việc thực hiện các quy định, chế định khác gặp nhiều khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được.

Do vậy, tính toàn diện và đồng bộ của hệ thống pháp luật về hộ tịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi và hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch.

  • Hai là, tính thống nhất của hệ thống pháp luật về hộ tịch:

Tính thống nhất của hệ thống pháp luật về hộ tịch thể hiện ở chỗ: giữa các chế định trong hệ thống pháp luật về hộ tịch, giữa các quy phạm pháp luật trong cùng một chế định phải thống nhất, không trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau. Việc quy định không thống nhất, chồng chéo sẽ gây khó khăn, cản trở việc thực hiện pháp luật.

Tính thống nhất có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch, muốn việc thực hiện pháp luật về hộ tịch được thống nhất thì hệ thống pháp luật phải đảm bảo tính thống nhất.

  • Ba là, tính phù hợp của hệ thống pháp luật về hộ tịch:

Tính phù hợp của hệ thống pháp luật về hộ tịch thể hiện mối tương quan giữa trình độ pháp luật với trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Hệ thống pháp luật về hộ tịch phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế – xã hội, không được cao hơn hoặc thấp hơn. Sự phù hợp của hệ thống pháp luật với các quy luật và điều kiện kinh tế – xã hội sẽ làm cho pháp luật dễ dàng được thực hiện đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế – xã hội. Nếu trình độ của pháp luật cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển kinh tế – xã hội thì pháp luật sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện, thậm chí gây cản trở hoặc không thực hiện được.Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở nhiều mặt, song cần chú ý hơn cả là sự phù hợp đối với kinh tế, chính trị và các thiết chế xã hội khác. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

  • Sự phù hợp của pháp luật về hộ tịch với điều kiện chính trị:

Hệ thống pháp luật về hộ tịch phải phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng. Hệ thống pháp luật Việt Nam phải phản ánh đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, thể chế hóa đường lối, chính sách thành những quy định thống nhất.

  • Sự phù hợp giữa pháp luật về hộ tịch với các thiết chế xã hội khác:

Các thiết chế xã hội khác như: phong tục tập quán, tín điều tôn giáo,… ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện pháp luật.

Các thiết chế xã hội khác phù hợp với ý chí nhà nước được thừa nhận trong pháp luật góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn.

  • Sự phù hợp của pháp luật về hộ tịch quốc gia với với pháp luật quốc tế:

Trong xu thế hội nhập như hiện nay, hệ thống pháp luật quốc qia phải phù hợp với các công ước, điều ước và thông lệ quốc tế mà quốc gia đã kí kết hoặc tham gia. Đây là một yếu tố nhằm đảm bảo việc thực hiện pháp luật về hộ tịch trong thời đại mới, nhất là những chế định liên quan đến yếu tố nuớc ngoài trong lĩnh vực hộ tịch.

  • Bốn là, ngôn ngữ và kỹ thuật xây dựng văn bản:

Hệ thống pháp luật về hộ tịch cần phải được xây dựng có kết cấu, bố cục chặt chẽ, lôgic. Thuật ngữ pháp lí phải được sử dụng chính xác, một nghĩa, câu văn trong sáng, cô đọng, mạch lạc, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

  • Năm là, tính khả thi của hệ thống pháp luật:

Pháp luật muốn phát huy được vai trò và giá trị của mình trong quá trình thực hiện thì phải đảm bảo tính khả thi. Nhiều quy định của pháp luật ban hành không có tính khả thi nên không thực hiện được.

Như vậy, chất lượng của hệ thống pháp luật thực định về hộ tịch là yếu tố quan trọng đầu tiên ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch. Hệ thống pháp luật về hộ tịch đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, phù hợp…..sẽ tạo cơ sở cho việc thực hiện pháp luật được dễ dàng, nghiêm minh và ngược lại.

  • Ý thức pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật về hộ tịch

Ý thức pháp luật là hệ thống các quan điểm, quan niệm, tư tưởng thịnh hành trong xã hội về pháp luật; là thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người đối với pháp luật và hành vi pháp luật của các chủ thể.

Ý thức pháp luật được cấu thành bởi hai bộ phận là: hệ tư tưởng pháp luật và tâm lí pháp luật. Mỗi bộ phận cấu thành có ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện pháp luật, cụ thể như sau:

  • Một là, hệ tư tưởng pháp luật

Hệ tư tưởng pháp luật là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng. học thuyết, trường phái lí luận về pháp luật.

Nếu hệ tư tưởng pháp lý khoa học, phản ánh sâu sắc, đúng đắn các mối quan hệ vật chất và các quy luật phát triển khách quan của xã hội thì sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện pháp luật được đúng đắn, tạo hành lang pháp lý để hiểu đúng và bổ sung thêm kiến thức pháp luật.

Nếu hệ tư tưởng pháp lý phản khoa học, phản ánh sai lầm, xuyên tạc và thiếu tính khách quan các quan hệ vật chất, các quy luật phát triển của xã hội sẽ dẫn đến chủ thể thực hiện pháp luật hiểu sai lệch về kiến tức pháp luật, thực hiện sai các quy định của pháp luật.

  • Hai là, tâm lí pháp luật Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Tâm lí pháp luật là tổng thể những tình cảm, thói quen, thái độ đối với pháp luật của các chủ thể dưới ảnh hưởng và sự điều chỉnh của pháp luật. Tâm lí pháp luật của mỗi chủ thể là khác nhau và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch.

Nếu chủ thể nhận thức được sự cần thiết của pháp luật về hộ tịch, tin tưởng vào sự công bằng, công lý, lợi ích của việc điều chỉnh pháp luật về hộ tịch họ sẽ tự giác thực hiện pháp luật. Ngược lại, chủ thể miễn cưỡng chấp hành thì hiệu quả của việc thực hiện pháp luật sẽ không cao. Trong thực tế có những chủ thể do thiếu hiểu biết về pháp luật, không tôn trọng, bất chấp pháp luật nên dẫn đến vi phạm pháp luật.

Như vậy, để thực hiện pháp luật hiệu quả thì việc nâng cao ý thức phá luật của chủ thể là điều vô cùng quan trọng.

  • Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức đăng ký và quản lý hộ tịch, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân

Đây là yếu tố đảm bảo hiệu quả của việc thực hiện pháp luật. Khả năng thực hiện pháp luật của nhân dân thể hiện ở khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ chính xác, đầy đủ. Khả năng thực hiện pháp luật chủ thể áp dụng pháp luật thể hiện sự thành thạo trong công việc, có tinh thần trách nhiệm cao, tránh hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, giấy tờ hình thức. Thực tế cho thấy sự quan liêu, chậm trễ, thiếu tinh thần trách nhiệm của một số cơ quan và cán bộ trong giải quyết đơn thư khiếu nại của nhân dân dẫn đến nhiều vụ việc đơn giản trở nên phức tạp, nhiều sự oan ức, bất bình trong nhân dân không được giải quyết.

  • Điều kiện vật chất – kỹ thuật đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về hộ tịch

Đảm bảo thực hiện pháp luật về hộ tịch còn đòi hỏi điều kiện trang thiết bị vật chất – kỹ thuật. Vì thế, kinh phí, cơ sở vật chất trang thiết bị cho hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật là một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện pháp luật hộ tịch được hiệu quả. Trong điều kiện hiện nay việc hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, nhanh chóng áp dụng chính phủ điện tử là một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo việc thực hiện pháp luật hộ tịch.

  • Các yếu tố bảo đảm khác
  • Yếu tố chính trị, kinh tế – xã hội

Yếu tố chính trị là một trong những yêu tố đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật hộ tịch của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là cá nhân, cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền áp dụng pháp luật. một đất nuớc có môi truờng chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với việc thực hiện pháp luật hộ tịch và nguợc lại. Ngoài ra, tính chất, mức độ của nền dân chủ xã hội cũng là một yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật hộ tịch. Trong điều kiện xã hội có nền dân chủ rộng rãi, các tầng lớp xã hội có quyền thẳng thắn tham gia, bày tỏ nguyện vọng ý kiến quan điểm đối với các vấn đề trong hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật hộ tịch nói riêng. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Sự phát triển kinh tế xã hội cũng là một yếu tố đảm bảo việc thực hiện pháp luật vềư hộ tịch. Nước ta là một nuớc đang phát triển, trình độ phát triển kinh tế xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau nên hiệu quả thực hiện pháp luật ở mỗi vùng miền cũng khác nhau. Kinh tế có phát triển, đời sống vật chất được nâng cao thì pháp luật mới có điều kiện, khả năng được thực hiện. Điều kiện kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển về trình độ văn hoá, trình độ dân trí được cải thiện và nâng cao trong đó có tư duy pháp lý. Người dân có điều kiện tiếp xúc với các nguồn thông tin về pháp luật hộ tịch, được giải thích và nắm rõ các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch thì việc thực hiện pháp luật sẽ có hiệu quả cao, chất lượng.

Ngoài ra, thực hiện pháp luật về hộ tịch còn phụ thuộc vào môi trường mà trong đó pháp luật hộ tịch được thực hiện như chất lượng, đặc điểm dân cư, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể, hoạt động kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật…

Như vậy, việc thực hiện pháp luật chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố, mỗi yếu tố có tầm ảnh hưởng khác nhau đối với quá trình thực hiện pháp luật. Kết quả của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch có đạt được như mong muốn, quá trình thực hiện có đầy đủ, nghiêm minh hay gặp nhiều khó khăn vướng mắc phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố này. Vì vậy, trong quá trình thực hiện pháp luật, Đảng và Nhà nước cần có những biện pháp phát huy những yếu tố có lợi, khắc phục khó khăn làm cho việc thực hiện ngày càng có hiệu quả hơn.

  • Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật hộ tịch

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đối với việc thực hiện pháp luật hộ tịch. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật người dân có thể nắm được các quy định của pháp luật, tự giác thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. Ngược lại nếu không làm tốt công tác này người dân sẽ bị hạn chế kiến thức pháp luật, hiểu sai, hiểu không đầy đủ các quy định của pháp luật. Vì vậy mà có nhiều trường hợp người vi phạm pháp luật mà không hề biết hành vi của mình là vi phạm. Do vậy, nhà nước ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật hộ tịch dưới nhiều hình thức nhằm nâng cao kiến thức pháp luật cho người dân để từ đó họ có những hành vi pháp luật tích cực.

  • Hoạt động giải thích pháp luật Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

Giải thích pháp luật cũng có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch. Giải thích pháp luật giúp cho chủ thể hiểu đúng đắn, đầy đủ về các quy định, thực hiện pháp luật được dễ dàng. Nếu thiếu đi công tác giải thích pháp luật, người dân sẽ không hiểu hoặc hiểu không đầy đủ các quy định của pháp luật, gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong thực hiện pháp luật. Khoản 3 điều 91 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội “giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết” còn các văn bản pháp lý khác thì không quy định ai có thẩm quyền giải thích. Để nhận thức đúng đắn, đầy đủ đòi hỏi phải giải thích tất cả các văn bản pháp luật, đồng thời nên đưa việc giải thích các thuật ngữ pháp lý vào nội dung của văn bản nhằm tạo sự nhận thức đúng đắn, tránh hiện tượng giải thích tùy tiện gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật.

  • Sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật về hộ tịch

Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện pháp luật, đặc biệt là áp dụng pháp luật về hộ tịch. Để việc thực hiện pháp luật có hiệu quả thì các cơ quan áp dụng pháp luật phải được tổ chức một cách khoa học, có sự phân công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, tránh hiện tượng chồng chéo, mâu thuẫn, cản trở lẫn nhau. Sự không thống nhất, không phân định rõ ràng phạm vi, lĩnh vực hoạt động giữa các cơ quan dẫn đến tình trạng có nhiều vụ việc thì nhiều cơ quan tranh nhau giải quyết nhưng lại có những vụ việc thì đùn đẩy không cơ quan nào chịu giải quyết. Vì vậy, phải đảm bảo sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, giữa các cơ quan, đồng thời vẫn phải đảm bảo tính chủ động, sáng tạo.

Kết luận chương 1

Trong chương 1, luận văn đã làm rõ khái quát được những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về hộ tịch; Quan niệm pháp luật về hộ tịch và thực hiện pháp luật về hộ tịch; Yêu cầu và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch.

Trên cơ sở phân tích có căn cứ khoa học những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về hộ tịch. Mặt khác để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hệ thống lý luận về hoạt động này, đảm bảo tính nhất quán phù hợp với các văn bản pháp luật và những vấn đề lý luận nghiệp vụ khác của ngành, đã tập trung nghiên cứu phân tích chỉ ra một số vấn đề về yêu cầu và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch cần được bổ sung, hoàn thiện. Nhằm làm cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức trong quá trình công tác. Đây chính là những căn cứ khoa học để đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống lý luận thực hiện pháp luật về hộ tịch trong những năm tới. Để từ đó làm cơ sở lý luận, là những tiêu chi để phân tích thực trạng của chương 2. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh

One thought on “Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464